1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc ngân sách thăng bằng ? Phân tích các quy định trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 để chứng minh nguyên tắc ngân sách thăng bằng được thể hiện trong Luật Ngân sách nhà nước

14 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên tắc ngân sách thăng bằng ? Phân tích các quy định trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 để chứng minh nguyên tắc ngân sách thăng bằng được thể hiện trong Luật Ngân sách nhà nước
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Luật Ngân sách nhà nước
Thể loại Bài viết nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 46,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 1 Khái niệm ngân sách nhà nước và các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước 1 1 1 Khái niệm ngân sách nhà nước 1 1 2 Các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước 3 2 Ngu.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

1 Khái niệm ngân sách nhà nước và các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước 1

1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước 1

1.2 Các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước 3

2 Nguyên tắc thăng bằng của ngân sách nhà nước 4

2.1 Khái niệm nguyên tắc thăng bằng 4

2.2 Cơ sở của nguyên tắc thăng bằng 4

2.3 Biểu hiện của nguyên tắc thăng bằng trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 6

2.3.1 Quy định chung về nguyên tắc thăng bằng trong Luật Ngân sách nhà nước 2015 6

2.3.2 Quy định về nguyên tắc thăng bằng khi lập dự toán ngân sách 8

2.3.3 Quy định về nguyên tắc thăng bằng trong hoạt động chấp hành ngân sách 10

2.3.4 Quy định về nguyên tắc thăng bằng trong một số hoạt động khác 11

3 Ý nghĩa của nguyên tắc thăng bằng của ngân sách nhà nước 11

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngân sách nhà nước (NSNN) giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có vai trò quyết định sự phát triển của nền KT-XH Vai trò của Ngân sách nhà nước được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của Ngân sách nhà nước như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước Để có thể quản

lý và sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Trong đó cân đối ngân sách nhà nước Trên cơ cơ phạm vi kiến thức đã học và tìm hiểu, em xin

triển khai đề bài: “ Nguyên tắc ngân sách thăng bằng được hiểu như thế nào? Phân tích các quy định trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 để chứng minh nguyên tắc ngân sách thăng bằng được thể hiện trong Luật Ngân sách nhà nước”

NỘI DUNG

Nội dung bài làm được triển khai theo hướng trình bày khái quát các nội dung kiến thức về khái niệm ngân sách nhà nước và các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước Trong đó trình bày cụ thể về khái niệm nguyên tắc thăng bằng và chứng minh biểu hiện của nguyên tắc này thông qua các quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 Trên cơ sở đó nêu lên ý nghĩa của nguyên tắc thăng bằng trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước

1 Khái niệm ngân sách nhà nước và các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước 1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước

Định nghĩa ngân sách nhà nước được tiếp cận dưới hai phương diện là phương diện kinh tế

và phương diện pháp lý

Về phương diện kinh tế: Ngân sách nhà nước được hiểu là bản dự toán các khoản thu và

chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước quyết định để thực hiện trong thời hạn nhất định, thường là một năm Theo thông lệ, bản dự toán ngân sách nhà nước hàng năm sẽ được soạn thảo bởi một cơ quan công quyền, vừa có năng lực, vừa chuyên trách là bộ tài chính hay bộ ngân khố, sau đó mới được chính phủ đệ trình lên cho quốc hội biểu quyết hoặc phê chuẩn để chuyển giao lại cho chính phủ tổ chức thi hành trên thực tế Mỗi dự toán ngân sách nhà nước chỉ được dùng cho một năm và phải được thiết kế, xây dựng phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của năm đó nên đòi hỏi cả hai phần chi và thu phải hết sức chi tiết, khách quan, khoa học, chính xác trên cơ sở thu thập và xử lý tốt các thông tin trên các lĩnh vực

Về phương diện pháp lý: Định nghĩa ngân sách nhà nước dưới phương diện này hàm chứa

nhiều nội dung pháp lý quan trọng như mối tương quan quyền lực giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp trong việc thiết lập và thi hành ngân sách; thủ tục soạn thảo, quyết định, ban hành ngân sách cũng như sự phân chia giữa quyền lập páp và quyền hành pháp trong sựu kiểm soát quá trình ngân sách Cụ thể, trong pháp luật Việt Nam, khái niệm ngân sách được đề cập tại khoản 4

Điều 4 Luật NSNN năm 2015 như sau : “ Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của

Trang 3

Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.”

Định nghĩa này có sự khác biệt so với cách tiếp cận ở phương diện kinh tế đó là : thứ nhất, ngân sách nhà nước là đạo luật được cơ quan lập pháp lập ra theo một trình tự riêng, không hoàn toàn giống với trình tự lập pháp thông thường; thư hai, hiệu lực về thời gian của đạo luật ngân sách bao giờ cũng được xác định rõ là một năm, trong khi hiệu lực của các đạo luật thông thường là vô thời hạn thuộc tính này khiến cho ngân sách nhà nước được gọi là đạo luật ngân sách thường niên để phân biệt với một đạo luật ngân sách khác đó là Luật NSSN năm 2015 Tuy nhiên cũng cần hiểu rằng, đạo luật ngân sách thường niên không có nghĩa là bản dự toán các khoản thu chi tiền tệ quốc gia đã được Quốc hội biểu quyết thông qua mà còn bao gồm cả văn bản nghị quyết của Quốc hội

về việc ban hành bản dự toán ngân sách đó

Trên cơ sở các định nghĩa trên, có thể hình dung ngân sách nhà nước có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, ngân sách nhà nước là một kế hoạch tài chính khổng lồ cần được quốc hội biểu quyêt thông qua trước khi được thi hành Việc thiết lập ngân sách nà nước không chỉ là kỹ thuật

nghiệp vụ kinh tế mà còn là vấn đề mang tính kỹ thuật pháp lý Do ngân sách nhà nước bắt buộc phải được quốc hội thông qua với kỹ thuật pháp lý nên khác hẳn với các loại ngân sách khác (ngân sách gia đình, ngân sách của các tổ chức kinh tế- chính trị- xã hội, …) Sự khác biệt thể hiện ngân sách nhà nước vừa phản ánh các hành vi kinh tế( lập trù khoản thu, chi sẽ thực hiện trong tương lai) vừa thể hiện hành vi pháp lý của các chủ thể có chủ quyền (cơ quan hành pháp có trách nhiệm lập dự toán ngân sách và cơ quan lập pháp có thẩm quyền quyết định bản dự toán ngân sách đó) Trong khi đó các ngân sách của các chủ thể khác chỉ phản ánh các hành vi thuần túy kinh tế ( mang tính chất kỹ thuật tài chính) như lập dự trù kế hoạch thu chi tiền tệ mà không phải đệ trình cho một cơ quan nào phê chuẩn trước khi đem ra thực hiện

Thứ hai, ngân sách nhà nước không phải là một bản kế hoạch tài chính thuần túy là là một đạo luật Theo thông lệ, khi bản dự toán ngân sách nhà nước đã được soạn thảo bởi cơ quan hành

pháp nó sẽ được chuyển sang cơ quan lập pháp xem xét quyết định và ban bố dưới một hình thức pháp luật để thi hành Qúa trình luật hóa bản dự toán ngân sách nhà nước thể hiện sự khác biệt về phương diện pháp lý của ngân sách nhà nước so với các loại ngân sách của các chủ thể khác Sở dĩ

có sự khác biệt này là vì ngân sách hà nước có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng đối với sự pahts triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội của một đất nước nên phải đảm bảo cho ngân sách nhà nước

có hiệu lực như một đạo luật Việc chuyển hóa bản dự toán ngân sách nhà nước thành đạo luật chẳng những giúp quốc hội kiểm soát được chính phủ trong qua trình thu, chi ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi cho toàn quyền lợi của nhân dân mà còn làm cho bản kê hoạch tài chính quan trong bậc nhất này có thể được thực hiện rõ ràng hơn trong thực tế vì nó được đảm bảo thực hiện như một đạo luật

Thứ ba, ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính của toàn quốc gia, được giao cho chính phủ tổ chức thực hiện và phải đặt dưới sự kiểm soát của quốc hội Việc thiết lập quyền giám sát

của quốc hội đối với việc thi hành ngân sách nhà nước của chính phủ đã trở thành nguyên tăc hiến

Trang 4

định, thực chất là nhằm kiểm soát nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành pháp trong qúa trình thực thi ngân sách nhà nước Sự kiểm soát thường xuyên của quốc hội đối với chính phủ trong lĩnh vực này là phương pháp đề cao tính dân chủ, công khai minh bach trong hoạt động tài chính nhà nước, góp phần quản trị tốt nền tài chính công trong đó dân chúng đóng vai trò quyêt định Đây chính la một đặc điểm phân biệt giữa ngân sách nhà nước với ngân sách của của các chủ thể khác như ngân sách của các tổ chức kinh tế, xã hội, ngân sách cá nhân, ngân sách hộ gia đình Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ việc thiết lập ngân sách nhà nước rất cần có sự kiểm soát của dân chúng với mục đích nhằm bảo vệ lợi ích chung, trong khi đó các loại ngân sách của các chủ thể khác thì nhà nước cần phải để cho chủ thể đó tự quyết định và chịu trách nhiệm về các hậu quả xảy ra trong quá trình xây dựng trong quá trình xây dựng và thực hiện đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt của các chủ thể đó

Thứ tư, ngân sách nhà nước được thiết lập hoàn toàn vì mục tiêu là mưu cầu lợi ích chung cho toàn thể quốc gia không phân biệt người thụ hưởng lợi ích đó là ai, thuộc thành phần kinh tế nào hay đẳng cấp xã hội nào Lợi ích chung là yếu tố ảnh hưởng và mang tính quyết định tới việc

tiến hành các nghiệp vụ tài chính của chính phải mà ở đó chính phủ luôn tìm cách thảo mãn tối đa các nhiệm vụ chi, tiêu đã hoạch định và được cho phep thực hiện bởi quốc hội Đôi khi, vì mục tiêu thỏa mãn lợi ích chung của toàn quốc gia mà chính phủ phải tiến hành nhiệm vụ chi không chắc chắn đem lại một lợi ích cụ thể cho riêng mình, ví dụ như việc trợ cấp cho nhân dân các vùng

bị thiên tai, dịch bệnh, địch họa hay việc tài trợ cho các doanh nghiệp trong nước bằng biện pháp trợ giá nhằm mục đích phục hồi một ngành sản xuất quan trọng nào đó của đất nước Đặc điểm cũng khiến cho ngân sách nhà nước khác biệt với các loại ngân sách của các chủ thể khác, bởi lẽ ngân sách của các chủ thể này liên quan trực tiếp tới lợi ích của họ và bao giờ cũng được thiết lập nhằm mục đích phục vụ cho những lợi ích cụ thể của họ Suy cho cùng điểm khác biệt được thể hiện ở chỗ: nếu một khoản chi nào đó không đem lại một lợi ích kinh tế cụ thể nào đó cho tư nhân thì họ sẽ không bao giờ thực hiện và không bắt buộc phải thực hiện, còn chính phủ vì mưu cầu lợi ích chung nên có thể phải thực hiện những khoản chi rõ ràng không đem lại lợi ích kinh tế cho mình

Thứ năm, ngân sách nhà nước luôn phản ánh mối tương quan giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện ngân sách nhà nước Mối tương quan này

thường nghiêng về phía cơ quan lập pháp bởi lẽ vai trò áp đảo của cơ quan lập pháp so với cơ quan hành pháp trong lĩnh vực ngân sách nhà nước đã được ghi nhận trong Hiến pháp và đạo luật ngân sách nhà nước của mỗi quốc gia như một nguyên tắc cơ bản của nền tài chính công hiện đại Tuy nhiên trong thực tiễn, đôi khi sự giảm sút vai trò của cơ quan lập pháp trong thời điểm nào đó

sẽ khiến cho mối tương quan quyền lực này có xu hướng nghiêng về phía cơ quan lập pháp Trong trường hợp đó, nếu cơ quan hành pháp không biết kiềm chế làm tốt bổn phận thừa hành thì có thể khiến cho nền quản trị tài chính công trở nên kém dân chủ và thiếu minh bạch

1.2 Các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước

Nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước được hiểu là những nguyên lý, tư tưởng chủ đạo có tính then chốt, xuất phát điểm, làm cơ sở cho toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện ngân

Trang 5

sách nhà nước Theo quan niệm cổ điển về ngân sách, thể chế ngân sách trong mỗi quốc gia được thiết lập và vận hành theo bốn nguyên tắc cơ bản là:

- Nguyên tắc nhất niên;

- Nguyên tắc ngân sách đơn nhất;

- Nguyên tăc toàn diện;

- Nguyên tắc thăng bằng;

- Nguyên tắc công khai, minh bạch

Ngày nay hầu hết các nguyên tăc này vẫn được giới học giả đương thời thừa nhận như một quan điểm khoa học có tính lịch sử và đi xa hơn Đối với Việt Nam, quá trình xây dựng và thực hiện ngân sách nhà nước cũng tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản này

2 Nguyên tắc thăng bằng của ngân sách nhà nước

2.1 Khái niệm nguyên tắc thăng bằng

Nguyên tắc ngân sách thăng bằng xuất hiện khá sớm trong lịch sử nền tài chính công ở nhiều quốc gia trên thế giới Sự thăng bằng ngân sách là một ý niệm kế toán nhiều hơn là ý niệm kinh tế hay pháp lý Theo nguyên tăc này, tất cả các khoản chi trong tài khoản ngân sách đều phải cân bằng với tất cả các khoản thu trong tài khoản ngân sách Nói cách khác, tổng số thu phải cân bằng với tổng số chi trong năm ngân sách Có thể hiểu một cách đơn giản nguyên tắc thăng bằng ngân sách nhà nước chính là làm cho ngân sách nhà nước có sự cân đối

Xét về bản chất, cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước là cân đối giữa các nguồn thu mà Nhà nước huy động được tập trung vào ngân sách nhà nước trong một năm và sự phân phối, sử dụng nguồn thu đó thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong năm đó; Xét về góc độ tổng thể, cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước phản ánh mối tương quan giữa hoạt động thu và hoạt động chi trong một tài khóa Nó không chỉ là sự tương quan giữa tổng thu và tổng chi mà còn thể hiện sự phân bổ hợp lý giữa cơ cấu các khoản thu và cơ cấu các khoản chi của ngân sách nhà nước

do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện; Xét trên phương diện phân cấp quản lý nhà nước, cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước là cân đối về phân bổ và chuyển giao nguồn thu giữa các cấp ngân sách, giữa trung ương và địa phương và giữa các địa phương với nhau để thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao.Tựu trung lại ta có thể hiểu: Thăng bằng ngân sách hay chính là cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng của chính sách tài khóa, phản ánh sự điều chỉnh mối quan hệ tương tác giữa hoạt động thu và hoạt động chi ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội mà Nhà nước đã đề ra trong từng lĩnh vực và địa bàn

cụ thể1

2 2 Cơ sở của nguyên tắc thăng bằng

1 Quách Hồng Thơ Giáo viên hướng dẫn: Lê Huỳnh Phương Chinh, Cân đối ngân sách nhà nước – thực trạng và hướng hoàn thiện, Luân văn Thạc sĩ, năm 2013,

http://luanvan.net.vn/luan-van/de-tai-can-doi-ngan-sach-nha-nuoc-thuc-trang-va-huong-hoan-thien-29438/

Trang 6

Trên thực tế, quá trình thu, chi ngân sách nhà nước luôn trong trạng thái biến đổi không ngừng và bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế quốc gia, khi có những khoản thu dự kiến không đủ đáp ứng cho nhu cầu chi trong năm đó, hoặc có thể mức thu lại vượt xa những khoản chi Do vậy, các khoản chi tiêu và thu ngân sách nhà nước phải được tính toán chính xác và phù hợp với thực tế để đảm bảo cho ngân sách nhà nước trong trạng thái cân bằng, ổn định Thu và chi ngân sách là hai vấn đề quan trọng để đảm bảo cho ngân sách nhà nước được cân đối, hai vấn đề này lại nằm trong mối tương quan giữa tài chính và kinh tế, vì kinh tế có phát triển thì Nhà nước mới huy động được nguồn thu vào ngân sách nhà nước còn kinh tế không ổn định, kém phát triển thì nguồn thu vào ngân sách nhà nước giảm và còn phải chi nhiều để hổ trợ Điều đó dễ dẫn đến ngân sách nhà nước

bị mất sự thăng bằng Do đó, việc quy định nguyên tắc thằng bằng xuất phát từ:

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu đảm bảo cho cho các mục tiêu kinh tế- xã hội của đất nước được thực hiện đến cùng Ngân sách nhà nước có nguồn thu từ các nguồn khác nhau và hoạt động

chi ngân sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra trước nhà nước, trước đất nước để làm ổn định và phát triển kinh tế- xã hội Do vậy, để thực hiện tốt và đến cùng các mục tiêu kinh tế- xã hội mà nhà nước đã đặt ra thì nguồn tài chính, tiền tệ của đất nước phải ổn định, cân đối, trong đó các nhiệm vụ chi không được vượt quá khả năng các nguồn thu mà phải ở trong trạng thái cân bằng hoặc thấp hơn các nguồn thu để tránh tình trạng thâm hụt ngân sách, kiệt quệ tài chính Nếu như các nhiệm vụ chi luôn cao hơn khả năng thu của đất nước thì điều tất yếu là sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện các mục tiêu khác nhau của các lĩnh vực khác nhau của đất nước mà cần phải có nguồn tài chính để điều chỉnh Ngược lại, nếu chúng ta luôn đạt được bội thu ngân sách thì tất cả các mục tiêu của đất nước sẽ luôn được hoàn thành mà không một mục tiêu nào không được thực hiện đến cùng

Thứ hai, xuất phát từ chủ trương ổn định hệ thống chính sách tài khóa tiến tới ổn định việc tiến hành những công việc đã đề ra theo kế hoạch Điều này có nghĩa là, khi đề ra những chủ

trương, kế hoạch cho công việc cụ thể phải tiến hành của đất nước nhằm phục vụ cho nhu cầu nào

đó thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã dự trù được nguồn kinh phí cho việc tiến hành công việc đó và nguồn kinh phí đó đủ để thực hiện các công việc đó mà trong quá trình tiến hành không phải bổ sung hay lấy nguồn kinh phí đầu tư cho các công việc khác để bù đắp vào công việc đang thực hiện hay công việc đang thực hiện lại phải dừng lại vì nguồn kinh phí đã không còn Như vậy, việc ổn định nguồn ngân sách sẽ là điều kiện cho việc tiến hành công việc cụ thể được triệt để, giúp cho nguồn ngân sách không bị xáo trộn do những nguồn thu đáp ứng đủ nhiệm vụ chi

Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng, lạm quyền Bởi

lẽ những nguồn thu và nhiệm vụ chi được lên kế hoạch cụ thể, có nghĩa là nguồn thu này được phân bổ bao nhiêu cho nhiệm vụ chi cụ thể thì bắt buộc cơ quan có thẩm quyền thu, người có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước những khoản thuế theo quy định của pháp luật và những cơ quan, đơn vị tiếp nhận việc phân bổ nguồn ngân sách để trực tiếp thực hiện các công việc được giao phải làm đúng những định hướng, kế hoạch mà cơ quan cấp trên đã đề ra để đảm bảo cho công việc được hoàn thành mà ngân sách nhà nước lại vẫn ổn định, không bị xáo trộn Những

Trang 7

nguồn thu và nhiệm vụ chi có sự ăn khớp, cân bằng với nhau bởi những kế hoạch mà không thể có

sự gian dối, làm sai lệch những con số đó khi thực hiện thu và thực hiện chi ngân sách

2.3 Biểu hiện của nguyên tắc thăng bằng trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015

Nguyên tắc thăng bằng là một nguyên tăc cơ bản của ngân sách nhà nước, do đó bên cạnh những quy định chung thì nguyên tắc này được thể hiện xuyên suốt trong các chu trình của ngân sách nhà nước

2.3.1 Quy định chung về nguyên tắc thăng bằng trong Luật Ngân sách nhà nước 2015

Những quy định chung về nguyên tắc thăng bằng được thể hiện trong Điều 7 của Luật NSNN 2015, theo đó nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước bao gồm những nội dung sau đây:

Thứ nhất ,thống nhất tổng hợp một cách đầy đủ, cân đối ngân sách từ các khoản thu từ thuế,

phí, lệ phí và các khoản thu khác; việc ban hành các chính sách thu ngân sách phải bảo đảm cân đối ngân sách trong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết quốc tế Cụ thể, khoản 1 Điều 7 Luật

NSNN 2015 quy định:“ Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện Việc ban hành chính sách thu ngân sách phải bảo đảm nguyên tắc cân đối ngân sách trong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết về hội nhập quốc tế.”Thuế, phí và lệ phí là các nguồn

thu cơ bản và đóng vai trò quan trọng trong ngân sách nhà nước, để có thể thực hiện các nhiệm vụ chi cho các lĩnh vực thì đảm bảo cân bằng trong hoạt động thu các loại thuế, phí và lệ phí là điều cần thiết Quy định trên đã nêu ra một nguyên tắc thống nhất cho toàn bộ quá trình của ngân sách nhà nước

Thứ hai, các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp

phần tích lũy ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển, trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách Nội dung này của nguyên tắc cân đối đã phân định ranh giới giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, thể hiện sự thận trọng trong chính sách tài khóa của Việt Nam Theo đó, các khoản thu thường xuyên được sử dụng

để trang trải chi thường xuyên và một phần thu thường xuyên cùng với thu bù đắp được sử dụng để chi đầu tư phát triển, trong đó chi đầu tư phát triển được chú trọng hơn vì nó có thể làm tăng khả năng thu hồi vốn cho ngân sách nhà nước nhưng phải đảm bảo được sự cân đối giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, bởi lẽ giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong chi tiêu công của Nhà nước Chi đầu tư phát triển là hoạt động cần thiết đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia, nó tạo ra những điều kiện cở sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho nền kinh tế, cũng

từ đó kéo theo sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác và đảm bảo các vấn đề xã hội của đất nước, giúp nhà nước thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình Vì vậy, chi đầu tư phát triển là vấn

đề được Nhà nước ưu tiên trong xây dựng nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước

Trang 8

Thứ ba, bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn và chỉ sử dụng cho đầu tư

phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên(khoản 3 Điều 7) Trong đó:

* Bội chi ngân sách trung ương được bù đắp từ các nguồn sau: Vay trong nước từ phát

hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật; Vay ngoài nước từ các khoản vay của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế

và phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, không bao gồm các khoản vay về cho vay lại

* Bội chi ngân sách địa phương: Chỉ ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; bội chi

ngân sách địa phương chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn

đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định; Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật; Bội chi ngân sách địa phương được tổng hợp vào bội chi ngân sách nhà nước và do Quốc hội quyết định Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi ngân sách địa phương để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của ngân sách nhà nước

Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc không sử dụng cho tiêu dùng và chi thường xuyên Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay thì vấn đề bội chi ngân sách là không thể tránh khỏi đối với một quốc gia nhưng chưa hẳn bội chi ngân sách nhà nước là biểu hiện của sự yếu kém của nền kinh tế mà nó còn là một trong các cách thức tạo ra sự cân đối của hoạt động ngân sách nhà nước trong dài hạn, đảm bảo cho nền kinh tế- xã hội phát triển và ổn định Nguyên tắc vay bù đắp bội chi nên dành cho mục đích phát triển và đảm bảo bố trí ngân sách

để chủ động trả hết nợ khi đến hạn là rất cần thiết để đảm bảo ngân sách nhà nước được cân đối, tận dụng được nguồn vốn vay một cách có hiệu quả Chi cho tiêu dùng là hoạt động chi không mang tính chất thu hồi vốn và không tạo ra thặng dư, do đó nguồn vay bù đắp bội chi chỉ được để dành cho mục đích phát triển

Bên cạnh đó, lần đầu tiên Luật NSNN 2015 quy định bội chi ngân sách địa phương (NSĐP)

là một cấu phần trong bội chi ngân sách nhà nước Nói cách khác, bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương (NSTW) và bội chi NSĐP Đây là điểm mới quan trọng để tăng cường kiểm soát bội chi NSNN Nguồn bù đắp bội chi NSNN từ việc vay trong nước và vay nước ngoài, bao gồm cả việc vay từ phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật (Điều 7) Luật NSNN 2015 mới quy định chỉ NSĐP cấp tỉnh mới được phép bội chi Bội chi NSĐP chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công 5 năm đã được Hội đồng Nhân dân (HĐND) cấp tỉnh quyết định Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi NSĐP để bảo đảm phù hợp với khả năng

Trang 9

trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của NSNN Bên cạnh đó, Luật NSNN mới cũng

đã nêu rõ những quy định về mức dư nợ vay của NSĐP2

Ngoài ra, Luật NSNN năm 2015 cũng đã nêu rõ những quy định về mức dư nợ vay của NSĐP, Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá 60% số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp; Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp lớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp; Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhỏ hơn hoặc bằng chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 20% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp3

2.3.2 Quy định về nguyên tắc thăng bằng khi lập dự toán ngân sách

Lập dự toán ngân sách là khâu đầu tiên và là giai đoạn khởi đầu cho quá trình lập ngân sách của mỗi quốc gia Qúa trình ngân sách là toàn bộ những hoạt động lập, chấp hành, quyết toán ngân sách cuarq quốc gia Lập dự toán ngân sách nhà nước là quá trình xây dựng và quyết định dự toán thu, chi ngân sách của nhà nước Đây là một khâu quan trọng của quá trình ngân sách bởi lẽ khâu này tạo tiền đề và là cơ sở quan trọng cho các khâu tiếp theo của quá trình ngân sách nhà nước Nếu việc lập dự toán ngân sách nhà nước được tiến hành trên cơ sở có đầy đủ căn cú khoa học và phù hợp với thực tiễn, đảm bảo đúng tiến độ, thời gian quy định thì việc tổ chức và thực hiên ngân sách nhà nước sẽ có chất lượng khác và hiệu quả hơn Chính vì vậy viêc nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong hoạt động lập ngân sách nhà nước nhất thiết phải được đặt trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng với các giai đoạn của toàn bộ quá trình ngân sách

Mặt, hoạt động lập dự toán ngân sách nhà nước cũng cần phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước nói chung và ngân sách thăng bằng nói riêng Theo đó, nguyên tắc thăng bằng được thể hiện trong căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước và yêu cầu lập dự toán ngân sách nhà nước (Điều 42 Luật NSNN 2015) Cụ thể:

*Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước (Điều 41 Luật NSNN 2015): Việc lập dự toán ngân

phải căn cứ vào :

- Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bình đẳng giới

- Nhiệm vụ cụ thể của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương, các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương Mỗi vùng trên đất nước ta có điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện về kinh tế – xã hội không giống nhau như về vị trí địa lý, dân số theo vùng lãnh thổ, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, trình độ phát triển… Do đó, để có thể

2

ThS Nguyễn Minh Tân - Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính - Ngân sách Văn phòng Quốc hội, Những điểm

mới trong luật ngân sách nhà nước năm 2015, Tạp chí Tài chính , tháng 8- kỳ 1- 2015

3 Khoản 6 Điều 7 Luật NSNN 2015

Trang 10

lập được dự toán ngân sách phù hợp với điều kiện từng vùng cụ thể, các cơ quan có thẩm quyền phải thông báo đối với từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, từng địa phương và đơn vị những điều kiện cụ thể, chi tiết của vùng mình Từ đó, đưa ra được các chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm

vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện kinh tế – xã hội và tự nhiên của từng vùng để xây dựng dự toán ngân sách

- Quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và chế độ thu ngân sách nhà nước; định mức phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước Đó là những quy phạm pháp luật định ra những chuẩn mực pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của mình Tuy nhiên, các quan hệ xã hội không ngừng biến đổi nên nhiều trường hợp chính sách, chế độ không còn phù hợp để điểu chỉnh, vì thế, cần có sự sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với những văn bản này Trong những trường hợp này, cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu nhằm sửa đổi, bổ sung và ban hành trước thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm

- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia đối với các khoản thu phân chia và mức bổ sung cân đối ngân sách của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Các quy định về phân cấp nguồn thu có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo sự thăng bằng ngân sách giữa ngân sách trung ương và địa phương cũng như các cấp ngân sách ở địa phương

- Văn bản pháp luật của các cấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau Thông thường các văn bản đó là Thông tư của Bộ tài chính, Nghị quyết Hội đồng nhân dân các cấp

- Kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 03 năm, kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước Các kế hoạch tài chính là cơ sở quan trọng trong định hướng lập dự toán ngân sách nhà nước vì đây đều là các kế hoạch có tính thực tiễn và khách quạ với tình hình phát triển của đất nước

- Tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm trước Đây vừa là cơ sở lập dự toán vừa là cách thức kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện ngân sách nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền Qua đó sẽ năm được tình hình thu,chi trong năm, biết được ngân sách thiếu chỗ nào, cần phải chi thêm chỗ nào,…để tiến tới sư thăng bằng

- Số kiểm tra dự toán thu, chi ngân sách thông báo cho các cấp, các cơ quan, tổ chức, đơn

vị có liên quan

*Yêu cầu của lập dự toán ngân sách nhà nước (Điều 42 Luật NSNN): Bên cạnh những căn

cứ, lập dự toán ngân sách nhà nước cũng cần đáp ứng các yêu cầu nhất định nhằm đảm bảo thống nhất với nguyên tắc thăng bằng ngân sách chung, vừa đmả bảo sự thăng bằng trong quá trình lập

dự toán Các yêu cầu như là : Dự toán ngân sách nhà nước phải tổng hợp theo từng khoản thu, chi

và theo cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi dự trữ quốc gia, chi trả nợ và viện trợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách; Dự toán ngân sách của đơn vị dự toán ngân

Ngày đăng: 08/05/2023, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w