TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯBẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚITHỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ I TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯ BẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Họ và tên NG.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ I
TRÌNH BÀY HÌNH THỨC XUẤT KHẨU TƯ BẢN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ? LIÊN HỆ VỚI
THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Họ và tên: NGUYỄN THANH TÙNG
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN A: MỞ ĐẦU 1
PHẦN B: NỘI DUNG CHÍNH 2
Chương 1: Lý luận xuất khẩu tư bản 2
1.1 Bản chuất xuất khẩu tư bản 2
1.2 Các hình thức và hậu quả của xuất khẩu tư bản 2
1.3 Những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản trong giai đoạn phát triển hiện này 4
Chương 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và các đặc điểm của nó 6
2.1 Đặc trưng của đầu tư trực tiếp nước ngoài 6
2.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 6
Chương 3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và những giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam 8
3.1 Thực trạng về dòng vốn FDI tại Việt Nam hiện nay 8
3.1.1 Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam năm 2022 8
3.1.2 Vai trò của dòng vốn FDI đối với nền kinh tế Việt Nam 11
3.1.3 Những thành tựu đạt được 11
3.1.4 Những hạn chế còn tồn tại 12
3.2 Triển vọng cho dòng vốn FDI tại Việt Nam 14
3.3 Giải pháp thu hút FDI trong thời gian tới 17
PHẦN C: KẾT LUẬN 21
Trang 3PHẦN A: MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong phát triển kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm, giải quyết tốt vấn đề lương thực, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, Tuy nhiên, Việt Nam cũng còn đang phải đối phó với những thách thức to lớn trong quá trình phát triển Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam thiếu vốn, thị trường, công nghệ và những kinh nghiệm trong quản lý để xây dựng và phát triển kinh tế
Đầu tư nước ngoài là một hình thức đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước đang phát triển Đầu tư nước ngoài và đi kèm với nó là sự chuyển giao về vốn, công nghệ, thị trường và các kinh nghiệm trong quản lý đáp ứng nhu cầu của các nước đang phát triển, đồng thời góp phần tạo việc làm cho người lao động, góp phần vào tăng GDP và kim ngạch xuất khẩu Qua gần 40 năm mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư đăng ký đạt hàng trăm tỷ USD Đây là nguồn lực quý báu để xây dựng và phát triển kinh tế Việt Nam Nước ta đã và đang tiến hành từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới Bên cạnh việc tiếp tục thúc đẩy quan hệ song phương về các mặt thương mại, đầu tư và trao đổi trên nhiều lĩnh vực khác theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá, từng bước đảm bảo thực hiện quyền tự do hợp tác kinh doanh với nước ngoài đối với mọi doanh nghiệp, nước ta tham gia đầy đủ hơn vào cơ chế đa phương nhằm thu hút tối đa nguồn lực bên ngoài cho phát triển, thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế thị trường
Trang 4PHẦN B: NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN XUẤT KHẨU TƯ BẢN
1.1 Bản chất của xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở các nước nhập khẩu tư bản Lênin
khẳng định rằng, xuất khẩu tư bản khác về nguyên tắc với xuất khẩu hàng hóa
và là quá trình ăn bám bình phương Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến vì:
Một là, trong một số ít nước phát triển đã tích luỹ được một khối lượng
lớn tư bản kếch xù và một bộ phận đã trở thành “tư bản thừa” do không tìm được nơi đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao ở trong nước
Hai là, khả năng xuất khẩu tư bản xuất hiện do nhiều nước lạc hậu về
kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới, nhưng lại rất thiếu tư bản Các nước đó giá ruộng đất lại tương đối hạ, tiền lương thấp, nguyên liệu rẻ, nên
tỷ suất lợi nhuận cao
Ba là, chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn kinh tế - xã hội càng
gay gắt Xuất khẩu tư bản trở thành biện pháp làm giảm mức gay gắt đó
1.2 Các hình thức và hậu quả của xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản tồn tại dưới nhiều hình thức, nếu xét cách thức đầu tư thì có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:
nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nó thành một chi nhánh của công ty mẹ Các xí nghiệp mới được hình thành thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp song phương, nhưng cũng có những xí nghiệp
mà toàn bộ số vốn là của một công ty nước ngoài
lãi Thông qua các ngân hàng tư nhân hoặc các trung tâm tín dụng quốc tế và quốc gia, tư nhân hoặc các nhà tư bản cho các nước khác vay vốn theo nhiều hạn
Trang 5định khác nhau để đầu tư vào các đề án phát triển kinh tế Ngày nay, hình thức này còn được thực hiện bằng việc mua trái khoán hay cổ phiếu của các công ty ở nước nhập khẩu tư bản
Nếu xét theo chủ sở hữu, có xuất khẩu tư bản nhà nước và xuất khẩu tư bản tư nhân:
- Xuất khẩu tư bản nhà nước là hình thức xuất khẩu tư bản mà nhà
nước tư sản lấy tư bản từ ngân quỹ của mình đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản, hoặc viện trợ hoàn lại hay không hoàn lại để thực hiện những mục tiêu về kinh
- Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu tư bản do tư bản tư
nhân thực hiện Ngày nay, hình thức này chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia tiến hành thông qua hoạt động đầu tư kinh doanh Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức chủ yếu của xuất khẩu tư bản, có xu hướng tăng nhanh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng tư bản xuất khẩu
Nếu xét về cách thức hoạt động , có các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia, hoạt động tài chính tín dụng của các ngân hàng hay các trung tâm tín dụng và chuyển giao công nghệ, trong đó, hoạt động dưới hình thức chuyển giao công nghệ là biện pháp chủ yếu mà các nước xuất khẩu tư bản thường sử dụng
để khống chế nền kinh tế của các nước nhập khẩu tư bản Xuất khẩu tư bản về thực chất là hình thức mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi quốc tế, là sự bành trường thế lực của tư bản tài chính nhằm bóc lột nhân dân lao động thế giới, làm cho các nước nhập khẩu tư bản bị bóc lột gía trị thặng dư, cơ cấu kinh tế què quặt, lệ thuộc vào nền kinh tế nước tư bản chủ nghĩa Từ đó làm cho mâu thuẫn kinh tế - xã hội gia tăng
Trang 61.3 Những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản trong giai đoạn phát triển hiện nay
Ngày nay , trong điều kiện lịch sử mới, xuất khẩu tư bản đã có sự biến đổi lớn
Thứ nhất là hướng xuất khẩu tư bản đã có sự thay đổi cơ bản Trước kia,
luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản phát triển sang các nước kém phát triển Nhưng những thập kỷ gần đây đại bộ phận dòng đầu tư lại chảy qua lại giữa các nước tư bản phát triển với nhau Tỷ trọng xuất khẩu tư bản giữa ba trung tâm tư bản chủ nghĩa tăng nhanh, đặc biệt dòng đầu tư chảy mạnh theo hướng từ Nhật Bản vào Mỹ và Tây Âu, cũng như từ Tây Âu chảy sang Mỹ làm cho luồng xuất khẩu tư bản vào các nước đang phát triển giảm mạnh Trước tình hình đó, nhiều nhà lý luận tư sản cho rằng, xuất khẩu tư bản không còn là thủ đoạn và phương tiện mà các nước giàu dùng để bóc lột các nước nghèo Theo
họ, xuất khẩu tư bản đã trút bỏ bản chất cũ của nó và trở thành hình thức hợp tác cùng có lợi trong mối quan hệ quốc tế Sự hợp tác này diễn ra chủ yếu giữa các nước tư bản phát triển với nhau Đó là quan niệm hoàn toàn sai lầm
Sự biến động về khu vực và tỷ trọng đầu tư của các nước tư bản phát triển không làm cho bản chất của xuất khẩu tư bản thay đổi , mà chỉ làm cho hình thức và xu hướng của xuất khẩu tư bản thêm phong phú và phức tạp hơn Rõ ràng, khi chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại thì xuất khẩu tư bản từ các nước tư bản phát triển sang các nước đang phát triển là điều không tránh khỏi Xét trong một giai đoạn phát triển nhất định, có thể diễn ra sự thay đổi tỷ trọng tư bản đầu tư vào khu vực nào đó của thế giới, nhưng phân tích một thời kỳ dài hơn của quy
mô thế giới cho thấy: xuất khẩu tư bản vẫn là vũ khí chủ yếu mà tư bản độc quyền sử dụng để bành trướng ra nước ngoài
Thứ hai là chủ thể xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn, trong đó vai trò
các công ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu tư bản ngày càng to lớn, đặc biệt là trong FDI Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu tư bản từ các nước đang phát triển mà nổi bật là các Nics châu Á
Thứ ba là hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan quyện giữa xuất
khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hoá tăng lên Chẳng hạn, trong đầu tư trực tiếp xuất hiện những hình thức mới như BOT, BT sự kết hợp giữa xuất khẩu tư bản với các hợp đồng buôn bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám không ngừng tăng lên
Trang 7Thứ tư là sự áp đặt mang tính thực dân trong xuất khẩu tư bản đã được gỡ
bỏ dần và nguyên tắc cùng có lợi được đề cao
Ngày nay, xuất khẩu tư bản luôn thể hiện kết quả hai mặt Một mặt, nó làm cho các quan hệ tư bản chủ nghĩa được phát triển và mở rộng ra trên toàn thế giới, góp phần thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công lao động và quốc
tế hoá đời sống kinh tế của nhiều nước; là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng tác động từ bên ngoài vào làm cho quá trình công nghiệp hoá và tái công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước nhập khẩu tư bản phát triển nhanh chóng Song mặt khác, xuất khẩu tư bản vẫn để lại cho các quốc gia nhập khẩu tư bản, nhất là với các nước đang phát triển những hậu quả nặng nề như: nền kinh tế phát triển mất cân đối và lệ thuộc, nợ nần chồng chất do bị bóc lột quá nặng nề Song điều này tuỳ thuộc một phần rất lớn vào vai trò quản lý của nhà nước ở các nước nhập khẩu tư bản Lợi dụng mặt tích cực của xuất khẩu tư bản , nhiều nước
đã mở rộng việc tiếp nhận đầu tư để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá ở nứơc mình Vấn đề đặt ra là phải biết vận dụng mềm dẻo,linh hoạt, dựa trên nguyên tắc cùng có lợi, lựa chọn phương án thiết thực, để khai thác nguồn lực quốc tế có hiệu quả
Trang 8CHƯƠNG 2: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CÁC
ĐẶC ĐIỂM CỦA NÓ
2.1 Đặc trưng của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư nước ngoài Sự ra đời và phát triển của nó là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế và phân công lao động quốc tế
Qua xem xét các định nghĩa về đầu tư nước ngoài có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của đầu tư nước ngoài như sau:
Một là , sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác
Hai là, vốn được huy động vào các mục đích thực hiện các hoạt động
kinh tế và kinh doanh
2.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc điểm sau:
Một là , các chủ đầu tư phải đóng góp một khối lượng vốn tối thiểu theo
quy định của từng quốc gia Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án
Hai là, sự phân chia quyền quản lý các doanh nghiệp phụ thuộc vào mức
độ đóng góp vốn Nếu đóng góp 10% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý
Ba là, lợi nhuận của các chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh
doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ phần
Bốn là, FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới,
mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau
Năm là, FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với
chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra
Trang 9thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư
Sáu là, FDI hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của
các công ty đa quốc gia
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Nếu căn cứ tính chất pháp lý của đầu tư nước ngoài trực tiếp có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành các loại hợp đồng và hợp tác kinh doanh đó là: doanh nghiệp liên doanh,doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Ngoài ra còn có thêm hình thức đầu tư khác đó là hợp đồng xây dựng – kinh doanh- chuyển giao (BOT) Trong các hình thức trên thì doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn là hình thức pháp nhân mới và luật Việt Nam gọi chung là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư có thể chia FDI thành hai loại đầu tư tập trung trong khu chế xuất và đầu tư phân tán Mỗi loại đầu tư trên đều có ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệp ở từng quốc gia
- Nếu căn cứ vào quá trình tái sản xuất có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, đầu tư vào cung ứng nguyên liệu, đầu tư vào sản xuất, đầu tư vào tiêu thụ sản phẩm…
- Nếu căn cứ vào lĩnh vực đầu tư có thể chia FDI thành các loại như đầu
tư công nghiệp, nông nghiệp , dịch vụ
Theo luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam, các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bao gồm 3 hình thức như sau:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Doanh nghiệp liên doanh
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Hàng đổi hàng – Phương thức đầu tư thu hút nước ngoài quan trọng đối với các nước đang phát triển
Trang 10CHƯƠNG 3: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀO VIỆT NAM
3.1 Thực trạng về dòng vốn FDI tại Việt Nam hiện nay
3.1.1 Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam năm 2022
Năm 2022, tổng vốn FDI đăng kí vào Việt Nam đạt gần 27,72 tỉ USD, mức vốn FDI thực hiện đạt kỉ lục 22,4 tỉ USD, tăng 13,5% so với cùng kì năm
2021 Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm (2017 - 2022) Tính lũy
kế trong giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn FDI; trong đó, 274 tỉ USD đã được giải ngân, chiếm 62,5% tổng vốn đầu tư đăng kí còn hiệu lực
Một số dự án được khởi công mới với số vốn lớn như Nhà máy bia
Heineken được khánh thành tháng 9/2022 tại Vũng Tàu Với tổng đầu tư sau khi tăng vốn là 9.151 tỉ đồng, công suất 1,1 tỉ lít/năm, cao gấp 36 lần so với trước
Là nhà máy bia lớn nhất Đông Nam Á, Heineken có dây chuyền đóng lon nhanh nhất trong các nhà máy bia Heineken trên toàn thế giới Dự án Nhà máy Điện khí LNG Quảng Ninh của Nhật Bản được cấp mới giấy chứng nhận đăng kí đầu
tư, với tổng vốn đầu tư gần 2 tỉ USD, được khởi động tháng 10/2022
Quy mô đầu tư: Năm 2022, nhiều dự án được tăng vốn đầu tư từ đầu năm như dự án sản xuất, chế tạo các sản phẩm điện tử, công nghệ cao được tăng vốn với quy mô lớn; Dự án Samsung Electro-mechanics Việt Nam (Thái Nguyên) tăng vốn hai lần: Tăng 920 triệu USD (lần 1) và tăng 267 triệu USD (lần 2); Dự
án Công ty TNHH Điện tử Samsung HCMC CE Complex tăng vốn trên 841 triệu USD; Dự án nhà máy chế tạo điện tử, phương tiện thiết bị mạng và sản phẩm âm thanh đa phương tiện tại Bắc Ninh (tăng 306 triệu USD), tại Nghệ An (tăng 260 triệu USD) và tại Hải Phòng (tăng 127 triệu USD)
Đối tác đầu tư: Năm 2022, có 108 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam; trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư gần 6,46 tỉ USD, Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 4,88 tỉ USD, Nhật Bản đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng kí hơn 4,78 tỉ USD, tiếp theo là Trung Quốc (2,52 tỉ USD), Hồng Kông (2,22 tỉ USD) (Bảng 1)
Trang 11
Bảng 1: Top 5 nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam năm 2022
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (số liệu đến ngày 20/12/2022)
Năm 2022, Hàn Quốc vẫn là đối tác đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư mới cũng như mở rộng dự án đầu tư và góp vốn, mua cổ phần nhiều nhất (chiếm 20,4% số dự án mới, 32,6% số lượt điều chỉnh và 34,1% số lượt góp vốn, mua
Xét về số lượng dự án mới, các ngành bán buôn và bán lẻ, công nghiệp chế biến, chế tạo và hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ thu hút được nhiều dự án nhất, chiếm lần lượt là 30%, 25,1% và 16,3% tổng số dự án Việt Nam là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và đang đứng trước
cơ hội vàng để thu hút lượng vốn đầu tư lớn vào các khu kinh tế, khu công
nghiệp
Phân bổ đầu tư: Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 54 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 2022 Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng kí hơn 3,94 tỉ USD, chiếm 14,2% tổng vốn đầu tư đăng kí và tăng 5,4% so với cùng kì năm 2021 Bình Dương đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư hơn 3,14 tỉ USD, chiếm 11,3% tổng vốn, tăng 47,3% so với cùng kì năm 2021 Quảng Ninh xếp thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng kí gần 2,37 tỉ USD, chiếm 8,5% tổng vốn và tăng gấp hơn hai lần so với cùng kì năm 2021
Về số dự án mới, các nhà đầu tư nước ngoài tập trung đầu tư nhiều tại các thành phố lớn, có cơ sở hạ tầng thuận lợi như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu về số dự án mới (43,9%), số lượt góp vốn mua
cổ phần (67,6%) và đứng thứ hai về số lượt dự án điều chỉnh vốn (17,3% sau Hà Nội (18,6%)
Trang 12Hình thức đầu tư: Năm 2022, tổng vốn đăng kí cấp mới, vốn đăng kí tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 27,72 tỉ USD; trong đó, vốn đăng kí cấp mới tuy giảm, song số dự án đầu tư mới tăng lên, vốn đầu tư điều chỉnh cũng tăng so với cùng kì năm 2021
Bảng 2: Tổng vốn FDI vào Việt Nam năm 2022
Đơn vị: Tỉ USD
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (số liệu đến ngày 20/12/2022)
Mặc dù vốn đăng kí cấp mới giảm (18,4%), song vốn đầu tư nước ngoài giải ngân đạt gần 22,4 tỉ USD, tăng 13,5% so với cùng kì năm 2021 và số dự án đầu tư mới tăng lên (tăng 17,1%, đạt 2.036 dự án) so với cùng kì năm 2021 Mức giải ngân tăng cao là tín hiệu tốt cho thấy, các doanh nghiệp đang dần phục hồi, duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh sau đại dịch Covid-19 Thêm nữa, một số tập đoàn lớn của Hàn Quốc đang nghiên cứu, tìm hiểu và dự kiến sẽ triển khai các dự án đầu tư trong thời gian tới
Số vốn đăng kí thêm tăng 12,2% và số lượt điều chỉnh tăng 12,4% với 1.107 lượt điều chỉnh năm 2022 so với cùng kì năm 2021 đã khẳng định niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với kinh tế, môi trường đầu tư của Việt Nam Nhờ vậy, các nhà đầu tư nước ngoài đã quyết định đầu tư mở rộng nhiều dự án hiện hữu Việc các nhà đầu tư nước ngoài liên tục tăng vốn đầu tư vào Việt Nam cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đặt niềm tin vào nền kinh tế, môi trường đầu tư của Việt Nam, nên đã đưa ra các quyết định mở rộng đầu tư
dự án hiện hữu
Nhiều nhà đầu tư lớn trên thế giới như Apple, Goertek, Foxconn,
Luxshare đang có kế hoạch chuyển các hoạt động sản xuất và tăng vốn đầu tư vào Việt Nam Apple đã chuyển 11 nhà máy của các doanh nghiệp Đài Loan trong chuỗi cung ứng của hãng sang Việt Nam càng khẳng định bước “chuyển mình” để Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất mới của thế giới Những động thái của các nhà đầu tư nước ngoài càng chứng tỏ, Việt Nam đang thực sự trở thành trung tâm sản xuất mới của thế giới, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ cao Theo JP Morgan, Việt Nam sẽ đóng góp 20% tổng sản lượng iPad và Apple Watch, khoảng 5% MacBook và 65% AirPods vào năm 2025 Việt Nam đang nổi lên như một trung tâm sản xuất linh kiện và dịch vụ sản xuất điện tử đối với các sản phẩm có khối lượng nhỏ (Apple Watch, Mac, iPad) và đang trở thành trung tâm sản xuất AirPods chính