1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong Tư pháp quốc tế: căn cứ pháp lí quốc tế, căn cứ pháp lí quốc gia, thực tiễn áp dụng

12 16 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong Tư pháp quốc tế: căn cứ pháp lí quốc tế, căn cứ pháp lí quốc gia, thực tiễn áp dụng
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 37,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 1 Tính chất đặc biệt của quốc gia trong quan hệ Tư pháp quốc tế và khái niệm quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia 1 1 1 Tính chất đặc biệt của quốc gia trong quan hệ Tư pháp.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

1 Tính chất đặc biệt của quốc gia trong quan hệ Tư pháp quốc tế và khái niệm quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia 1

1.1 Tính chất đặc biệt của quốc gia trong quan hệ Tư pháp quốc tế 1

1.2 Khái niệm quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia 2

2 Nội dung quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong Tư pháp quốc tế 2

2.1 Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia theo quy định của pháp luật quốc tế 3

2.2 Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia theo quy định của pháp luật Việt Nam 4 3 Thực tiễn áp dụng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong Tư pháp quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị hòan thiện pháp luật về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia 7

3.1 Thực tiễn tiễn áp dụng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong Tư pháp quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam 7

3.2 Một số kiến nghị hòan thiện pháp luật về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia 8

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quốc gia là chủ thể đặc biệt khi tham gia các quan hệ pháp luật Trong Tư pháp quốc tế cũng vậy, đa phần các quốc gia đều thừa nhận tư cách chủ thể đặc biệt của quốc gia khi tham gia vào mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Với thuộc tính chính trị pháp lý đặc trưng là chủ quyền, quốc gia được xác định là một chủ thể đặc biệt của Tư pháp quốc tế Chính vì vậy mà khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế, quốc gia được hưởng quy chế pháp lý đặc biệt – quyền miễn trừ tư pháp quốc gi Trên cơ sở kiến thức đã học và tìm hiểu của bản thân, em xin triển khai đề

bài số 22: “Vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong Tư pháp quốc tế: căn cứ pháp lí quốc tế, căn cứ pháp lí quốc gia, thực tiễn áp dụng”.

NỘI DUNG

1 Tính chất đặc biệt của quốc gia trong quan hệ Tư pháp quốc tế và khái niệm quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia

1.1 Tính chất đặc biệt của quốc gia trong quan hệ Tư pháp quốc tế

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các giao lưu dân sự quốc tế, các chủ thể tham gia vào quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế không chỉ có các cá nhân, pháp nhân mà còn cả các quốc gia Tuy nhiên, khi tham gia vào các quan hệ này, quốc gia được coi là chủ thể đặc biệt

Các quốc gia chỉ tham gia vào một số quan hệ của tư pháp quốc tế Không phải mọi quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế đều có sự tham gia của quốc gia với vai trò là chủ thể Theo đó, quốc gia chỉ tham gia vào một số quan hệ nhất định phục vụ cho lợi ích chung của quốc gia, ví dụ như Nhà nước Việt Nam tham gia vào các quan hệ tài chính quốc tế (phát hành trái phiếu quốc tế tại nước ngoài); tham gia vào quan hệ hợp đồng (hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư- PPP, hợp đồng mua sắm chính phủ); tham gia vào các quan hệ thừa kế,…

Quốc gia là một chủ thể đặc biệt trong Tư pháp quốc tế, được thể hiện ở chỗ khi tham gia vào các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, khác với cá nhân và pháp nhân, trong một số trường hợp quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ về tài sản Tính chất đặc biệt này của quốc gia xuất phát từ đặc điểm khi tham gia vào các quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nói riêng quốc gia vẫn giữ nguyên thuộc tính chủ quyền quốc gia

Trang 3

và có toàn quyền quyết định các vấn đề đối nội và đối ngoại liên quan đến hoạt động của quốc gia Chủ quyền là thuộc tính chính trị- pháp lý không thể tách rời của quốc gia và gồm hai nội dung chính là quyền tối cao trong cảu quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập trong các quan hệ quốc tế Yếu tố chính trị- pháp lý này chỉ có ở quốc gia mà không tồn tại ở các chủ thể khác Mặt khác, các quốc gia lại luôn luôn bình đẳng với nhau về chủ quyền và nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia lại là nền tảng bền vững trong quan hệ quốc tế Đây là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế đa phương Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia chính là cơ sở quan trọng cho việc hình thành quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế Điều đó cho thấy, các quốc gia đều bình đẳng về đại vị pháp lý, không một Tòa án của quốc gia nào có quyền xét xử một quốc gia khác

1.2 Khái niệm quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia

Với tính chất đặc biệt, khi tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp Quyền miễn trừ của quốc gia là tổng thể các quy định và nguyên tắc pháp lý mà trên cơ sở đó quốc gia và các cơ quan của quốc gia không phải tuân theo thẩm quyền tài phán của các quốc gia nước ngoài Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia được hiểu là một quốc gia không chịu sự tài phán của các quốc gia khác Quốc gia không thể bị gọi ra trước Tòa án của một quốc gia khác với tư cách là bị đơn nếu không có sự đồng ý của chính quốc gia đó Hay nói cách khác, quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia được thể hiện ở chỗ một quốc gia không thể là bị đơn trước Tòa án của quốc gia khác, tài sản của quốc gia đó không thể là đối tượng đảm bảo vụ kiện

Về nội dung, quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia bao gồm: quyền miễn trừ xét xử; miễn trừ về tài sản quốc gia ở nước ngoài; quyền miễn trừ các biện pháp bảo đảm

sơ bộ cho vụ kiện liên quan đến quốc gia; quyền miễn trừ về thi hành án Quyền miễn trừ tư pháp không chỉ dành riêng cho quốc gia mà còn áp dụng đối với những người

có chức phận ngoại giao

Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia đóng vai trò vô cùng quan trọng trong Tư pháp quốc tế vì miễn trừ tư pháp quốc gia là một cơ chế hữu hiệu để bảo vệ chủ quyền quốc gia Bên cạnh đó, quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia tạo nên sự bình đẳng giữa các quốc gia với nhau khi các quốc gia này tham gia quan hệ quốc tế

2 Nội dung quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong Tư pháp quốc tế

2

Trang 4

2.1 Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia theo quy định của pháp luật quốc tế

Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ tài sản đối với quốc gia (UNJISP) được xem là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng, đầy

đủ và toàn diện về quyền miễn trừ của quốc gia trong Tư pháp quốc tế Theo điểm b khoản 1 Điều 2 của Công ước này, “ quốc gia”, bao gồm các đơn vị cụ thể sau:

- Quốc gia và các cơ quan của chính phủ;

- Các đơn vị hợp thành của quốc gia liên bang haowcj đặc khu chính trị của quốc gia để thực hiện chủ quyền quốc gia;

- Các cơ quan của quốc gia hoặc các chủ thể khác có quyền tiến hành haowcj không tiến hành các hoạt động thực tế để thực hiện chủ quyền quốc gia;

- Các cơ quan đại diện quốc gia

Theo đó, nội dung chính bao gồm:

*Quyền miễn trừ xét xử và miễn trừ tài sản

Quyền miễn trừ xét xử là một nội dung cơ bản của quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một Tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lí và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là

bị đơn Các tranh chấp liên quan đến quốc gia phải được giải quyết bằng con đường thương lượng trực tiếp hoặc con đường ngoại giao, trừ khi quốc gia từ bỏ quyền này

Điều 5 của Công ước quy định : “Quốc gia được thực hiện quyền miễn trừ xét xử đối vưới hoạt động của quốc gia cúng như tài sản của quốc gia tại quốc gai khác” và

Điều 6 Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản

quốc gia quy định: “Quốc gia cam kết không thực hiện quyền tài phán tại quốc gia mình để chống lại một quốc gia khác”

Những nội dung cơ bản của quyền miễn trừ xét xử trong Tư pháp quốc tế còn được áp dụng cho viên chức ngoại giao và viên chức lãnh sự và được ghi nhận trong hai điều ước quốc tế đa phương là Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao

và công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự

Bên cạnh đó, quyền miễn trừ xét xử của quốc gia luôn đi kèm với quyền miễn trừ

về tài sản Theo đó, tài sản của quốc gia do quốc gia tự định đoạt, không một chủ thể nào được chiếm đoạt hay xâm phạm tài sản đó bằng bất cứ một hình thức nào Tài

Trang 5

sản của quốc gia cũng không thể bị bắt giữ, tịch thu, kê biên khi không có sự đồng ý của quốc gia Các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo quyền miễn trừ tài sản của quốc gia khác Quyền miễn trừ tài sản của quốc gia cũng được pháp luật của rất nhiều nước quy định Luật miễn trừ nhà nước của Hoa Kỳ tại Điều 1609 cũng khẳng định quyền miễn trừ đối với tài sản của quốc gia nước ngoài Pháp luật của Cộng hòa Liên bang Nga, của Vương quốc Anh cũng khẳng định quyền này Quyền miễn trừ về tài sản là một nội dung không thể tách rời của quyền miễn trừ của quốc gia và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong việc bảo vệ hữu hiệu lợi ích của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế

*Quyền miễn trừ các biện pháp bảo đảm sơ bộ cho vụ kiện liên quan đến quốc gia

Quyền miễn trừ các biệ pháp bảo đảm sơ bộ cho vụ kiện liên quan đến quốc gia được hiểu là các cơ quan tư pháp không được áp dụng bất cứ biện pháp sơ bộ nào cho

vụ kiện liên quan đến quốc gia như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử Các cơ quan tư pháp chỉ được áp dụng các biện pháp này nếu được quốc gia cho phép Điều 18 Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán

và miễn trừ tài sản quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một Tòa án nước ngoài…”

*Quyền miễn trừ về thi hành án

Quyền này được hiểu là quốc gia được quyền miễn trừ đối với biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định của Tòa án Nội dung này được quy định rõ tại Điều 19

Công ước Liên hợp quốc về quyền miễn trừ quốc gia : “ Không có biện pháp cưỡng chế nào khi có phán quyết của tòa án được phép áp dụng đối với quốc gia, như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia” Trên thực tế vấn đề này chỉ đặt ra

khi quốc gia tuwg bỏ quyền miễn trừ xét xử

2.2 Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia theo quy định của pháp luật Việt Nam

Hiện nay các quốc gia đều thừa nhận quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia khi tahm gia vào các quan hệ dân sự quốc tế Tuy nhiên do sự khác biệt về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội…mức độ và phạm vi quyền miễn trừ tư pháp cũng như cách thức thực hiện quyền miễn trừ tư pháp của các quốc gia là có sự khác nhau1

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Công an nhân dân, năm 2017

4

Trang 6

*Về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia nước ngoài: Cho đến thời điểm này,

Việt Nam chưa có một văn bản riêng thống nhất các quy định quyền miễn trừ tư pháp quốc gia nước ngoài, tuy nhiên nguyên tắc chung được ghi nhận trong khoản

4 Điều 2 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 : “Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc quyền

ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì vụ việc dân sự có liên quan đến

cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao.” Đối

với nhân viên ngoại giao, nhân viên lãnh sự, quyền miễn trừ của họ đực thực hiện theo quy định của Công ước Viên năm 1961 về ngoại giao và Công ước Viên năm

1963 về lãnh sự

*Về tư cách pháp lý của Nhà nước Việt Nam trong các quan hệ tư pháp quốc

tế mà Việt Nam tham gia: Vấn đề này được quy định tại Điều 97 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bình đẳng với các chủ thể khác và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 99 và Điều

100 của Bộ luật này”

*Về trách nhiệm dân sự của Nhà nước khi tham gia các quan hệ dân sự: Điều

99 Bộ luật dân sự 2015 ghi nhận rõ trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự Theo đó, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của mình banwhf tài snar mà mình làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất xử lý, trừ trường hợp tài snar đã được chuyển giao cho pháp nhân Đối với loại tìa sản mà nhà nước đã chuyển giao cho pháp nhân thì pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm

Bên cạnh đó, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của pháp nhân do mình thành lập, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, trừ trường hợp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương,

ở địa phương bảo lãnh cho nghĩa vụ dân sự của pháp nhân này theo quy định của pháp luật Tương tự, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước khác ở Trung ương, ở địa phương, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác Quy định ày đã phân định một cách rạch ròi trách nhiệm của nhà nước và các chủ thể khác khi tham gia vào các quan hệ dân sự, tạo

Trang 7

ra sự yên tâm, chủ động cho các chủ thể khi xác lập các giao dịch dân sự với nhà nước

*Về quyền miễn trừ tài sản: Quyền này chỉ đặt ra đối với tài sản do nhà nươc là

chủ sở hữu và quản lý trực tiếp Theo đó, tài sản do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý bao gồm “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý” Mặt khác, theo quy định tại Nghị định 166/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý tài sản công của cơ quan Việt Nam ở nước ngoài (thay thế nghị định 23/2010/NĐ-CP) , tài sản thuộc quyền quản lý của Nhà nước Việt Nam ở nước ngoài bao gồm: Trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; nhà ở; nhà riêng Đại sứ; Xe ô tô và phương tiện vận tải khác; Máy móc, thiết bị; Tài sản khác theo quy định của pháp luật2

Ngoài ra tài sản của nhà nước còn bao gồm cả tài sản mà Nhà nước Việt Nam được thừa kế ở nước ngoài, tài sản mà Nhà nước Việt Nam được tài trợ, viện trợ, được tặng cho từ các chính phủ nước ngoài, tổ chức phi chính phủ và các cá nhân, tổ chức khác Quyền miễn trừ tài sản của Nhà nước Việt Nam không đặt với các doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp nhà nước) Do đó các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào quan hệ dân sự ngoài việc phải nắm vững được các quy định của pháp luật Việt Nam còn phải hiểu biết về các thông lệ quốc tế để bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình Trong trường hợp có sự vi phạm nghĩa vụ cam kết thì các chủ thể nước ngoài hoàn toàn có thể khởi kiện các doanh nghiệp đó ra tòa và áp dụng các biện pháp tịch thu, kê biên tài sản của doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài để đảm bảo cho vụ kiện Điều này đã được quy định cụ thể tại Điều 100 Bộ luật dân sự năm 2015

Trên thực tế, hầu hết trong các điều ước quốc tế về lĩnh vực dân sự, thương mại, đầu tư, kinh tế mà Việt Nam tham gia thì Chính phủ Việt Nam thường tự nguyện khước từ quyền miễn trừ tư pháp bằng việc sẽ giải quyết các cam kết phát sinh giữa chính phủ, các cơ quan của chính phủ với đối tác nước ngoài thông qua cơ quan tài phán hoặc các thiết chế thương đương theo quy định của điều ước quốc tế

Tương tự như vậy, các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể nước ngoài với các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam thì các bên có thể khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài, cụ thể tại khoản 4 Điều 14 Luật Đầu tư 2014 của Việt Nam quy

định rõ: “Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm

2 Xem Điều 1 Nghị định 166/2017/NĐ- CP

6

Trang 8

quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.”

Trường hợp khước từ quyền miễn trừ tư pháp, Nhà nước Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương sẽ bình đẳng như các chủ thể khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình về nghĩa vụ dân sự do mình xác lập với nhà nước,

cá nhân, pháp nhân nước ngoài Điều này là pù hợp với xu thế phát triển chung của tư pháp quốc tế các nước, gop phần thúc đẩy các giao dịch dân sự phát triển, đặc biệt là các gaio dịch dân dự mà một bên chủ thể là quốc gia

3 Thực tiễn áp dụng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong Tư pháp quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị hòan thiện pháp luật về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia

3.1 Thực tiễn tiễn áp dụng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong Tư

pháp quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam

Việt Nam là một quôc gia thu hút nhiều sự đầu tư từ nước ngoài, các chính sách

mở cửa kinh tế đã làm cho Việt Nam ngày càng có những cơ hội giao lưu với các đối tác trong và ngoài khu vực Sự phát triển không ngừng của các quan hệ thương mại , đầu tư giữa cá nhân, pháp nhân, Nhà nước Việt Nam với nước ngoài ngày một gia tăng cũng kéo theo những tranh chấp phát sinh Thực tế, chính phủ Việt Nam, các cơ quan nhà nước ở đại phương cũng như các doanh nghiệp Việt Nam đã bị các cá nhân, pháp nhân nước ngoài khởi kiện trong nhiều trường hợp, điển hình như vụ kiện của Trịnh Vĩnh Bình (Hà Lan) với Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu

Khác với một số quốc gia trên thế giới, Việt Nam chưa có văn bản quy phạm quy định chính thức nào về nội dung của quyền miễn trừ quốc gia Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 07/9/1993 có một số quy định

về quyền miễn trừ tư pháp Theo khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh, “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự tại Việt Nam Họ cũng được hưởng quyền miễn trừ xét xử về dân sự và xử phạt hành chính” Và khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh quy định: “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ đối với các biện pháp thi hành án” Vậy, quyền miễn trừ về tài sản thuộc sở hữu quốc gia chưa thấy

đề cập Hơn nữa, đây chỉ là những quy định về quyền miễn trừ dành cho viên chức

Trang 9

ngoại giao và thành viên gia đình của họ (khoản 1 Điều 17 Pháp lệnh) Không có quy phạm nào của Pháp lệnh cho thấy nhà nước nước ngoài có quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ tài sản ở Việt Nam Tuy nhiên, Khoản 4 Điều 2 BLTTDS năm 2004

và đến thời điểm này là BLTTDS năm 2015 vẫn quy định : “ cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc các quyền

ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì vụ việc dân sự có liên quan đến cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao” 3

Bên cạnh đó, Việt Nam chưa có chưa có luật về quyền miễn trừ tư pháp quốc gia

và trong các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định chính thức nào quy định trực tiếp vấn đề này Tuy nhiên, khi xét một số quy định của pháp luật ta có thể thấy một số điểm đáng lưu ý Theo khoản 1 và 3 Điều 12 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ thì “viên chức ngoại giao không được hưởng quyền miễn trừ trong trường hợp họ

“tham gia với tư cách cá nhân vào các vụ tranh chấp liên quan đến bất động sản tư nhân trên lãnh thổ Việt Nam, việc thừa kế, hoạt động thương mại hoặc nghề nghiệp

mà viên chức ngoại giao tiến hành tại Việt Nam ngoài phạm vi chức năng chính thức của họ” Quy định này thể hiện rõ quan điểm đối với viên chức ngoại giao thì quyền miễn trừ của họ chỉ là tương đối, nghĩa là quyền miễn trừ không bị giới hạn ở bất cứ lĩnh vực quan hệ dân sự nào nhưng bị hạn chế, hay không được hưởng ở một số trường hợp cụ thể Tuy nhiên đối với Nhà nước nước ngoài thì pháp lệnh lại không đề cập và Bộ luật Tố tụng dân sự cũng không có quy định nào về vấn đề này Pháp luật Việt Nam cần có quy định về những trường hợp cụ thể Nhà nước nước ngoài không được hưởng quyền miễn trừ tại Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ dân sự

3.2 Một số kiến nghị hòan thiện pháp luật về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia

Hiện nay, Việt Nam chưa có luật về quyền miễn trừ quốc gia và pháp luật hiện hành cũng không có quy phạm nào quy định trực tiếp về quyền này Trước đây, Về lý luận, chúng ta có thể lập luận, với việc thừa nhận quyền miễn trừ tài phán cho những người đại diện cho quốc gia thì theo logic, bản thân quốc gia cũng được hưởng quyền này Tuy nhiên, để tạo cơ sở pháp lý cho tòa án Việt Nam trong việc thụ lý và giải quyết các tranh chấp dân sự có liên quan đến nhà nước nước ngoài, chúng ta nên quy định một cách rõ ràng về quyền miễn trừ của quốc gia Nếu ban hành được một đạo

3THS Bành Quốc Tuần – Khoa Kinh tế , ĐHQG TP Hồ Chí Minh,Quyền miễn trừ quốc gia trong

tư pháp quốc tế Việt Nam,https://thongtinphapluatdansu.edu.vn

8

Trang 10

luật về quyền miễn trừ của quốc gia nước ngoài thì đó là một giải pháp rất tốt, tuy nhiên điều đó đòi hỏi phải có thời gian

Trên cơ sở đó, trước hết chúng ta nên bổ sung quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

về quyền miễn trừ dành cho quốc gia nước ngoài Quy định này không nên chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung là thừa nhận quyền miễn trừ về tài phán và tài sản cho quốc gia nước ngoài, mà nên quy định các trường hợp quốc gia nước ngoài sẽ không được hưởng quyền miễn trừ tại Việt Nam Bởi, theo xu hướng hiện nay, học thuyết quyền miễn trừ tương đối được thừa nhận rộng rãi trong cả điều ước quốc tế, pháp luật và thực tiễn xét xử của nhiều nước Để giải quyết vấn đề này, tư pháp quốc tế Việt Nam cần xác định rõ nội dung quyền miễn trừ của quốc gia theo hướng quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc sở hữu quốc gia ở nước ngoài Nội dung này cần được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật thực định có hiệu lực pháp lý cao, cụ thể là Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng: nhà nước nước ngoài, cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc các quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia khi tham gia quan hệ dân sự tại Việt Nam thì được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ những trường hợp

cụ thể pháp luật Việt Nam có quy định riêng4 Đây sẽ là cơ sở để Tòa án Việt Nam xác định thẩm quyền của mình đối với tranh chấp mà một bên chủ thể là quốc gia nước ngoài Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần nêu ra các trường hợp mà quốc gia nước ngoài không được hưởng quyền miễn trừ tư pháp

Bên cạnh đó, Nhà nước Việt Nam nên xem xét khả năng gia nhập Công ước về

quyền miễn trừ tài phán và tài sản của quốc gia5 Như trên đã trình bày, việc ra đời của Công ước đã tạo nên một khuôn khổ pháp lý thống nhất trên phạm vi quốc tế về quyền miễn trừ quốc gia Việc gia nhập Công ước sẽ tạo cơ sở tốt để Việt Nam xây dựng luật pháp của nước mình về vấn đề miễn trừ quốc gia, giúp lấp đầy những lỗ hỏng của pháp luật về vấn đề này Nếu gia nhập Công ước, Việt Nam sẽ có cơ sở

4 Nguyễn Thu Thủy, Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế, Trường Đại học

Luật Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật học, năm 2012

5Th.s Lê Thị Nam Giang, Tìm hiều về quyền miễn trừ Tư pháp quốc gia trong quan hệ quốc tế,

Trang thông tin pháp luật Sở hữu trí tuệ và Tư pháp quốc tế, 09/04/2014,

http://www.phapluatsohuutritue.vn/index.php?

option=com_content&view=article&id=135:quyenmientruqg&catid=55&Itemid=178

Ngày đăng: 08/05/2023, 11:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w