1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN TRƯỚC CAN THIỆP NHA KHOA TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI NĂM 2022

48 9 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng lo âu của bệnh nhân trước can thiệp nha khoa tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội Năm 2022
Tác giả Trương Vĩnh Hiếu
Người hướng dẫn TS. Trương Tuấn Anh
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Ngoại người lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 725,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH TRƯƠNG VĂN HIẾU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN TRƯỚC CAN THIỆP NHA KHOA TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI NĂM 2022 Chuyên

Trang 1

TRƯƠNG VĂN HIẾU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN TRƯỚC CAN THIỆP NHA KHOA TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT

TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI NĂM 2022

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH – 2022

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

TRƯƠNG VĂN HIẾU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN TRƯỚC CAN THIỆP NHA KHOA TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG

ƯƠNG HÀ NỘI NĂM 2022 Chuyên ngành: Ngoại người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

TS TRƯƠNG TUẤN ANH

NAM ĐỊNH – 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Hoàn thành được chuyên đề tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu, các quý thầy cô trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt những kiến thức, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện chuyên đề

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội và các phòng ban có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thiện chuyên đề

Xin chân thành cảm ơn các bác sỹ, điều dưỡng làm việc tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trương Tuấn Anh - Thầy đã dành nhiều thời gian quý báu để truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên môn và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp Điều dưỡng chuyên khoa I

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Nam Định, ngày tháng năm 2022

Học viên

Trương Văn Hiếu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan chuyên đề “Đánh giá thực trạng lo âu của bệnh nhân trước can thiệp nha khoa tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm 2022”

là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong nghiên cứu này trung thực

và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Nam Định, ngày tháng năm 2022

Người cam đoan

Trương Văn Hiếu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Khái niệm và tác hại của lo âu nha khoa 3

1.1.2 Một số phương pháp đánh giá mức lo âu trong nha khoa 5

1.2 Cơ sở thực tiễn 7

1.2.1 Trên thế giới 8

1.2.2 Tại Việt Nam 10

Chương 2 MÔ TẢ CÁC VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 12

2.1 Đối tượng và phương pháp 13

2.2 Mô tả một số đặc điểm bệnh nhân khám răng, phòng khám nha tại Bệnh viên Răng Hàm Mặt Trung Ương, Hà Nội Error! Bookmark not defined 2.3 Kết quả đánh giá 15

2.3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân 15

2.3.2 Thực trạng lo sợ của bệnh nhân trước can thiệp nha khoa 17

Chương 3 BÀN LUẬN 24

3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân tham gia nghiên cứu 24

3.2 Thực trạng lo sợ của bệnh nhân trước can thiệp nha khoa 26

KẾT LUẬN 31

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

âu nha của Corah

tin tưởng nha khoa

nha khoa MDAS Modified dental anxiety scale Bảng thang điểm đánh giá lo

âu nha khoa cải tiến

độ lo âu sau phẫu thuật nha khoa

STAI State trait anxiety inventory Bảng thang điểm đánh giá mức

độ lo âu theo chủ quan của bệnh nhân

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1 Thang điểm Ellis đánh giá mức cử động khi can thiệp nha khoa _ 4 Bảng 1 2 Bảng điểm đánh giá mức độ lo âu theo thang điểm DAS của Corah và cộng sự, 1969 [6] 6 Bảng 2 1 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân _ 15 Bảng 2 2 Đặc điểm tiểu sử của bệnh nhân _ 16 Bảng 2 3 Đặc điểm liên quan đến gia đình của bệnh nhân _ 16 Bảng 2 4 Đặc điểm môi trường bệnh viện _ 16 Bảng 2 5 Mức độ lo âu của bệnh nhân theo từng tiêu chí trong bộ câu hỏi DAS (n=523) _ 17 Bảng 2 6 Phân loại mức độ lo âu theo DAS ở bệnh nhân trước can thiệp nha

khoa _ 18 Bảng 2 7 Phân bổ mức độ lo âu trước can thiệp theo một số đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh (n=523) 18 Bảng 2 8 Phân bổ mức độ lo âu trước can thiệp nha khoa theo một số đặc điểm môi trường sống của người bệnh (n=523) 19 Bảng 2 9 Phân bổ mức độ lo âu trước can thiệp nha khoa theo một số đặc điểm về môi trường bệnh viện liên quan đến người bệnh (n=523) 20 Bảng 2 10 Liên quan giữa một số yếu tố kinh tế xã hội đến lo âu trước can thiệp 20 Bảng 2 11 Liên quan giữa một số yếu tố môi trường trong cơ sở y tế và mức độ lo

âu trước can thiệp nha khoa _ 21

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Phân loại bệnh nhân theo mức độ lo âu và không lau âu trước can thiệp nha khoa theo DAS (n=523) 18

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lo âu nha khoa là một trạng thái khá phổ biến, theo sách thống kê các rối loạn tâm

lý DSM-IV cho rằng lọ sợ trong nha khoa là một trong những lo âu đặc biệt [7,10]

Lo âu nha khoa xảy ra ở mọi lứa tuổi từ trẻ em, người lớn và người cao tuổi [11] Với những người lo âu nha khoa, khi có vấn đề về sức khỏe răng miệng họ muốn đến gặp bác sĩ để tư vấn, chẩn đoán và điều trị Tuy nhiên, nếu phải chỉ định can thiệp nha khoa thì họ thường làm bất cứ điều gì để né tránh, trì hoãn hoặc từ chối cuộc hẹn, điều này dẫn đến những ảnh hưởng không tốt tới quá trình điều trị, thậm chí những tác hại xấu đi theo thời gian có thể nguy hiểm đến tính mạng [16]

Những người lo âu nha khoa thì việc chăm sóc răng miệng thường không được đầy đủ nên dễ mắc các bệnh nha chu, nhiễm trùng, đau nhức răng…ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt của bản thân [1,16] Ngoài ra, lo âu nha khoa ở những người trưởng thành còn tác động đến hành vi thiếu quan tâm đến sức khỏe răng miệng của những người xung quanh đặc biệt là con cái của họ [16]

Trong lâm sàng, người có trạng thái lo âu nha khoa có thể làm ngưỡng chịu đau thấp hơn, thậm chí có thể còn có mức đau tăng lên ở các phần khác của cơ thể như nhức đầu, cứng cơ vùng cổ, hạn chế quay đầu…Tình trạng lo âu gây nên đáp ứng thần kinh thể dịch tác động lên chuyển hóa và huyết học có thể đe dọa tính mạng ở những người bị tim mạch, huyết áp, viêm phổi nặng…[16] Lo âu nha khoa cũng sẽ

là yếu tố dự báo tăng nhu cầu sử dụng thuốc gây tê và cũng là yếu tố dự báo tăng cử động của bệnh nhân trong khi can thiệp có thể ảnh hưởng đến thủ thuật, kỹ thuật trong quá trình can thiệp điều trị

Vì vậy, lo âu nha khoa là yếu tố bất lợi trong can thiệp nha khoa, nó ảnh hưởng rất

rõ đến thái độ hợp tác và chất lượng điều trị Nên một bệnh nhân trước khi thực hiện các can thiệp và điều trị nha khoa cần phải được khảo sát, đánh giá tình trạng tâm lý

và mức độ lo âu để đưa ra kế hoạch điều trị cho phù hợp

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu khảo sát, đánh giá lo âu nha khoa của người dân cho thấy có sự khác nhau tỷ lệ về mức độ lo âu như: Mỹ có khoảng 15% người dân

có lo âu nha khoa [28], ở Anh 32% [28], ở Đức 23% [30], Phần Lan 20% [39], Australia 16,1% [21], Nhật Bản khoảng 42,1% [44] Hơn nữa kết quả của một số nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa giữa tỷ lệ lo âu nha khoa ở người trẻ

Trang 10

tuổi so với người lớn tuổi [38], ở nữ giới so với nam giới [15,41], giữa người sống ở thành thị với vùng nông thôn [38], giữa những nghề nghiệp khác nhau [15]

Tại Việt Nam, đến nay những nghiên cứu về đánh giá thực trạng lo âu trước can thiệp nha khoa còn là một lĩnh vực mới, còn ít công trình đề cập đến Hơn nữa, trong thực tiễn hiện nay việc tiến hành đánh giá tâm lý lo âu của bệnh nhân trước can thiệp tại các cơ sở khám và điều trị nha còn nhiều hạn chế Nhằm tìm hiểu thực trạng lo âu nha khoa của người bệnh đến khám và điều trị tại cơ sở y tế là bệnh viện và những yếu tố liên quan đến tâm lý lo âu của bệnh nhân, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá thực trạng lo âu của bệnh nhân trước can thiệp nha khoa tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội, năm 2022” với 2 mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng lo âu của bệnh nhân trước can thiệp nha khoa tại Bệnh Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội, năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp để cải thiện sự lo âu của bệnh nhân trước can thiệp nha khoa tại Bệnh Viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội

Trang 11

Ba thuật ngữ được sử dụng để mô tả lo âu trong nha khoa là sợ hãi, lo lắng (lo âu) và

ám ảnh Sự sợ hãi xuất hiện khi có các tác nhân kích thích đặc biệt, có thật và biểu hiện tức thì (như: Kim tiêm, tiếng máy khoan răng…) trong khi đó lo lắng xuất hiện khi có các tác nhân mơ hồ, không rõ ràng và không biểu biện tức thì Ám ảnh là chứng

sợ quá mức và vô lý với các vật hoặc các tình huống không thực sự quá nguy hiểm Thực tế, bệnh nhân có thể trải qua tất cả các trạng thái tâm lý trên[7,10]

Các yếu tố gây nên lo âu gồm yếu tố chủ quan (cảm xúc, nhận thức) và yếu tố khách quan (hành vi và các phản ứng sinh lý) trong đó yếu tố chủ quan đóng vai trò quan trọng nhất, nó quyết định các hành vi sau này[10]

Lo âu gồm có hai loại là lo âu do cảm giác chủ quan của từng người và lo âu do đặc điểm tính cách của từng người Đó là sự khác biệt giữa người này và người khác trong việc phản ứng lại những trạng thái gây ra kích thích ở các mức độ lo âu khác nhau [5,10]

1.1.1.2 Tác hại của lo âu nha khoa đối với người bệnh, can thiệp và điều trị

Với những người lo âu nha khoa, khi có vấn đề về sức khỏe răng miệng họ muốn đến gặp bác sĩ để tư vấn, chẩn đoán và điều trị Tuy nhiên, nếu phải chỉ định cần can thiệp nha khoa thì họ thường làm bất cứ điều gì để né tránh, trì hoãn hoặc từ chối cuộc hẹn, điều này dẫn đến những ảnh hưởng không tốt tới quá trình điều trị, thậm chí những tác hại xấu đi theo thời gian có thể nguy hiểm đến tính mạng [14] Một nghiên cứu thống kê tại Úc cho thấy có khoảng 40% số những người có chứng lo âu nha khoa cao thường có hành vi né tránh việc thăm khám và điều trị, dẫn đến tình trạng bệnh trầm trọng hơn, phải điều trị nhiều lần[16] Lo âu nha khoa ở những người

Trang 12

trưởng thành còn tác động đến hành vi thiếu quan tâm đến sức khỏe răng miệng của những người xung quanh đặc biệt là con cái của họ [16]

Lo âu nha khoa cũng như những rối loạn tâm thần khác cần phải được điều trị, nếu không nó sẽ tiến triển xấu đi Những người lo âu nha khoa vì những hành vi né tránh việc thăm khám nên thường có sức khỏe răng miệng kém hơn, dễ mắc các bệnh nha chu, nhiễm trùng, đau nhức răng…Bệnh nhân ít cười, thiếu tự tin hoặc xấu hổ khi tiếp xúc [4]

Trong lâm sàng, người có trạng thái lo âu nha khoa có thể làm ngưỡng chịu đau thấp hơn, thậm chí có thể còn có mức đau tăng lên ở các phần khác của cơ thể như nhức đầu, cứng cơ vùng cổ, hạn chế quay đầu…Tình trạng lo âu gây nên đáp ứng thần kinh thể dịch tác động lên chuyển hóa và huyết học[5] Điều này có thể đe dọa tính mạng ở những người bị tim mạch, huyết áp, viêm phổi nặng…

Ở những bệnh nhân lo âu càng nhiều sẽ đáp ứng với tình trạng lo âu càng cao khi

họ cảm nhận đó là những bất lợi nguy hiểm Những người này trong hoàn cảnh bị kích thích sẽ tăng những xúc cảm lo âu chủ quan cũng như gia tăng đáp ứng thần kinh thể dịch dẫn đến tăng hoạt động của tim mạch và chuyển hóa [42]

Lo âu nha khoa cũng sẽ là yếu tố dự báo tăng nhu cầu sử dụng thuốc gây tê và cũng

là yếu tố dự báo tăng cử động của bệnh nhân trong khi can thiệp có thể ảnh hưởng đến thủ thuật, kỹ thuật trong quá trình can thiệp điều trị [1]

Lo âu nha khoa là yếu tố bất lợi trong can thiệp nha khoa, nó ảnh hưởng rất rõ đến thái độ hợp tác và chất lượng điều trị Nghiên cứu của Ellis và cộng sự đánh giá mức

độ cử động của bệnh nhân trong can thiệp nha khoa dựa trên các tiêu chí về sự bồn chồn, lo âu, cử động cơ chi, quay đầu cổ, sự hợp tác để thực hiện các thủ thuật đưa ra

5 mức độ đánh giá cử động khi can thiệp nha khoa (Bảng 1.1)

Bảng 1 1 Thang điểm Ellis đánh giá mức cử động khi can thiệp nha khoa

1 Không có cử động bất thường, hoàn toàn hợp tác và không bồn chồn

2 Ít cử động chi, còn hợp tác và không bồn chồn

3 Cử động chi nhiều hơn, bồn chồn, lo âu nhẹ, bệnh nhân ít hợp tác, vẫn có

thể thực hiện các phẫu thuật nha khoa

Trang 13

4 Cử động chi nhiều rõ rệt, có thể cử dộng đầu, hợp tác kém, bệnh nhân rất

bồn chồn và lo âu, chỉ có thể thực hiện những thủ thuật cơ bản, không thể thực hiện được các kỹ thuật cao

5 Bồn chồn, lo âu, cử động chi nhiều, không thực hiện được phẫu thuật Ngoài việc đánh giá mức độ cử động của bệnh nhân thì Bảng phân loại cuả Ellis còn cho thấy mức độ lo âu và dẫn đến sự thiếu hợp tác của bệnh nhân trong can thiệp nha khoa, ảnh hưởng đến chất lượng phẫu thuật Ở mức độ lo âu nặng một số biến chứng có thể xảy ra trong thời gian phẫu thuật như tăng cử động, ho, nấc, nôn, thậm chí có thể dẫn đến cuộc phẫu thuật thất bại [29]

Đối với điều trị, bệnh nhân lo âu nha khoa có thể không hợp tác trong phối hợp, tuân thủ sử dụng thuốc hoặc việc lo âu cao dẫn tới khuynh hướng cần tăng liều thuốc mê/an thần để làm giảm cử động bất thường trong phẫu thuật làm tăng thời gian ngoại trú, tăng chi phí điều trị…[42]

1.1.2 Một số phương pháp đánh giá mức lo âu trong nha khoa

Với mục đích đánh giá tình trạng tâm lý và mức lo âu của bệnh nhân để đưa ra kế hoạch can thiệp và điều trị phù hợp nên đã có nhiều bộ công cụ đánh giá được phát minh, cải tiến như:

Corah và cộng sự (1969) sử dụng bảng điểm đánh giá lo âu trước can thiệp nha khoa DAS (Corah’s Dental Anxiety Scale)

Humphris và cộng sự (1995) sử dụng thang điểm đánh giá lo âu nha khoa trước can thiệp cải tiến MDAS (Modified Dental Anxiety Scale) [13]

Speilberger C và cộng sự (1983) sử dụng thang điểm đánh giá mức độ lo âu theo chủ quan của bệnh nhân STAI (State trait anxiety inventory) [42]

Kleinknecht R.A và cộng sự (1984) sử dụng thang điểm khảo sát mức độ lo âu nha khoa theo DFS (dental fear survey) [12]

Jaakkola và cộng sự (2009) sử dụng thang điểm đánh giá mức độ lo âu sau phẫu thuật nha khoa theo SDFQ (Short dental fear question)[10]

Ngoài ra có thể sử dụng các thang điểm đánh giá mức độ lo lắng khác như: Bảng thang điểm Gatchel [22], thang điểm Milgrom [4], thang điểm DBS [26]

Bảng thang điểm DAS và DFS được coi là “tiêu chuẩn vàng” để đánh giá mức độ

lo âu của bệnh nhân trước can thiệp nha khoa [10] Trong phạm vi đề tài nghiên cứu

Trang 14

chúng tôi giới thiệu tổng quan phương pháp đánh giá mức độ lo âu trước can thiệp nha khoa theo Bảng thang điểm theo tiêu chuẩn DAS của Corah, đây là bộ tiêu chí được dùng nhiều trong đánh giá mức độ lo âu nha khoa trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt là có giá trị và độ tin cậy cao khi áp dụng trên đối tượng người lớn

Bảng thang điểm đánh giá mức độ lo âu DAS của Corah là bộ câu hỏi phỏng vấn

có 4 câu hỏi áp dụng trước can thiệp nha khoa, mỗi câu hỏi có 5 sự lựa chọn trả lời tương ứng với 5 mức độ lo âu khác nhau (Bảng 1.2) Tổng điểm tối đa là 20 điểm và được đánh giá theo các mức độ:

Mức không lo âu: ≤ 4 điểm

Tôi sẽ mong đợi nó như là một trải nghiệm khá thú vị

Tôi sẽ không quan tâm gì hết

Tôi sẽ cảm thấy một chút khó khăn

Tôi sẽ e ngại rằng không được dễ chịu lắm và sẽ đau

Tôi sẽ rất sợ hãi về những việc nha sĩ sẽ làm

Điểm Q2: Trong khi chờ đến lượt khám ở phòng khám răng, Anh/Chị cảm

Không lo âu chút nào

Lo âu một chút (không thoải mái)

Bồn chồn

Lo âu

Lo âu đến mức vã mồ hôi hoặc gần như cảm thấy thực sự phát ốm

Điểm Q3: Khi đã ngồi trên ghế răng và chờ Nha sĩ khám, Anh/Chị cảm thấy

thế nào?

1

2

Không lo âu chút nào

Lo âu một chút (không thoải mái)

Trang 15

Lo âu đến mức vã mồ hôi hoặc gần như cảm thấy thực sự phát ốm

Điểm Q4: Anh/chị cảm thấy như thế nào khi đang ngồi trên ghế răng và thấy

Không lo âu chút nào

Lo âu một chút (không thoải mái)

Bồn chồn

Lo âu

Lo âu đến mức vã mồ hôi hoặc gần như cảm thấy thực sự phát ốm Bảng thang điểm DAS có ưu điểm là đánh giá được tình trạng lo âu của bệnh nhân ngay trước can thiệp nha khoa từ đó thầy thuốc có thể biết được mức độ lo âu của bệnh nhân để đưa ra các giải pháp hỗ trợ điều trị như tác động tâm lý, giải cảm, thay đổi hành vi, thư giãn hoặc sử dụng thuốc an thần cho bệnh nhân Tuy nhiên, hạn chế

là việc sử dụng bảng điểm DAS không đánh giá được mức độ lo âu sau khi kết thúc điều trị nên không đánh giá được chất lượng điều trị, cũng như lên kế hoạch cho bệnh nhân nếu phải can thiệp lần sau [2,3]

1.2 Cơ sở thực tiễn

Nhiều thập kỷ trước, khi những bộ công cụ tiêu chuẩn để đánh giá tâm lý lo âu nha khoa chưa được phát triển, vấn đề lo âu nha khoa được coi như là một tồn tại lớn trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ răng miệng Nhiều bằng chứng cho thấy mức độ

lo âu nha khoa có liên quan đến việc người bệnh né tránh, trì hoãn, bằng nhiều lí do khác nhau để từ chối điều trị nha khoa Do đó, những người có tâm lý lo âu nha khoa

ít thực hiện chăm sóc y tế răng miệng [11] Hơn nữa, một số nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những người lo âu nha khoa còn có hành vì né tránh việc chăm sóc răng miệng của con cái mình, cũng như những người trong gia đình [21]

Với mục đích đánh giá tình trạng tâm lý và mức lo âu của bệnh nhân để đưa ra kế hoạch can thiệp và điều trị phù hợp nên đã có nhiều bộ công cụ đánh giá được phát minh, cải tiến như DAS (Corah’s Dental Anxiety Scale, 1969), MDAS (Modified Dental Anxiety Scale, 1995), DFS (Dental Fear Survey, 1984) Bộ câu hỏi MDAS được phát triển từ DAS nhằm tạo ra các câu hỏi đơn giản hơn, mỗi câu hỏi chỉ đích 5 trạng thái tâm lý (không sợ, lo âu chút ít, lo âu vừa, rất lo âu và cực kỳ lo âu), bổ sung

Trang 16

thêm câu hỏi số 5 về tâm lý của bạn khi bị đặt dụng cụ gây tê tại chỗ đặt trong miệng Đến nay bộ công cụ đánh giá DAS và MDAS được sử dụng phổ biến tại nhiều nước trên thế giới trong nghiên cứu đánh giá tâm lý bệnh nhân trước can thiệp nha khoa Nhiều nghiên cứu đánh giá mức độ lo âu nha khoa bằng các bộ câu hỏi DAS hoặc MDAS được tiến hành tại các quốc gia trên thế giới cho thấy có sự khác nhau về tỉ lệ chỉ số lo âu

Một số kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng lo âu trước can thiệp nha khoa theo DAS:

1.2.1 Trên thế giới

Enrico Facco và cộng sự (2008), khi nghiên cứu ở 1072 bệnh nhân người Ý tuổi

từ 14 đến 85 về tình trạng lo âu theo DAS đối với phẫu thuật trong miệng cho thấy

số bệnh nhân có mức điểm lo âu từ 7 – 12 điểm chiếm 59,5%, > 12 điểm chiếm 26,1% và > 15 điểm là 10,3% Điểm DAS trung bình là 10,29 điểm Bệnh nhân nữ giới có mức độ lo âu cao hơn bệnh nhân nam giới với p < 0,001 và bệnh nhân > 60 tuổi mức độ lo âu giảm hơn [15]

Nicolas E và cộng sự (2007), tiến hành điều tra cắt ngang đánh giá mức độ lo âu nha khoa trên đối tượng trưởng thành tại Pháp có độ tuổi trung bình 47 ± 16 tuổi với 2.725 người được điều tra Kết quả xác định có 6,2% số người có mức độ lo âu nằm trong khoảng giá trị DAS trung bình 14 > DAS > 13 điểm, 7,3% số người có điểm DAS ≥ 15 điểm Mức độ lo âu thấp hơn ở những người cao tuổi (p < 0,001) và cao hơn ở những người nhập cư, những người sống ở vùng nông thôn (p < 0,001), mức

độ lo âu nha khoa ở nông dân thấp hơn so với công nhân với (p < 0,0001) [38] Ahmed A Madfa và cộng sự (2015), nghiên cứu lo âu nha khoa ở 100 sinh viên Y khoa tại trường đại học Y khoa Thamar, Mỹ Kết quả xác định sinh viên có mức độ

lo âu trung bình DAS từ 9-12 điểm chiếm 51%, trong đó 12% số sinh viên có mức lo

âu nặng [32]

Ebtissam M và cộng sự (2002), đánh giá lo âu nha khoa ở phụ nữ Riyalh, Ả rập

Xê út trong độ tuổi thanh niên xác định mức độ lo âu thấp là 16,4%, trung bình là 54,4% và nặng là 29% [45]

Một nghiên cứu tại vùng Tây Bắc nước Anh (2007), tiến hành lọc trên 583 bệnh nhân khám răng bằng MDAS cho kết quả có 31% (182/583) được xác định có tâm lý lo âu nha khoa Trong 182 bệnh nhân có tâm lý lo âu nha khoa, có 52% số người có tổng điểm

Trang 17

MDAS < 19 và 48% có MDAS ≥ 19 Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy không có sự khác biệt về kết quả đánh giá tâm lý lo âu theo chủ quan của bệnh nhân (STAIS) giữa 2 nhóm có điểm MDAS lớn hơn và nhỏ hơn 19 [13]

Theo Giri J và cộng sự (2017), sử dụng bộ câu hỏi MDAS để đánh giá lo âu nha khoa ở 150 đối tượng từ 16 – 42 tuổi tại Nepal kết quả cho thấy 100% người bệnh đều có tâm lý lo âu nha khoa khi đến khám răng Trong đó có 26% người bệnh có một chút lo âu nhẹ, 53,33% lo âu vừa, 20,67% lo âu nặng và 2% cực lo âu [24] Inguy D và cộng sự (2005), nghiên cứu tâm lý lo âu nha khoa ở bệnh nhân tại Thổ Nhĩ Kỳ bằng việc sử dụng 2 bộ câu hỏi đánh giá DAS và MDAS với 294 bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên từ 18 – 70 tuổi (tuổi trung bình 38.8) Kết quả cho thấy có 9,9% (29/294) được xác định là lo âu nha khoa bằng DAS với điểm là ≥ 15 điểm, 8,8% (26/294) với MDAS với điểm là ≥ 19 điểm,không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 bộ câu hỏi đánh giá Mức độ lo âu nha khoa giảm dần theo độ tuổi, ở

nữ giới có lo âu nha khoa cao hơn so với nam giới (p < 0,01) [35]

Schwarz và cộng sự (1995), nghiên cứu so sánh mức độ lo sự nha khoa với 2 nhóm tuổi 35 – 44 và 65 – 74 ở 2 quần thể người Đan Mạch (n1= 214, n2 = 99) và người Trung Quốc (n1= 384, n2 = 497) sử dụng bộ câu hỏi DAS Chỉ số lo âu nha khoa có

ý nghĩa phát hiện được ở nhóm người Trung Quốc (8,7-10,3%) cao hơn người Đan Mạch (6,7-8,2%), ở nhóm người trẻ tuổi cao hơn nhóm người già, chỉ số mức độ lo

âu mức vừa ở người Trung Quốc là 30% và người Đan Mạch là 15% Chỉ ở nhóm người Trung Quốc thì nữ giới có mức độ lo âu cao hơn ở nam giới [39]

Cohen và cộng sự (2000), phát hiện rằng 75% những người có lo âu nha khoa theo điểm MDAS có yêu cầu sử dụng thuốc giảm đau khi can thiệp Lo âu nha khoa bị ảnh hưởng bởi chủ quan cá nhân người bệnh và nơi sống và mội trường làm việc Timothy

và cộng sự (2004), cho rằng mức lo âu trước mổ tăng là yếu tố dự báo tăng sử dụng tổng liều thuốc an thần, thuốc tê và cũng là yếu tố dự báo tăng mức cử động trong mổ nên những bệnh nhân có mức lo âu nhiều cần tăng liều an thần để duy trì mức an thần chấp nhận được trên lâm sàng [46]

Armfield J.M và cộng sự (2013), ước tính rằng khoảng 40% những người Australia có lo âu nha khoa lâm vào vòng quay của sự sợ hãi, dẫn đến việc kéo dài thời gian điều trị, thậm chí làm cho tình trạng bệnh trầm trọng hơn [25]

Trang 18

Rasa Racciene (2004), nghiên cứu mối quan hệ giữa lo âu nha khoa và tâm lý lo

âu chung ở 557 bệnh nhân Kết quả cho thấy lo âu trong can thiệp nha khoa có liên quan đến nhiều đặc tính như nhút nhát, lo âu trước các kích thích răng cơ bản như nhìn thấy kim gây tê Tác giả cho rằng mức độ lo âu chung có sự tương quan tỉ lệ thuận với mức độ lo âu nha khoa [6]

Viinikangas (2007), nghiên cứu về sức khỏe cộng đồng ở người trưởng thành tại Châu

Âu cho thấy có tỷ lệ đáng kể số người lo âu nha khoa nặng khi phải đi khám răng miệng

Ở Anh là 32%, Đức là 23%, Phần Lan là 20% Việc lẩn tránh và từ chối khám răng ảnh hưởng xấu đến chăm sóc sức khỏe răng miệng của người đó [43]

Chanpong (2005), báo cáo tổng hợp về sự lo âu nha khoa trên nhiều cộng đồng dân cư trên thế giới như: Nhật Bản là 20,9% [44], Singapore là 7,8-20,8% [20], Đan Mạch là 4,2% [37], Iceland là 4,8% [40], Hà lan 3,9-10,8% [8], Thụy Điển 3,9-6,7% [33], Australia là 13,7% [16], Mỹ là 10-19% [36], Canada là 4,4-16,4% [17] Ngay trong cùng một cộng đồng dân cư, người ta cũng nhận thấy mức độ lo âu khác nhau với những thủ thuật khác nhau

Chanpong (2005), nghiên cứu trên đối tượng là 1101 bệnh nhân cần can thiệp nha khoa cho thấy có 49,2% từ chối tại thời điểm lo âu nhất, chỉ có 5,2% là không hoặc

Đến nay có rất ít công trình nghiên cứu tâm lý lo âu nha khoa trước, trong và sau can thiệp điều trị Tác giả Nguyễn Quang Bình (2012), nghiên cứu đánh giá mức độ

lo âu trước và sau sử dụng an thần tỉnh bằng propofol ở 162 bệnh nhân chia ngẫu nhiên làm ba nhóm trong phẫu thuật răng khôn, sử dụng tiêu chí đánh giá DAS trước can thiệp và SDFQ sau can thiệp

Nhóm 1: (n=54), chỉ gây tê tại chỗ đơn thuần bằng lidocain 2%

Nhóm 2: (n=54), sử dụng an thần do người gây mê điều khiển (ACS) tiêm từng liều ngắt quãng bolus 20 mg propofol theo đáp ứng của bệnh nhân và kết hợp gây tê

Trang 19

Nhóm 3: (n=54), sử dụng an thần do bệnh nhân tự điều khiển (PCS) bằng bơm tiêm điện tiêm liều bolus propofol 20 mg và đặt thời gian trơ là 1 phút)

Tác giả cho thấy mức độ lo âu trước phẫu thuật theo DAS là 9,04 ± 3,65 điểm và nằm trong vùng lo âu vừa, và không có sự khác biệt giữa ba nhóm Kết quả đánh giá sau can thiệp, tác giả cho rằng ở mức lo âu này bệnh nhân cần sử dụng an thần nhằm giúp cho

họ hết lo âu, không cử động và hợp tác tốt hơn với phẫu thuật [1]

Trang 20

và là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhân lực y tế chuyên ngành Răng Hàm Mặt

Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương (trước đây là Viện Răng Hàm Mặt trực thuộc Bộ Y tế) được thành lập theo Quyết định số 737-BYT/QĐ ngày 15/9/1990 của

và được khẳng định là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Y tế theo Quyết định

số 246/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ

 Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng về chuyên ngành Răng Hàm Mặt:

 Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực y tế

Trang 21

 Nghiên cứu khoa học

 Phòng, chống dịch bệnh

 Chỉ đạo chuyên môn tuyến dưới

 Hợp tác quốc tế

 Quản lý đơn vị

 Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được cấp có thẩm quyền giao

2.2 Đối tượng và phương pháp

Bệnh nhân đến khám và có can thiệp nha khoa tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương, Hà Nội

Tiêu chuẩn lựa chọn

- Bệnh nhân lứa tuổi trưởng thành từ 18 tuổi trở lên

- Có yêu cầu khám và có chỉ định can thiệp nha khoa

- Trả lời được đầy đủ bộ câu hỏi phỏng vấn DAS

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Không thuộc độ tuổi nghiên cứu

- Không tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Bệnh nhân bất đồng ngôn ngữ

- Bệnh nhân rối loạn tâm thần

- Không tự trả lời đầy đủ bộ câu hỏi phỏng vấn

Phương pháp chọn mẫu

Chọn ngẫu nhiên người bệnh đến khám tại khoa Khám bệnh, bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội đến khi đủ 520 bệnh nhân tham gia nghiên cứu thì dừng lại Để đảm bảo chất lượng của thông tin thu thập được, mỗi ngày sẽ giới hạn lựa chọn tối đa tổng số 25 bệnh nhân

Trang 22

(1—α/2) =1,96, khoảng tin cậy 95%

P = 0,89: Ước tính tỷ lệ lo sợ nha khoa của bệnh nhân theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Bình và cộng sự [5])

d: Sai số tuyệt đối cho phép, d = 0,04

K = 2: hệ số điều chỉnh do phương pháp chọn mẫu theo cụm

Vì vậy, cỡ mẫu tính được theo công thức sau là 472 bệnh nhân Dự phòng số bệnh nhân bỏ nghiên cứu hoặc không trả lời đầy đủ các câu hỏi, hoặc từ chối nghiên cứu là khoảng 10% Vậy cỡ mẫu của nghiên cứu dự kiến sử dụng để điều tra đánh giá thực trạng lo sợ nha khoa được làm tròn là 520 bệnh nhân

Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu nghiên cứu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân tham gia nghiên cứu trước khi can thiệp nha khoa bằng câu hỏi cấu trúc sẵn bao gồm các thông tin chung về nhân khẩu học, tiền sử bệnh tật, các đặc điểm có liên quan và bảng điểm đánh giá lo sợ nha khoa DAS (Phụ lục 1)

Các nghiên cứu viên được chia thành 2 nhóm: Nhóm thực hiện phỏng vấn bệnh nhân và nhóm hỗ trợ lựa chọn bệnh nhân Nghiên cứu viên của mỗi nhóm sẽ được tập huấn các kiến thức và kỹ năng điều tra cần thiết Nhóm phỏng vấn bệnh nhân sẽ được tập huấn kỹ năng giải thích cho bệnh nhân trước khi trả lời câu hỏi, sử dụng bộ câu hỏi Nhóm hỗ trợ lựa chọn bệnh nhân sẽ được tập huấn chủ yếu về mục tiêu và nội dung nghiên cứu, giới thiệu nghiên cứu và các tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân tham gia nghiên cứu Bệnh nhân sau khi được lựa chọn sẽ được mời tới một phòng riêng để trả lời câu hỏi nghiên cứu (xem bộ câu hỏi Phụ lục 1 và danh sách biến số Phụ lục 2)

Chỉ số đo lường mức độ lo sợ nha khoa dựa vào tiêu chí đánh giá DAS

Thực trạng lo sợ của bệnh nhân được mô tả bao gồm phân bố điểm lo sợ trung bình và phân loại mức độ lo sợ dựa trên thang điểm đánh giá theo bộ công cụ đánh giá lo sợ trong nha khoa của DAS

Đánh giá mức độ lo sợ nha khoa dựa vào 4 câu hỏi áp dụng trước can thiệp nha khoa, mỗi câu hỏi có 5 sự lựa chọn trả lời tương ứng với 5 mức độ lo sợ khác nhau Tổng điểm tối đa là 20 điểm và được đánh giá theo các mức độ khác nhau:

- Mức không lo sợ: ≤ 4 điểm

- Mức lo sợ nhẹ: 5 - 8 điểm

Trang 23

1.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân

1.1.1.1 Đặc điểm cá nhân nhân khẩu học, tình trạng bệnh, và môi trường sống

 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân

Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân

Trang 24

 Đặc điểm tiền sử can thiệp nha khoa và các bệnh khác

Bảng 2.2 Đặc điểm tiểu sử của bệnh nhân

Tiền sử can thiệp nha khoa

Nhận xét: Tiền sử số bệnh nhân đã từng được can thiệp nha khoa chiếm tỷ lệ 40,9%

và số bệnh nhân lần đầu can thiệp nha khoa chiếm tỷ lệ 59,1% Tiền sử số bệnh nhân có can thiệp các phẫu thuật khác với tỷ lệ 36,9 %

 Đặc điểm gia đình và người thân của bệnh nhân

Bảng 2.3 Đặc điểm liên quan đến gia đình của bệnh nhân

Đặc điểm liên quan đến gia đình bệnh nhân Tần số (n= 523) Tỷ lệ (%)

Đã từng chứng kiến người thân có

can thiệp răng

1.1.1.2 Đặc điểm môi trường bệnh viện liên quan đến bệnh nhân

Bảng 2.4 Đặc điểm môi trường bệnh viện

Bệnh nhân trao đổi thông tin

về cảm giác đau với bệnh

nhân khác

Ngày đăng: 09/05/2023, 10:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang Bình (2012). Nghiên cứu phương pháp an thần bằng propofol do bệnh nhân tự điều khiển trong phẫu thuật răng, Luận án Tiến sĩ Y học. Viện nghiên cứu Y dược Lâm sàng 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp an thần bằng propofol do bệnh nhân tự điều khiển trong phẫu thuật răng
Tác giả: Nguyễn Quang Bình
Nhà XB: Viện nghiên cứu Y dược Lâm sàng
Năm: 2012
2. Nguyễn Quang Bình, Phạm Hoàng Tuấn (2017). Đánh giá tình trạng lo âu theo DAS trước can thiệp phẫu thuật răng khôn hàm dưới. Tạp Chí Học Việt Nam. , Tr.34–6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng lo âu theo DAS trước can thiệp phẫu thuật răng khôn hàm dưới
Tác giả: Nguyễn Quang Bình, Phạm Hoàng Tuấn
Nhà XB: Tạp Chí Học Việt Nam
Năm: 2017
7. Steven N. Shapse. THE DIAGNOSTIC AND STATISTICAL MANUAL OF MENTAL DISORDERS. World Health Organization Sách, tạp chí
Tiêu đề: THE DIAGNOSTIC AND STATISTICAL MANUAL OF MENTAL DISORDERS
Tác giả: Steven N. Shapse
Nhà XB: World Health Organization
9. Svensson L, Hakeberg M, Boman UW (2016). Dental anxiety, concomitant factors and change in prevalence over 50 years. Community Dent Health. Số 33.(2), Tr.121–6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dental anxiety, concomitant factors and change in prevalence over 50 years
Tác giả: Svensson L, Hakeberg M, Boman UW
Nhà XB: Community Dental Health
Năm: 2016
21. Armfield J (2010). The extent and nature of dental fear and phobia in Australia: Dental fear and phobia in Australia. Aust Dent J. Số 55.(4), Tr.368–77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The extent and nature of dental fear and phobia in Australia: Dental fear and phobia in Australia
Tác giả: Armfield J
Năm: 2010
23. Armfield JM, Stewart JF, Spencer AJ (2007). The vicious cycle of dental fear: exploring the interplay between oral health, service utilization and dental fear.BMC Oral Health. Số 7.(1), Tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The vicious cycle of dental fear: exploring the interplay between oral health, service utilization and dental fear
Tác giả: Armfield JM, Stewart JF, Spencer AJ
Nhà XB: BMC Oral Health
Năm: 2007
24. Giri J, Pokharel PR, Gyawali R, Bhattarai B (2017). Translation and Validation of Modified Dental Anxiety Scale: The Nepali Version. Int Sch Res Not. Số 2017., Tr.1–5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Translation and Validation of Modified Dental Anxiety Scale: The Nepali Version
Tác giả: Giri J, Pokharel PR, Gyawali R, Bhattarai B
Nhà XB: Int Sch Res Not
Năm: 2017
31. Gyergyay R, Székely M, Mártha K (2014). Epidemiological Survey of Dental Fear and Anxiety in Children Living in Transylvania. Acta Medica Marisiensis.Số 60.(4), Tr.151–6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiological Survey of Dental Fear and Anxiety in Children Living in Transylvania
Tác giả: Gyergyay R, Székely M, Mártha K
Nhà XB: Acta Medica Marisiensis
Năm: 2014
42. Spielberger CD (2012). State-Trait Anxiety Inventory for Adults. American Psychological Association Truy cập ngày 13/12/2022, URL:http://doi.apa.org/getdoi.cfm?doi=10.1037/t06496-000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: State-Trait Anxiety Inventory for Adults
Tác giả: Spielberger CD
Nhà XB: American Psychological Association
Năm: 2012
6. Rasa Raciene (2004). Dental Fear Among Teenagers. Individual Anxiety Factors. Stomatol Balt Dent Maxillofac J. Truy cập ngày 30/11/2022;Số 6.URL: https://sbdmj.com/044/044-06.pdf Link
3. Humphris GM, Morrison T, Lindsay SJ (1995). The Modified Dental Anxiety Scale: validation and United Kingdom norms. Community Dent Health. Số 12.(3), Tr.143–50 Khác
4. Milgrom P (1986). Behavioral methods and research issues in the management of the adult dental patient. Anesth Prog. Số 33.(1), Tr.5–9 Khác
5. Osborn TM, Sandler NA (2004). The effects of preoperative anxiety on intravenous sedation. Anesth Prog. Số 51.(2), Tr.46–51 Khác
8. Stouthard ME, Hoogstraten J (1990). Prevalence of dental anxiety in The Netherlands. Community Dent Oral Epidemiol. Số 18.(3), Tr.139–42 Khác
11. Armfield J, Spencer A, Stewart J (2006). Dental fear in Australia: who’s afraid of the dentist? Aust Dent J. Số 51.(1), Tr.78–85 Khác
14. Armfield JM, Pohjola V, Joukamaa M, Mattila AK, Suominen AL, Lahti SM (2011). Exploring the associations between somatization and dental fear and dental visiting: Somatization, dental fear, and dental visiting. Eur J Oral Sci. Số 119.(4), Tr.288–93 Khác
17. Chanpong B, Haas DA, Locker D (2005). Need and Demand for Sedation or General Anesthesia in Dentistry: A National Survey of the Canadian Population.Anesth Prog. Số 52.(1), Tr.3–11 Khác
18. Locker D (2003). Psychosocial consequences of dental fear and anxiety: Dental fear and anxiety. Community Dent Oral Epidemiol. Số 31.(2), Tr.144–51 19. Moore R, Brứdsgaard I, Rosenberg N (2004). The contribution ofembarrassment to phobic dental anxiety: a qualitative research study. BMC Psychiatry. Số 4.(1), Tr.10 Khác
20. Berge MT, Veerkamp JSJ, Hoogstraten J (2002). The etiology of childhood dental fear: the role of dental and conditioning experiences. J Anxiety Disord.Số 16.(3), Tr.321–9 Khác
22. Gatchel RJ (1989). The prevalence of dental fear and avoidance: expanded adult and recent adolescent surveys. J Am Dent Assoc. Số 118.(5), Tr.591–3 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm