Với mong muốn tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và pháp luật vào giải quyết vấn đề xã hội, tôi tìm kiếm nhận định “Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luậ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LUẬT
-*** -TIỂU LUẬN MÔN VĂN HÓA ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI: VĂN HÓA CHÍNH LÀ PHỔ RỘNG LỚN NHẤT CỦA PHÁP LUẬT VÀ PHÁP LUẬT ĐƯỢC XÂY DỰNG DỰA TRÊN
NHỮNG KINH NGHIỆM VĂN HÓA
Sinh viên thực hiện : Đặng Như Mai Lớp hành chính : Anh 1 – Luật Kinh doanh quốc tế Lớp tín chỉ : NGOH102.CLC.1
Chuyên ngành : Luật Kinh doanh quốc tế
Mã sinh viên : 2112650037
GV hướng dẫn : GV Nguyễn Tú Mai
GV Trần Thị Thanh Thủy
Hà Nội, tháng 6 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa văn hóa và pháp luật .
1.1. Khái niệm
1.1.1 Văn hóa
1.1.2 Pháp luật
1.1.3 Văn hóa pháp luật
1.2. Những dấu ấn dân chủ sơ kỳ trong mối quan hệ giữa văn hóa và pháp luật
2 Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và pháp luật ở Việt Nam .
2.1. Quan điểm “Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luật được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa”
2.1.1 Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật
2.1.2 Pháp luật được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa
2.2. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và pháp luật vào giải quyết vấn đề xã hội
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Pháp luật là lĩnh vực thể hiện rõ nét nhất mức độ dân chủ hóa trong một thể chế nhà nước Văn hóa tư pháp tồn tại như một thành tố của văn hóa tổ chức và quản lý cộng đồng Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, luật pháp đã bắt đầu xuất hiện từ trước thời Bắc thuộc Đặc biệt, Bộ luật Hồng Đức của nhà Lê (thế kỷ thứ XV) được coi là một dấu son trong nền cổ luật Việt Nam Các chế định về pháp luật trong Bộ luật này vừa mang đậm cốt cách Á Đông, vừa chứa đựng những tư tưởng tiến bộ gây ấn tượng cho nhiều học giả phương Tây, ví dụ như chế định bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người bị hại, hay chế định hôn sản công nhận quyền lợi bình đẳng của người phụ nữ, Hệ thống pháp luật đương đại của Việt Nam được hình thành từ năm 1946, nhưng vì nhiều lý do mà
đã phát triển không liên tục Hiện nay, trong bối cảnh xã hội đang đổi mới, xây dựng pháp luật là một yêu cầu cấp bách Trong công cuộc cải cách này, nếu hệ thống pháp luật hoàn thiện là điều kiện cần, thì những chuẩn mực về văn hóa là điều kiện đủ để đảm bảo sự thành công của quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
Trong thực tế, hệ thống pháp luật của Việt Nam vẫn còn thiếu sót và chưa đồng bộ Ý thức pháp luật của công dân vẫn mang nặng dấu ấn của văn hóa tiểu nông Tổ chức lao động tư pháp chưa hợp lý, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của những người tiến hành hoạt động tố tụng còn yếu, Những nguyên nhân này làm cho hệ thống pháp luật của Việt Nam hoạt động kém hiệu quả, và văn hóa chưa phát huy được vai trò hạt nhân góp phần đảm bảo tính tôn nghiệm của pháp luật, tính hiệu lực và hiệu quả giáo dục Với mong muốn tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và pháp luật vào giải quyết vấn đề xã hội, tôi tìm kiếm
nhận định “Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luật được
xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa” làm nền tảng và cơ sở lý luận
cho mối quan hệ ấy
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm phác họa tầm quan trọng của văn hóa và pháp luật trong quá trình phát triển, xây dựng Việt Nam, đặc biệt trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay Từ việc đánh giá tầm quan trọng của hai lĩnh vực trên cho thấy được mối quan hệ biện chứng và sự tác động qua lại giữa văn hóa và pháp luật
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, trình bày về khái niệm của những vấn đề mang tính cốt lõi của đề
tài
Trang 4Thứ hai, nghiên cứu đặc trưng truyền thống trong mối quan hệ giữa văn hóa
và pháp luật trong lịch sử, xem đây là cơ sở lý luận cho vấn đề cần phân tích
Thứ ba, phân tích quan điểm “Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luật được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa”.
Thứ tư, nghiên cứu và trình bày sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa
văn hóa và pháp luật vào giải quyết vấn đề xã hội hiện nay
Trang 5NỘI DUNG
1.Cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa văn hóa và pháp luật
1.1 Khái niệm
1.1.1 Văn hóa
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, gắn liền với lịch sử nhân loại Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của mỗi dân tộc và nhân loại Thuật ngữ
“văn hóa” xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại Ở phương Đông, từ
văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ thời cổ đại Trong công trình Chu Dịch
ở Trung Quốc đã có những từ “văn” và “hóa” Trong quẻ Bị của Chu Dịch viết:
“quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ”1, nghĩa là xem dáng vẻ của mỗi con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ Khổng Tử (551 – 479 tr CN) đã đề cập đến
“văn”, “văn đức” “lễ nghĩa” với ý nghĩa đối lập với vũ lực trong lời dạy học trò
“tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Theo Khổng Tử, đạo trị nước nên dùng văn đức để làm cho xã hội yên bình
Nói văn hoá là nói đến con người, là nói đến việc con người không ngừng sáng tạo để tồn tại, phát triển, là cách thức con người thực tại hóa năng lực bản chất của mình Nói cách khác, văn hoá là kết quả của quá trình con người nhận thức, ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với chính bản thân mình Văn hoá thể hiện trong các sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần và trong
con người Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”2 Mỗi dân tộc đều hình thành, phát triển trong điều kiện tự nhiên
và lịch sử – xã hội đặc thù, nền văn hoá của mỗi dân tộc bao giờ cũng có những nét riêng (bản sắc) Khái quát nhận thức của nhân loại về văn hoá, Federico
Mayor - nguyên Tổng giám đốc UNESCO, đưa ra quan niệm về văn hoá: “Văn
hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”3
Hồ Chí Minh không những là anh hùng giải phóng dân tộc, Người còn là nhà văn hóa lớn của dân tộc Người rất quan tâm đến vấn đề văn hóa - đạo đức, trong
bản thảo tập Nhật ký trong tù, Người đã ghi lại ý nghĩa của văn hóa, thể hiện cách nhìn nhận về văn hóa Hồ Chí Minh (2004) cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
1Trần Quốc Vượng (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.16.
2Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.25.
3Trần Văn Bính (2006), Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.15.
Trang 6công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”4 Bên cạnh khái niệm về văn hóa theo nghĩa rộng, Hồ Chí Minh còn đề cập đến văn hóa theo những nghĩa hẹp, văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, là những thành tựu con người đạt được trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống tinh thần: tư tưởng, đạo đức, khoa học, tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật Như vậy, văn hóa được hiệu thuộc kiến trúc thượng tầng, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng
1.1.2 Pháp luật
Theo quan điểm Marx, pháp luật là một hiện tượng lịch sử, hình thành và phát triển gắn liền với nhà nước, do nhà nước ban hành và bảo đảm được thực hiện Pháp luật là công cụ của giai cấp thống trị, nhằm duy trì và bảo vệ lợi ích của họ Nhà nước và pháp luật là sản phẩm của sự phát triển xã hội đến một trình độ nhất định Có nhiều định nghĩa khác nhau về pháp luật Song nội hàm khái niệm pháp
luật được hiểu một cách phổ biến là “tổng hợp các quy tắc xử sự có tính bắt buộc
do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế”5 Như
vậy, có thể hiểu rằng, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm được thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo ra trật tự và ổn định xã hội
1.1.3 Văn hóa pháp luật
Từ cách tiếp cận văn hóa như một tổng thể những yếu tố đặc trưng cho bản sắc của mỗi một dân tộc, thì văn hóa pháp luật có thể được xem như là một trong những mảng màu góp phần làm nên bức tranh đa sắc diện ấy Văn hóa pháp luật
là một khái niệm rộng bao hàm ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật và trình độ
vận dụng vũ khí pháp luật của con người Văn hóa pháp luật được xác định một
cách trực tiếp các yếu tố chứa đựng văn hóa rộng hẹp khác nhau: “Văn hóa pháp
luật là hệ thống các yếu tố, giá trị vật chất và tinh thần thuộc lĩnh vực tác động của pháp luật, được thể hiện trong ý thức, tư tưởng và hành vi của con người”6;
“Văn hóa pháp luật được hình thành từ 3 yếu tố: Ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật và các phương tiện pháp luật; trình độ, khả năng sử dụng pháp luật để thực hiện các hành vi hợp pháp”7; hay: “Văn hóa pháp luật là hệ thống các yếu
4Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 3, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.431.
5Nhiều tác giả (2002), Từ điển Hán – Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.1071.
6 Học viện Hành chính quốc gia (2015), “Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay”, Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX03.13/11-15.
7
Trần Hoàng, Trần Việt Hoa (2005), Văn hóa ứng xử nơi công sở, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Trang 7tố, giá trị vật chất và tinh thần thuộc lĩnh vực tác động của pháp luật được thể hiện trong ý thức, tư tưởng và hành vi của con người”8
Trong cấu trúc của hệ thống văn hóa, đó là một bộ phận cấu thành của văn hóa tổ chức cộng đồng Trong một xã hội có nhà nước và pháp luật, pháp luật và luân lý luôn song hành tồn tại Chúng có cùng một mục đích là tìm sự hài hòa trong các mối quan hệ giữa con người với con người, nhằm đề ra cho con người những quy tắc xử sự sao cho trật tự xã hội được duy trì Luân ý hướng về sự hoàn thiện con người, trong khi pháp luật hướng tới việc tổ chức đời sống trong xã hội Các giá trị luân lý của một xã hội được hình thành trên nền tảng văn hóa của
xã hội đó Luân lý bắt nguồn từ ý thức cá nhân hay tập thể, từ sự đúc kết kinh nghiệm trong cuộc sống, pháp luật phát sinh từ ý chí của con người Luân lý đạo đức có chuẩn mực lý tưởng, trong khi pháp luật có những chuẩn mực thực tế Tính chất lý tưởng của luân lý đạo đức có tác động tích cực cho sự vận hành của
hệ thống pháp luật Một xã hội có tổ chức không thể chỉ có luân lý, hay pháp luật, mà phải có cả hai Trong lịch sử hình thành và phát triển của một nền pháp luật, văn hóa và pháp chế là hai vấn đề không thể tách rời nhau Văn hóa nói chung, văn hóa pháp luật nói riêng nằm trong mối liên hệ mật thiết với nhau Trong mối quan hệ hữu cơ đó, có thể xem văn hóa là cái chung, văn hóa pháp luật là cái riêng mà trong nó luôn chứa đựng những dấu ấn của các cơ tầng văn hóa đan xen với các giá trị văn minh
1.2 Những dấu ấn dân chủ sơ kỳ trong mối quan hệ giữa văn hóa và pháp luật
Trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm viết: “Đối với một
nền văn hóa gốc nông nghiệp điển hình như Việt Nam thì tổ chức nông thôn lại
là lĩnh vực quan trọng nhất Nó chi phối cả truyền thống tổ chức quốc gia lẫn tổ chức đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người”9 Làng xã là đơn vị cơ bản tạo thành khuôn khổ xã hội ở nông thôn Việt Nam thời phong kiến Nếu chủ quyền quốc gia được cấu thành bằng các quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, thì ở làng xã cũng có những thiết chế tương tự thông qua hoạt động quyền lực của những chức sắc trong hội đồng kỳ mục, lý tưởng và tiền chỉ, thứ chỉ Hội đồng kỳ mục có vai trò quyết định trong việc đề ra những quy tắc lệ làng
Lý trưởng là người đứng đầu bộ phận hành pháp của một làng, có trách nhiệm điều hành các cá nhân trong cộng đồng tuân thủ cả phép nước lẫn lệ làng Các bậc tiền chỉ, thử chỉ là những người phụ trách công việc xét xử phạm vi làng xã
Về phương diện pháp luật, theo một nghĩa nào đó, xã nào cũng có một pháp đình riêng Những tranh chấp trong nội bộ dân làng do lý trường hoặc tiên chỉ xét xử
8Phạm Duy Nghĩa (2008), “Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật”, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia
Hà Nội, Kinh tế - Luật, số 24, tr.1-8.
9
Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.179.
Trang 8trước tiên Họ có quyền không những chỉ căn cứ vào pháp luật của triều đình, mà còn căn cứ vào lệ làng và lẽ công bằng để phán xét vụ việc
Thời nhà Nguyễn, tiên chỉ còn có quyền đưa ra ngân hình (phạt tiền) hoặc đánh đòn bằng roi Đối với các án tụng phải xét xử theo luật triều đình, vai trò của làng xã, trong nhiều trường hợp, vẫn được nhấn mạnh gần như một cấp xét
xử đầu tiên, Hương ước làng Mộ Trạch (Hải Hưng) năm Canh Tỵ thứ 3 (1665)
còn ghi rõ: “Nếu một dân làng nào muốn thưa kiện, thì người đó trước hết phải
nộp đơn cho xã trường, để xã trường là người đầu tiên được biết việc đó và là người đầu tiên xét đơn Cấm không được vượt qua thứ bậc đó Người vi phạm sẽ
bị làng phạt vạ một con trâu và 6 vò rượu”10
Trong đó, tính tự trị của làng xã mang nhiều dấu ấn dân chủ sơ kỳ Luật pháp được ban hành thống nhất, nhưng lại được thực thi bằng những cách thức và hiệu quả rất khác nhau ở những địa phương khác nhau, đặc biệt là trong các quan hệ
dân sự: “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” Phần lớn
các tranh chấp trong dân chúng được giải quyết trong nội bộ gia đình, họ tộc hay làng xã Thời phong kiến, sự thiếu hụt những quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ trực tiếp giữa những người dân trong làng xã, và tình trạng nhà nước không quản lý đến từng công dân là một trong những môi trường nuôi dưỡng cho
xã hội làng xã phát triển
Với một nền tảng xã hội mang nặng tư tưởng của Nho giáo, gia đình, xã hội mang tính tôn ty trật tự khắt khe, bản thân nhà nước cũng phải phù hợp với khuôn mẫu xã hội và gia đình Việc tuân thủ những quy định của tập quán luôn
luôn gần gũi hơn thái độ phục tùng pháp luật: “Phép vua thua lệ làng” Lệ làng
đóng một vai trò đặc biệt quan trọng khẳng định tính tự trị của làng xã Việt Nam
Lệ làng như một công cụ để hình thành nên một xã hội làng xã Những quy định thành văn và bất thành văn của lệ làng không những có giá trị điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên trong làng, mà còn chi phối cả cách ứng xử của cộng đồng với luật pháp và các quan lại nhà nước cấp trên
Ngay trong thời kỳ Pháp thuộc, Toàn quyền Đông Dương - Piere Pasquier đã
từng nhận định: “Xã họp thành một khối, hoàn bị đến nỗi người ta không thể sửa
đổi một điểm nhỏ nào Chúng ta không có lợi ích gì mà đả phá trực tiếp hoặc gián tiếp một cơ quan hiện là một lợi khí màu nhiệm, miễn ta nên để nó nguyên vẹn và tôn trọng những hình thức của nó”11
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, rất nhiều trong số đó có những luật tục riêng Do đó, khi áp dụng những quy định pháp luật và các chuẩn mực về văn hóa chung tại các cộng đồng này, thì sự hài hòa giữa các giá trị pháp lý và các
10 Nguyễn Đăng Dung (2001), Một số vấn đề về hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nxb Giao
thông vận tải, tr.444.
11 Nguyễn Đăng Dung (2003), “Một xã hội làng xã”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Hà Nội, số
11/2003, tr.23.
Trang 9chuẩn mực đạo đức của cộng đồng là điều mà các nhà làm luật luôn phải tính
đến Thời nhà Nguyễn, theo bộ Luật Gia Long, thẩm phán được quyền áp dụng
điều khoản tương tự nếu thấy luật thiếu sót về một trường hợp tranh chấp nào đó Việc xét xử không chỉ căn cứ vào luật của triều đình, mà còn tùy thuộc vào phong tục tập quán của địa phương Ở miền Nam trước năm 1975, trước sự đấu tranh gay gắt của các dân tộc vùng Tây Nguyên, chính quyền Sài Gòn phải ban
hành Sắc luật 6/65 ngày 22/7/1965 về việc Tổ chức các Tòa án Phong tục
Thượng Theo đó, người dân có quyền lựa chọn được xét xử theo phong tục hay theo luật thực định khi có tranh chấp
Trong pháp luật hiện hành, vấn đề dân tộc trong văn hóa tư pháp cũng đã
được quan tâm, Điều 134 Hiến pháp quy định: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng
nói và chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án” Theo Luật hôn nhân gia đình:
“Đối với dân tộc thiểu số, chính phủ căn cứ Luật này và tình hình cụ thể mà có những quy định thích hợp” Tóm lại, văn hóa truyền thống trong điều hành xã
hội ở nước ta tồn tại song song trên thực tế một dạng thức kép giữa những nguyên tắc quản lý xã hội được ghi thành văn bản với những nguyên tắc không thành văn nhưng được quy ước và công nhận Nghĩa là các chuẩn mực về hoạt động và hành vi của con người không phải chỉ được quy định trong pháp luật mà còn trong những thông lệ, thông tục, tập quán, quy ước Trong nhiều trường hợp, luật pháp không đóng vai trò chủ yếu Hiện tượng này không hẳn thể hiện tính yếu ớt của pháp luật trong việc điều hành xã hội, mà là khẳng định vai trò tự quản của các cộng đồng địa phương Trong thực tế, các quy định pháp luật của chính quyền trung ương chỉ được đề cao và vận dụng khi phù hợp với những thông lệ của chính địa phương đó
Trang 102 Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và pháp luật ở Việt Nam
2.1 Quan điểm “Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và pháp luật được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa”
2.1.1 Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật
Xã hội nào cũng cần pháp luật như một công cụ điều chỉnh hành vi của con người trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, nhưng trên thực tế, con người chịu sự điều chỉnh của văn hóa nhiều hơn là pháp luật vì con người luôn hành động theo tập quán, theo thói quen… Hơn nữa, ngay cả trong trường hợp pháp luật được sử dụng để áp đặt hành vi của con người thì con người vẫn hành động theo thói quen, theo những kinh nghiệm văn hóa của mình, và do đó, họ vi phạm pháp luật
Nguồn gốc nông nghiệp lúa nước và triết lý âm dương ảnh hưởng rất sâu đậm đến tính cách của người Việt Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, hài hòa là yếu tố quan trọng xác định sự cân bằng của vũ trụ Đó là sự hài hòa của con người với thiên nhiên, giữa con người với con người Mỗi cá nhân cần phải hướng tới lợi ích của cộng đồng mà quên đi bản thân Tổ chức cộng đồng được hình thành theo nguyên tắc trọng tình, rất linh hoạt và hòa hiếu trong các quan hệ
xã hội
Sống giữa môi trường thiên nhiên và xã hội đó, người Việt Nam mang bản tính mềm dẻo, sống tình cảm và bao dung Với lối sống trọng tình nghĩa, người
nông dân Việt Nam luôn cho rằng “Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”, thậm chí có khi đã phải “Đưa nhau đến trước cửa quan” nhưng vẫn mong muốn
“Bên ngoài là lý bên trong là tình” Với một thiết chế xã hội mà pháp luật không
mạnh, người dân thường tuân theo những quy ước của cộng đồng mình Họ thường sống theo chuẩn mực luân lý xã hội, chứ không phải là theo chuẩn mực của pháp luật Khi có xung đột thì tìm cách hòa giải cho em thấm, chứ không
thích đến cửa quan, do tâm lý: “Vô phúc đáo tụng đình”.
Hơn nữa, trong tâm lý của người Việt, những công cụ pháp lý như pháp luật, xét xử luôn gắn với một ý niệm về sự trừng phạt đối với những việc làm sai trái Công lý trong hoạt động tư pháp chủ yếu dùng để răn đe, bảo vệ trật tự xã hội và lợi ích cộng đồng, chứ không phải để bảo vệ lợi ích cá nhân Thậm chí, nhiều người quan niệm: những kẻ phải ra đứng trước tòa án để “bị” xét xử nếu
không là tội phạm thì cũng phải là phường “trốn chúa, lộn chồng” Trong bối
cảnh đó, tuyệt đại đa số công dân rất ngắn ngại khi có việc phải kiện tụng tại tòa
án Họ chỉ thụ động ra “hầu tòa” khi có vấn đề rắc rối với pháp luật, chứ hầu như hiếm khi chủ động sử dụng quyền tư pháp của mình để giải quyết tranh chấp cá nhân
Làng xã Việt Nam là một phức hợp của nhiều tổ chức xã hội rất đa dạng của các mối liên hệ nghề nghiệp, tuổi tác, tín ngưỡng, tôn giáo, dòng tộc Song giữa