1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN NHẬP MÔN LOGISTICS VÀ QUẢN LÍ CHUỖI CUNG ỨNG Trình bày thực trạng khung thể chế pháp lý và cơ sở hạ tầng Logistics Việt Nam? Nêu các mục tiêu mà Chính phủ đặt ra trong kế hoạch hành động cho ngành Logistics? Chính phủ và các doanh nghiệp Việt

37 29 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng khung thể chế pháp lý và cơ sở hạ tầng Logistics Việt Nam và mục tiêu của Chính phủ trong kế hoạch hành động
Trường học Trường Đại học Thương mại - Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Chuyên ngành Logistics và Quản lí Chuỗi Cung Ứng
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 466,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 7 NỘI DUNG 8 CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 8 1.1 Logistics là gì? 8 1.2 Logistics có vai trò gì? 8 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHUNG THỂ CHẾ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG LOGISTICS VIỆT NAM 9 2.1 Khung thể chế pháp lý. 9 2.2 Cơ sở hạ tầng. 13 CHƯƠNG III: MỤC TIÊU CHÍNH PHỦ ĐẶT RA TRONG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG TỚI NĂM 2025 CHO NGÀNH LOGISTICS 18 3.1 Mục tiêu của Chính phủ. 18 3.2 Đánh giá. 20 CHƯƠNG IV: NHỮNG THAY ĐỔI CỦA CHÍNH PHỦ VÀ DOANH NGHIỆP ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC MỤC TIÊU 25 4.1 Thay đổi của Chính phủ 25 4.2 Thay đổi của doanh nghiệp: 32 KẾT LUẬN 35 NGUỒN THAM KHẢO 36 6 Nhóm 4 – Nhập môn Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng LỜI MỞ ĐẦU Có thể thấy rằng từ lâu, Logistics đã trở thành một công cụ không thể tách rời của mọi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh. Một bộ máy Logistics vận hành kém hiệu quả khiến toàn bộ dây chuyền hoạt động của doanh nghiệp bị trì trệ, ảnh hưởng cả về thời gian lẫn chất lượng. Ngược lại, nếu biết cách triển khai hiệu quả hoạt động Logistics sẽ giúp cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh về giá cũng như chất lượng dịch vụ vận chuyển. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, việc đẩy mạnh phát triển dịch vụ Logistics lại càng trở nên quan trọng và cần thiết. Trong đó thực trạng khung thể chế pháp lý và cơ sở hạ tầng Logistics Việt Nam; các mục tiêu mà Chính phủ đặt ra trong kế hoạch hành động tới năm 2025 cho ngành Logistics; Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam cần có những thay đổi gì để đạt được mục tiêu này là những yếu tố vô cùng cần thiết để phát triển ngành Logistics ở Việt Nam. Bài thảo luận này của nhóm 4 chúng em sẽ làm rõ các vấn đề được nêu ra ở trên. 7 Nhóm 4 – Nhập môn Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng NỘI DUNG CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Logistics là gì? Hiểu một cách đơn giản nhất thì Logistics là dịch vụ cung cấp, vận chuyển hàng hoá tối ưu nhất từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng. Công việc của các công ty Logistics là lên kế hoạch cụ thể, kiểm soát sự di chuyển của hàng hoá hay thông tin về nguyên liệu từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ theo yêu cầu khách hàng đặt ra. Bên cạnh nghiệp vụ giao – nhận, ngành Logistics còn bao gồm những hoạt động khác như bao bì, đóng gói, kho bãi, lưu trữ, luân chuyển hàng hoá, xử lý hàng hỏng... Nếu làm tốt ởkhâu Logistics này, các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí về vận chuyển, từ đó giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và lợi nhuận cho công ty. 1.2 Logistics có vai trò gì? •Đối với nền kinh tế quốc tế: +Logistics là công cụ hữu hiệu dùng để liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. +Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường kinh doanh quốc tế. Hệ thống logistics có tác dụng như một chiếc cầu nối đưa hàng hóa đến các thị trường mới theo đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. +Logistics góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế. +Ngoài ra, sự phát triển của logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa và chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao. •Đối với nền kinh tế quốc dân: +Hệ thống Logistics đã góp phần vào việc phân bố các ngành sản xuất một cách hợp lý để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. + Logistics là mối liên kết kinh tế gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa một cách thông suốt, chuẩn xác, an toàn và giảm thiểu chi phí. 8 Nhóm 4 – Nhập môn Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng +Chi phí Logistics chiếm một khoản không nhỏ đối với nền kinh tế, nó tác động tới và chịu tác động bởi các hoạt động kinh tế khác. Một khi Logistics được phát triển sẽ làm giảm chi phí, đảm bảo về thời gian và chất lượng cho các hoạt động kinh tế khác. •Đối với doanh nghiệp +Logistics là một nhân tố quan trọng bởi nó giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào cho doanh nghiệp một cách hiệu quả. Không những thế, Logistics còn cung cấp sự hỗ trợ trên các điểm chuyển giao quyền sở hữu, nhờ đó quá trình từ sản xuất đến phân phối hàng hóa, dịch vụ luôn được tối ưu hóa. +Nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHUNG THỂ CHẾ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG LOGISTICS VIỆT NAM 2.1 Khung thể chế pháp lý. 2.1.1 Thực trạng: Một yếu tố quan trọng không thể thiếu đó là xây dựng khung pháp lý và thể chế cho hoạt động Logistics. Có thể nói, khung thể chế và pháp lý chính là trí não của hệ thống Logistics. Chính vì vậy, các doanh nghiệp hiện đại luôn đòi hỏi một khung thể chế và pháp lý chặt chẽ, được điều chỉnh thường xuyên để ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh doanh và của hoạt động Logistics. •Thành tựu: Việt nam, là một đất nước có hệ thống chính trị ổn định nhất trong khu vực và trên thế giới, là một nước chỉ có duy nhất một Đảng Chính trị lãnh đạo, tình trạng khủng bố không có. Đây quả thực là một môi trường lý tưởng để hoạt động Logistics phát triển mạnh mẽ. +Các quy định điều chỉnh dịch vụ Logistics đã và đang được hoàn thiện với hệ thống pháp luật điều chỉnh dần dần đầy đủ hơn. Cụ thể, Luật thương mại 2005, Bộ Luật Hàng hải 2015 sửa đổi Bộ Luật Hàng hải 1990, các Luật Dân sự 2015 và Luật đầu tư 2014 ra đời phù hợp dần với luật quốc tế. Đồng thời với Bộ luật Hàng hải, các luật về hàng không, đường bộ, 9 Nhóm 4 – Nhập môn Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng đường sắt, đường thủy nội địa, Luật Hải quan, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm... cũng ra đời. +Điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics được quy định tại Nghị định số 1402007NĐCP ngày 592007 quy định chi tiết Luật thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics qua 10 năm có hiệu lực đã được thay thế bởi Nghị định 1632017NĐCP về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics mang đến những quy định thay đổi để phù hợp với thực tiễn hoạt động và để phù hợp với những cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. +Hơn nữa, Việt Nam phê chuẩn Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại (TFA) từ tháng 112015. Ngày 2222017, TFA đã nhận được phê chuẩn cần thiết từ 23 trong tổng số 164 thành viên của WTO và chính thức có hiệu lực. TFA có hiệu lực hứa hẹn sẽ đẩy nhanh sự luân chuyển, thông quan và giải phóng hàng hóa; mở ra một thời kỳ mới cho cải cách, tạo thuận lợi thương mại và tạo ra một động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động thương mại hàng hóa quốc tế, mang lại lợi ích chung cho tất cả các quốc gia thành viên. Việc triển khai đầy đủ TFA được dự báo sẽ cắt giảm trung bình 14,3% chi phí thương mại của các quốc gia thành viên. +Nhiều hoạt động mang tính chất thúc đẩy quá trình phát triển dịch vụ Logistics được thực hiện. Theo Quyết định 07QĐBNV ngày 04 tháng 1 năm 2013 về cho phép đổi tên hiệp hội Giao nhận kho Vận Việt Nam thành Hiệp Hội doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam nhằm mục đích hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong việc phát triển nghề nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên; trên cơ sở đó hội nhập với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này trong khu vực và trên thế giới theo quy định của pháp luật. + Năm 2017, Việt Nam đã chủ động tham gia Hội nghị quốc tế hàng năm của Liên đoàn Giao nhận vận tải quốc tế (FIATA World Congress), một tổ chức bao gồm nhiều Hiệp hội Logistics quốc gia. VLA là đại diện Việt Nam tham dự sự kiện này. Qua đó góp phần nâng cao vai trò của ngành dịch vụ Logistics trên trường quốc tế. VLA đã đặt vấn đề đăng cai tổ chức Đại hội này tại Việt Nam vào năm 2023, tuy nhiên cần có sự hỗ trợ của cơ quan chức năng và phải đấu thầu với các nước khác trước ít nhất là 3 năm. •Hạn chế: + Thứ nhất, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics còn 10 Nhóm 4 – Nhập môn Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng chồng chéo và chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn là ngành kinh doanh dịch vụ Logistics đang rất phát triển và phong phú. Vì vậy, thị trường dịch vụ Logistics vẫn còn thiếu tính minh bạch, cạnh tranh chưa lành mạnh, chưa tạo điều kiện phát triển bền vững cho ngành. +Thứ hai, hệ thống thủ tục một số lĩnh vực của Logistics ở Việt Nam khá phức tạp và tốn thời gian. Cụ thể như cùng một mặt hàng có mã hải quan như nhau thì có thể có những mức thuế suất áp đặt khác nhau tùy vào từng địa phương. Ngay cả giữa các cơ quan hải quan ở mỗi địa phương cũng chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau dẫn đến mất thời gian và chi phí của các doanh nghiệp. Thủ tục hải quan ở Việt Nam còn rất rườm rà phải trải qua nhiều khâu, nhiều cấp quản lý, tỷ lệ kiểm hóa và kiểm định cao. So sánh hiệu quả của các quy trình xuất nhập khẩu của Việt Nam với Singapore, Malaysia và Thái Lan Nguồn: Tổng hợp từ Domestic LPI Report, Ngân hàng Thế giới Việt Nam Singapore Malaysia Thái Lan Số bước trung gian 4 1 2 3 xuất khẩu Số bước trung gian 4 1 2 4 nhập khẩu Số lượng hồ sơ 3 1 4 2 xuất khẩu Số lượng hồ sơ 5 1 4 2 nhập khẩu Thời gian hoàn 1 ngày 0 ngày 1 ngày 1 ngày thành nếu không cần kiểm hóa Thời gian hoàn 2 ngày 1 ngày 2 ngày 1 ngày thành nếu cần kiểm hóa Tỷ lệ kiểm hóa 53.5% 4.82% 1.58% 2.5% Tỷ lệ kiểm định 6.79% 2.86% 1% 1.58% nhiều nội dung 11 Nhóm 4 – Nhập môn Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng Thông quan và giao 57.14% 100% 100% 50% nhận trong nhập khẩu Thông quan và giao 71.43% 100% 100% 100% nhận trong xuất khẩu Tính minh bạch 28.57% 100% 33.33% 50% trong thủ thục thông quan Tính minh bạch 14.29% 100% 66.67% 50% trong các thủ tục biên giới khác Tính đồng bộ và 14.29% 85.71% 33.33% 50% cập nhật +Thứ ba, về chính sách phát triển ngành dịch vụ Logistics, cho đến nay, Chính phủ hầu như chưa có chính sách ưu tiên hỗ trợ về vốn, lãi suất hay ưu đãi thuế đối với các công ty kinh doanh dịch vụ Logistics để khuyến khích sự phát triển của lĩnh vực này. +Thứ tư, đặc biệt chưa có một cơ quan chính thức nào điều hành hoạt động Logistics. Ngành kinh doanh dịch vụ Logistics là một ngành đặc thù, không tránh khỏi sự chồng chéo và phức tạp, có thể gây khó dễ cho các nhà đầu tư. Đây là một trong những khó khăn rất lớn ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành dịch vụ Logistics tại Việt Nam. 2.1.2 Giải pháp: Một là, xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics. Hiện nay các văn bản pháp luật đã tương đối đầy đủ và dần được hoàn thiện, đáng chú ý là Nghị định 1632017 về kinh doanh dich vụ Logistics có hiệu lực vào 20 tháng 2 năm 2018. Thứ hai, nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với dịch vụ Logistics, giảm thiểu số lượng thủ tục hành chính liên quan, cải thiện công tác và thủ tục thông quan, đưa công nghệ thông tin hiện đại vào các giai đoạn của Logistics.

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN NHẬP MÔN LOGISTICS VÀ QUẢN LÍ CHUỖI CUNG ỨNG

ĐỀ TÀI :

“Trình bày thực trạng khung thể chế pháp lý và cơ sở hạ tầng Logistics Việt Nam? Nêu các mục tiêu mà Chính phủ đặt ra trong kế hoạch hành động cho ngành Logistics? Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam cần có những thay đổi gì để đạt được mục

tiêu này?”

Trang 2

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN NHẬP MÔN LOGISTICS VÀ QUẢN LÍ CHUỖI CUNG ỨNG

ĐỀ TÀI :

“Trình bày thực trạng khung thể chế pháp lý và cơ sở hạ tầng Logistics Việt Nam? Nêu các mục tiêu mà Chính phủ đặt ra trong kế hoạch hành động cho ngành Logistics? Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam cần có những thay đổi gì để đạt được mục

tiêu này?”

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 8

1.1 Logistics là gì? 8

1.2 Logistics có vai trò gì? 8

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHUNG THỂ CHẾ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG LOGISTICS VIỆT NAM 9

2.1 Khung thể chế pháp lý 9

2.2 Cơ sở hạ tầng 13

CHƯƠNG III: MỤC TIÊU CHÍNH PHỦ ĐẶT RA TRONG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG TỚI NĂM 2025 CHO NGÀNH LOGISTICS 18

3.1 Mục tiêu của Chính phủ 18

3.2 Đánh giá 20

CHƯƠNG IV: NHỮNG THAY ĐỔI CỦA CHÍNH PHỦ VÀ DOANH NGHIỆP ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC MỤC TIÊU 25

4.1 Thay đổi của Chính phủ 25

4.2 Thay đổi của doanh nghiệp: 32

KẾT LUẬN

35 NGUỒN THAM KHẢO 36

Trang 5

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN HỌP LẦN 2

I THỜI GIAN BẮT ĐẦU:

II HÌNH THỨC: Online qua Google Meet

III THÀNH PHẦN THAM DỰ: Thành viên nhóm 4, có mặt đầy đủ

IV NỘI DUNG CUỘC HỌP:

Phân chia các công việc của mỗi người như sau:

Cơ sở hạ tầng: (đường biển, đường sông, đường

bộ, đường sắt, đường hàng không, mạng lưới công

Trang 6

Đánh giá về mục tiêu của kế hoạch hành động (có

những khó khăn, thuận lợi như thế nào, )

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 8

1.1 Logistics là gì? 8

1.2 Logistics có vai trò gì? 8

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHUNG THỂ CHẾ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG LOGISTICS VIỆT NAM 9

2.1 Khung thể chế pháp lý 9

2.2 Cơ sở hạ tầng 13

CHƯƠNG III: MỤC TIÊU CHÍNH PHỦ ĐẶT RA TRONG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG TỚI NĂM 2025 CHO NGÀNH LOGISTICS 18

3.1 Mục tiêu của Chính phủ 18

3.2 Đánh giá 20

CHƯƠNG IV: NHỮNG THAY ĐỔI CỦA CHÍNH PHỦ VÀ DOANH NGHIỆP ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC MỤC TIÊU 25

4.1 Thay đổi của Chính phủ 25

4.2 Thay đổi của doanh nghiệp: 32

KẾT LUẬN 35

NGUỒN THAM KHẢO 36

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

Có thể thấy rằng từ lâu, Logistics đã trở thành một công cụ không thể tách rời của mọi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh Một bộ máy Logistics vận hành kém hiệu quả khiến toàn bộ dây chuyền hoạt động của doanh nghiệp bị trì trệ, ảnhhưởng cả về thời gian lẫn chất lượng Ngược lại, nếu biết cách triển khai hiệu quả hoạt độngLogistics sẽ giúp cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh về giá cũng như chất lượng dịch

vụ vận chuyển

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, việc đẩy mạnh phát triển dịch vụ Logistics lại càng trở nên quan trọng và cần thiết Trong đó thực trạng khung thể chếpháp lý và cơ sở hạ tầng Logistics Việt Nam; các mục tiêu mà Chính phủ đặt ra trong kế hoạch hành động tới năm 2025 cho ngành Logistics; Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam cần có những thay đổi gì để đạt được mục tiêu này là những yếu tố vô cùng cần thiết đểphát triển ngành Logistics ở Việt Nam Bài thảo luận này của nhóm 4 chúng em sẽ làm rõ các vấn đề được nêu ra ở trên

Trang 9

NỘI DUNG CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Logistics là gì?

Hiểu một cách đơn giản nhất thì Logistics là dịch vụ cung cấp, vận chuyển hàng hoátối ưu nhất từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng Công việc của các công ty Logistics là lên kế hoạch cụ thể, kiểm soát sự di chuyển của hàng hoá hay thông tin về nguyên liệu từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ theo yêu cầu khách hàng đặt ra

Bên cạnh nghiệp vụ giao – nhận, ngành Logistics còn bao gồm những hoạt động khác như bao bì, đóng gói, kho bãi, lưu trữ, luân chuyển hàng hoá, xử lý hàng hỏng Nếu làm tốt

ở khâu Logistics này, các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí về vận chuyển, từ

đó giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và lợi nhuận cho công ty

1.2 Logistics có vai trò gì?

• Đối với nền kinh tế quốc tế:

+ Logistics là công cụ hữu hiệu dùng để liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao

+ Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường kinh doanh quốc tế Hệ thốnglogistics có tác dụng như một chiếc cầu nối đưa hàng hóa đến các thị trường mới theo đúngyêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra

+ Logistics góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế

+ Ngoài ra, sự phát triển của logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra cuộc cáchmạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hànghóa càng được giảm tới mức tối đa và chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao

• Đối với nền kinh tế quốc dân:

+ Hệ thống Logistics đã góp phần vào việc phân bố các ngành sản xuất một cách hợp

lý để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

+ Logistics là mối liên kết kinh tế gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa một cách thông suốt, chuẩn xác, an toàn và giảm thiểu chi phí

Trang 10

+ Chi phí Logistics chiếm một khoản không nhỏ đối với nền kinh tế, nó tác động tới vàchịu tác động bởi các hoạt động kinh tế khác Một khi Logistics được phát triển sẽ làm giảmchi phí, đảm bảo về thời gian và chất lượng cho các hoạt động kinh tế khác.

• Đối với doanh nghiệp

+ Logistics là một nhân tố quan trọng bởi nó giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào chodoanh nghiệp một cách hiệu quả Không những thế, Logistics còn cung cấp sự hỗ trợ trên cácđiểm chuyển giao quyền sở hữu, nhờ đó quá trình từ sản xuất đến phân phối hàng hóa, dịch

vụ luôn được tối ưu hóa

+ Nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, làm cho quátrình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHUNG THỂ CHẾ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

LOGISTICS VIỆT NAM 2.1 Khung thể chế pháp lý.

2.1.1 Thực trạng:

Một yếu tố quan trọng không thể thiếu đó là xây dựng khung pháp lý và thể chế chohoạt động Logistics Có thể nói, khung thể chế và pháp lý chính là trí não của hệ thống Logistics

Chính vì vậy, các doanh nghiệp hiện đại luôn đòi hỏi một khung thể chế và pháp lýchặt chẽ, được điều chỉnh thường xuyên để ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu phát triểnkinh doanh và của hoạt động Logistics

• Thành tựu:

Việt nam, là một đất nước có hệ thống chính trị ổn định nhất trong khu vực và trên thếgiới, là một nước chỉ có duy nhất một Đảng Chính trị lãnh đạo, tình trạng khủng bố không có

Đây quả thực là một môi trường lý tưởng để hoạt động Logistics phát triển mạnh mẽ.

+ Các quy định điều chỉnh dịch vụ Logistics đã và đang được hoàn thiện với hệ thốngpháp luật điều chỉnh dần dần đầy đủ hơn Cụ thể, Luật thương mại 2005, Bộ Luật Hàng hải

2015 sửa đổi Bộ Luật Hàng hải 1990, các Luật Dân sự 2015 và Luật đầu tư 2014 ra đời phùhợp dần với luật quốc tế Đồng thời với Bộ luật Hàng hải, các luật về hàng không, đường bộ,

Trang 11

đường sắt, đường thủy nội địa, Luật Hải quan, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm cũng ra đời.

+ Điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics được quy định tại Nghị định số140/2007/NĐCP ngày 5/9/2007 quy định chi tiết Luật thương mại về điều kiện kinh doanhdịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logisticsqua 10 năm có hiệu lực đã được thay thế bởi Nghị định 163/2017/NĐ-CP về điều kiện kinhdoanh dịch vụ Logistics mang đến những quy định thay đổi để phù hợp với thực tiễn hoạtđộng và để phù hợp với những cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên

+ Hơn nữa, Việt Nam phê chuẩn Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại (TFA) từ tháng11/2015 Ngày 22/2/2017, TFA đã nhận được phê chuẩn cần thiết từ 2/3 trong tổng số 164 thànhviên của WTO và chính thức có hiệu lực TFA có hiệu lực hứa hẹn sẽ đẩy nhanh sự luân chuyển,thông quan và giải phóng hàng hóa; mở ra một thời kỳ mới cho cải cách, tạo thuận lợi thươngmại và tạo ra một động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động thương mại hàng hóa quốc tế, manglại lợi ích chung cho tất cả các quốc gia thành viên Việc triển khai đầy đủ TFA được dự báo sẽcắt giảm trung bình 14,3% chi phí thương mại của các quốc gia thành viên

+ Nhiều hoạt động mang tính chất thúc đẩy quá trình phát triển dịch vụ Logistics đượcthực hiện Theo Quyết định 07/QĐ-BNV ngày 04 tháng 1 năm 2013 về cho phép đổi tên hiệphội Giao nhận kho Vận Việt Nam thành Hiệp Hội doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Namnhằm mục đích hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong việc phát triển nghề nghiệp,nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên; trên cơ sở đó hội nhậpvới các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này trong khu vực và trên thế giới theo quy

định của pháp luật

+ Năm 2017, Việt Nam đã chủ động tham gia Hội nghị quốc tế hàng năm của Liênđoàn Giao nhận vận tải quốc tế (FIATA World Congress), một tổ chức bao gồm nhiều Hiệphội Logistics quốc gia VLA là đại diện Việt Nam tham dự sự kiện này Qua đó góp phầnnâng cao vai trò của ngành dịch vụ Logistics trên trường quốc tế VLA đã đặt vấn đề đăngcai tổ chức Đại hội này tại Việt Nam vào năm 2023, tuy nhiên cần có sự hỗ trợ của cơ quanchức năng và phải đấu thầu với các nước khác trước ít nhất là 3 năm

• Hạn chế:

+ Thứ nhất, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics còn

Trang 12

chồng chéo và chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn là ngành kinh doanh dịch vụ Logistics đangrất phát triển và phong phú Vì vậy, thị trường dịch vụ Logistics vẫn còn thiếu tính minhbạch, cạnh tranh chưa lành mạnh, chưa tạo điều kiện phát triển bền vững cho ngành.

+ Thứ hai, hệ thống thủ tục một số lĩnh vực của Logistics ở Việt Nam khá phức tạp và

tốn thời gian Cụ thể như cùng một mặt hàng có mã hải quan như nhau thì có thể có nhữngmức thuế suất áp đặt khác nhau tùy vào từng địa phương Ngay cả giữa các cơ quan

hải quan ở mỗi địa phương cũng chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau dẫn đến mấtthời gian và chi phí của các doanh nghiệp Thủ tục hải quan ở Việt Nam còn rất rườm ràphải trải qua nhiều khâu, nhiều cấp quản lý, tỷ lệ kiểm hóa và kiểm định cao

So sánh hiệu quả của các quy trình xuất nhập khẩu của Việt Nam vớiSingapore, Malaysia và Thái Lan Nguồn: Tổng hợp từ Domestic LPI

Report, Ngân hàng Thế giới

Trang 13

Thông quan và giao 57.14% 100% 100% 50%

+ Thứ ba, về chính sách phát triển ngành dịch vụ Logistics, cho đến nay, Chính phủ

hầu như chưa có chính sách ưu tiên hỗ trợ về vốn, lãi suất hay ưu đãi thuế đối với cáccông ty kinh doanh dịch vụ Logistics để khuyến khích sự phát triển của lĩnh vực này

+ Thứ tư, đặc biệt chưa có một cơ quan chính thức nào điều hành hoạt động Logistics.

Ngành kinh doanh dịch vụ Logistics là một ngành đặc thù, không tránh khỏi sự chồngchéo và phức tạp, có thể gây khó dễ cho các nhà đầu tư Đây là một trong những khókhăn rất lớn ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành dịch vụ Logistics tại Việt Nam

2.1.2 Giải pháp:

Một là, xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất điều chỉnh hoạt động kinh

doanh dịch vụ Logistics Hiện nay các văn bản pháp luật đã tương đối đầy đủ và dần đượchoàn thiện, đáng chú ý là Nghị định 163/2017 về kinh doanh dich vụ Logistics có hiệu lực vào 20 tháng 2 năm 2018

Thứ hai, nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với dịch vụ Logistics, giảm thiểu

số lượng thủ tục hành chính liên quan, cải thiện công tác và thủ tục thông quan, đưa côngnghệ thông tin hiện đại vào các giai đoạn của Logistics

Trang 14

Thứ ba, cần ban hành các chính sách ưu đãi phát triển đầu tư Logistics hơn nữa.

Cần có những chính sách để ưu đãi nhà đầu tư trong lĩnh vực này vì thị trường vẫn còn cónhiều tiềm năng khai thác với các điều kiện thuận lợi như có bờ biển dài và hệ thống giaothông đã dần phát triển Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho Logistics cảng như đẩynhanh tiến trình giảm thuế nhập khẩu, ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính

Thứ tư, có chính sách phát triển về cơ sở hạ tầng dài hạn và chia ra thành các kế

hoạch ngắn hạn phù hợp với lộ trình chính sách và mục tiêu phát triển ngành Cần xây dựng

kế hoạch phát triển dài hạn, cần dự báo khả năng phát triển của Logistics để có những

phương án đón đầu phù hợp Mô hình kế hoạch phát triển dài hạn HsỲợp lý nhất cho Việt Nam là một kế hoạch tổng thể nhưng trong đó bao gồm nhiều lộ trình ngắn hạn, xây dựng

kế hoạch phát triển Logistics trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia

Thứ năm, bởi Logistics là một lĩnh vực liên quan đến nhiều ngành, từ sản xuất,

thương mại đến giao thông nên cần có sự chủ trì thống nhất từ cấp cao nhất và cần có một

cơ quan đứng ra để thống nhất quản lý phát triển Logistics Kiến nghị thành lập ủy ban phối hợp về Logistics quốc gia Việt Nam, có thể gồm đại diện cấp cao của nhiều bộ ngành và Chính phủ Một số quốc gia đã triển khai các hình thức tổ chức này và đã thành công như Australia, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia

Thứ sáu, có các chính sách tập trung phát triển nguồn nhân lực Khi có khung pháp

luật hoàn chỉnh, có hệ thống cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin hoàn thiện thì cần nguồnnhân lực có chất lượng cao để vận hành Tập trung xây dựng trung tâm, viện nghiên cứuchuyên về lĩnh vực Logistics; đào tạo kỹ năng, kỷ luật và tác phong làm việc của nguồnnhân lực hiện tại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hoạt động Logistics

2.2 Cơ sở hạ tầng.

2.2.1 Thực trạng:

+ Đường biển: Mặc dù tốc độ vận chuyển tương đối chậm và bị lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nhưng vận tải biển vẫn luôn giữ vai trò quan trọng nhất trong hệ thống vận tải quốc tế và có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy thương mại quốc tế Khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường biển không ngừng tăng qua các năm và theo số liệu thống

kê của UNTACD, tổng số lượng hàng hoá chuyên chở trong buôn bán quốc tế đạt hơn

Trang 15

7 tỷ tấn mỗi năm thì khối lượng hàng hoá chuyên chở thông qua vận tải biển luôn chiếmkhoảng 80%.

+ Đường sông: Chủ yếu là các tàu thuyền cỡ nhỏ, chuyên dùng để chở các loại hànghóa giá trị thấp như: than, gạo, cát, đá, và các loại vật liệu khác, việc chuyên chở bằng đườngsông với khối lượng lớn rất thuận tiện và hiệu quả

+ Đường bộ: Hệ thống đường bộ Việt Nam hiện có tổng chiều dài 570.448km, trong

đó quốc lộ 24.136km, đường cao tốc 816km, đường tỉnh 25.741km, còn lại là đường giaothông nông thôn (Bộ GTVT, 2018)

+ Đường sắt: Mạng lưới đường sắt quốc gia Việt Nam có 7 tuyến chính với tổng chiềudài gần 3.160km, mật độ đạt 7,9km/1000km2 , trong đó 2.646km đường chính tuyến

và 514km đường ga/ nhánh, bao gồm 3 loại khổ ray mà chủ yếu là khổ đường

1,000mm (chiếm 84%), còn lại là khổ đường 1.435mm (6%) và khổ đường lồng (9%)

+Đường hàng không: Việt Nam sẽ khai thác tổng cộng 28 sân bay gồm 15 sân bay quốc nội và 13 sân bay quốc tế, trong đó Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Tân Sơn Nhất, LongThành là các cửa ngõ quốc tế trọng điểm Dự kiến, đến năm 2020, tổng sản lượng thông qua các cảng hàng không đạt khoảng 131 triệu hành khách/năm và 2,2 triệu tấn hàng hóa/năm

+ Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) hay cơ sở hạ tầng “mềm” đang đóng vai

trò hết sức quan trọng, là nền tảng hạ tầng tạo ra các công cụ và tiện ích để phát triển các

ngành công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại hóa, tạo ra sức mạnh cạnh tranh củatừng địa phương, từng khu vực và mọi quốc gia

- CNTT cũng chỉ mới được đánh giá cao và chú trọng đầu tư trong những nămgần đây

- Ở nước ta còn thiếu các hệ thống chuẩn mực cho hệ thống CNTT, nên các doanh nghiệp nhỏ khi lên mạng còn gặp rất nhiều khó khăn về độ an toàn, bảomật, quản lý hàng hóa và giao nhận…

- Mạng lưới cáp quang, cáp đồng, điện thoại đã được phủ sóng khắp mọi miềnđất nước, vươn tới cả các vùng ngoại thành, vùng núi, hải đảo

2.2.2 Ưu, nhược điểm:

• Ưu điểm +

Đường biển:

Trang 16

- Vận tải đường biển có năng lực chuyên chở lớn, thích hợp cho việc vận chuyểnhầu hết các loại hàng hoá; các tuyến đường hàng hải hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên nên chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường thấp.

- Cảng biển được xem là nơi thu hút các hoạt động kinh tế, là điểm đầu mối củahoạt động vận tải

- Giá thành đường biển là thấp nhất; hiệu quả sử dụng nhiên liệu là cao nhất, và rất thân thiện với môi trường

+ Đường sông: Cũng như với vận tải biển, khả năng vận chuyển của vận tải đường thủy nội địa là khá cao, giá thành hạ, ít gây ô nhiễm môi trường so với các phương thức vậntải khác, đáp ứng được việc chuyên chở khối lượng lớn cho các khu công nghiệp, chuyên chở hàng siêu trường siêu trọng

+ Đường bộ:

- Vận tải đường bộ có tính linh hoạt và cơ động cao, tốc độ tương đối, không đòihỏi phải có các qui trình kĩ thuật quá phức tạp như vận tải hàng không, thủ tục cũng thường đơn giản hơn

- Có khả năng chuyên chở hàng hóa trực tiếp đến nơi giao hàng mà khôngnhất thiết phải liên kết với các phương thức vận tải khác

- Giá thành xây dựng đường bộ tương đối thấp, trong trường hợp chưa có

nhiều vốn thì có thể xây dựng loại đường bộ cấp thấp với chi phí rất nhỏ.+ Đường sắt:

- Có năng lực vận chuyển lớn, tốc độ vận chuyển cao, thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại hàng

- Có khả năng thực hiện quanh năm, ít chịu tác động của thời tiết, khí hậu, antoàn, liên tục, ổn định, giá thành thấp

+ Đường hàng không:

- Tốc độ rất cao, tốc độ khai thác lớn, thời gian vận chuyển nhanh

- Sử dụng công nghệ cao, đơn giản hoá về về chứng từ thủ tục, và an toàn hơn.+ Hạ tầng CNTT có nhiều ưu điểm vượt trội như ít ma sát, “năng động” hơn hạ tầng vật chất, ít va chạm giữa các bộ phận, và đặc biệt có tính bảo mật cao

• Hạn chế:

Trang 17

+ Đường biển:

- Tốc độ của tàu biển rất chậm, chậm hơn rất nhiều so với xe lửa và đương

nhiên không thể so sánh được với máy bay vì vậy, trong nhiều trường hợp, vận tải biển không thể đáp ứng khi hàng hóa có nhu cầu vận chuyển nhanh

- Vận tải biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu, thời tiết

+ Đường sông: Tuy nhiên, các tuyến đường vận tải hầu hết vẫn là những tuyến đường giao thông tự nhiên và còn phụ thuộc rất nhiều vào điệu kiện tự nhiên

+ Đường bộ:

- Giá cước rất cao

- Không thích hợp chuyên chở những mặt hàng có giá trị thấp như nguyên nhiênliệu, bán thành phẩm có giá trị thấp…

- Ngoài ra còn bị lệ thuộc nhiều vào các điều kiện thiên nhiên như sự gồ ghề củamặt đất, mưa hay gió bão ở mức trung bình

- Giá cước cao

- Không thích hợp vận chuyển hàng hóa giá trị thấp, khối lượng lớn, cồng kềnh

- Đòi hỏi vốn đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đào tạo nhân lực phục vụ

+ Hạ tầng CNTT: Vấn đề này đòi hỏi các nhà quy hoạch phải có một tầm nhìn, địnhhướng đúng đắn

- Vẫn còn nhiều yếu kém, không đồng bộ, thiếu kết nối mạng hoặc kết nốikhông thông suốt

- Cơ sở hạ tầng đường truyền cố định chưa đáng tin cậy và diện phủ sóng cònkém

Trang 18

- Chi phí đầu tư và duy trì mạng lưới của các doanh nghiệp viễn thông hiện rấtlớn.

2.2.3 Giải pháp: Cần tăng cường chất lượng, giảm giá thành:

+ Việt Nam phải tận dụng tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự phát triển vượtbậc của công nghệ thông tin, nhằm giảm bớt thủ tục và thời gian chờ đợi của các doanh nghiệp

+ Về phía Nhà nước, cần kiên quyết cắt giảm các loại phí và thủ tục không phù hợp

Ngành Logistics cần có những bước cải thiện, cải tiến nhằm giảm chi phí cả về thời gian lẫn tiền bạc

+Một trong những bước đi đầu tiên đó là việc tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tăng cường kết nối

+ Việt Nam nên thay đổi việc phụ thuộc quá nhiều vào đầu tư công để chuyển dịch sang khuvực tư nhân Cần thiết lập sự ưu tiên rõ ràng cho việc đầu tư thiết yếu, đó mới chính là

chìa khóa để có hệ thống kết nối tốt hơn, tạo đà cho phát triển ngành Logistics

+ Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực;

+ Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo kết nối các phương thức vận tải

+ Huy động mọi nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông;

Tóm lại: Hệ thống cơ sở hạ tầng cần được phát triển tùy thuộc và tương thích với đặc điểm

địa lý của mỗi quốc gia Ví dụ minh họa điển hình là Singapore, một trong những nước đi đầu về phát triển Logistics tại khu vực Đông Nam Á, và thế giới ngày nay Diện tích đất nước nhỏ không cho phép Singapore xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng vận tải với nhiều cảng biển, sân bay và thực tế hiện nay tại Singapore không có mạng lưới đường sắt riêng,

mà chỉ có một tuyến đường sắt nằm trong mạng lưới đường sắt Malaysia Đặc điểm về địa lýkhiến Singapore hướng đến chiến lược xây dựng một sân bay, một cảng biển và hệ thống đường bộ, tất cả đều được tập trung đầu tư theo chiều sâu, không bị dàn trải và đều rất hiện đại

Ngày đăng: 08/05/2023, 02:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w