MỤC LỤC CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1 1.1 KHÁI NIỆM CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1 1.2 PHÂN LOẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1 1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1 1.3.1 Quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động rộng lớn 1 1.3.2 Các công ty đa quốc gia là công ty đa ngành 2 1.3.3 Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn 2 1.3.4 Đặc điểm xu hướng phát triển 3 1.3.5 Đặc điểm công ty con 3 1.4 CẤU TRÚC BỘ MÁY TỔ CHỨC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 4 1.4.1 Cấu trúc sản phẩm toàn cầu 4 1.4.2 Cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu 5 1.4.3 Cấu trúc chức năng toàn cầu 7 1.4.4 Cấu trúc hỗn hợp 9 1.4.5 Cấu trúc ma trận 10 1.5 CÁC TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 11 1.5.1 Tác động tích cực 11 1.5.2 Tác động tiêu cực 11 CHƯƠNG 2: CÔNG TY ĐA QUỐC GIA GRAB 13 2.1 GIỚI THIỆU SƠ NÉT VỀ CÔNG TY GRAB 13 2.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 13 2.3 TẦM NHÌN VÀ SỨ MỆNH 14 2.4 NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY GRAB 15 2.5 CƠ CẤU TỔ CHỨC 16 2.6 TÌNH HÌNH HIỆN NAY 16 2.7 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA GRAB HIỆN TẠI 17 2.8 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỦA GRAB TẠI VIỆT NAM 18 MỤC LỤC HÌNH – BẢNG Hình 1.1 Cấu trúc sản phẩm toàn cầu 5 Hình 1.2 Cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu 6 Hình 1.3 Cấu trúc chức năng toàn cầu 8 Hình 1.4 Cấu trúc hỗn hơp 9 Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu của GRAB 16 Bảng 1.1 Cơ cấu tổ chức ma trận Sản phẩm – khu vực 10 CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1.1 KHÁI NIỆM CÔNG TY ĐA QUỐC GIA Công ty đa quốc gia, thường được viết tắt là MNC ( từ các chữ Multinational corporation) là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia, đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa. Các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam: Unilever, Proter Gamble, IBM, Microsoft, Pepsico Food, Abott, Honda, Grap, Nettle, Samsung, Toyota, KFC, Jollibee, Viettle, … 1.2 PHÂN LOẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất như sau: Công ty đa quốc gia theo chiều ngang: sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds, KFC,... ). Công ty đa quốc gia theo chiều dọc: có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas, Sony,…). Công ty đa quốc gia nhiều chiều: có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft, Unilever,…). 1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1.3.1Quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động rộng lớn Sở hữu của các MNC là sở hữu có tính chất đa chủ và đa quốc tịch thể hiện ở sự tham gia của nhiều chủ sở hữu ở các nước khác nhau đối với tài sản của công ty được phân bổ trên phạm vi toàn cầu. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong MNC nhằm mục tiêu quan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về vốn phục vụ kinh doanh. Vì vậy, sau khi thành lập MNC, các công ty thành viên phát triển hơn, tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ đó tổng tài sản cũng tăng lên đáng kể. Các MNC thường sở hữu các yếu tố có tính cốt lõi và quyết định đối với quy trình sản xuất: vốn đầu tư, bí quyết công nghệ, các kỹ năng quản trị và mạng lưới hoạt động toàn cầu. Do đó, tạo khả năng sinh lời rất lớn và mang tính tiên phong nhằm tạo lợi thế cạnh tranh vượt trôi sơ với các đối thủ. Các MNC cũng thường thu hút một lượng lớn lao động ở chính quốc và các nước sở tại. 1.3.2Các công ty đa quốc gia là công ty đa ngành Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nghiên cứu ứng dụng về khoa học công nghệ,… là xu hướng có tính quy luật cùng với sự phát triển của các MNC. Ví dụ: Mitsubishi ban đầu chỉ hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo nhưng nay đã hoạt động trong các lĩnh vực như khai khoáng, luyện kim, hóa chất, ngân hàng,… Với sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa các lĩnh vực có liên quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sự liên kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất đã tăng thêm lợi thế so sánh cho các MNC trong việc mở rộng địa bàn hoạt động và gia tăng lợi nhuận. 1.3.3Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn Về cơ cấu tổ chức, được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện và hiệp thương. Cần nhấn mạnh, các MNC không phải là một doanh nghiệp, không có tư các pháp nhân độc lập. Do đó, các mệnh lệnh hành chính không được sử dụng trong điều hành các MNC. Các doanh nghiệp là thành viên của MNC đều có pháp nhân độc lập, có cơ quan quyền lực cao nhất như hội đồng thành viên, đại học cổ đông. Công ty đa quốc gia có chung nguồn tài trợ, bao gồm: nguồn tài sản, văn bằng bảo hộ, nhãn hiệu hàng hóa và nhân lực. Sở hữu vốn của MNC cũng rất đa dạng. Trước hết vốn trong MNC là do các công ty thành viên làm chủ sở hữu, bao gồm cả vốn tư nhân và vốn nhà nước. Quyền sở hữu vốn trong MNC cũng tùy thuộc vào mức độ phụ thuộc của các công ty thành viên. 1.3.4Đặc điểm xu hướng phát triển Thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị, điều hành và kinh doanh có tính toàn cầu. Tuy các công ty đa quốc gia có thể có nhiều chiến lược và kỹ thuật hoạt động đặc trưng để phù hợp với từng địa phương nơi nó có chi nhánh. Thay đổi trong lĩnh vực đầu tư: trong hoạt động đầu tư có sự chuyển dịch từ công nghiệp khai thác tài nguyên sang công nghiệp chế biến sản phẩm, đem lại giá trị cao hơn; từ công nghiệp thâm dụng lao động nhiều chuyển sang đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều kỹ thuật và công nghiệp mới và sang các ngành dịch vụ điện tử, dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng, y tế, giáo dục. Các MNC ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển của kinh tế thế giới: hiện nay các MNC chiếm đến 23 trị giá thương mại quốc tế, chiếm 45 tổng giá trị đầu tư FDI; 910 thành quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao kỹ thuật của thế giới; chiếm 95% hoạt động xuất nhập khẩu lao động quốc tế,… và các MNC đóng vai trò chủ yếu trong đẩy nhanh quốc tế hóa đời sống kinh tế toàn cầu, biến mỗi nước trở thành một bộ phận của kinh tế thế giới. Mở rộng các hình thức liên kết kinh tế để tăng cường khả năng cạnh tranh. Để mở rộng phạm vị thể lực, tăng sức cạnh tranh phù hợp với bước phát triển mới của kinh tế và kỹ thuật, cùng với chiến lược sáp nhập, các MNC lớn còn đẩy mạnh hoạt động liên hợp. Đó là sự thiết lập quan hệ hợp tác giữa hai hoặc nhiều công ty quốc gia ngang sức cùng hoặc khác quốc tịch nhằm thực hiện mục tiêu nào đó. Đa dạng hóa và chuyên môn hóa cao độ là một xu hướng chiến lược mới của mỗi MNC: các công ty thông qua sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm hoặc thỏa mãn nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau để giảm bớt rủi ro, tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới, đối phó với tình trạng kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, nhu cầu thị trường giảm sút. Một số khác lại “thu hẹp chiến thắng”, loại bỏ các hoạt động sản xuất “ngoại vi”, dốc toàn sức phát huy thế mạnh chuyên môn của mình. 1.3.5Đặc điểm công ty con Những công ty con có chung chiến lược. Mỗi công ty đa quốc gia sẽ thể hiện chiến lược của mình để các công ty cùng phát triển 1 cách hài hòa. Genaeral Electric sử dụng chiến lược phối hợp để xác định mục tiêu bán hàng và lợi nhuận cho tất cả các hoạt động trên thế giới. Kế hoạch chiến lược cũng dành cho các nhu cầu về tài trợ và nhân lực của các công ty con, chuyển vốn là nhân lực được thực hiện theo nhu cầu. Công ty đa quốc gia có chung nguồn tài trợ, bao gồm: nguồn tài sản, văn bằng bảo hộ, nhãn hiệu hàng hóa và nhân lực. Các chi nhánh, công ty con, đại lý trên khắp thế giới đều thuộc quyền sở hữu tập trung của công ty mẹ, mặc dù chúng có những hoạt động cụ thể hằng ngày không hẳn hoàn toàn giống nhau. Những công ty con phải chịu ảnh hưởng bởi 1 số yếu tố môi trường: đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung ứng, định chế tài chính và chính phủ; những lực lượng này hoạt động trên cả môi trường chính quốc và nước ngoài. 1.4 CẤU TRÚC BỘ MÁY TỔ CHỨC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1.4.1Cấu trúc sản phẩm toàn cầu Cấu trúc theo bộ phận sản phẩm toàn cầu là một dạng cấu trúc trong đó các bộ phận nội địa được giao trách nhiệm quản lý các nhóm sản phẩm (xem sơ đồ 4). Theo cách sắp xếp này mỗi bộ phận phụ sẽ phụ trách việc kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trên phạm vi toàn cầu. Giám đốc phụ trách từng loại sản phẩm sẽ được hỗ trợ bởi các bộ phận chức năng như: marketing, nhân sự, sản xuất, tài chính và họ sẽ lãnh đạo trực tiếp các nhóm chức năng thuộc cấp của mình. Cấu trúc theo bộ phận sản phẩm toàn cầu được xây dựng dựa trên khái niệm “trung tâm lợi nhuận”. Theo khái niệm này, mỗi loại sản phẩm được mong đợi phải phát sinh một hệ số hoàn vốn đầu tư , và kết quả của mỗi loại sản phẩm phải được đo lường trên cơ sở lợi nhuận. Các nhóm sản phẩm hoạt động như một đơn vị kinh doanh tự chủ được quản lý bởi giám đốc sản phẩm. Giám đốc sản phẩm được toàn quyền trong mọi hoạt động kinh doanh và trừ lĩnh vực ngân sách sẽ bị kiểm soát. Hình 1.1 Cấu trúc sản phẩm toàn cầu 1.4.2Cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu Đây là một hình thức cấu trúc mà trách nhiệm hoạt động kinh doanh được giao cho các giám đốc khu vực. Mỗi một giám đốc khu vực sẽ phụ trách một khu vực địa lý đã được xác định. Đây là một dạng cấu trúc đa cực Theo hình thức này mỗi khu vực sẽ chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ các chức năng như sản xuất, marketing, nhân sự, và tài chính cho khu vực của mình. Nếu thoạt nhìn vào người ta có thể cho rằng có một sự tương đồng giữa cấu trúc theo bộ phận sản phẩm toàn cầu và cấu trúc theo khu vực mang tính toàn cầu, tuy nhiên cách thức hoạt động của chúng hoàn toàn khác nhau. Với cấu trúc theo bộ phận sản phẩm toàn cầu, mỗi bộ phận sản phẩm sẽ chịu trách nhiệm kinh doanh sản phẩm đó trên phạm vi toàn cầu, nhưng với cấu trúc theo khu vực, mỗi khu vực có thể kinh doanh nhiều nhóm sản phẩm khác nhau trong cùng một khu vực. Cấu trúc tổ chức theo khu vực mang tính toàn cầu thường được sử dụng trong những MNC đang ở trong giai đoạn trưởng thành về lĩnh vực mà mình kinh doanh, đồng thời chủng loại sản phẩm thì hẹp do đó không có sự khác biệt giữa các khu vực địa lý. Các sản phẩm trong lĩnh vực thực phẩm là một ví dụ tốt cho trường hợp này, Richard M Hodgetts và Fred Luthans (1994) đã chỉ ra đặc trưng này như sau: “Tại Hoa Kỳ, các loại thức uống nhẹ thì ít đưòng hơn tại Nam Mỹ, vì vậy quy trình sản xuất tại hai khu vực này chỉ có những khác biệt nhỏ. Tương tự như vậy, tại Anh người ta thường thích dùng súp nhạt, nhưng tại Pháp người ta lại ưa thích có những gia vị nhẹ trong súp. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Tây ban Nha, Bồ Đào Nha người tiêu dùng thích cà phê có màu đen và hơi đắng, nhưng tại châu Mỹ, họ lại thích màu nhạt hơn và có vị hơi ngọt. Tại Bắc Âu, Canada, và Hoa Kỳ các thực phẩm ít gia vị hơn thường được ưa thích, nhưng tại khu vực Trung Đông và Châu Á các thực phẩm dùng nhiều gia vị hơn thì được ưa thích”. Hình 1.2 Cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu Cấu trúc tổ chức theo khu vực cho phép giám đốc từng bộ phận với một quyền chủ động lớn có thể ra quyết định một cách nhanh chóng phù hợp với các sở thích và các luật lệ quy định tại từng địa phương. Do đó cấu trúc này cho phép các công ty đáp ứng được các yêu cầu riêng biệt tại từng quốc gia hơn. Hơn thế nữa, với cấu trúc này, các MNC sẽ có nhiều kinh nghiệm và kiến thức thực tế trong việc thỏa mãn các nhu cầu đặc thù tại các địa phương và nhờ đó có thể tạo được một lợi thế cạnh tranh mạnh trên các thị trường này. Cấu trúc này cũng cho phép công ty có thể đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô nếu như quy mô thị trường của khu vực đủ lớn. Mặt khác với cơ cấu này, công ty có thể giảm thiểu và đi tới xóa bỏ chi phí vận chuyển do không cần phải nhập khẩu từ một nơi khác. Tuy nhiên cấu trúc này vẫn có những nhược điểm nhất định như việc làm gia tăng số lượng nhân viên, tài sản, cơ sở vật chất và như vậy nó sẽ làm tăng chi phí. Nếu thị trường tại từng khu vực nhỏ và thị hiếu tiêu dùng tại các khu vực khác nhau thì quy mô của nhà máy tại từng khu vực sẽ nhỏ và hiệu quả kinh tế theo quy mô sẽ không thể nào đạt được. Mặt khác cơ cấu tổ chức theo dạng này cũng gây trở ngại trong việc hợp nhất các kế hoạch từng khu vực thành một kế hoạch chung tổng thể của MNC. Điểm hạn chế cuối cùng đó là những công ty đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu và phát triển (RD) sản phẩm mới thường nhận thấy rằng những sản phẩm mới của công ty ít được sự ủng hộ nhiệt tình của các bộ phận quản lý theo khu vực, điều này xuất phát từ chỗ các quản trị gia trong từng khu vực thường chỉ quan tâm đến việc thỏa mãn các yêu cầu riêng biệt tại địa phương với các sản phẩm sẵn có được công chúng công nhận và chấp nhận cao. 1.4.3Cấu trúc chức năng toàn cầu Thiết kế cơ cấu tổ chức theo chức năng toàn cầu là một dạng cơ cấu tổ chức mà các bộ phận được xây dựng nhằm thực hiện các chức năng cơ bản của hoạt động quản trị. Cụ thể trong một đơn vị sản xuất thì các chức năng cơ bản đó là: sản xuất, marketing, và tài chính. Hình 1.3 Cấu trúc chức năng toàn cầu Theo cách tổ chức này, người phụ trách bộ phận sản xuất sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động sản xuất cho các sản phẩm ở thị trường trong và ngoài nước; tương tự như vậy, trưởng bộ phận marketing sẽ chịu trách nhiệm về việc tiêu thụ các mặt hàng ở cả hai thị trường trong và ngoài nước. Cách cấu trúc tổ chức này thường được sử dụng bởi các MNC có chủng loại mặt hàng tương đối ít và tính chất cạnh tranh trên thị trường không đế nỗi gay gắt. Thuận lợi cơ bản của hình thức cấu trúc này đó là nó chỉ cần sử dụng một nhóm nhỏ các quản trị gia để điều hành và kiểm soát một đơn vị có tầm hoạt động ở phạm vi toàn cầu; nó không đòi hỏi phải sử dụng nhiều nhân lực, cơ sở vật chất như các cấu trúc theo sản phẩm và theo khu vực. Hơn thế nữa, cách cấu trúc này còn cho phép các MNC có thể thực hiện việc kiểm soát chặt chẽ trong tổ chức, và một cơ chế quản lý tập trung. Điểm hạn chế của cơ cấu tổ chức này đó là việc khó phối hợp được các hoạt động của các bộ phận chức năng lại với nhau vì mỗi bộ phận đều hoạt động độc lập với bộ phận khác. Mặt khác cách cấu trúc này sẽ khó áp dụng cho những công ty kinh doanh rất nhiều chủng loại hàng hóa. Với cách tổ chức theo cấu trúc này thì trách nhiệm tạo ra lợi nhuận hầu như đổ dồn cho những quản trị gia cao cấp nhất của công ty. Những công trình nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng cấu trúc này thường được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực như khai thác tài nguyên (vốn đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn), hoặc trong lĩnh vực năng lượng; trong khi đó nó tỏ ra không thích hợp trong các lĩnh vực khác. 1.4.4Cấu trúc hỗn hợp Là một dạng cấu trúc pha tạp giữa các dạng cấu trúc đã nêu trên một cách thích hợp nhất để đáp ứng yêu cầu của công ty Hình 1.4 Cấu trúc hỗn hơp Đặc trưng cơ bản của cách cấu trúc này dựa trên nguyên tắc: ứng với các dạng kinh doanh, các yêu cầu đặc thù của nhu cầu tiêu dùng, cung ứng, và mức độ cạnh tranh người ta sẽ thiết kế các dạng cấu trúc tổ chức phù hợp (cấu trúc theo chức năng, sản phẩm, hoặc khu vực). Trong một số trường hợp cấu trúc tổ chức dạng này mang tính chất tức thời hay ngắn hạn trong vòng một vài năm nhằm giải quyết một nhiệm vụ cấp bách nào đó, sau đó hoặc là nó sẽ quay trở về một trong ba cách cấu trúc truyền thống nêu trên, hoặc là người ta sẽ thay thế cấu trúc hỗn hợp này bằng một cấu trúc tổ chức hỗn hợp khác. Ưu điểm cơ bản
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
THUYẾT TRÌNH MÔN HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
THUYẾT TRÌNH MÔN HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1
1.1 KHÁI NIỆM CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1
1.2 PHÂN LOẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1
1.3.1 Quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động rộng lớn 1
1.3.2 Các công ty đa quốc gia là công ty đa ngành 2
1.3.3 Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn 2
1.3.4 Đặc điểm xu hướng phát triển 3
1.3.5 Đặc điểm công ty con 3
1.4 CẤU TRÚC BỘ MÁY TỔ CHỨC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 4
1.4.1 Cấu trúc sản phẩm toàn cầu 4
1.4.2 Cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu 5
1.4.3 Cấu trúc chức năng toàn cầu 7
1.4.4 Cấu trúc hỗn hợp 9
1.4.5 Cấu trúc ma trận 10
1.5 CÁC TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 11
1.5.1 Tác động tích cực 11
1.5.2 Tác động tiêu cực 11
CHƯƠNG 2: CÔNG TY ĐA QUỐC GIA GRAB 13
2.1 GIỚI THIỆU SƠ NÉT VỀ CÔNG TY GRAB 13
2.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 13
2.3 TẦM NHÌN VÀ SỨ MỆNH 14
Trang 42.4 NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY GRAB 15
2.5 CƠ CẤU TỔ CHỨC 16
2.6 TÌNH HÌNH HIỆN NAY 16
2.7 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA GRAB HIỆN TẠI 17
2.8 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỦA GRAB TẠI VIỆT NAM 18
Trang 5MỤC LỤC HÌNH – BẢNG
Hình 1.1 Cấu trúc sản phẩm toàn cầu 5
Hình 1.2 Cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu 6
Hình 1.3 Cấu trúc chức năng toàn cầu 8
Hình 1.4 Cấu trúc hỗn hơp 9
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu của GRAB
Bảng 1.1 Cơ cấu tổ chức ma trận Sản phẩm – khu vực 10
Y
Trang 6CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA1.1 KHÁI NIỆM CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
Công ty đa quốc gia, thường được viết tắt là MNC ( từ các chữ Multinationalcorporation) là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhấthai quốc gia Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiềuquốc gia Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế vàcác nền kinh tế của các quốc gia, đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầuhóa
Các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam: Unilever, Proter &Gamble, IBM, Microsoft, Pepsico Food, Abott, Honda, Grap, Nettle, Samsung,Toyota, KFC, Jollibee, Viettle, …
1.2 PHÂN LOẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phươngtiện sản xuất như sau:
- Công ty đa quốc gia "theo chiều ngang": sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương
tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds, KFC, )
- Công ty đa quốc gia "theo chiều dọc": có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó,sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ:Adidas, Sony,…)
- Công ty đa quốc gia "nhiều chiều": có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau màchúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft, Unilever,…)
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
1.3.1 Quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động rộng lớn
Sở hữu của các MNC là sở hữu có tính chất đa chủ và đa quốc tịch thểhiện ở sự tham gia của nhiều chủ sở hữu ở các nước khác nhau đối với tài sảncủa công ty được phân bổ trên phạm vi toàn cầu Sự liên kết giữa các doanhnghiệp trong MNC nhằm mục tiêu quan trọng nhất là giải quyết những khókhăn về vốn phục vụ kinh doanh Vì vậy, sau khi thành lập MNC, các công ty
Trang 7thành viên phát triển hơn, tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ
đó tổng tài sản cũng tăng lên đáng kể
Các MNC thường sở hữu các yếu tố có tính cốt lõi và quyết định đối vớiquy trình sản xuất: vốn đầu tư, bí quyết công nghệ, các kỹ năng quản trị vàmạng lưới hoạt động toàn cầu Do đó, tạo khả năng sinh lời rất lớn và mang tínhtiên phong nhằm tạo lợi thế cạnh tranh vượt trôi sơ với các đối thủ Các MNCcũng thường thu hút một lượng lớn lao động ở chính quốc và các nước sở tại
1.3.2 Các công ty đa quốc gia là công ty đa ngành
Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực như tài chính, ngânhàng, bảo hiểm, nghiên cứu ứng dụng về khoa học công nghệ,… là xu hướng cótính quy luật cùng với sự phát triển của các MNC
Ví dụ: Mitsubishi ban đầu chỉ hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo
nhưng nay đã hoạt động trong các lĩnh vực như khai khoáng, luyện kim, hóachất, ngân hàng,…
Với sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa các lĩnh vực có liên quan tronghoạt động sản xuất kinh doanh và sự liên kết giữa nghiên cứu khoa học và sảnxuất đã tăng thêm lợi thế so sánh cho các MNC trong việc mở rộng địa bàn hoạtđộng và gia tăng lợi nhuận
1.3.3 Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn
Về cơ cấu tổ chức, được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện và hiệpthương Cần nhấn mạnh, các MNC không phải là một doanh nghiệp, không có
tư các pháp nhân độc lập Do đó, các mệnh lệnh hành chính không được sửdụng trong điều hành các MNC Các doanh nghiệp là thành viên của MNC đều
có pháp nhân độc lập, có cơ quan quyền lực cao nhất như hội đồng thành viên,đại học cổ đông
Công ty đa quốc gia có chung nguồn tài trợ, bao gồm: nguồn tài sản, vănbằng bảo hộ, nhãn hiệu hàng hóa và nhân lực Sở hữu vốn của MNC cũng rất đadạng Trước hết vốn trong MNC là do các công ty thành viên làm chủ sở hữu,
Trang 8bao gồm cả vốn tư nhân và vốn nhà nước Quyền sở hữu vốn trong MNC cũngtùy thuộc vào mức độ phụ thuộc của các công ty thành viên.
1.3.4 Đặc điểm xu hướng phát triển
Thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị, điều hành và kinhdoanh có tính toàn cầu Tuy các công ty đa quốc gia có thể có nhiều chiến lược
và kỹ thuật hoạt động đặc trưng để phù hợp với từng địa phương nơi nó có chinhánh
Thay đổi trong lĩnh vực đầu tư: trong hoạt động đầu tư có sự chuyểndịch từ công nghiệp khai thác tài nguyên sang công nghiệp chế biến sản phẩm,đem lại giá trị cao hơn; từ công nghiệp thâm dụng lao động nhiều chuyển sangđầu tư vào các ngành sử dụng nhiều kỹ thuật và công nghiệp mới và sang cácngành dịch vụ điện tử, dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng, y tế, giáo dục
Các MNC ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển của kinh
tế thế giới: hiện nay các MNC chiếm đến 2/3 trị giá thương mại quốc tế, chiếm4/5 tổng giá trị đầu tư FDI; 9/10 thành quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao
kỹ thuật của thế giới; chiếm 95% hoạt động xuất nhập khẩu lao động quốc tế,…
và các MNC đóng vai trò chủ yếu trong đẩy nhanh quốc tế hóa đời sống kinh tếtoàn cầu, biến mỗi nước trở thành một bộ phận của kinh tế thế giới
Mở rộng các hình thức liên kết kinh tế để tăng cường khả năng cạnhtranh Để mở rộng phạm vị thể lực, tăng sức cạnh tranh phù hợp với bước pháttriển mới của kinh tế và kỹ thuật, cùng với chiến lược sáp nhập, các MNC lớncòn đẩy mạnh hoạt động liên hợp Đó là sự thiết lập quan hệ hợp tác giữa haihoặc nhiều công ty quốc gia ngang sức cùng hoặc khác quốc tịch nhằm thựchiện mục tiêu nào đó
Đa dạng hóa và chuyên môn hóa cao độ là một xu hướng chiến lược mớicủa mỗi MNC: các công ty thông qua sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm hoặcthỏa mãn nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau để giảm bớt rủi ro, tìm kiếm cơ hộikinh doanh mới, đối phó với tình trạng kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, nhucầu thị trường giảm sút Một số khác lại “thu hẹp chiến thắng”, loại bỏ các hoạtđộng sản xuất “ngoại vi”, dốc toàn sức phát huy thế mạnh chuyên môn củamình
1.3.5 Đặc điểm công ty con
Những công ty con có chung chiến lược Mỗi công ty đa quốc gia sẽ thểhiện chiến lược của mình để các công ty cùng phát triển 1 cách hài hòa.Genaeral Electric sử dụng chiến lược phối hợp để xác định mục tiêu bán hàng
Trang 9và lợi nhuận cho tất cả các hoạt động trên thế giới Kế hoạch chiến lược cũngdành cho các nhu cầu về tài trợ và nhân lực của các công ty con, chuyển vốn lànhân lực được thực hiện theo nhu cầu.
Công ty đa quốc gia có chung nguồn tài trợ, bao gồm: nguồn tài sản, vănbằng bảo hộ, nhãn hiệu hàng hóa và nhân lực
Các chi nhánh, công ty con, đại lý trên khắp thế giới đều thuộc quyền sởhữu tập trung của công ty mẹ, mặc dù chúng có những hoạt động cụ thể hằngngày không hẳn hoàn toàn giống nhau Những công ty con phải chịu ảnh hưởngbởi 1 số yếu tố môi trường: đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung ứng, địnhchế tài chính và chính phủ; những lực lượng này hoạt động trên cả môi trườngchính quốc và nước ngoài
1.4 CẤU TRÚC BỘ MÁY TỔ CHỨC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
1.4.1 Cấu trúc sản phẩm toàn cầu
Cấu trúc theo bộ phận sản phẩm toàn cầu là một dạng cấu trúc trong đócác bộ phận nội địa được giao trách nhiệm quản lý các nhóm sản phẩm (xem sơ
đồ 4) Theo cách sắp xếp này mỗi bộ phận phụ sẽ phụ trách việc kinh doanhmột loại sản phẩm nào đó trên phạm vi toàn cầu Giám đốc phụ trách từng loạisản phẩm sẽ được hỗ trợ bởi các bộ phận chức năng như: marketing, nhân sự,sản xuất, tài chính và họ sẽ lãnh đạo trực tiếp các nhóm chức năng thuộc cấpcủa mình
Cấu trúc theo bộ phận sản phẩm toàn cầu được xây dựng dựa trên kháiniệm “trung tâm lợi nhuận” Theo khái niệm này, mỗi loại sản phẩm đượcmong đợi phải phát sinh một hệ số hoàn vốn đầu tư , và kết quả của mỗi loạisản phẩm phải được đo lường trên cơ sở lợi nhuận Các nhóm sản phẩm hoạtđộng như một đơn vị kinh doanh tự chủ được quản lý bởi giám đốc sản phẩm.Giám đốc sản phẩm được toàn quyền trong mọi hoạt động kinh doanh và trừlĩnh vực ngân sách sẽ bị kiểm soát
Trang 10Hình 1.1 Cấu trúc sản phẩm toàn cầu
1.4.2 Cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu
Đây là một hình thức cấu trúc mà trách nhiệm hoạt động kinh doanhđược giao cho các giám đốc khu vực Mỗi một giám đốc khu vực sẽ phụ tráchmột khu vực địa lý đã được xác định Đây là một dạng cấu trúc đa cực Theohình thức này mỗi khu vực sẽ chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ các chức năngnhư sản xuất, marketing, nhân sự, và tài chính cho khu vực của mình Nếu thoạtnhìn vào người ta có thể cho rằng có một sự tương đồng giữa cấu trúc theo bộphận sản phẩm toàn cầu và cấu trúc theo khu vực mang tính toàn cầu, tuy nhiêncách thức hoạt động của chúng hoàn toàn khác nhau Với cấu trúc theo bộ phậnsản phẩm toàn cầu, mỗi bộ phận sản phẩm sẽ chịu trách nhiệm kinh doanh sảnphẩm đó trên phạm vi toàn cầu, nhưng với cấu trúc theo khu vực, mỗi khu vực
có thể kinh doanh nhiều nhóm sản phẩm khác nhau trong cùng một khu vực
Trang 11Cấu trúc tổ chức theo khu vực mang tính toàn cầu thường được sử dụngtrong những MNC đang ở trong giai đoạn trưởng thành về lĩnh vực mà mìnhkinh doanh, đồng thời chủng loại sản phẩm thì hẹp do đó không có sự khác biệtgiữa các khu vực địa lý
Các sản phẩm trong lĩnh vực thực phẩm là một ví dụ tốt cho trường hợpnày, Richard M Hodgetts và Fred Luthans (1994) đã chỉ ra đặc trưng này nhưsau: “Tại Hoa Kỳ, các loại thức uống nhẹ thì ít đưòng hơn tại Nam Mỹ, vì vậyquy trình sản xuất tại hai khu vực này chỉ có những khác biệt nhỏ Tương tựnhư vậy, tại Anh người ta thường thích dùng súp nhạt, nhưng tại Pháp người talại ưa thích có những gia vị nhẹ trong súp Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Tây ban Nha,
Bồ Đào Nha người tiêu dùng thích cà phê có màu đen và hơi đắng, nhưng tạichâu Mỹ, họ lại thích màu nhạt hơn và có vị hơi ngọt Tại Bắc Âu, Canada, vàHoa Kỳ các thực phẩm ít gia vị hơn thường được ưa thích, nhưng tại khu vựcTrung Đông và Châu Á các thực phẩm dùng nhiều gia vị hơn thì được ưa
thích”
Hình 1.2 Cấu trúc khu vực địa lý toàn cầu
Trang 12Cấu trúc tổ chức theo khu vực cho phép giám đốc từng bộ phận với mộtquyền chủ động lớn có thể ra quyết định một cách nhanh chóng phù hợp với các
sở thích và các luật lệ quy định tại từng địa phương Do đó cấu trúc này chophép các công ty đáp ứng được các yêu cầu riêng biệt tại từng quốc gia hơn.Hơn thế nữa, với cấu trúc này, các MNC sẽ có nhiều kinh nghiệm và kiến thứcthực tế trong việc thỏa mãn các nhu cầu đặc thù tại các địa phương và nhờ đó
có thể tạo được một lợi thế cạnh tranh mạnh trên các thị trường này Cấu trúcnày cũng cho phép công ty có thể đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô nếunhư quy mô thị trường của khu vực đủ lớn Mặt khác với cơ cấu này, công ty cóthể giảm thiểu và đi tới xóa bỏ chi phí vận chuyển do không cần phải nhập khẩu
từ một nơi khác
Tuy nhiên cấu trúc này vẫn có những nhược điểm nhất định như việclàm gia tăng số lượng nhân viên, tài sản, cơ sở vật chất và như vậy nó sẽ làmtăng chi phí Nếu thị trường tại từng khu vực nhỏ và thị hiếu tiêu dùng tại cáckhu vực khác nhau thì quy mô của nhà máy tại từng khu vực sẽ nhỏ và hiệu quảkinh tế theo quy mô sẽ không thể nào đạt được Mặt khác cơ cấu tổ chức theodạng này cũng gây trở ngại trong việc hợp nhất các kế hoạch từng khu vựcthành một kế hoạch chung tổng thể của MNC Điểm hạn chế cuối cùng đó lànhững công ty đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu và phát triển (R&D) sản phẩmmới thường nhận thấy rằng những sản phẩm mới của công ty ít được sự ủng hộnhiệt tình của các bộ phận quản lý theo khu vực, điều này xuất phát từ chỗ cácquản trị gia trong từng khu vực thường chỉ quan tâm đến việc thỏa mãn các yêucầu riêng biệt tại địa phương với các sản phẩm sẵn có được công chúng côngnhận và chấp nhận cao
1.4.3 Cấu trúc chức năng toàn cầu
Thiết kế cơ cấu tổ chức theo chức năng toàn cầu là một dạng cơ cấu tổchức mà các bộ phận được xây dựng nhằm thực hiện các chức năng cơ bản củahoạt động quản trị Cụ thể trong một đơn vị sản xuất thì các chức năng cơ bản
đó là: sản xuất, marketing, và tài chính
Trang 13Hình 1.3 Cấu trúc chức năng toàn cầu
Theo cách tổ chức này, người phụ trách bộ phận sản xuất sẽ chịu tráchnhiệm toàn bộ hoạt động sản xuất cho các sản phẩm ở thị trường trong và ngoàinước; tương tự như vậy, trưởng bộ phận marketing sẽ chịu trách nhiệm về việctiêu thụ các mặt hàng ở cả hai thị trường trong và ngoài nước Cách cấu trúc tổchức này thường được sử dụng bởi các MNC có chủng loại mặt hàng tương đối
ít và tính chất cạnh tranh trên thị trường không đế nỗi gay gắt Thuận lợi cơ bảncủa hình thức cấu trúc này đó là nó chỉ cần sử dụng một nhóm nhỏ các quản trịgia để điều hành và kiểm soát một đơn vị có tầm hoạt động ở phạm vi toàn cầu;
nó không đòi hỏi phải sử dụng nhiều nhân lực, cơ sở vật chất như các cấu trúctheo sản phẩm và theo khu vực Hơn thế nữa, cách cấu trúc này còn cho phépcác MNC có thể thực hiện việc kiểm soát chặt chẽ trong tổ chức, và một cơ chếquản lý tập trung
Điểm hạn chế của cơ cấu tổ chức này đó là việc khó phối hợp được cáchoạt động của các bộ phận chức năng lại với nhau vì mỗi bộ phận đều hoạt
Trang 14động độc lập với bộ phận khác Mặt khác cách cấu trúc này sẽ khó áp dụng chonhững công ty kinh doanh rất nhiều chủng loại hàng hóa Với cách tổ chức theocấu trúc này thì trách nhiệm tạo ra lợi nhuận hầu như đổ dồn cho những quản trịgia cao cấp nhất của công ty Những công trình nghiên cứu gần đây đã cho thấyrằng cấu trúc này thường được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực như khaithác tài nguyên (vốn đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn), hoặc trong lĩnh vực nănglượng; trong khi đó nó tỏ ra không thích hợp trong các lĩnh vực khác.
Trang 15về một trong ba cách cấu trúc truyền thống nêu trên, hoặc là người ta sẽ thay thếcấu trúc hỗn hợp này bằng một cấu trúc tổ chức hỗn hợp khác Ưu điểm cơ bảncủa dạng cấu trúc này chính là tính chất linh động của nó trong việc giải quyếtmột nhiệm vụ cụ thể, đặc biệt ngay tức khắc cũng như tính chất uyển chuyển vàlinh động của nó Tuy nhiên nhược điểm của cơ cấu này chính là sự truyền
thông giữa các cấp, các mệnh lệnh thường đi theo một kênh riêng của nó
1.4.5 Cấu trúc ma trận
Cấu trúc ma trận là một dạng cấu trúc phối hợp hai dạng cấu trúc cơ bảntrong ba dạng cấu trúc truyền thống thông thường đã nêu ở trên ví dụ như sựphối hợp giữa chức năng và sản phẩm, hoặc khu vực và sản phẩm Sự nhấnmạnh vào chức năng sẽ đề cập đến các hoạt động mà một công ty phải thựchiện, trong khi đó việc nhấn mạnh vào sản phẩm lưu ý trách nhiệm của nhàquản trị trong lĩnh vực sản phẩm mà mình đã được phân công thực hiện Sơ đổ
8 sau đây là một ví dụ về cơ cấu tổ chức ma trận theo dạng Sản phẩm – Khuvực
Bảng 1.1 Cơ cấu tổ chức ma trận Sản phẩm – khu vực
Trong thiết kế tổ chức ma trận theo khu vực sẽ có ba dạng quản trị gia:Quản trị gia khu vực, quản trị gia về sản phẩm, và quản trị gia cho cả ma trận.Giám đốc hay quản trị gia khu vực sẽ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanhtại thị trường mà họ phụ trách Giám đốc phụ trách sản phẩm sẽ chịu tráchnhiệm về khả năng sinh lợi của mặt hàng hay nhóm mặt hàng mà họ phụ trách.Như vậy giám đốc ma trận sẽ chịu trách nhiệm trước cả giám đốc sản phẩm và