Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên.LÀI THỊ VÂN TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở ĐẮK LẮK NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI CHO NGƯỜI CHẾT SANG THẾ GIỚI TỔ TIÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN HÀN LÂM HÀ NỘI 20.
Trang 1LÀI THỊ VÂN
TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở ĐẮK LẮK: NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI CHO NGƯỜI CHẾT
SANG THẾ GIỚI TỔ TIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2023
Trang 2NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Nguyễn Thị Yên
2 TS Lương Thanh Sơn
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
nghiên cứu nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lài Thị Vân
Trang 4CTQG: Chính trị quốc gia
ĐHKHXH&NV: Đại học khoa học xã hội và nhân văn
VHNT: Văn hóa nghệ thuật VHTT, VH-TT: Văn hóa Thông tin
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ CỞ LÝ LUẬN, KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 12
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tang ma của các tộc người thiểu số từ góc độ nghi lễ chuyển đổi 12
1.1.2 Các nghiên cứu về nghi lễ tang ma của người Tày liên quan đến nghi lễ chuyển đổi 14
1.1.3 Các nghiên cứu về văn hoá và nghi lễ tang ma của người Tày ở Tây Nguyên 18
1.1.4 Nhận xét chung 19
1.2 Cơ sở lý luận 21
1.2.1 Một số khái niệm 21
1.2.2 Quan điểm tiếp cận 29
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và người Tày ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk 33
1.3.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 33
1.3.2 Người Tày ở xã Ea Tam, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk 34
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2: CƠ SỞ THỰC HÀNH NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI CHO NGƯỜI CHẾT SANG THẾ GIỚI TỔ TIÊN TRONG TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở ĐẮK LẮK 40
2.1 Cơ sở văn hoá, xã hội, chính sách 40
2.1.1 Cơ sở đời sống văn hoá vật chất 40
2.1.2 Cơ sở văn hoá xã hội 43
2.2 Cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng 52
2.2.1 Vũ trụ quan bản địa và sự pha trộn các yếu tố Tam giáo 52
2.2.2 Quan niệm về hồn vía, thể xác và sự tồn tại linh hồn sau cái chết 54
Trang 62.2.3 Thờ cúng tổ tiên và quan niệm về nơi cư trú của tổ tiên trong thế giới
vô hình 57
Tiểu kết chương 2 73
Chương 3: THỰC HÀNH NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI CHO NGƯỜI CHẾT SANG THẾ GIỚI TỔ TIÊN TRONG TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở ĐẮK LẮK 75
3.1 Các khâu chuẩn bị của thầy Tào trước khi thực hành nghi lễ 75
3.2 Nghi lễ chuyển đổi thân xác và linh hồn người chết về với tổ tiên ở khu mộ 78
3.2.1 Tìm đất làm nhà cho nơi ở mới của người chết 78
3.2.2 Chuẩn bị “cơ sở vật chất” cho người chết về khu mồ mả/làng mới 79
3.2.3 Những lễ thức bảo quản, chăm sóc thân xác 84
3.2.4 Các lễ thức báo hiếu với người chết trước khi đưa ra mộ 89
3.2.5 Các lễ thức tiễn đưa người chết ra mộ và an táng 91
3.3 Nghi lễ chuyển đổi đưa linh hồn người chết về với tổ tiên ở mường Trời 95
3.3.1 Chuẩn bị vật dụng cho người chết về mường Trời 95
3.3.2 Các lễ thức mở đường, khai quang cho linh hồn 99
3.3.3 Các lễ thức tiễn đưa linh hồn người chết về mường Trời 104
3.4 Nghi lễ chuyển đổi linh hồn người chết về với tổ tiên trên ban thờ 107
3.4.1 Các lễ thức thuộc thời gian chuyển tiếp 107
3.4.2 Lễ mãn tang - nghi lễ chuyển đổi linh hồn người chết về với tổ tiên trên ban thờ 110
Tiểu kết chương 3 115
Chương 4: NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI NGƯỜI CHẾT SANG THẾ GIỚI TỔ TIÊN TRONG TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở ĐẮK LẮK: YẾU TỐ BẢN ĐỊA, SỰ GIAO LƯU TIẾP BIẾN VÀ THÍCH ỨNG, BIẾN ĐỔI Ở VÙNG ĐẤT MỚI 117
4.1 Thế giới quan, nhân sinh quan của người Tày ở Đắk Lắk qua thực hành nghi lễ chuyển đổi người chết sang thế giới tổ tiên 117
4.2 Bản địa hóa trong thực hành nghi lễ chuyển đổi linh hồn người chết về với tổ tiên của người Tày ở Đắk Lắk 120
4.2.1 Bản địa hóa yếu tố Nho giáo 120
Trang 74.2.2 Bản địa hóa yếu tố Đạo giáo 124
4.2.3 Bản địa hóa yếu tố Phật giáo 127
4.3 Thích ứng và biến đổi trong thực hành nghi lễ chuyển đổi người chết về với tổ tiên trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk 129
4.3.1 Thích ứng và biến đổi trong các thực hành nghi lễ chuyển đổi trong tang ma của thầy Tào 129
4.3.2 Thích ứng và biến đổi trong nhận thức và thực hành nghi lễ chuyển đổi trong tang ma của người dân 133
4.3.3 Thích ứng và biến đổi trong các thực hành nghi lễ chuyển đổi trong tang ma Tày từ quá trình giao thoa văn hóa với các tộc người tại chỗ 137
Tiểu kết chương 4 139
KẾT LUẬN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 153
PHỤ LỤC LUẬN ÁN 154
Trang 8là nghi lễ tiêu biểu trong hệ thống nghi lễ vòng đời của người Tày; là quy trình nghi
lễ tín ngưỡng dân gian phức hợp gắn liền với người chết và quá trình người sống chuẩn bị cho người chết có một cuộc sống mới ở thế giới vĩnh hằng cùng ông bà tổ tiên thông qua hệ thống nghi lễ chuyển đổi
Việc nghiên cứu, tìm hiểu văn hoá Tày từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình công bố, tuy nhiên chủ yếu tập trung ở miền núi phía Bắc, nơi cư trú cội nguồn của người Tày, còn đối với bộ phận người Tày chuyển cư đến các vùng miền khác như Tây Nguyên vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu Nhất là hiện tượng lưu giữ tập quán về tang ma của người Tày sau khi di cư đến vùng đất mới, trong bối cảnh thay đổi về kinh tế - xã hội, về sự phân bố dân cư và giao lưu văn hóa, v.v Có thể thấy, đây là khoảng trống cho các đề tài quan tâm nghiên cứu về đối tượng này
Sau năm 1975, nhất là sau Chiến tranh biên giới Việt - Trung (1979), các tộc người thiểu số phía Bắc (trong đó có người Tày) di cư vào Tây Nguyên sinh sống với
số lượng khá lớn Đắk Lắk là một trong những tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên có đông người Tày cư trú, trong đó, một bộ phận định cư ở huyện Krông Năng (đây cũng là điều kiện thuận lợi để họ duy trì các hình thức văn hoá truyền thống) Trong quá trình
di cư vào Đắk Lắk, người Tày đã mang theo nhiều di sản văn hoá, họ có ý thức cao trong việc duy trì bản sắc văn hoá truyền thống tộc người ở vùng đất mới, góp phần vào sự đa dạng, phong phú về văn hoá các dân tộc thiểu số huyện Krông Năng nói riêng, tỉnh Đắk Lắk nói chung Văn hoá tín ngưỡng của người Tày ở Đắk Lắk được bảo lưu ở vùng đất này thể hiện qua các phong tục, nghi lễ, tết, sinh hoạt tín ngưỡng, nghĩ lễ gia đình, lễ hội, v.v., trong đó có nghi lễ tang ma Tang ma là hình thức văn hoá tín ngưỡng biểu hiện rõ nhất tư tưởng, tình cảm, đời sống tâm linh vẫn được người Tày ở Đắk Lắk duy trì thực hành theo nghi thức truyền thống Mặc dù có sự tác động
Trang 92
của các yếu tố văn hoá mới, của nền kinh tế thị trường, của sự giao lưu tiếp biến văn hoá khi sinh sống xen kẽ giữa nhiều tộc người, v.v song, nghi lễ tang ma được cho là
ít biến đổi nhất trong hệ thống nghi lễ vòng đời người Tày
Nghi lễ tang ma là một trong những nghi lễ quan trọng của người Tày, thể hiện
rõ nhất vũ trụ quan, nhân sinh quan tộc người; vừa mang tính chất tín ngưỡng tôn giáo vừa hàm chứa những giá trị văn hoá truyền thống, những quy tắc ứng xử của gia đình, cộng đồng, mà điểm nổi bật là quan niệm về đạo hiếu, đạo nghĩa, việc đền công, báo đức của con cháu dành cho cha mẹ, ông bà Quy trình thực hành nghi lễ tang ma
là sự thể hiện cụ thể và sinh động nhất về niềm tin tôn giáo, quan điểm, hệ giá trị, quan hệ xã hội, v.v của tộc người, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nghi
lễ tang ma không chỉ là nghi lễ của gia đình mà còn là của cộng đồng, khi trong làng
có người mất, cả thôn làng có nhiệm vụ giúp đỡ, lo liệu ma chay cho người quá cố Nghiên cứu nghi lễ tang ma của người Tày ở Đắk Lắk với mục đích tìm hiểu một cách có hệ thống và đầy đủ hơn về nghi lễ này trong truyền thống và đương đại; nhìn
ra các chiều kích chuyển đổi của việc thực hành nghi lễ nhằm đưa người chết hoà nhập với thế giới tổ tiên; nhìn nhận nghi lễ tang ma của người Tày ở Đắk Lắk như một quá trình chuyển đổi, từ chuyển đổi tâm lý đến chuyển đổi trong thực tế đời sống vật chất và tinh thần của người sống, từ sự chuyển đổi thân xác và linh hồn của người chết về với tổ tiên ở khu mộ, ở mường Trời và ở bàn thờ đến sự chuyển đổi quan niệm và thực hành tang ma trong bối cảnh mới ở vùng đất mới; nhận diện rõ hơn quan niệm của người Tày về sự sống và cái chết qua nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên, tạo lập cuộc sống mới cho người chết ở bên kia thế giới; đánh giá đầy đủ hơn về những đặc trưng trong văn hoá tộc người Tày; đồng thời nhận định sâu sắc hơn những đóng góp về văn hoá của người Tày trong kho tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam
Nghiên cứu nghi lễ tang ma, luận án tập trung vào vấn đề nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên của người Tày ở Đắk Lắk Về mặt lý luận, luận
án đóng góp một nghiên cứu trường hợp cho những lý thuyết trước đây về tang ma trong ngành nhân học, cụ thể, tang ma Tày mặc dù có biến đổi để thích ứng với điều
Trang 10Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn Tang ma của người Tày ở Đắk
Lắk: nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên làm đề tài luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, nghiên cứu tang ma của người Tày ở Đắk Lắk từ góc độ nghi lễ chuyển
đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên nhằm hướng tới cung cấp một nghiên cứu
trường hợp về vai trò, chức năng ý nghĩa văn hoá - xã hội của nghi lễ tang ma, trên
cơ sở đó phân tích ý nghĩa của các thực hành nghi lễ trong quy trình tổ chức đám tang của người Tày nói chung và người Tày di cư vào Đắk Lắk nói riêng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nêu trên, các nhiệm vụ chính đặt ra cho luận án là:
- Nhận diện và phân tích cơ sở sinh kế, văn hoá, xã hội, chính sách để từ đó tìm hiểu các vấn đề liên quan đến thực hành nghi lễ chuyển đổi trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk
- Sưu tầm tài liệu, tư liệu thành văn, khảo sát điền dã, thực địa về đời sống văn hoá tín ngưỡng của người Tày ở Đắk Lắk
- Khảo sát quy trình thực hành nghi lễ tang ma của người Tày tại những điểm tiêu biểu ở tỉnh Đắk Lắk
- Phân tích quy trình nghi lễ chuyển đổi cho người chết về thế giới tổ tiên trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk
Trang 114
- Nhận định, phân tích nghi lễ tang ma của người Tày ở Đắk Lắk dưới góc
độ nghi lễ chuyển đổi; thấy rõ các thực hành nghi lễ chuyển đổi trong tang ma chuyển tải nhân sinh quan, thế giới quan của người Tày; nhận định sâu sắc hơn các vấn đề biến đổi và thích ứng văn hoá của người Tày di cư đến Đắk Lắk thông qua nghi lễ chuyển đổi trong tang ma
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nghi lễ tang ma của người Tày cao tuổi ở Đắk Lắk (cụ thể là huyện Krông Năng) qua thực hành nghi lễ chuyển đổi cho người chết về thế giới tổ tiên trong quan niệm của người Tày
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu nghi lễ tang ma của người
Tày ở tỉnh Đắk Lắk Người Tày có mặt hầu khắp tỉnh Đắk Lắk và sống tập trung ở một số xã trong các huyện như: Ea H’Leo, Krông Năng, Cư Kuin, Krông Ana, Cư M’Gar, Krông Pắk, Buôn Đôn, Ea Súp, v.v Krông Năng là huyện có người Tày và người Nùng sinh sống tập trung đông nhất ở tỉnh Đắk Lắk (chủ yếu ở một số xã tiêu biểu như Ea Tam, Ea Puk, Tam Giang, Ea Tân, v.v.), nhiều nhất là ở xã Ea Tam với
83,3% dân số Tày, Nùng (Ea Tam cũng là nơi diễn ra Lễ hội Văn hoá dân gian Việt
Bắc vào các ngày 13, 14, 15 tháng Giêng hàng năm từ năm 2014 đến nay, người ta ví
vùng đất Ea Tam như một “vùng Việt Bắc thu nhỏ”) Chính vì vậy, ở luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu ở huyện Krông Năng (những xã có người Tày sống tập trung), đồng thời chọn xã Ea Tam là phạm vi nghiên cứu chủ yếu Bên cạnh đó, tác giả trực tiếp tham dự một số đám tang ở các huyện người Tày sống xen kẽ với nhiều tộc người khác để có cái nhìn tổng quát và những so sánh cụ thể về tang ma của người Tày ở Đắk Lắk (ví dụ như dự một số đám tang tại huyện Buôn Đôn, huyện Ea H’Leo, huyện Krông Pắk tỉnh Đắk Lắk, huyện Cư Jút tỉnh Đắk Nông)
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu tang ma người Tày ở Đắk Lắk
(cụ thể là xã Ea Tam, huyện Krông Năng) từ đầu những năm 1980 đến nay Sở dĩ tác giả luận án lựa chọn mốc thời gian này để nghiên cứu vì đầu những năm 1980, nhất là
Trang 125
vào năm 1986 có thể xem là mốc thời gian di cư số lượng lớn đầu tiên của người Tày đến các vùng kinh tế mới, trong đó có xã Ea Tam, đã làm cho dân số của toàn tỉnh Đắk Lắk nói chung và xã Ea Tam tăng nhanh Vì vậy, đời sống của các dân tộc cùng cộng
cư có sự giao lưu mạnh mẽ với nhau Quá trình đó đã góp phần hình thành những yếu
tố văn hoá mới, sự biến đổi văn hoá của từng tộc người, trong đó có văn hoá tang ma của người Tày
Phạm vi thời gian tiến hành điền dã, khảo sát: Từ năm 2016 đến năm 2021
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Luận án được thực hiện dựa trên khảo sát thực tiễn, cụ thể là nhóm người Tày
di cư vào Đắk Lắk Về phương pháp luận, trên cơ sở tìm hiểu các khái niệm liên quan đến tang ma của người Tày, luận án sử dụng những quan điểm chức năng tâm lý của Charles Keyes qua nghiên cứu “From Death to Birth: Ritual Process and Buddhist
Meanings in Northern Thailand” (Từ tử đến sinh: Nghi lễ và ý nghĩa Phật giáo ở vùng
Bắc Thái Lan) [9] làm nền tảng lý luận, từ đó đưa ra nhận thức, có cái nhìn bao quát
cũng như cách luận giải riêng về tang ma của người Tày
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận phương pháp nghiên cứu chuyên ngành văn hoá dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội Trong luận án này, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp tiếp cận liên ngành khoa học xã hội:
Được coi là phương pháp kết hợp nghiên cứu của nhiều ngành liên quan như: Văn hoá dân gian, Dân tộc học, Xã hội học, Tôn giáo, v.v Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm lý giải một cách hệ thống về văn hoá tang ma của người Tày trong hệ thống nghi lễ vòng đời truyền thống Ngoài ra, luận án còn áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu văn hoá để giải mã những bí ẩn của các hiện tượng văn hoá tâm linh
Thống kê và kế thừa các tài liệu có sẵn, xử lý văn bản, thông tin: Đọc và xử
lý tài liệu từ sách, báo, các báo cáo kết quả của các chương trình, dự án nghiên cứu
Trang 136
trong nước, các báo cáo tổng kết của các cơ quan Trung ương và địa phương, các
quan đến đề tài luận án Sau quá trình thu thập tài liệu, khảo sát thực tế, tác giả xử
lý văn bản, tài liệu liên quan, thông tin thu thập được qua quá trình ghi chép, phỏng vấn, mô tả, hồi cố, tài liệu phim ảnh, v.v từ đó phân tích đánh giá, rút ra các luận điểm trọng tâm của luận án
Điền dã dân tộc học:
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu văn hoá dân gian Trước hết bằng phương pháp định tính, tác giả sống và trải nghiệm cùng với người dân địa phương để có thể quan sát, tham dự các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của họ Trong quá trình đó, tác giả kết hợp các thao tác quan sát tham dự, quay phim, chụp ảnh, qua đó có thể quan sát và mô tả một cách tỉ mỉ, chi tiết các hành vi, hành động thực hành nghi lễ và bối cảnh mà các hiện tượng văn hoá đó diễn ra Đồng thời, vận dụng thao tác phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố, thảo luận nhóm đối với các thông tín viên phù hợp, nhất là những người am hiểu và có uy tín ở địa phương, thầy cúng (Tào, Mo, Then, Pụt), người già, v.v Đối tượng được lựa chọn để tiến hành các phương pháp nêu trên đảm bảo các nguyên tắc về tính đại diện cho lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính, thành phần, học vấn, điều kiện kinh tế, vị trí xã hội, v.v Bên cạnh
đó, luận án áp dụng các công cụ bổ trợ như chụp ảnh, sưu tầm các bài mo Tày, các văn bản cúng bằng tiếng Hán của thầy Tào, tư liệu về văn học nghệ thuật dân gian, tài liệu thư tịch của tộc người Tày liên quan đến đề tài luận án Với thao tác nghiên cứu này, tác giả có điều kiện đi sâu tìm hiểu văn hoá tang ma của người Tày ở địa bàn nghiên cứu, từ đó làm cơ sở phân tích, đánh giá, tổng hợp và giải quyết các vấn
đề đặt ra cho nhiệm vụ của luận án
Việc quan sát tham dự trực tiếp rất quan trọng và cần thiết để thu thập đầy đủ
tư liệu mang tính khách quan về tang ma Tày, vì vậy tác giả đã bám sát địa bàn, tận dụng cơ hội, thời gian để tham gia, nhập cuộc vào các đám tang Tác giả tiến hành khảo sát kỹ trình tự đám tang của những người chết bình thường, chết già, tiêu biểu như đám tang của bà L.T.H (sinh năm 1940, mất năm 2018, ở thôn Tam Thành, xã
Trang 14tư liệu so sánh, như đám tang của anh N.V.M, sinh năm 1990, chưa có vợ con, mất ngày 25/3/2020, ở thôn Tam Phong, xã Ea Tam, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Đám tang diễn ra trong 3 ngày từ ngày 25/3/2020 đến ngày 27/3/2020 dương lịch Ngoài ra, tác giả tham dự một số lễ mãn tang để thấy rõ lễ thức cuối cùng, hoàn thiện quá trình tiễn đưa linh hồn về với thế giới tổ tiên Tiêu biểu như lễ mãn tang của bà H.T.B (quê gốc Cao Bằng), chủ lễ mãn tang là con trai út của bà B (ông B.V.T, sinh năm 1978, cư trú tại xã Ea Tam, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk) Đồng thời, trong thời gian thực hiện luận án, tác giả còn tham dự các lễ, tết trong năm của người Tày như tết Nguyên đán, tết rằm tháng bảy, tết thanh minh (lễ tảo mộ), v.v., tham gia lễ hội dân gian Việt Bắc tổ chức tại Ea Tam vào dịp đầu xuân để có cái nhìn tổng thể về đời sống văn hoá của người Tày ở Đắk Lắk
Bên cạnh việc quan sát trực tiếp, tác giả phỏng vấn hồi cố thầy cúng, những người cao tuổi để tìm hiểu về tang ma truyền thống, so sánh với các tư liệu thu thập được để có thông tin chính xác, trung thực, khách quan, thấy được sự giống và khác nhau trong nghi lễ chuyển đổi trước đây và hiện nay Tác giả chủ động đến thăm nhà các thầy Tào, nhờ thầy báo tin khi có người mất, tranh thủ phỏng vấn các thầy khi tham dự đám tang, kết hợp với việc trao đổi trực tiếp qua điện thoại để kiểm chứng thông tin; nhờ đến sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, những người cán bộ xã là người Tày, chọn họ làm thông tín viên để việc tiếp cận người dân được dễ dàng, tăng
sự tin tưởng, an tâm từ người dân Bản thân tác giả là con em người Tày nên dễ dàng thâm nhập cộng đồng, tiếp cận đối tượng phỏng vấn, thu thập thông tin tư liệu Song, tác giả cũng gặp những khó khăn nhất định trong quá trình nghiên cứu thực địa như
Trang 158
việc tham dự nghi lễ phụ thuộc vào thời gian tổ chức, nên có những trường hợp không thể sắp xếp để tham dự Ngoài ra, sự xuất hiện của người nghiên cứu đôi khi làm cho người thực hành văn hoá cảm thấy không thoải mái, bởi trong lúc tang gia bối rối có thể có những sơ suất trong thái độ, hành vi ứng xử, nên họ không muốn sự có mặt của người ngoài Hơn nữa, việc trong nhà có người thân mất là một sự mất mát lớn
và sự xuất hiện của người lạ đến chụp ảnh lúc tang thương cũng là việc cộng đồng khó chấp nhận Một số người quan niệm rằng điều đó là việc làm bất hiếu đối với người chết và sợ người chết quở trách Do đó, chúng tôi cũng bị từ chối tham dự, chụp ảnh ở nhiều đám tang
Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được áp dụng thông qua các cuộc
tọa đàm hẹp, thảo luận, trao đổi theo từng vấn đề chuyên sâu, nhằm thu thập tư liệu
và kinh nghiệm nghiên cứu từ các chuyên gia, đồng nghiệp và các tổ chức khoa học, những cán bộ và người dân có uy tín, am hiểu ở địa phương tiến hành điền dã Bên cạnh đó, tác giả tranh thủ ý kiến của nhà quản lý ở các địa phương liên quan đến đề tài luận án
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Bên cạnh phương pháp điền dã, tác giả sưu
tầm nguồn tư liệu thứ cấp của các nhà nghiên cứu về tang ma các tộc người ở Việt Nam và trên thế giới đã công bố, xuất bản để kế thừa những thành tựu nghiên cứu có trước, nhất là tài liệu nghiên cứu về người Tày và tang ma Tày Tác giả đã thu thập, khảo sát một số văn bản cúng của người Tày bằng chữ Hán cổ do các thầy Tào ở địa bàn nghiên cứu thực hành, tương ứng với từng lễ thức, quy trình của nghi lễ như: Khai thàn; Xá tội; Văn tế cho người chết làm nghề Tào - Then; Tế tổ tông; Con cái
kể công ơn mẹ; Phá ngục; Thành phục; Lấy nước, vào áo quan; Cúng cơm rượu - khai quang; Niệm phép; Ký công đức; Cách biệt âm dương; Tam hiến - ngày cuối cùng cho hồn uống rượu; mời rượu thánh; v.v Tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp để tổng hợp các cứ liệu phục vụ luận án Tất cả nhằm đạt mục đích hướng tới là làm rõ vai trò tác động tâm lý đối với thân nhân của người qua đời và cộng đồng người Tày ở địa bàn nghiên cứu qua nghi lễ tang ma
Trang 169
Phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh đồng đại, lịch đại
Sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu các nguồn thông tin, tư liệu, số liệu thu thập được để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề
ra Trong đó, phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại được sử dụng chủ yếu trong quá trình phân tích và đánh giá tài liệu đã thu thập được từ các phương pháp khác
Phương pháp phân tích, tổng hợp được triển khai trong suốt quá trình thực hiện đề tài
để có thể đưa ra những kết luận, nhận định phù hợp dựa trên các nguồn tư liệu về đối tượng và địa bàn nghiên cứu mà đề tài thu thập được
Bên cạnh nguồn tư liệu được thu thập, luận án còn tham khảo, kế thừa những công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, những tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước, các công trình, ấn phẩm về văn hoá tang ma nói chung và văn hoá tang
ma của người Tày nói riêng đã được công bố; đồng thời, sử dụng một số nguồn tài liệu của địa phương mà tác giả có thể tiếp cận được trong quá trình điền dã; tham khảo các báo cáo của địa phương về điều kiện địa lý, đặc điểm dân cư, tình hình kinh
tế, văn hoá, xã hội của địa bàn và đối tượng nghiên cứu
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án có ý nghĩa khoa học khi phản ánh thực trạng đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Tày tại cùng đất mới; khắc hoạ được diện mạo nghi lễ tang ma của người Tày ở Đắk Lắk trong nhiều chiều kích không gian, thời gian và những bối cảnh văn hoá cụ thể, từ đó thấy được đời sống văn hoá của người Tày di cư cả trong truyền thống
và đương đại Luận án có những phát hiện mới liên quan đến những luận điểm về cõi sống và cõi chết, sự thâu nhận Tam giáo vào tín ngưỡng của người Tày, nhìn nhận khách quan quá trình thích ứng và biến đổi trong thực hành nghi lễ tang ma của người Tày ở Đắk Lắk
Luận án là công trình nghiên cứu về tang ma của người Tày ở Đắk Lắk với ý nghĩa là một nghi lễ nhằm chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên; thông qua các thực hành nghi lễ tang ma thấy được các vấn đề về vũ trụ quan, quan niệm về cái chết, quan niệm về thế giới tổ tiên của người Tày ở Đắk Lắk, qua đó nhận diện rõ hơn
về tang ma Tày truyền thống được duy trì, phục hồi ở vùng đất mới trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập
Trang 176 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định vai trò, chức năng văn hoá, đóng góp phần nhỏ vào nghiên cứu văn hoá Tày; thông qua nghiên cứu trường hợp về tang ma người Tày, luận án góp phần làm sáng tỏ vai trò, chức năng của tang ma mà ngành nghiên cứu văn hóa và nhân học đã chỉ ra Cụ thể, luận án có
ý nghĩa đóng góp thêm một nghiên cứu trường hợp cho những lý thuyết trước đây về tang ma trong ngành nhân học, văn hoá, tức là dưới góc độ nghi lễ chuyển đổi, tang
ma không phải làm cho người chết, mà là vì người sống, và củng cố, khẳng định niềm tin tôn giáo của người Tày cho rằng chết không phải là hết mà chết là chuyển sang cuộc sống khác
Về mặt thực tiễn, đề tài góp phần cung cấp những luận cứ khoa học trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về coi trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học
để các nhà quản lý xây dựng các chính sách và cách ứng xử phù hợp với di sản văn hóa quan trọng này của tộc người; góp phần phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương, xây dựng nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc, phù hợp với điều kiện hiện nay
Luận án là trường hợp nghiên cứu có ý nghĩa bổ sung nguồn tư liệu cần thiết cho chuyên ngành nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo, về văn hoá tộc người Tày, đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu giảng dạy và những người quan tâm đến tộc người và văn hoá người Tày
Trang 1811
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung chính
của luận án được bố cục thành 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, khái quát về địa bàn
nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở của thực hành nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới
tổ tiên của người Tày ở Đắk Lắk
Chương 3 Thực hành nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên
trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk
Chương 4 Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên trong tang ma
của người Tày ở Đắk Lắk: truyền thống, giao lưu và thích ứng ở vùng đất mới
Trang 1912
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ CỞ LÝ LUẬN,
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tang ma của các tộc người thiểu số từ góc độ nghi
lễ chuyển đổi
Sau năm 1986, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, việc nghiên cứu tang
ma bắt đầu được quan tâm nhiều, những bí ẩn của đời sống tâm linh được chú ý Từ những biểu hiện cụ thể của nghi lễ, phong tục tập quán diễn ra hàng ngày được các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu và giải mã niềm tin sâu xa mà con người gửi gắm vào niềm tin tín ngưỡng Do vậy, tang ma của các tộc người thiểu số đã trở thành đối tượng nghiên cứu chính của nhiều công trình khoa học Tuy nhiên, nghiên cứu về tang ma từ góc độ nghi lễ chuyển đổi không nhiều Các nghiên cứu về tang ma dưới góc độ nghi lễ chuyển đổi ở Việt Nam chủ yếu là LATS của các tác giả như: Lò Xuân Dừa, Nguyễn Công Hoan, Trần Hạnh Minh Phương, Võ Thanh Bằng, Vũ Thị Uyên, Lê Hải Đăng, v.v., cụ thể như:
LATS VHH của tác giả Lò Xuân Dừa “Tang ma của người Thái: Quy trình nghi
lễ để tạo cuộc sống mới cho người chết (trường hợp người Thái Phù Yên, Sơn La)” [16] miêu tả một cách sinh động quy trình các bước chuẩn bị và tổ chức thực hành các nghi lễ trong tang ma, tạo cuộc sống mới cho người chết; cung cấp thêm nguồn
tư liệu về vũ trụ quan, quan niệm về cái chết của người Thái, các quy tắc ứng xử trong gia đình, cộng đồng, xã hội trong văn hoá của người Thái; nhận diện rõ hơn về tang
ma Thái truyền thống trong đời sống hiện nay Luận án góp phần phát hiện thêm về bản chất, nguồn gốc quy trình chuẩn bị và thực hành các nghi lễ trong đám tang, đồng thời lý giải những giá trị và chức năng văn hoá do quy trình tổ chức đám tang mang lại trong đời sống xã hội, giúp cho việc định hướng các chính sách văn hoá Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về tang lễ của người Thái, đặc biệt là thực hành nghi lễ tang ma, giúp tác giả luận án có thêm nguồn tư liệu quý phục vụ cho nghiên cứu của mình
Trang 2013
Nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Triều Châu ở Nam Bộ, LATS của Nguyễn
Công Hoan [33] là một trong số ít công trình nghiên cứu về nghi lễ chuyển đổi của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam Đây là một công trình nghiên cứu trường hợp tại Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và thành phố Hồ Chí Minh Tiếp cận lý thuyết nghi
lễ chuyển đổi của Arnold Van Gennep, Nguyễn Công Hoan nhận diện các giai đoạn: trước ngưỡng, trong ngưỡng, sau ngưỡng của hai nghi lễ quan trọng nhất trong một đời người là lễ cưới và lễ tang Tác giả phân tích vai trò, vị thế xã hội, nghĩa vụ, trách nhiệm của những cá nhân thụ lễ và những người có liên quan trong nghi lễ chuyển đổi, đồng thời chú ý đến mô tả nghi lễ, chỉ ra sự chuyển đổi của cá nhân trong quá trình thực hành nghi lễ
LATS Nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Quảng Đông ở thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay [66] của Trần Hạnh Minh Phương là công trình đề cập đến nghi lễ
đánh dấu những bước ngoặt quan trọng của đời người liên quan đến các giai đoạn: sinh ra, trưởng thành, kết hôn, lên lão và mất đi Tác giả mô tả tiến trình diễn ra các
nghi lễ của cá nhân theo hướng tiếp cận cấu trúc của Arnold Van Gennep: trước
ngưỡng, trong ngưỡng và sau ngưỡng các nghi lễ theo trình tự của vòng đời người
Hoa Quảng Đông bao gồm: lễ đầy tháng, lễ khai học, lễ cưới, lễ mừng thọ và lễ tang
LATS của Vũ Thị Uyên Nghi lễ vòng đời của người Dao Quần Chẹt ở huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội [108] cũng tiếp cận theo lý thuyết nghi lễ chuyển đổi của
Arnold Van Gennep Trên cơ sở của lý thuyết nghi lễ chuyển đổi, Vũ Thị Uyên xem xét các nghi lễ vòng đời của người Dao Quần Chẹt, xác định đâu là nghi lễ chuyển đổi, sự chuyển đổi đó diễn ra như thế nào, có ý nghĩa gì đối với cá nhân và cộng đồng người Dao Quần Chẹt, từ đó xác định nghi lễ vòng đời người Dao Quần Chẹt mang tính chuyển đổi sâu sắc tương ứng với lý thuyết chuyển đổi của Arnold Van Gennep
Công trình Nghi lễ gia đình của người Thái nhìn từ lý thuyết nghi lễ chuyển tiếp
của Lê Hải Đăng [20] phân tích những đặc trưng văn hoá của người Thái qua các ứng
xử và thực hành nghi lễ gia đình Dựa vào lý thuyết nghi lễ chuyển tiếp, tác giả phân tích nghi lễ chuyển tiếp trong tang ma Thái thể hiện rõ các giai đoạn chuyển tiếp (còn
gọi là giai đoạn ngưỡng): tiền ngưỡng, ngưỡng, hậu ngưỡng (tái hợp) Nghi lễ tang
Trang 2114
ma của người Thái thể hiện rõ sự chuyển tiếp địa vị của người chết thành ma nhà hay
ma tổ tiên, quy trình thực hành nghi lễ tang ma Thái nhằm chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho cuộc hành trình dài trở về thế giới tổ tiên của người chết
Hầu hết các công trình nghiên cứu kể trên đã dựa vào lý thuyết nghi lễ chuyển đổi của Arnold Van Gennep để xem xét tang lễ và các nghi lễ vòng đời của từng tộc người dưới góc độ nghi lễ chuyển đổi Các tác giả đã xem xét nghi lễ chuyển đổi dưới dạng nghi lễ gia đình, nghi lễ chu kỳ đời người, phong tục tập quán, chú trọng mô tả trình tự nghi thức và những kiêng kỵ, đề cập đến sự chuyển đổi về vị thế của người thụ lễ, phân tích chức năng của nghi lễ, v.v
Các công trình nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu tham khảo quý trong quá trình nghiên cứu luận án, giúp tác giả có cách nhìn đa chiều khi tiếp cận nghiên cứu về tang ma của người Tày, đồng thời là cứ liệu để so sánh tang ma, tín ngưỡng của người Tày với tang ma của các tộc người khác ở Việt Nam
1.1.2 Các nghiên cứu về nghi lễ tang ma của người Tày liên quan đến nghi lễ chuyển đổi
1.1.2.1 Các nghiên cứu giới thiệu về tang ma của người Tày nói chung
Người Tày sinh sống chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta, trong quá trình phát triển của lịch sử họ di cư đến nhiều vùng miền trong cả nước để sinh cơ lập nghiệp Việc tìm hiểu văn hoá Tày như nghi lễ vòng đời, trong đó có nghi lễ tang ma
đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm từ trước đến nay và chủ yếu tập trung ở miền núi phía Bắc, thể hiện qua nhiều công trình như:
Sau cách mạng tháng Tám đến năm 1975, vấn đề nghiên cứu văn hoá các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái nói chung và tang ma của người Tày nói riêng được các học giả Việt Nam quan tâm nhiều hơn, nhiều bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này dưới dạng miêu tả phong tục tập quán, nghi lễ đã được công bố trên các tạp chí, sách, báo Trước hết, có thể kể đến công trình của hai nhà khoa học Lã Văn Lô
và Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái
ở Việt Nam [47, tr.100-105] Trong công trình này, các tác giả tập trung phác hoạ giá
trị văn hoá của ba tộc người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, tang ma được đề cập đến
Trang 2215
một cách khái quát, chưa có chuyên mục riêng về tang ma của người Tày
Trong quá trình triển khai đề tài luận án, tác giả tiếp cận những công trình đề cập tới nghi lễ tang ma kể cả trực tiếp và gián tiếp của các cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ở Việt Nam và các tài liệu liên quan đến tộc người Tày ở miền núi
phía Bắc như: Cuốn Văn hoá Tày Nùng [89], của các tác giả Hà Văn Thư, Lã Văn Lô hay công trình Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc [68] do Hoàng Quyết - Tuấn Dũng sưu tầm và biên soạn, công trình Văn hoá dân gian Tày [43] của nhóm
tác giả Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Tuấn Anh, v.v là những công trình nghiên cứu khá đầy đủ về xã hội, truyền thống văn hoá, con người, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học dân gian của hai tộc người Tày, Nùng ở Việt
Nam Quan niệm về thế giới ba tầng của người Tày được đề cập rõ trong cuốn Văn
hoá dân gian Tày [43], họ gọi thế giới đó theo thứ tự cõi Trên (trời), cõi Giữa (mặt
đất) và cõi Dưới (dưới lòng đất); giữa ba cõi chỉ có một điểm khác nhau về hình dạng con người, v.v Tuy nhiên, ở công trình này tang ma người Tày mới chỉ được đề cập một cách khái quát, trong khi nghi lễ tang ma của tộc người này ở mỗi địa phương có nhiều điểm khác biệt
Bế Viết Đẳng và cộng sự biên soạn cuốn Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam
[21, tr.165-166, tr.212-226] đã dành một phần riêng trình bày những nghi lễ liên quan đến làm ma chay ở trong nhà cũng như cách thức mai táng và hình thức để tang của người Tày, Nùng (chủ yếu ở vùng Việt Bắc) Liên quan đến vấn đề tang ma, công trình mới chỉ tiếp cận dưới dạng các thông báo, từ việc điểm qua về người chết, cách ứng xử với người chết, các lễ thức sau khi chết một cách chung chung mà chưa có phân tích, nghiên cứu chuyên sâu theo từng tộc người cụ thể
Tác giả Đỗ Thúy Bình trong công trình Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày,
Nùng, Thái ở Việt Nam [6, tr.227-254] nghiên cứu về nghi lễ ma chay của ba tộc
người Tày, Nùng, Thái, phân tích quan niệm về linh hồn, miêu tả 6 nghi lễ chính trong tang ma của người Tày, Nùng và 4 ngày trong tang ma của người Thái Trong phần nghiên cứu về người Tày, tác giả mới chỉ tiếp cận nghiên cứu ma chay như một phong tục nghi lễ, chưa có chuyên mục nghiên cứu riêng về tang ma của người Tày
Trang 2316
Tuy nhiên, đó là những luận cứ khoa học có giá trị, giúp tác giả luận án có thêm tư liệu so sánh, làm cơ sở để tác giả tiếp cận vấn đề tang ma, đi sâu tìm tòi và hoàn thiện nghiên cứu của mình
1.1.2.2 Các nghiên cứu đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến nghi lễ chuyển đổi trong lễ tang của người Tày
Tác giả luận án tiếp cận nghiên cứu bước đầu đề cập đến một số vấn đề có liên quan đến nghi lễ chuyển đổi trong lễ tang của người Tày như: Thế giới quan, quan niệm về nơi cư trú của tổ tiên ở trên trời, quy trình thực hiện nghi lễ, đặc biệt là nghi
lễ tiễn hồn người chết về trời, v.v Phần lớn các nghiên cứu tập trung ở hai địa bàn Cao Bằng và Bắc Kạn, cụ thể như:
Quy trình tang ma Tày được tác giả La Công Ý trong công trình Đến với người
Tày và văn hoá Tày [118] miêu tả khái quát từ khi con người có dấu hiệu lìa trần cho
đến khi có mồ yên mả đẹp [118, tr.286-301] Tác giả phân tích quan niệm của người Tày về việc tổ chức tang lễ là để đưa tiễn linh hồn của người quá cố sang thế giới bên kia cũng như chuẩn bị cho họ mọi thứ cần thiết cho cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày,
từ nhà cửa, ruộng đất, trâu bò đến quần áo, đồ ăn, thức uống, v.v [118, tr.286] Tất
cả các quy trình, lễ thức trong tang ma Tày đều phục vụ cho việc tiễn đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia, về với tổ tiên trong quan niệm của người Tày
Về lễ tang của người Tày ở Cao Bằng, tác giả Hoàng Tuấn Nam đã công bố
cuốn sách Việc tang lễ cổ truyền của người Tày [55], nghiên cứu chuyên sâu và đầy
đủ về tang lễ và các vấn đề liên quan đến tang ma của người Tày (Cao Bằng) từ các bước chuẩn bị, quy trình của một đám tang cũng như nghi lễ sau đám tang và trách nhiệm của các đối tượng tham gia trong tang lễ Có thể nói, đây là một trong những công trình đầu tiên cung cấp được cái nhìn khá toàn diện về tang ma của người Tày
từ lúc cha mẹ già yếu - ốm đau - qua đời, đến các nghi lễ tiễn đưa cha mẹ về trời với
tổ tiên; sưu tầm những bài văn tế trong đám tang của người Tày Tuy nhiên, trong công trình này tác giả mới chỉ giới thiệu một cách chung chung những nghi lễ tang
ma đối với người chết bình thường, còn những đặc trưng trong văn hoá tang ma của người Tày chưa được luận giải đầy đủ Có thể nói đó là khoảng trống cho những
Trang 2417
người quan tâm bổ sung về lĩnh vực này
Tác giả Nguyễn Thị Yên trong công trình Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng [122],
ở phần giới thiệu “Quyển đẳm trong đám tang thầy cúng của người Tày” [122, 503] đã miêu tả khá kỹ quy trình thực hiện lễ quyển đẳm (một nghi thức đặc biệt chỉ
tr.437-có trong đám tang của thầy cúng) trong lễ tang của thầy cúng ở phía Đông tỉnh Cao Bằng Theo quan niệm của người Tày, các vị thầy cúng sau khi chết linh hồn sẽ về trú ngụ ở một nơi riêng (cửa thầy), không ở chung với tổ tiên Để có thể đưa linh hồn của các vị thầy cúng về mường Trời, cần có sự tham gia của hai dòng thầy cúng là Tào và Then (hoặc Pụt) với nhiều nghi lễ phức tạp được thực hiện song hành với nhau Cùng với sự phối hợp của Tào và Then, cuộc chuẩn bị và tiễn đưa người chết
về thế giới vĩnh hằng diễn ra sinh động và cụ thể, qua đó thể hiện rõ quan niệm về thế giới ba tầng và quan niệm về cuộc sống sau khi chết của người Tày Có thể nói đây là một công trình có giá trị, cung cấp những luận cứ khoa học và những dẫn chứng xác đáng về tín ngưỡng dân gian Tày, đặc biệt là nghi lễ tang ma, giúp tác giả đối chiếu với nguồn tư liệu khảo sát điền dã trong quá trình nghiên cứu
Về tang ma của người Tày Bắc Kạn, tác giả Lương Thị Hạnh với công trình Tang
tỉnh Bắc Kạn (phạm vi khảo sát 4 huyện Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông, Chợ Mới) Tác giả miêu tả chi tiết quy trình đám tang của 3 đối tượng: tang ma của người chết bình thường, tang ma của thầy Tào và tang ma của người chết không bình thường Công trình chủ yếu chú trọng miêu tả các loại tang ma diễn ra trong đời sống của người Tày
ở tỉnh Bắc Kạn, song, đây cũng là nguồn tài liệu hữu ích, giúp tác giả có thêm kênh tham khảo, so sánh
Ngoài ra, có thể kể đến luận văn cao học Tang lễ của người Tày khu vực vùng
hồ Ba Bể tỉnh Bắc Kạn của Đỗ Mạnh Hải [30] với mô tả về quy trình đám tang của
người chết bình thường và giới thiệu sơ bộ các đám tang thuộc dạng đặc biệt như của trẻ em sơ sinh, của thanh niên chết trẻ do bệnh tật, tai nạn, của những người làm nghề thầy cúng Bên cạnh miêu tả đám tang của người chết bình thường khá chi tiết, diễn
ra 3 ngày 3 đêm, với 15 nghi lễ (từ khi tắt thở đến khi hạ huyệt, dưới sự chủ trì của
Trang 2518
thầy Tào), tác giả miêu tả trình tự công việc của nhóm hát thợ, tiến hành song song với các nghi lễ của nhóm thầy Tào Qua đó cho thấy mục đích của các nghi lễ đều hướng đến việc tiễn đưa linh hồn người chết về trời
Liên quan đến tang lễ của người Tày Bắc Kạn, tác giả Nguyễn Thị Yên còn có
bài viết “Hát thợ trong đám tang của người Tày” in trong cuốn Tín ngưỡng dân gian
Tày Nùng [122, tr.504-523] tập trung giới thiệu về lời hát nghi lễ, lối hát thợ làm nhà
táng trong đám tang của người Tày ở vùng hồ Ba Bể Theo nghiên cứu của tác giả, trong một đám tang thông thường, đội hát thợ sử dụng 3 quyển sách chính vào nội dung tang lễ (quyển I: Mua xe để chở vong về mường Trời; quyển II: cuộc hành trình đưa tiễn vong về mường Trời; quyển III: Quyển Tổng hợp (các bài ca với nội dung giáo dục chữ hiếu, ca ngợi các tấm gương hiếu nghĩa) Người Tày có quan niệm sâu sắc về sự tồn tại cuộc sống của linh hồn sau cái chết, vì vậy, toàn bộ các nghi lễ trong đám tang của người Tày nói chung đều liên quan đến các thủ tục tiễn đưa linh hồn người chết về trời Đây cũng là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong diễn xướng hát nghi lễ của nhóm hát thợ trong đám tang Có thể thấy, đây là nguồn tư liệu cần thiết đóng góp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu văn hoá dân gian người Tày trong quá trình hình thành, tiếp thu và giao lưu biến đổi với các dòng văn hoá bên ngoài Nhìn chung, các tác giả khảo sát nghi lễ tang ma của người Tày ở địa điểm nghiên cứu cụ thể, đồng thời so sánh tang lễ của người Tày ở địa điểm nghiên cứu với các địa phương khác để tìm ra sự tương đồng và khác biệt với mục đích tìm hiểu các giá trị văn hoá và giá trị nhân văn thông qua nghi lễ tang ma Các tác giả trình bày những quan niệm
về cái chết của người Tày ở từng địa điểm khảo sát của từng công trình và mô tả khá chi tiết quy trình của đám tang cụ thể, để giải thích con đường đến với thế giới tổ tiên của linh hồn người chết trong quan niệm của người Tày Các nghiên cứu tang lễ của người Tày (đặc biệt của nhóm Cao Bằng, Bắc Kạn) có nhiều đóng góp, giúp tác giả luận án có nhiều nguồn tư liệu so sánh, đối chiếu với tang ma của người Tày ở Đắk Lắk
1.1.3 Các nghiên cứu về văn hoá và nghi lễ tang ma của người Tày ở Tây Nguyên
Nhìn chung, các nghiên cứu về văn hoá và nghi lễ tang ma của người Tày ở Tây Nguyên chưa nhiều, chủ yếu là những phác thảo ban đầu Các tác giả bước đầu
Trang 2619
quan tâm nghiên cứu về văn hoá cổ truyền các dân tộc thiểu số phía Bắc di cư vào
Tây Nguyên như: Đỗ Hồng Kỳ với công trình Văn hoá cổ truyền ở Tây Nguyên
trong phát triển bền vững [42], chỉ ra những đặc điểm cơ bản về văn hoá cổ truyền
của các dân tộc thiểu số phía Bắc ở Tây Nguyên, trong đó có người Tày; Phạm Thị
Thúy An (2012), “Xu hướng biến đổi văn hoá của người Tày ở Đăk Lăk và một số
vấn đề đặt ra trong việc bảo tồn văn hoá tộc người” [2] bước đầu tìm hiểu về văn
hoá của người Tày ở Đắk Lắk, đưa ra một số xu hướng biến đổi văn hoá dân tộc Tày trong tương quan so sánh với truyền thống, từ đó có những khuyến nghị, giải pháp trong việc bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống tộc người Tày Tuy nhiên, vấn đề tang ma của người Tày chưa được các công trình kể trên đề cập đến, mà mới chỉ quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của các tộc người thiểu
số phía Bắc di cư trong sự phát triển chung của Tây Nguyên Có thể thấy, vấn đề tác giả luận án quan tâm trong tang ma của người Tày ở Tây Nguyên, cụ thể là tỉnh Đắk Lắk vẫn còn đang bỏ ngỏ
Về tang ma của người Tày di cư đến Tây Nguyên, tác giả luận án đã bước đầu
tìm hiểu trong bài viết “Nghi lễ tang ma của người Tày ở xã Đắk D’rông, huyện Cư
Jút, tỉnh Đắk Nông” [113, tr.75-79] Bài viết phân tích toàn bộ quy trình nghi lễ tang
ma từ khi chuẩn bị đến khi mãn tang Từ thực trạng tang ma của người Tày ở địa bàn nghiên cứu, tác giả tìm hiểu một số biến đổi và nguyên nhân biến đổi nghi lễ tang ma, rút ra những giá trị văn hoá, từ đó có cơ sở đưa ra một vài nhận định trong việc bảo tồn những nét văn hoá truyền thống tốt đẹp trong tang ma của người Tày Bài viết chủ yếu miêu tả thực trạng, chưa có sự đánh giá chuyên sâu về giao thoa và biến đổi trong tang ma sau khi di cư từ miền núi phía Bắc đến định cư ở Tây Nguyên, cụ thể
là tỉnh Đắk Nông, song, có đóng góp về mặt tư liệu, giúp tác giả có những so sánh, cái nhìn tổng thể hơn về văn hoá tang ma của người Tày ở Tây Nguyên
1.1.4 Nhận xét chung
Về những đóng góp
Phần điểm luận trên cho thấy, ở Việt Nam, cách tiếp cận theo hướng khảo sát, miêu tả thuần túy, coi lễ tang là một trong những tập quán trong nghi lễ vòng đời các
Trang 2720
tộc người khá phổ biến, phần đa các tác giả khảo tả các phong tục, nghi thức, nghi lễ vòng đời người, trong đó có nghi lễ tang ma, chủ yếu là quy trình tổ chức các lễ thức trong tang ma người Việt Ngoài ra, cách tiếp cận theo hướng diễn giải ý nghĩa giá trị, coi lễ tang như những di sản văn hoá trong nghi lễ đời người cần được bảo tồn và phát huy, cũng được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam sử dụng Các bài viết về tang
ma của tác tộc người ở Việt Nam đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng ít nhiều giúp ích cho tác giả luận án có cái nhìn xuyên suốt, đa chiều khi tiếp cận tang ma và
có cơ sở dữ liệu phong phú để so sánh về tang ma của người Tày Bên cạnh những cuốn sách khảo cứu về các dân tộc thiểu số nói chung, sách chuyên khảo về người Tày nói riêng, còn xuất hiện các bài viết về người Tày trên một số tạp chí Đây cũng
là cơ sở để tác giả luận án hiểu sâu sắc hơn về văn hoá người Tày nói chung, văn hoá tang ma Tày nói riêng
Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, các tác giả của các công trình nghiên cứu
kể trên đã trình bày quan niệm, hệ thống nghi lễ, ứng xử trước, trong và sau đám tang của người Tày ở miền núi phía Bắc Bên cạnh những công trình có tính hệ thống và toàn diện, còn xuất hiện những ấn phẩm chuyên khảo chung về tộc người Tày và văn hoá Tày, tuy chưa đề cập đến nghi lễ tang ma cụ thể, song, đó là cơ sở để tác giả luận
án kế thừa khi luận giải về vũ trụ quan của người Tày trong quá trình nghiên cứu nghi
lễ tang ma Đó là những tư liệu quý giúp tác giả luận án so sánh, đối chiếu với nguồn
tư liệu thực tế về tang ma Tày ở Đắk Lắk trong quá trình nghiên cứu
Một số công trình nghiên cứu kể trên đã dựa vào lý thuyết nghi lễ chuyển đổi của Arnold Van Gennep (như nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Công Hoan, Trần Hạnh Minh Phương, Lò Xuân Dừa, Vũ Thị Uyên v.v.) để xem xét tang lễ và các nghi
lễ vòng đời của từng tộc người dưới góc độ nghi lễ chuyển đổi Đây là nguồn tư liệu hữu ích, giúp tác giả luận án tham khảo thêm về lý thuyết nghi lễ chuyển đổi và cách tiếp cận theo hướng nghiên cứu nghi lễ chuyển đổi
Những công trình nghiên cứu kể trên là những tư liệu quý, đáng tin cậy về văn hoá, tín ngưỡng của người Tày, là cơ sở quan trọng để tác giả luận án kế thừa, so sánh, luận giải quy trình tổ chức tang ma của người Tày hiện nay vẫn chịu sự chi phối bởi
Trang 28Một là, cho đến nay chưa có công trình nào miêu tả một cách hệ thống, đầy đủ về
quy trình tổ chức đám tang của người Tày ở Đắk Lắk, phân tích, luận giải các biểu tượng nghi lễ để chuyển đổi người chết sang thế giới bên kia - cụ thể là sang thế giới
tổ tiên theo quan niệm về tổ tiên và nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Tày Cùng với
đó, việc chưa tìm hiểu và lý giải những biểu tượng đó có tác dụng, ý nghĩa như thế nào trong việc người sống thiết lập một “cuộc sống mới” cho người chết, đồng thời củng
cố lại tinh thần, tâm lý cho người sống trước nỗi đau mất mát do người thân chết đi như thế nào, v.v
Hai là, các công trình nghiên cứu kể trên chưa đưa ra được những luận giải về quy
trình tổ chức đám tang trong mối liên hệ với các thế lực thần linh trong quan niệm về thế giới quan ba tầng (mường Trời, mường Đất và mường Nước) của người Tày
Ba là, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến tang ma của
người Tày di cư đến Đắk Lắk nói riêng, Tây Nguyên nói chung trong mối quan hệ, giao lưu đa sắc tộc, đa tôn giáo ở vùng đất mới, để thấy được sự tương đồng và khác biệt, lưu giữ văn hoá truyền thống với sự biến đổi, thích ứng giữa văn hoá tang ma của người Tày ở quê cũ với người Tày di cư vào Đắk Lắk
Tày là quy trình nghi lễ chuyển đổi, tạo dựng cuộc sống mới cho người chết
Đó cũng là các vấn đề chính đặt ra cho đề tài luận án
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm
Để có tiền đề lý luận cho nghiên cứu luận án, tác giả bước đầu tìm hiểu một số
khái niệm chính như: nghi lễ, nghi lễ chuyển đổi, tang ma, tang lễ, đám tang, ma
Trang 2922
chay, tổ tiên, biểu tượng, từ đó đưa ra nhận thức và có cái nhìn bao quát cũng như
cách luận giải riêng về tang ma của người Tày
Nghi lễ
Những nghiên cứu của các học giả về nghi lễ, một mặt, cung cấp dữ liệu quan trọng cho việc định nghĩa về nghi lễ, mặt khác, cho thấy chức năng của nghi lễ trong
đời sống và những đánh giá, nhận định về nghi lễ Theo Từ điển tiếng Việt, nghi lễ
“là nghi thức và trình tự tiến hành của một cuộc lễ” [94, tr.866], có thể hiểu rằng: nghi lễ là diễn trình diễn ra một cuộc lễ được sắp xếp bởi các lễ thức khác nhau trong một cuộc lễ riêng, và mỗi nghi lễ lại bao hàm nhiều lễ thức khác nhau, nhưng
đôi khi giống nhau, hoặc trùng nhau Từ điển Tín ngưỡng - Tôn giáo Thế giới và
Việt Nam [28] cho rằng: Nghi lễ là hành vi (hoặc hệ thống hành vi) của cá nhân hoặc
của tập thể, tuân theo một quy tắc nhất định, lặp đi lặp lại thuộc một sơ đồ có sẵn, nhằm đạt tới một mục đích tín ngưỡng tôn thờ một thế lực siêu nhiên nào đó, v.v
[50, tr.418] Đặng Nghiêm Vạn quan niệm: “Nghi lễ tôn giáo được thực hành thường
gắn liền với một thực thể siêu linh hay một thế giới vô hình nào đó liên quan đến niềm tin tôn giáo hoặc do tôn giáo quy định và thường biểu hiện chức năng tâm lý trong đời sống của tín đồ Nghi lễ có thể dùng để giải tỏa những nỗi bất an của con người ở cuộc sống trần tục, cũng có thể đưa con người đến gần hơn với thế lực siêu nhiên mà họ tin tưởng” [111; tr.130]
Như vậy, nghi lễ là hoạt động xã hội tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày
của xã hội, nghi lễ theo đúng một mô hình nhất định do văn hoá đặt ra, hoạt động nghi lễ liên quan chặt chẽ đến một số tư tưởng thường xuất hiện trong huyền thoại Mục đích của thực hiện nghi lễ là để hướng dẫn việc lựa chọn tư tưởng và thực thi
chúng qua biểu tượng Nghi lễ chính là những hành động thông qua các hành vi của
một cá nhân hoặc cộng đồng trong bối cảnh cụ thể đã được mã hoá bằng các hoạt động mang tính biểu tượng (như múa, lời cúng, vật cúng, âm nhạc, trang phục, v.v.) Các hành vi đó được lặp đi lặp lại trong đời sống tín ngưỡng nhằm tôn thờ các lực lượng siêu nhiên trong một cộng đồng cụ thể, nó được biểu hiện qua việc thờ cúng
và có nhiều dấu ấn gắn với sinh hoạt trong đời sống của con người Trong nghi lễ
Trang 3023
phản ánh đầy đủ các khía cạnh về đời sống vật chất cũng như tinh thần, do đó, dù ở bất kỳ hình thái xã hội nào, nghi lễ cũng có tính tộc người
Từ tập hợp những quan niệm về nghi lễ của các tác giả nêu trên, tác giả cho rằng,
nghi lễ là các lễ thức được tập hợp và trình diễn có hệ thống trong không gian thiêng
do con người tạo nên, phù hợp với truyền thống văn hoá tộc người, được mọi người mặc nhiên chấp thuận, tuân thủ và làm theo Như vậy, dù nhìn từ góc độ nào, một cuộc
lễ cũng phải hội đủ các yếu tố như: tính thiêng, đối tượng khẩn cầu, lời cúng, hành động ma thuật, không gian diễn xướng, lễ vật, v.v Sau cuộc lễ, người cầu xin nhận thấy sự phù trợ thiêng liêng từ một đấng siêu nhiên vô hình nào đó giúp họ vượt qua khó khăn, nhân lên niềm vui, sự tự tin và xua đi mọi lo lắng, sầu muộn Nghi lễ thể hiện mọi mặt đời sống văn hoá, mối quan hệ giữa con người với con người, với thế giới thiêng và với tự nhiên
Nghi lễ chuyển đổi
Arnold Van Gennep - nhà nhân học Bỉ cho rằng, nghi lễ chuyển đổi là nghi lễ
đánh dấu sự chuyển đổi của cá nhân trong suốt vòng đời, từ tình trạng này sang tình trạng khác, từ vai trò, địa vị này sang vai trò, địa vị khác, hợp nhất những kinh nghiệm của con người và kinh nghiệm văn hoá với vận số sinh học: ra đời, sinh con, chết đi Những nghi thức này tạo sự khác biệt cơ bản, được tiến hành trong tất cả các nhóm, giữa già và trẻ, đàn ông và đàn bà, sống và chết Con người thuộc về cả
tự nhiên và văn hoá, thông qua nghi lễ chuyển đổi con người có thể suy ngẫm, thể
hiện (formulate) và thể hiện lại (reformulate) phần con và phần người của con người
[123, tr.380-387]
Dựa trên tư tưởng của Arnold Van Gennep, Victor Tuner xác định nghi lễ chuyển đổi chính là những nghi lễ tạo nên sự chuyển đổi quan trọng về vai trò, vị thế, nghĩa vụ, trách nhiệm, tư cách của người thụ hưởng chính và các thành viên khác tham dự trong nghi lễ chuyển đổi đó đối với gia đình, xã hội trong mỗi nền văn hoá khác nhau Nghi lễ chuyển đổi là “các nghi thức đi kèm bất kỳ một sự thay đổi nào
về địa điểm, trạng thái, địa vị xã hội và tuổi tác” [114, tr.327] Như vậy, nghi lễ chuyển đổi là những nghi lễ mang tính xã hội, tính văn hoá gắn với chu kỳ vòng đời người từ
Trang 3124
khi sinh ra đến khi mất đi, đánh dấu sự chuyển đổi địa vị của cá nhân liên quan đến các
sự kiện ra đời, trưởng thành, kết hôn, lên lão và chết đi Mỗi giai đoạn của chu kỳ đời người lại có những chuyển đổi cụ thể hơn trong mỗi nghi lễ
Ở luận án này, tác giả vận dụng một khía cạnh nhỏ trong quan niệm chuyển đổi của các học giả phương Tây để xem xét một khía cạnh cụ thể những biểu hiện sinh động của việc chuyển đổi linh hồn con người sau khi chết sang thế giới tổ tiên nhằm làm rõ tính chuyển đổi trong quá trình thực hiện các lễ thức trong nghi lễ tang ma của người Tày ở Đắk Lắk
Tang ma, tang lễ, đám tang, ma chay
Trong Từ điển Nhân học [99], H.R River nhận xét, nhờ những hoàn cảnh nghi
lễ cụ thể, người chết được giao cho thế giới tổ tiên chứ không phải cho thế giới của những người đang sống, và như vậy, họ không còn được nuôi dưỡng cũng như không còn được nhắc tới Tuy cái chết đều được hiểu cùng một nghĩa nhưng điều gì xảy ra khi chết lại được hiểu theo từng nền văn hoá khác nhau Các nghi lễ tang ma thường
rất đa dạng A.X.Tocarev đã tiếp cận nghiên cứu về tang ma một cách tổng quan, nêu
lên đặc trưng của tang ma chính là những lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng và hành động
gắn liền với thi thể người chết Trong cuốn Các hình thái tôn giáo sơ khai và sự phát
triển của chúng [5, tr.56], X.A.Tocarev cho rằng: “Ma chay là khái niệm mang nghĩa
rộng, được dùng để biểu thị toàn bộ các nghi lễ tôn giáo có quan hệ với người chết
và những tín ngưỡng gắn liền với các nghi lễ đó”
Emeli Durkheim cho rằng, các nghi lễ và sự thờ cúng trong tang ma không chỉ
đơn thuần là thể hiện sự tiếc thương và chuộc tội của người sống đối với người chết,
để bình an tinh thần cho người chết, mà còn có nguyên nhân xã hội, trong phạm vi
gia đình và toàn xã hội Chẳng hạn, trong tang ma của hầu hết các nền văn hoá
không chỉ những người thân trong gia đình mà cả những người trong cộng đồng, thậm chí mới quen cũng rơi nước mắt, buồn thương, có những hành động hành xác như tự đâm và cấu xé bản thân, đập đầu vào quan tài, gây thương tích cho cơ thể, v.v để thể hiện sự đau khổ, tuyệt vọng Đó là những hành vi chính thức, do phong tục đòi hỏi ở tất cả các thành viên trong cộng đồng, nhất là người thân và gia đình
Trang 3225
Khi có người chết, không chỉ gia đình bị suy yếu mà toàn cộng đồng đã mất đi một thành viên, tức một phần sức mạnh Vào thời điểm đó, thị tộc/cộng đồng cần thông qua sự thờ cúng (nghi lễ tang ma) để tập hợp lại, để hồi sinh và để khẳng định bản thân mình (dẫn theo Nguyễn Văn Minh [53, tr.335-336]) Ông giải thích rằng, những tình trạng tâm linh có thể không bao giờ giải thích được cho các tập quán văn hoá, bởi sức mạnh không thể bác bỏ của cái chết đối với việc làm toát lên những tình cảm mạnh mẽ nhất được xem là nguồn gốc của các nghi lễ tang ma khắp mọi nơi Nghĩa là, ông quan tâm đến sức mạnh của cái chết đã khơi lên tình cảm và cho đó
là nguồn gốc của các nghi lễ tang ma
Trong khi đó, Robert Hertz quan tâm và tìm ra được ý nghĩa của các nghi lễ tang ma trong khuôn khổ mối quan hệ qua lại giữa linh hồn của người chết, người
sống và thi thể Cụ thể, ông tìm ra ý nghĩa của các nghi lễ tang ma trong khuôn khổ
mối quan hệ qua lại giữa ba nhân vật: linh hồn của người chết, của người sống và thi thể Hai trong số các mối quan hệ này phụ thuộc vào những đặc điểm xã hội mang tính cơ bản - sự mất đi của con người xã hội và biểu hiện của trật tự xã hội (dẫn theo Nguyễn Công Hoan [33, tr.15]) Ông cho rằng, đây chính là điểm khác biệt mà chỉ có tang ma mới thể hiện rõ đặc tính này
Nghiên cứu nhân học về “cái chết” và các vấn đề liên quan đến cái chết của các tác giả nước ngoài cho thấy những góc tiếp cận đa dạng cùng những tranh luận sôi nổi về tang ma Dù ở góc độ nghiên cứu nào, tang ma cũng gợi mở nhiều tranh luận, lý giải kỳ bí
Theo tác giả Nguyễn Thị Ngân [58], các thuật ngữ liên quan: tang lễ, ma chay,
tang ma, nghi lễ tang ma đều nói đến các nghi lễ tôn giáo và hành động gắn với thi thể
người chết Tuy nhiên, xét về mặt ngữ nghĩa, các thuật ngữ này hoàn toàn không giống
nhau Chẳng hạn như thuật ngữ tang lễ là chỉ toàn bộ các nghi lễ được tiến hành trong
một đám tang, bao gồm cả nghi thức, lễ vật và trật tự tiến hành tang lễ Do đó, khi nói đến tang lễ thường nhấn mạnh tới các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng gắn liền với thi thể người chết, các hình thức báo hiếu, chịu tang, các quy tắc ứng xử của người sống với
người chết có phần bị coi nhẹ Ma chay là làm ma và làm chay, bao gồm cả nghi lễ
Trang 33Tác giả Lương Thị Hạnh cho rằng: “Mặc dù nội dung các thuật ngữ tang ma,
tang lễ, ma chay, nghi lễ tang ma, tuy có sự khác nhau ít nhiều, hoặc nghiêng về nghi
lễ, hoặc nghiêng về quan hệ ứng xử, song tất cả đều thống nhất cách tiếp cận về tang
ma dưới hai góc độ: Thứ nhất coi tang ma là toàn bộ các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng
có quan hệ với người chết Thứ hai coi tang ma là biểu hiện tình cảm, đạo hiếu, đạo nghĩa và hành động của người sống đối với người chết” [31; tr.17]
Từ những quan niệm về tang ma nêu trên, chúng tôi hiểu tang ma là quá trình
thực hiện các lễ thức tiễn biệt một người đã chết về với thế giới khác theo quan niệm của mỗi tộc người và mỗi tôn giáo Ở các tộc người và tôn giáo khác nhau đều có thái
độ và những lý giải khác nhau đối với cái chết và nghi lễ tang ma, có cách chuẩn bị cho sự chuyển đổi khác nhau, vì thế, những nghi thức trong tang ma rất đa dạng Với tộc người Tày, chết là sự tách rời của linh hồn và thể xác, trở về với ông bà tổ tiên, chết chẳng qua là sự chuyển đổi từ thế giới này sang thế giới khác của đời người, vì vậy, nghi lễ tang ma như là hành động chuyển tiếp của hai thế giới đó
Tổ tiên
Theo Từ điển Tiếng Việt [64], tổ tiên là: “Tổng thể nói chung những người coi
là thuộc những thế hệ đầu tiên, qua đời đã lâu, của một dòng họ hay một dân tộc, trong quan hệ với các thế hệ về sau này” [64, tr.1277] Tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những người có cùng huyết thống nhưng đã mất như cụ, kỵ, ông, bà, cha, mẹ, v.v những người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của thế hệ những người đang sống Trong quá trình phát triển của lịch sử, khái niệm tổ tiên cũng có sự biến đổi, phát triển Nó không còn chỉ bó hẹp trong phạm vi huyết thống - gia đình, họ tộc, v.v mà đã mở rộng ra phạm vi cộng
Trang 34sự hiện diện, tồn tại của tổ tiên góp phần cân bằng trạng thái tâm lý, giải tỏa nỗi cô đơn, bất hạnh của con người trước cái chết Bằng nghi lễ thờ cúng tổ tiên, con người thể hiện cách suy nghĩ về cái chết và cuộc sống sau khi chết, giải tỏa nỗi sợ hãi khi phải đối mặt với cái chết
Chiếm vị trí quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của người Tày là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Người Tày thường thờ tổ tiên 3 đời (bố mẹ, ông bà và cụ) còn từ đời thứ tư trở về trước thì gộp vào tổ tiên chung Quan niệm về tổ tiên của người Tày gần
với quan niệm tổ tiên trong cuốn Văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn
quan học giả L Cadiere của Đỗ Trinh Huệ: “Tổ tiên ông bà không hiện diện giữa gia
đình một cách thụ động mà là hành động thực sự Thông thường thì các ngài thi thố ảnh hưởng mang phúc lợi cho các thành viên còn sống của gia đình một khi các bổn phận hiếu thảo của con cháu đối với họ được chu toàn Và như vậy, các tổ tiên sau khi đã được dâng cúng đầy đủ những vật dụng cần thiết, họ sẽ an lòng, thanh thản và bày tỏ sự hiện diện của mình bằng cách đổ tràn an lộc trên con cháu Ngược lại, nếu chọn chỗ chôn cất không được tốt, hay quên cúng lễ cần thiết hoặc tỏ ra dè xẻn, thì các ngài sẽ quở trách hoặc trừng trị những người có lỗi và khi ấy ta phải mời thầy địa hoặc pháp sư chỉ dẫn để dời hài cốt, cúng lễ đền tội với các ông bà không được mãn nguyện [38, tr.166]
Biểu tượng
Trang 3528
Biểu tượng là thuật ngữ khá quen thuộc trong đời sống thường ngày và trong lĩnh vực học thuật Tính đa nghĩa của biểu tượng tạo sức hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu, vì vậy, mỗi ngành khoa học lại gửi gắm một nội hàm riêng cho thuật ngữ này
Biểu tượng (symbol trong tiếng Anh) là một từ bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ ở Châu Âu (symbolus trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp) Theo Từ điển biểu
tượng (Dictionary of Symbols) của Liungman, “những gì được gọi là biểu tượng khi
nó được một nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho
chính bản thân nó” (theo Đinh Hồng Hải [29, tr.12]) Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu
tượng có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là “hình ảnh tượng trưng”, nghĩa thứ hai là “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu
óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [64, tr.83]
Victor Turner cho rằng, “Biểu tượng là những sự vật, hành động, các mối quan
hệ, hiện tượng, điệu bộ và những đơn vị không gian trong một tình huống cụ thể” [133, tr.19] “Cấu trúc và thuộc tính của biểu tượng có được qua hình thái bên ngoài
và những tính chất có thể quan sát được, sự giải thích được cung cấp bởi những chuyên gia thực hành tôn giáo và thường dân, những bối cảnh quan trọng mà các nhà Nhân học tiến hành nghiên cứu” [133, tr.20] Biểu tượng gắn liền với quyền lợi, mục đích, ý nghĩa, phương tiện của con người cho dù những điều này hiện hữu rõ ràng hay phải luận ra từ những hành vi quan sát được
Từ những định nghĩa trên, có thể nhận thấy bản chất của biểu tượng khó xác định và rất sống động, như cách R de Becker so sánh: “Có thể ví biểu tượng với một khối tinh thể phục nguyên lại theo cách khác nhau, nguồn sáng tùy theo từng mặt tinh thể tiếp nhận ánh sáng” (dẫn theo Đinh Hồng Hải, [29, tr.25]) Vậy nên, giải mã biểu tượng không phải là một hành trình bằng phẳng và con đường thẳng tắp Việc xác định ý nghĩa/giá trị của biểu tượng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: nền văn hoá sản sinh, bối cảnh và thời điểm biểu tượng ra đời cùng với mục đích
sử dụng ở từng thời điểm
Tác giả luận án quan tâm đến các quan niệm về biểu tượng của một số nhà nhân học biểu tượng tiêu biểu như trên nhằm giải mã một số biểu tượng xuất hiện trong
Trang 3629
tang ma của người Tày trong quá trình thực hiện nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên Nói cách khác, trên cơ sở tiếp cận các quan niệm về biểu tượng như trên, tác giả chọn ra các hướng tiếp cận phù hợp với đề tài để có những gợi ý thiết thực cho việc giải mã biểu tượng trong tang ma của người Tày Tang ma là nghi thức phản ánh thế giới tâm linh của con người sau khi chết (một thế giới không thể nhìn và nhận biết bằng các giác quan của con người), nên các biểu tượng mang ý nghĩa tượng trưng cao và có nhiều quan niệm khác nhau về một biểu tượng
1.2.2 Quan điểm tiếp cận
Luận án vận dụng quan điểm tiếp cận chức năng tâm lý của Charles F Keyes vào nghiên cứu nghi lễ chuyển đổi người chết sang thế giới tổ tiên trong tang ma của người Tày
Nhiều học giả nghiên cứu về tang lễ trên thế giới quan tâm đến chức năng tâm
lý xã hội của lễ tang đối với đời sống của con người Có rất nhiều công trình nghiên cứu của ngành Nhân học và Nghiên cứu văn hoá về tang lễ trên thế giới theo hướng tiếp cận này, tiêu biểu như bài viết kinh điển của Robert Hertz [72], xuất bản năm
1960 có tiêu đề Death and the Right Hand (Cái chết và bàn tay phải) về quy trình
tang lễ của người dân Borneo, Indonesia, có thể nói là một trong những bài viết có ảnh hưởng lớn về mặt lý luận đối với nghiên cứu tang lễ ở vùng Đông Nam Á Sử dụng hướng tiếp cận chức năng tâm lý Hertz chỉ ra rằng, tang lễ và các nghi lễ liên quan (cúng giỗ, bỏ mả, v.v.) có chức năng giúp gia quyến vượt qua cú sốc do cái chết của người thân tạo ra Thông qua các quy trình nghi lễ được tổ chức một cách chặt chẽ theo quy định của truyền thống với sự tham gia của người thân, họ hàng và hàng xóm láng giềng, các nghi lễ gắn với cái chết đã giúp con người vượt qua nỗi đau, chấp nhận cái chết của người thân, và vì vậy giúp tạo dựng trật tự xã hội trong bối cảnh không còn sự hiện diện của người chết
Tiếp nối hướng tiếp cận chức năng của Hertz về tang ma, trong bài viết: “From
Death to Birth: Ritual Process and Buddhist Meanings in Northern Thailand” (Từ tử
đến sinh: Nghi lễ và ý nghĩa Phật giáo ở vùng Bắc Thái Lan), Charles F Keyes [9;
tr.106-143] chỉ ra rằng, quy trình tang lễ của người Thái vùng Đông Bắc Thái Lan
Trang 3730
đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập sự ổn định xã hội sau cú sốc tinh thần tạo
ra bởi một cái chết của ai đó Bài viết bắt đầu từ luận điểm “Sự tiếp nối sau cái chết
và công trình của văn hoá trong một xã hội Phật giáo” [9; tr.106] mà theo nhận định của Charles Keyes thì hầu hết những nhà nhân học theo chân Hertz, bao gồm cả Huntington và Metcalf (1979) và Bloch và Parry (1982) trong những tác phẩm gần đây tập trung vào cách thức mà quá trình nghi lễ gắn với cái chết đã dẫn đến việc tái tạo lại trật tự xã hội giờ đây không còn sự hiện diện của người chết Tuy nhiên, khác với các tác giả đi trước, trong bài viết này Keyes đưa ra khẳng định “quá trình này cũng còn đóng thêm vai trò tạo cho người chết một sự tiếp nối với sự sống Cái chết tạo ra vấn đề không chỉ cho xã hội, mà còn cho tất cả mọi người vì khi thấy cái chết của người khác, con người nhận thấy số phận của chính mình Biết chắc rằng người chết mà họ biết sẽ đạt được một hình thức bất tử nào đó sau cái chết cũng là bảo đảm rằng họ cũng sẽ có được tình trạng như vậy khi họ qua đời” [9; tr.108] Từ đó ông cho rằng, sự tưởng tượng này diễn ra trong quá trình đưa con người rời khỏi sự đối đầu trực tiếp với cái chết sang một sự chấp nhận rằng người chết không còn sống trong thế giới này nữa nhưng đã đạt được một trạng thái tồn tại mới nào đó, tức là nó tạo dựng niềm tin về sự tồn tại sau cái chết, mang lại trạng thái yên tâm cho người đang sống Theo Keyes, quá trình tạo ra sự tiếp nối cho người chết luôn bắt nguồn từ một nền văn hoá cụ thể mà ông gọi là “công trình của văn hoá” và đối với vùng Bắc Thái Lan thì nền văn hoá đó đã được định hình một cách cơ bản bởi Phật giáo Thượng tọa bộ Theo đó, “công trình văn hoá” chính là cơ sở văn hoá tạo nên quan niệm về
sự sống sau cái chết ở người Thái vùng Bắc Thái Lan theo thuyết luân hồi của đạo Phật, thể hiện qua nghi lễ tang ma được thực hiện bởi các nhà sư và các bản kinh mang tinh thần đạo Phật
Để chứng minh cho luận điểm trên, Keyes đã tập trung phân tích về kinh sách Phật giáo như là cơ sở hình thành nên quan niệm và các thực hành nghi lễ gắn với Phật giáo trong tang ma của người Thái ở Bắc Thái Lan Cụ thể như vấn đề “Thi thể trong tư duy của người Bắc Thái” [9; tr.111], quan niệm về “Mối liên hệ giữa tử và tái sinh” [9; tr.116] trong mối liên hệ với tư duy Phật giáo được thể hiện qua cách giải
Trang 3831
thích trong kinh sách Phật giáo của người Thái Bên cạnh đó, vấn đề thực hiện cúng giỗ sau khi chôn kèm với công đức cho người chết được tác giả cho là thuộc loại hình thờ cúng tổ tiên đã có sự tiếp biến với tư duy đạo Phật về “nghiệp”, về “tái sinh” và
có sự liên quan đến “Tiến trình hoá kiếp trong Phật giáo” [9; tr.127] Sự thờ cúng người quá cố như vậy theo Keyes là “đối nghịch với quan niệm Phật giáo chuẩn mực rằng cái còn lại sau cái chết bao gồm không phải là sự tồn tại tiếp tục của cùng người
đó, mà là một sự chuyển biến, thông qua thần thức nối kết tái sinh, của một người với một người mới” [9; tr.130] Từ đó ông cho rằng, người Bắc Thái Lan chấp nhận chân
lý của giáo lý Phật giáo nhưng chỉ sau khi đã mở rộng nó ra để cho phép họ trải qua giai đoạn để tang, bằng cách tiến hành những nghi thức giả định về sự tồn tại tiếp nối phần thể của người chết trong một giai đoạn khá dài Đồng thời, những hành vi này cũng cho phép họ tái lập lại trật tự xã hội trong sự thức tỉnh từ những gãy đổ gây ra bởi cái chết Cuối cùng, tác giả đưa ra kết luận: Người Bắc Thái Lan cũng giống như toàn thể loài người là đã dựa vào công trình của văn hoá để đưa họ thoát khỏi sự thật tàn khốc của cái chết Tuy nhiên, “cái thế giới mà tiến trình này mở ra ở vùng Bắc Thái Lan khác so với những thế giới mở ra trong các quá trình tương tự ở những nền văn hoá khác Quá trình này của người Bắc Thái Lan không kết thúc với một nhận định rằng người chết đã đạt được sự bất tử vĩnh hằng, mà thật ra là một cái kết với một sự hiểu biết rằng những ai đã qua đời, ngoại trừ họ là những người cao siêu hành Đạo do Đức Phật thuyết giảng, đã được tái sinh làm người mới, nối kết với những kiếp trước bởi thần thức do nghiệp trong quá khứ quy định” [9; tr.131]
Từ sự phân tích và diễn giải của Keyes cho thấy, thông qua quy trình tổ chức các nghi lễ trong đám tang và sau đám tang, người sống đã tạo dựng cho người chết một sự sống mới, đồng thời giúp họ tái lập lại trật tự xã hội mới, quy trình đó được hình thành trên cơ sở văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, v.v có điểm chung và khác nhau giữa các tộc người trên thế giới
Trong luận án này, tác giả dùng những quan điểm của Keyes (quá trình tạo ra sự
tiếp nối cho người chết) thông qua nghiên cứu “Từ tử đến sinh: Nghi lễ và ý nghĩa
Phật giáo ở vùng Bắc Thái Lan” (Keyes gọi là “công trình của văn hoá”) làm nền
Trang 3932
tảng lý luận để nghiên cứu về nghi lễ chuyển đổi trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk Cụ thể là sử dụng hướng tiếp cận nghiên cứu về cơ sở văn hoá (thế giới quan, các yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng, người thực hành nghi lễ, v.v.) như là các yếu tố cơ bản tạo nên quan niệm về sự sống sau cái chết được thể hiện trong quy trình nghi lễ chuyển đổi người chết sang thế giới tổ tiên trong tang ma của người Tày Nếu Keyes xem xét “công trình văn hoá” về tang ma ở người Thái vùng Bắc Thái Lan theo thuyết luân hồi của đạo Phật, thể hiện qua nghi lễ tang ma được thực hiện bởi các nhà sư và các bản kinh mang tinh thần đạo Phật thì trong luận án này tác giả nghiên cứu về tang
ma của người Tày theo quan niệm về thờ cúng tổ tiên của họ, được thực hiện theo quy trình nghi lễ và kinh sách thầy Tào - một hình thức Đạo giáo dân gian Tày hình thành ở khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam Quy trình đó được thể hiện khá rõ qua các thực hành nghi lễ chuyển đổi đưa người chết về với tổ tiên: đưa thân xác người chết ra với tổ tiên ở mộ, đưa linh hồn người chết về mường Trời với tổ tiên; đưa linh hồn người chết lên ban thờ tổ tiên
Mặt khác, sử dụng quan điểm tiếp cận chức năng tâm lý của Keyes thông qua nghiên cứu “công trình của văn hoá” còn giúp tác giả lý giải vì sao người Tày di cư đến vùng đất mới như Tây Nguyên, trong điều kiện thay đổi về môi trường sống, môi trường văn hoá, nhưng thực hành văn hoá (cụ thể là nghi lễ tang ma) của họ vẫn không thay đổi, có chăng là thay đổi về hình thức, còn cốt lõi truyền thống (quy trình nghi lễ
để dẫn người chết sang thế giới bên kia, thế giới ông bà tổ tiên) không thay đổi Bên cạnh đó, việc nghiên cứu chức năng tâm lý qua quy trình nghi lễ tang ma trong mối liên hệ với cơ sở văn hoá, tâm lý xã hội và tín ngưỡng của người Tày còn cho thấy, tang ma càng phức tạp bao nhiêu thì được cho là càng tốt bấy nhiêu đối với cả người sống và người chết, chính vì thế tang ma truyền thống không bị mất đi dù cho hoàn cảnh, điều kiện môi trường sống thay đổi
Với cách sử dụng quan điểm của Keyes trong bài viết trên làm nền tảng lý luận, tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là đóng góp nhỏ, cung cấp một nghiên cứu trường hợp trong ngành nghiên cứu văn hoá và nhân học cách lý giải về
Trang 401.3.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện Krông Năng được thành lập vào ngày 9/11/1987 khi tách ra từ huyện Krông Búk, cách Thành phố Buôn Ma Thuột 50 km về phía Đông Bắc tỉnh Đắk Lắk
Ea H’Leo; Phía Đông Bắc giáp huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai; Phía Nam giáp huyện
khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất đặc thù của khí hậu cao nguyên; biên độ nhiệt dao động ngày đêm lớn, độ ẩm giảm thấp vào mùa khô; thời tiết trong năm chịu ảnh hưởng chung của thời tiết ở Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung, chia thành hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) Lượng mưa bình quân hàng năm ở huyện
là 1.650mm, phù hợp cho sản xuất nông lâm nghiệp; địa hình huyện là địa hình cao nguyên tương đối bằng phẳng, xen kẽ những đồi thấp lượn sóng Krông Năng có đất đai màu mỡ, khí hậu, thời tiết khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành sản xuất kinh doanh
Xã Ea Tam (nơi có đông người Tày cư trú nhất) là một trong 11 xã thuộc huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, có vị trí địa lý: phía Đông giáp xã Ea Sô huyện Ea Kar, phía Tây giáp xã Dliê Ya huyện Krông Năng, phía Nam giáp xã Ea Puk huyện Krông Năng, phía Bắc giáp xã Cư Klông huyện Krông Năng Xã được thành lập vào tháng 03/1989 trên cơ sở thực hiện Quyết định 09/QĐ-HĐBT ngày 26/01/1989 của Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính phủ), cách trung tâm huyện Krông Năng 17 km về hướng Đông - Bắc, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 70 km Tổng diện tích tự nhiên của xã là 8,425.31 ha, trong đó, nhóm đất nông - lâm nghiệp: 7,941.32 ha, nhóm đất phi nông nghiệp: 341.64 ha, nhóm đất chưa sử dụng: 142.35 ha [101]