1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài ẢNH HƯỞNG của XU HƯỚNG TIÊU DÙNG XANH đến HÀNH VI lựa CHỌN sản PHẨM THỜI TRANG của NGƯỜI dân THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH

20 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của Xu hướng tiêu dùng xanh đến hành vi lựa chọn sản phẩm thời trang của người dân thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Âu Dương Hồng An, Trần Nhật An, Du Hoàng Anh, Dương Hoàng Anh, Đặng Quốc Cường, Sỳ Thế Đạt, Dương Cụng Đoàn, Nguyễn Hoàng Giang, Nguyễn Thu Hằng
Người hướng dẫn Cụ Nguyễn Thị Xuôn
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương Cơ sở 2
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 35,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- o ---ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA XU HƯỚNG TIÊU DÙNG XANH ĐẾN HÀNH VI LỰA CHỌN SẢN PHẨM THỜI TRANG CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nhóm: 01 Lớp: K60A Người

Trang 1

- o

-ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA XU HƯỚNG TIÊU DÙNG XANH ĐẾN HÀNH VI LỰA CHỌN SẢN PHẨM THỜI TRANG CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH

Nhóm: 01 Lớp: K60A Người thực hiện: Âu Dương Hồng An, Trần Nhật An, Du Hoàng

Anh, Dương Hoàng Anh, Đặng Quốc Cường, Sú Thế Đạt, Dương Công Đoàn, Nguyễn Hoàng Giang, Nguyễn Thu Hằng

Giáo viên hướng dẫn: Cô Nguyễn Thị Xuân

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 3

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tính cấp thiết: 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 4

1.3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu: 4

1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.4.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước: 5

1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước: 9

1.5Phương pháp nghiên cứu: 13

1.6Tính mới và tính đóng góp của đề tài: 14

1.7Kết cấu đề tài 15

TÓM TẮT CHƯƠNG 1……….16

DANH MỤC VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO………17

Trang 4

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết:

Theo số liệu từ Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, dân số thành phố năm

2019 đã đạt hơn 9 triệu người Với sự gia tăng về dân số, nhu cầu về tiêu dùng cũng bắt đầu tăng cao – đặc biệt là trong ngành thời trang Tuy nhiên, sự thay đổi xu hướng

ăn mặc gây ra hệ quả hàng hóa sản xuất vượt qua nhu cầu khiến một lượng lớn quần

áo phải đem đi phân hủy gây ra ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường Cụ thể theo báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh (2019), ngành thời trang góp phần tạo nên 172.000- 519.000 sợi vi nhựa/m3 nước, 10-233 mảnh và màng vi nhựa/m3 nước tại sông Sài Gòn vào năm 2018 Theo như ông Nguyễn Toàn Thắng Giám đốc Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố Hồ Chí Minh, hiện thành phố còn tồn tại một số bất cập trong thu gom và xử lý chất thải, như: thiết bị thu gom rác thải dân lập quá thô

sơ và xuống cấp; một số phương tiện vận chuyển rác đã cũ; tính kết nối giữa công tác thu gom tại nguồn và vận chuyển không đồng bộ Bên cạnh đó, năm 2021 Bộ Công thương đã đề ra kế hoạch phát triển kinh tế giai đoạn 2021-2030 nhấn mạnh ở khuyến khích việc sản xuất và sử dụng các sản phẩm tái chế, thân thiện với môi trường Trong

đó, giai đoạn 2021 – 2025 nhà nước sẽ xây dựng chính sách pháp luật về sản xuất và tiêu dùng bền vững, cụ thể: các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật về sản xuất bền vững, thiết kế bền vững, thiết kế sinh thái, thiết kế để tái chế, tái sử dụng cho các ngành sản xuất; các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật về nhãn sinh thái; các tiêu chuẩn về du lịch bền vững; các tiêu chuẩn về nguyên vật liệu, sản phẩm thân thiện môi trường, sản phẩm tái chế; xây dựng ít nhất 10 tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về sản xuất và tiêu dùng bền vững; các chính sách thúc đẩy sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm bao

bì thân thiện môi trường thay thế cho các sản phẩm nhựa khó phân hủy, sử dụng một lần; các quy định về mua sắm công xanh Đến năm 2030, nhà nước sẽ hoàn thiện và thực thi có hiệu quả chính sách pháp luật về sản xuất và tiêu dùng bền vững Vì vậy,

kế hoạch phát triển kinh tế của Chính phủ đã đặt ra một thách thức cho ngành thời trang là phải thay đổi để phù hợp với xu hướng sản xuất và tiêu dùng mới Hơn nữa,

xu hướng tiêu dùng xanh đang ngày càng phổ biến trên thế giới Các thương hiệu thời trang lớn như Nike cam kết sử dụng 100% năng lượng tái tạo tại các nhà máy vào năm 2025, Adidas sẽ tăng gấp đôi số lượng giày làm từ nhựa tái chế kể từ năm 2019 Zara cũng cam kết hạn chế sản xuất gây tác hại đến môi trường, đó là đến năm 2025 chỉ sử dụng bông, vải lanh và polyester hữu cơ hoặc tái chế để làm quần áo; Wrangler thì phát triển một quy trình sản xuất denim mới giúp giảm tiêu thụ nước, trong khi thương hiệu jeans Levi’s cũng đã tìm ra công nghệ sản xuất tốn ít nước hơn và loại bỏ chất độc với nguồn nước Đáng chú ý trong những cái tên cam kết thời trang bền vững là H&M – hãng thời trang nhanh vốn không ngừng đổi mới mẫu mã, tiết kiệm chất liệu để tạo ưu

Trang 5

thế về giá thành Ông Iñigo Sáenz Maestre – đại diện H&M cho biết, 35% sản phẩm của hãng hiện được sản xuất bằng nguyên liệu tái chế và mục tiêu mà H&M

đề ra là tới năm 2030 sẽ chỉ dùng loại nguyên liệu này

Thực tế, theo khảo sát của Trường đại học Bách khoa TP.HCM đăng trên báo chuyên trang đầu tư và chứng khoán của báo đầu tư (2018), nhóm nghiên cứu thống kê có đến 70% doanh nghiệp chưa biết đến chứng nhận xanh Việt Nam; hơn nữa, 50% doanh nghiệp không quan tâm đến biến đổi khí hậu; 60% doanh nghiệp không sẵn lòng đầu tư cho sản phẩm xanh; chỉ 50% doanh nghiệp cho biết lý do doanh nghiệp đầu tư sản xuất - kinh doanh sản phẩm xanh là để bảo vệ môi trường; 23,3% doanh nghiệp cho biết lý do doanh nghiệp đầu tư sản xuất - kinh doanh sản phẩm xanh là để tiết kiệm năng lượng Thêm vào đó, có 89% doanh nghiệp trả lời không nhận được sự hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước trong quá trình sản xuất - kinh doanh sản phẩm xanh; chỉ có 26% doanh nghiệp cho biết họ nhận được

sự ủng hộ của các nhà sản xuất, phân phối đối với sản phẩm xanh Có thể thấy, vấn đề góp phần bảo vệ môi trường, giảm tiêu thụ nguyên nhiên vật liệu chưa được doanh nghiệp quan tâm, đặc biệt là khối doanh nghiệp thường Vì vậy, việc tìm hiểu ảnh hưởng của xu hướng tiêu dùng xanh nhằm định hướng phát triển cho doanh nghiệp là cần thiết và quan trọng Đồng thời, những nghiên cứu về xu hướng tiêu dùng xanh sẽ cung cấp cho doanh nghiệp một cái nhìn khái quát và đầy

đủ hơn Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ ở mức độ chung chung như nghiên cứu của Nguyễn Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh (2016) hay nghiên cứu của Hoàng Thị Bảo Thoa (2016) mà chưa đề cập đến một ngành cụ thể

Với những lí do trên, nhóm tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của xu hướng tiêu dùng xanh đến hành vi lựa chọn sản phẩm thời trang của người dân thành phố Hồ Chí Minh” và tin rằng hiện nay nó thực sự cần thiết tại

thành phố Hồ Chí Minh nhằm phân tích, đánh giá để tìm ra hướng phát triển phù hợp đối với các hãng thời trang trước sự phát triển của xu hướng tiêu dùng xanh

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Từ tính cấp thiết của đề tài trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra 3 mục tiêu chính như sau:

• Điều tra mức độ ảnh hưởng của xu thế tiêu dùng xanh đến hành vi lựa chọn sản phẩm thời trang của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

• Phân tích các chiều hướng và cách thức mà xu hướng tiêu dùng xanh làm thay đổi hành vi lựa chọn sản phẩm thời trang cũng như nhận thức của người dân TPHCM

• Đề xuất cách tận dụng xu hướng dựa vào những ảnh hưởng của tiêu dùng xanh đối với mỗi nhóm đối tượng cụ thể để tăng doanh số cho doanh nghiệp thời trang tại Việt Nam, cụ thể là chiến lược sản xuất và marketing

1.3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu:

Trang 6

Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của xu hướng tiêu dùng xanh đến hành vi lựa chọn sản phẩm thời trang của người dân thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu:

• Về không gian: nghiên cứu tầm ảnh hưởng của xu hướng tiêu dùng xanh đến hành vi lựa chọn sản phẩm thời trang của người dân tại 10 quận chính, thành phố Hồ Chí Minh và các doanh nghiệp ngành thời trang nhỏ và vừa

• Về thời gian: dữ liệu sử dụng cho việc nghiên cứu thu thập từ năm 2010 đến nay, trong đó bao gồm các dữ liệu thứ cấp từ Tổng Cục Thống Kê, Cục Thống Kê TPHCM, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc, và dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp định tính gồm quan sát kết hợp phỏng vấn nhiều nhóm tập trung, và phương pháp định lượng bằng bảng khảo sát 300 người dân mua sắm tại các trung tâm lớn và vừa, 200 người dân mua sắm tại các cửa hàng nhỏ, đồng thời 20 hãng thời trang nhỏ và vừa Bảng khảo sát được thiết kế hoàn chỉnh và phù hợp với vấn đề nghiên cứu

1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.4.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:

Tính đến năm 2021, thế giới đã có nhiều bài nghiên cứu về xu hướng tiêu dùng xanh và thời trang trên nhiều phương diện Nhiều nghiên cứu tổng quản về

xu hướng tiêu dùng xanh của các nhà nghiên cứu như Ken Peattie (2010) và nhóm nghiên cứu của Ulla A Saari (2021) Đi sâu hơn, đó là các nghiên cứu về các yếu

tố thúc đẩy tiêu dùng xanh như nghiên cứu của Syeda Shazia Bukhari (2011), Sushant Kumar và Rambalak Yadav (2021) và nhóm nghiên cứu của Puneet Kaur (2021) Bên cạnh đó, thế giới cũng có nhiều đề tài nghiên cứu trực tiếp đến xu hướng tiêu dùng xanh ảnh hưởng lên lĩnh vực thời trang như nghiên cứu của nhóm Carey và Lindsey (2011), nhóm nghiên cứu của Gopal Das (2017),nhóm tác giả Qaisar Ali, Asma Salman, Shazia Parveen, và Zaki Zaini (2020) hay nhóm nghiên cứu của Stefanie Wening (2021) Sau đây nhóm tác giả tóm tắt kết quả từ các nghiên cứu này tạo tiền đề cho các bước tiếp theo của bài nghiên cứu

Ken Peattie (2010) khi nghiên cứu về tiêu dùng xanh, ông đã tổng hợp các dữ liệu

từ Mỹ, Anh, Đức, Đan Mạch, Nhật Bản và nhiều nước công nghiệp phát triển khác để đưa ra những nhận định về chuẩn mực và thái độ của người tiêu dùng Nghiên cứu của ông đã tìm ra mối liên hệ giữa xu hướng mua hàng và tâm lý người tiêu dùng Ông đã tìm ra được ảnh hưởng của tâm lý trong tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đối với khả năng mua các sản phẩm xanh của người tiêu dùng Bên cạnh

đó, nghiên cứu đã xây dựng và kiểm tra định lượng các mô hình hành vi người tiêu dùng chiếm ưu thế trong nghiên cứu Tuy nhiên, hành vi của người tiêu dùng xanh phức tạp đến mức các mô hình toàn diện cũng không thể kiểm chứng được hoàn toàn

mà chỉ trả lời được một phần câu hỏi hành vi của người tiêu dùng đối với xu hướng xanh Mặc dù vậy, trong nghiên cứu của Ken đã đề xuất được những vấn đề có thể nghiên cứu trong tương lai: sự liên hệ giữa hộ gia đình và công

Trang 7

nghiệp xanh, hành vi sử dụng sản phẩm làm giảm các tác động tới môi trường hay nhu cầu tiêu dùng xanh của những người có địa vị thấp trong xã hội

Ulla A Saari, Svenja Damberg, Lena Frombling, và Christian M Ringle (2021)

đã nghiên cứu về hành vi tiêu dùng bền vững tại Châu Âu, cụ thể là ảnh hưởng của kiến thức và nhận thức về tính cấp thiết trong việc bảo việc môi trường đến những mối quan ngại về vấn đề môi trường và hành vi tiêu dùng Nghiên cứu đã kết hợp các công trình nghiên cứu trước đó để tạo nên một mô hình lý thuyết mới, được thử nghiệm và xác nhận với bộ dữ liệu mở từ mô-đun Môi trường III 2010, được thu thập bởi Chương trình Khảo sát Xã hội Quốc tế (ISSP) Mẫu nghiên cứu bao gồm đối tượng khảo sát đến từ chín quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (EU) và Hiệp hội Thương mại Tự do Châu Âu (EFTA) Mô hình chỉ ra rằng nhận thức rủi ro và kiến thức về môi trường tác động đáng kể đến việc lo ngại về các vấn đề môi trường của người tiêu dùng Những mối quan ngại ấy lại có ảnh hưởng to lớn đến ý định hành vi,

và đóng vai trò trung gian cho xu hướng tiêu dùng bền vững Tuy nhiên, mô hình này chủ yếu tập trung vào các yếu tố tác động đến mối quan tâm về môi trường

Syeda Shazia Bukhari (2011) đã nghiên cứu về thực trạng, tiềm năng của marketing xanh để đưa ra những ảnh hưởng của nó lên hành vi của người tiêu dùng Tác giả đã nêu thực trạng ảnh hưởng của marketing xanh đến người tiêu dùng và chứng minh tiềm năng, các lợi ích mà marketing xanh có thể mang lại, từ

đó thể hiện giá trị đáng thực thi của marketing xanh mà các nhà tiếp thị nên khai thác Trong phần trọng tâm của bài nghiên cứu, tác giả thực hiện giới thiệu mô hình 4P's của chiến lược marketing xanh hỗn hợp, bao gồm: (1) Product - (sản phẩm), (2) Price - (giá cả) (3) Promotion - (động lực), (4) Place - (địa điểm); phân tích giá trị thực tiễn mà bài nghiên cứu có thể đóng góp cho tất cả doanh nghiệp hiện đại; đồng thời đưa ra 5 thách thức mà các doanh nghiệp cần giải quyết nếu áp dụng mô hình marketing xanh trong tương lai Cuối cùng, tác giả kết luận lại các vấn đề mà các nhà tiếp thị cần giải quyết tận dụng cơ hội mà marketing xanh mang lại Bài nghiên cứu vẫn còn hạn chế khi chưa có những thông tin cụ thể về tác động của marketing xanh đến hành vi tiêu dùng của khách hàng

Sushant Kumar và Rambalak Yadav (2021) nghiên cứu về ảnh hưởng của động lực mua sắm đến ý định mua sản phẩm thời trang thân thiện với môi trường của người tiêu dùng bằng việc áp dụng lý thuyết động lực mua sắm (động lực thực dụng và khoái lạc), giới tính và thu nhập hộ gia đình cũng được xem xét Dữ liệu được thu thập thông qua việc khảo sát bằng bảng câu hỏi với hình thức nghiên cứu sơ bộ

ở quy mô nhỏ (pilot study) trên 42 đối tượng khảo sát Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cả động lực thực dụng và động lực tiêu khiển đều đóng vai trò chủ chốt trong ý định mua sản phẩm may mặc xanh của người tiêu dùng

Amandeep Dhir, Mohd Sadiq, Shalini Talwar, Mototaka Sakashita và Puneet Kaur (2021) đã sử dụng dữ liệu từ việc nghiên cứu mẫu tiêu biểu trên 387 người tiêu dùng Nhật Bản khi nghiên cứu về các yếu tố thúc đẩy việc sử dụng sản phẩm may mặc thân thiện với môi trường của người tiêu dùng Mô hình Kiến thức - Thái

Trang 8

độ - Hành vi (KAB) và lý thuyết Thái độ - Hành vi - Hoàn cảnh (ABC) đã được nhóm nghiên cứu áp dụng và chỉ ra rằng niềm tin xanh (sự sẵn sàng trong việc lựa chọn sản phẩm xanh của người tiêu dùng với niềm tin và mong muốn bảo vệ môi trường), những quan ngại và thái độ về vấn đề môi trường có mối quan hệ đồng biến với hành vi lựa chọn sản phẩm thời trang xanh của người tiêu dùng Tuy nhiên, những yếu tố trên ảnh hưởng không nhiều đến khoảng cách giữa thái độ và hành vi (attitude-behaviour gap) của người tiêu dùng đối với sản phẩm thời trang xanh khi thái độ tích cực của họ đối với các sản phẩm này không dẫn đến việc họ

sẽ thực sự mua chúng Mặc dù nghiên cứu đã cung cấp một cái nhìn mới mẻ về những yếu tố thúc đẩy việc lựa chọn sản phẩm xanh của người tiêu dùng, nó có những hạn chế nhất định Nghiên cứu được thực hiện ở Nhật Bản, một quốc gia phát triển với một nền văn hóa độc đáo Do đó, những phát hiện này không thể được khái quát hóa cho các quốc gia phát triển khác, cũng như các quốc gia châu

Á khác vẫn được phân loại là đang phát triển

Nghiên cứu của nhóm tác giả Cervellon, Marie-Cécile, Carey và Lindsey (2011) với đề tài “Consumers’ perceptions of ‘green’: Why and how consumers use eco-fashion and green beauty products” phân tích nhận thức của khách hàng đối với lối sống xanh, cụ thể là qua hiểu biết của khách hàng đối với các nhãn hiệu và chứng nhận xanh, cùng với đó là hành vi tiêu dùng của họ trong ngành hàng mỹ phẩm và thời trang thân thiện với môi trường Tác giả đã thực hiện những buổi phỏng vấn sâu

và tập trung theo nhóm Kết quả cho thấy, khách hàng thực sự không hiểu hết tất cả các thuật ngữ và nhãn hiệu được sử dụng để mô tả, cam kết trên những sản phẩm xanh Bên cạnh đó, nghiên cứu cho thấy động lực để mua các sản phẩm xanh của khách hàng đến từ ba nhân tố chính: (1) niềm tin sản phẩm có lợi cho sức khỏe (Health-conscious consumers), (2) mong muốn thoát khỏi cảm giác tội lỗi (Environmentalist), (3) mong muốn thể hiện trình độ và vị thế của bản thân thông qua việc sử dụng sản phẩm xanh (Quality hunters) - một xu hướng xuất phát từ các nước châu u Từ đây, nhóm nghiên cứu chứng minh nhận thức tầm quan trọng của việc bảo

vệ môi trường không nằm trong sự ưu tiên của người tiêu dùng khi mua sắm Hạn chế của nghiên cứu là chỉ thực hiện các phương pháp mang tính định tính, thực hiện với phạm vi nhỏ về cả số lượng và không gian, khiến cho luận điểm của tác giả cũng trở nên chủ quan, thiếu thuyết phục Bên cạnh đó, các câu hỏi được đặt ra cho đối tượng khảo sát thiếu tính phổ thông, đòi hỏi người tiêu dùng phải có kiến thức sinh học, hoá học nhất định, điều này khiến kết quả khảo sát một phần bị ảnh hưởng bởi trình độ và lĩnh vực chuyên môn của người tham gia, thay vì mối quan tâm thực sự của những người này với vấn đề môi trường và tiêu dùng xanh

Geetika Varshneya, Shivendra K.Pandey và Gopal Das (2017) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của xã hội và tiêu dùng xanh đến ý định mua quần áo làm từ chất liệu hữu

cơ Ở nghiên cứu này, nhóm tác giả đã đo lường thái độ và hành vi dựa trên nghiên cứu bởi Wu và Chen (2014) Dựa vào đó, nghiên cứu đã được thực hiện trên nhóm người tiêu dùng trưởng thành ở độ tuổi từ 20-40 tại Ấn Độ Qua đó, nghiên cứu đưa

ra những kết luận dựa trên những kết quả đã đo lường ban đầu và số liệu

Trang 9

thực tế Từ những kết quả đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra được kết luận là ảnh hưởng xã hội không đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn quần áo hữu

cơ ngay cả trong nền văn hóa có chủ nghĩa tập thể như Ấn Độ Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ hướng vào quần áo hữu cơ chứ không thể được ứng dụng cho các loại trang phục khác nên áp dụng còn hạn chế

Qaisar Ali, Asma Salman, Shazia Parveen, và Zaki Zaini (2020) nghiên cứu và quản lý để phân loại và hiểu được các tác động của hành vi xanh của người tiêu dùng đối với hoạt động của doanh nghiệp Nhóm tác giả sử dụng các phương pháp định lượng để thu thập dữ liệu, tập trung nghiên cứu công ty thời trang và dệt may được chứng nhận ISO 14001 Nghiên cứu này nhằm kiểm tra các giả thuyết chính sau: (1) Áp dụng EMS tạo ra hiệu quả tài chính cao hơn, (2) Áp dụng EMS tạo ra ROA cao hơn, (3) Áp dụng EMS tạo ra ROS cao hơn, (4) Áp dụng EMS tạo ra SOA cao hơn Kết quả nghiên cứu tổng thể cho thấy lợi ích của việc áp dụng các hoạt động môi trường vượt quá chi phí thực hiện, có nghĩa là hiệu suất của công ty được cải thiện thông qua việc giảm chi phí sản xuất thay vì tạo ra doanh thu nhiều hơn Tóm lại, theo như dữ liệu được thu thập từ 7 công ty chứng nhận EMS và 59 công ty không được chứng nhận, cho thấy các công ty có chứng nhận EMS có thay đổi đáng kể về hiệu suất Từ đó cho thấy, nhận thức tiêu dùng và mong muốn quần

áo thân thiện với môi trường ngày càng cao đã ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp thời trang tại Malaysia

Theresa Maria Rausch , Daniel Baier , Stefanie Wening (2021) đã tiến hành hai nghiên cứu với bốn thử nghiệm với quy mô vô cùng mở rộng, trong đó 4.350 người mua sắm trực tuyến để đánh giá tầm quan trọng của các sản phẩm thời trang truyền thống và bền vững, cũng như các thuộc tính của nó và việc liệu họ có sẵn sàng chi tiền cho các sản phẩm đó Nghiên cứu đi sâu về tầm quan trọng đối với các yếu tố của thời trang truyền thống cũng như bền vững trong bối cảnh mua hàng trực tuyến Phát hiện của họ chỉ ra rằng các thuộc tính thông thường chẳng hạn như sự phù hợp và thoải mái, tỷ lệ giá cả-hiệu suất và chất lượng của các sản phẩm may mặc chi phối người tiêu dùng nhiều hơn các yếu tố của thời trang bền vững như độ bền, mức lương

và môi trường làm việc của người sản xuất, quy trình sản xuất thân thiện với môi trường hay một số yếu tố khác bao gồm việc đóng gói, trả hàng miễn phí và các chiến dịch giảm giá Ngoài ra nghiên cứu phát hiện rằng đối tượng khảo sát là nữ chú trọng các yếu tố bền vững hơn đối tượng khảo sát là nam

Nhìn chung, các nghiên cứu nước ngoài đã cho thấy nhiều hướng tiếp cận đến xu hướng tiêu dùng xanh Mỗi nghiên cứu đều dựa trên số liệu cụ thể, khảo sát chuyên sâu và phân tích dữ liệu Tuy đa phần các nghiên cứu chỉ hướng đến một cái nhìn tổng quát về xu hướng tiêu dùng Nhưng các nghiên cứu này đã tạo nên tiền đề cho sự phát triển của các nghiên cứu về xu hướng tiêu dùng xanh đối với lĩnh vực thời trang Dựa trên cơ sở lí thuyết đã có kết hợp với khảo sát thực tế, hai nghiên cứu của nhóm tác giả Zaki Zaini (2020) và nhóm nghiên cứu của Stefanie Wening (2021) đã nêu lên được các nhân tố ảnh hưởng của tiêu dùng xanh đối với lĩnh vực thời trang Tuy nhiên, nhóm tác giả nhận thấy các tâm lí của người tiêu dùng rất

Trang 10

phức tạp nên không thể chỉ dựa vào các thuộc tính của sản phẩm cũng như khả năng chi trả và mức độ quan tâm của người tiêu dùng

1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:

Ở Việt Nam, các nghiên cứu từ năm 2015 tập trung vào việc tìm kiếm những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh nói chung, nhưng chưa có nghiên cứu về tác động của xu hướng sống xanh đối với hành vi tiêu dùng của khách hàng, cụ thể là đối với việc lựa chọn các sản phẩm thời trang Các nghiên cứu của Nguyễn Gia Thọ (2019); Hoàng Thị Bảo Thoa (2016); Nguyễn Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh (2015); Hoàng Trọng Hùng, Huỳnh Thị Thu Quyên, Huỳnh Thị Nhi (2018); Hồ Huy Tựu, Nguyễn Văn Ngọc, Đỗ Phương Linh (2018); Nhóm tác giả Nguyễn Văn Nên, Mai Trần Thanh Thanh, Trần Như Hảo, Nguyễn Khánh Linh, Phạm Lê Hoàng Khánh (2021); Phạm Thị Huyền, Nguyễn Thị Vân Anh, Đào Ngọc Hân, Trần Trung Kiên, Đỗ Chí Tú (2020) tập trung tìm hiểu các yếu tố thúc đẩy xu hướng tiêu dùng xanh cũng như ý định của người tiêu dùng trong việc lựa chọn các sản phẩm thân thiện với môi trường Bên cạnh đó, các nghiên cứu về hiệu quả của chiến lược marketing xanh trong thay đổi tích cực hành vi tiêu dùng cũng được thực hiện, cụ thể là nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Minh (2016); Nguyễn Hoàng Tuệ Quang, Hoàng Thị Huế, Nguyễn Hoàng Hạnh Dung (2019); Nguyễn Thị Minh Hiếu

(2018)

Nguyễn Gia Thọ (2019) thực hiện luận án “Chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam”, đề xuất giải pháp cho vấn đề môi trường ở Việt Nam từ góc độ quản lý Tác giả thể hiện tính mới của đề tài nghiên cứu khi không tiếp cận xu hướng tiêu dùng xanh ở góc độ vi mô, góc độ hành vi người tiêu dùng mà xây dựng một chính sách vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn Nhóm chính sách được tác giả đề xuất bao gồm: (1) nhóm chính sách nhằm hạn chế tiêu dùng sản phẩm “nâu”, (2) nhóm chính sách nhằm ràng buộc người tiêu dùng thực hiện tiêu dùng xanh, (3) nhóm chính sách nhằm khuyến khích, kích thích và hỗ trợ tiêu dùng xanh, (4) nhóm chính sách bảo vệ người tiêu dùng xanh Nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu cá nhân và điều tra bằng bảng hỏi, đối tượng khảo sát là đại diện các công ty, doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và phân phối sản phẩm xanh Bên cạnh

đó, tác giả thực hiện kết hợp hợp quan sát có sự tham gia và không sự tham gia, sau

đó phân tích và so sánh dữ liệu bằng công cụ Excel và SPSS Nghiên cứu đặt ra một

kế hoạch quản lý cụ thể cho nhà nước Tuy nhiên, mặc dù đã đề cập đến tầm quan trọng của nhận thức người tiêu dùng trong các tác động ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách tiêu dùng xanh, nhưng tác giả không xây dựng được một nhóm chính sách riêng để cải thiện nhận thức ấy Các giải pháp được đưa ra liên quan đến cải thiện nhận thức của người tiêu dùng chỉ đề cập chung chung về việc giáo dục, tuyên truyền

mà không thể hiện được đường lối cụ thể

Hoàng Thị Bảo Thoa (2016) đã thực hiện nghiên cứu phân tích về “Xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới và hàm ý đối với Việt Nam" đăng trên tạp chí Khoa học

Ngày đăng: 08/05/2023, 17:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w