Sự trỗi dậy của giáo dục đại học tư thục ở Đài loan
Trang 1International Conference
Đổi mới trong công tác giảng dạy, nghiên cứu và quản lý giáo dục đại học
Trung tâm SEAMEO Việt Nam
Sự trỗi dậy của giáo dục đại học
tư thục tại Đài Loan
Hsin-Chen Liu
Khoa Chính sách và Quản lý Giáo dục Trường Đại học Quốc gia Chi Nan, Đài Loan
Trang 2Bối cảnh
Chính phủ Đài Loan thành lập vào năm 1949
Con số người dân trong nhóm độ tuổi từ 18-21 theo học đại học chiếm 83,77% vào năm 2010
Trang 3Bối cảnh
của các trường
tư thục Cao đẳng
cả sinh viên bậc thạc sĩ và tiến sĩ),
trường tư thục chiếm khoảng 67.5% tổng số sinh viên theo học.
Trang 4Cao đẳng Cử nhân Thạc sĩ
Công lập
Tư thục
Tiến sĩ
Trang 6Hệ thống giáo dục đại học của
Đài Loan
Hệ thống giáo dục đại học của Đài Loan là
hệ thống 2 loại hình
1) Đại học và cao đẳng;
2) Các trường đại học và cao đẳng
chuyên về kĩ thuật (nghề và chuyên
nghiệp)
Trang 8Chính sách của nhà nước liên quan
đến giáo dục đại học tư thục
Giáo dục đại học của Đài Loan đã có bước thay đổi
lớn khi chuyển từ “giáo dục dành cho thiểu số” thành
quan trọng dẫn đến việc này chính là sự khuyến khích phát triển giáo dục tư thục của chính phủ
Nhân tố còn lại chính là việc hình thánh hệ thống giáo dục kép (2 loại hình) trong đó các trường đại học và cao đẳng kĩ thuật, nghề được xây dựng nhằm bổ sung cho các trường truyền thống
Trang 9Chính sách của nhà nước liên quan
đến giáo dục đại học tư thục
Tháng 8 năm 1972, Cơ quan Quản lý của chính phủ chưa đồng ý cho phép thành lập các trường tư thục
Sau đó lệnh cấm này được bãi bỏ vào
năm 1985
Trang 10Chính sách của nhà nước liên quan
đến giáo dục đại học tư thục
Năm 1994, Cơ quan Quản lý của Chính phủ bắt đầu tiến hành cải cách giáo dục thông
qua việc thành lập “Hội đồng Cải cách Giáo dục
Hội đồng công bố một bản báo cáo năm
1996 đề xuất với chính phủ việc mở rộng hệ thống giáo dục, cho phép các trường tư thục phát triển theo cơ chế thị trường
Trang 11Chính sách của nhà nước liên quan
đến giáo dục đại học tư thục
Với sự phát triển nhanh chóng của các
trường đại học và cao đẳng, tháng 2 năm
2004, Bộ Giáo dục kiến nghị chấm dứt hoạt động của các trường kém chất lượng,
Tạm dừng việc thành lập các trường công
lập mới, và
Tăng cường đánh giá và giám sát đối với các trường tư thục mới
Trang 12Phân tích luật và quy định của các
trường đại học cao đẳng tư thục
Thay thế “Quy định giáo dục tư thục”, “Luật giáo dục tư thục” năm 1974 xem như là cơ sở của
việc thành lập các đơn vị giáo dục tư thục từ
tiểu học đến đại h5oc
Luật này đã được chỉnh sửa 11 lần kể từ năm
1974 đến 2010 Trong đó bao gồm 3 lần chỉnh sửa chính như sau:
Trang 13Phân tích luật và quy định của các
trường đại học cao đẳng tư thục
1) The fourth revision, made in 1997 , Article 49 states: “A
private school may request assistance from the
responsible government education agencies in purchasing
or leasing public lands.” Lần chỉnh sửa thứ 4 vào năm
1997 , Điều 49 quy định: “một trường tư thục có thể yêu
cầu sự trợ giúp từ đơn vị phụ trách giáo dục có chức năng của chính phủ trong việc mua hoặc thuê đất công.”
Furthermore, to encourage the establishment of private schools, public lands were made available to be used for school campuses
Trang 14Phân tích luật và quy định của các
trường đại học cao đẳng tư thục
2) Trong lần chỉnh sửa thứ 8 năm 2004, các
trường dòng trở thành một phần của hệ thống giáo dục quốc dân
3) Năm 2008, Luật giáo dục có sự chỉnh sửa quan trọng (lần 11) Bộ Giáo dục hạn chế sự giám sát
đối với các trường tư thục, cũng như bãi bỏ các
quy định về quản lý
Trang 15Phân tích luật và quy định của các
trường đại học cao đẳng tư thục
Đối với các điều khoản chỉnh sửa khác, nhằm tăng cường cơ hội thăng tiến nghề nghiệp của sinh viên các trường dạy nghề, Bộ Giáo dục đã nâng cấp
các trường giáo dục nghề thành các trường đại
Trang 16Việc phát triển của hệ thống
giáo dục đại học tư thục
Chúng ta sẽ xem xét những chính sách giáo dục quan trọng đi vào hoạt động in 5 giai đoạn sau
Tư thục:
Giáo dục Đại học tại Đài Loan trong giai đoạn đầu chỉ có khoảng 15% Đây chính là giai đoạn giáo dục dành cho số ít, như Trow định nghĩa
Trang 17Việc phát triển của giáo dục
đại học tư thục
Trong giai đoạn này, 5 trong số 12 trường đại học và cao đẳng tư thục (41.7%) là các trường Thiên chúa
hoặc Tin lành 2 trong số đó – Đại học Soochow
(1954) và trường Đại học Công giáo Fu Jen – được
tái thành lập tại Đài Loan
Một đặc điểm khác của giai đoạn này chính là việc các trường nghề 5 năm chiếm 76.8% tổng số các trường đại học và cao đẳng tư thục, và 74% các trường nghề
là tư thục
Trang 18Việc phát triển của giáo dục
đại học tư thục
Tuy nhiên, con số các trường tư thục vẫn còn rất hạn chế trong giai đoạn này, số lượng sinh viên
(bao gồm cả sinh viên sau đại học) tăng rất nhanh
từ 156,111 năm 1972 thành 295,880 năm 1985, cho thấy sự phát triển mạnh của các trường tư
thục
Trang 19Việc phát triển của giáo dục
đại học tư thục
lại năm 1985
Việc mở rộng giáo dục đại học tư thục chủ yếu
dành cho các trường đại học và cao đẳng tư thục,
từ 13 trường năm 1985 lên 30 trường
Tỷ lệ đăng ký tăng gấp đôi từ 20.79% năm 1985 lên 40.9% năm 1996
Trang 20Việc phát triển của giáo dục
Đại học
Cao đẳng
Cao đẳng 2 năm
Trang 21Việc phát triển của giáo dục
đại học tư thục
1997-2004 Nhu cầu cấp bách nâng cấp các trường
cao đẳng nghề 2 năm thành các trường cao đẳng kĩ thuật: Cho phép các trường cao đẳng nghề tái tổ chức
để trở thành các trường kĩ thuật (1996) yêu cầu các trường tư thục phải nâng cấp, điều này đã đưa đến
việc giảm số lượng các trường cao đẳng nghề từ 56 trường năm 1996 xuống còn 11 trường năm 2004
Trong vòng chưa đến 10 năm, tỷ lệ đăng ký tăng
từ 40.9% năm 1996 lên 78.1% năm 2004
Trang 22The Rush of Upgrading
Vocational Junior
thành lập các trường tư thục :
Chính phủ tăng cường hoạt động giám sát chặt
chẽ từ năm 2004 đối với việc nộp đơn xin thành lập các trường đại học và cao đẳng tư thục, đồng thời cũng giới thiệu cơ chế giải thể các trường tư thục Kết quả là, việc thành lập các trường tư thục
bị chậm lại
Trang 23tương đương với Hoa Kì, sau Hàn Quốc
Trang 24Đặc điểm và vai trò của giáo dục
tư thục tại Đài Loan
Vì các trường tư thục tăng cường việc công nhận quyền giáo dục, và chức năng của các trường phù hợp với sự quan tâm của công chúng, các trường
tư thục được xem là các tổ chức phi lợi nhuận
(Chou 2001)
Ảnh hưởng của nhà nước thể hiện ở việc chính
phủ giám sát và hỗ trợ các trường tư Năm 2009,
Bộ Giáo dục dành 24.9% ngân sách cho việc hỗ trợ các trường tư (Bộ Giáo dục, 2009)
Trang 25Đặc điểm và vai trò của giáo dục
tư thục tại Đài Loan
2 Vai trò cạnh tranh và bổ sung của các trường tư thục Trong giai đoạn đầu và giữa, các trường tư thục phối hợp cùng Ủy ban Hoạch định và Phát
triển Kinh tế trong việc đào tạo lực lực lao động kĩ thuật cao, đóng vai trò bổ sung rất lớn
However Tuy nhiên, từ khi việc mở rộng của các trường tư thục và công lập, thị trường giáo dục
khiến các trường tư thục trở thành đối thủ cạnh
tranh của các trường công lập
Trang 26Các vấn đề đang gặp phải
“đi cùng với con số sinh viên ngày càng tăng là tình trạng chất lượng giảm sát” điều này hoàn toàn đúng với các trường tư thục,vì tỷ lê đăng kí tổng tăng từ 15.4% năm 1976 lên 83.77% năm
2010, và tỷ lệ được nhận vào học tại các trường
Trang 27Tỷ lệ sinh trung bình là 1.03
năm 2009
Năm (2010) tất cả trường nhận 263,449 sinh viên mới
Trang 28Các vấn đề đang gặp phải
Năm 2004, Chính phủ quyết định không thành lập thêm các trường đại học quốc gia trong khi đồng thời sẽ tăng cường các quy định chặt chẽ
hơn đối với trường tư thục
Trang 29Kết luận
tăng cường việc thành lập các trường tư thục giúp đào tạo lực lượng lao động kĩ thuật cao góp phần tăng trưởng kinh tế, điều này sẽ giúp nâng cao khả năng tài chính của công chúng trong việc cho con
em theo học tại các trường
Việc phát triển này cũng cho thấy năng lực cũng
như vai trò cạnh tranh/bổ sung của các trường tư thục
Trang 30Kết luận
Các vấn đề trường tư thục đang gặp phải
1 Chất lượng sinh viên kém trở thành mối
quan tâm của công chúng
2 Đồng thời việc tồn tại và phát triển cảu các trường đại học tư thục cũng bị đe dọa vì những
thay đổi nhanh chóng về cơ cấu dân số.
Trang 31Kết luận
Trong vòng 35 năm, giáo dục đại học của Đài Loan đã chuyển từ “dành cho số it” sang “đại chúng” và cuối cùng “dành cho mọi người”, tạo nhiều cơ hội giáo dục hơn cho công
chúng, tăng cường chất lượng của lực lượng lao động
Các trường tư thục đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển này
Trang 32Xin cảm ơn!
Hsin-Chen Liu
s98107909@ncnu.edu.tw