1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự

17 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật dân sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 39,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trong quan hệ dân sự, khả năng các chủ thể có thể bị xâm phạm về quyền và lợi ích là rất lớn Vì vậy, nếu pháp luật chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các nên trong pháp luật nột.

Trang 1

MỞ ĐẦU Trong quan hệ dân sự, khả năng các chủ thể có thể bị xâm phạm về quyền

và lợi ích là rất lớn Vì vậy, nếu pháp luật chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các nên trong pháp luật nột dung là chưa đủ mà cần có một cơ chế

để đảm bảo quyền và nghĩa vụ đó được thực hiện trên thực tế Một trong các cơ chế đó là Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật nội dung theo tố tụng dân sự Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS)

để thay thế cho BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 đã có những quy định mới về vấn đề thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án, đặc biệt là thẩm quyền theo lãnh thổ

Chính vì vậy, nhóm chúng em lựa chọn đề tài bài tập nhóm là: “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự”

NỘI DUNG

1 Khái quát chung về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ 1.1 Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ

Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền là một khái niệm quan trọng, trung tâm

Theo cách giải thích của Từ điển Tiếng Việt thì “thẩm quyền là quyền xem xét để

kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật” 1 Tiếp cận dưới góc độ pháp lý

thì thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định Như vậy có thể hiểu thẩm quyền là quyền của một chủ thể nhất định, là khả năng mà pháp luật cho phép được thực hiện một công việc trong một lĩnh vực, phạm vi nhất định Thẩm quyền là một khái niệm gắn liền với phạm trù nhà nước, luôn được xác định đối với mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước hay còn gọi là cơ quan công quyền2

Thông qua khái niệm về thẩm quyền, có thể hiểu thẩm quyền dân sự của Tòa

án là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi

1 Viện Ngôn ngữ học (2003), từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, trg 992

2 Trần Cảnh Vinh (2018) – Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ và thực tiễn

tại các Tòa án ở tỉnh Sơn La – Luận văn thạc sĩ luật học – Trường Đại học Luật Hà Nội, trg 8

Trang 2

xem xét, giải quyết các vụ việc đó theo trình tự tố tụng dân sự của Tòa án3 Thực hiện theo quy định tại Điều 17 BLTTDS năm 2015 về “Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm” thì đầu tiên sẽ xét xử sơ thẩm, nếu sau xét xử sơ thẩm mà đương

sự kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị với bản án, quyết định sơ thẩm thì Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử phúc thẩm lại

Theo từ điển Luật học thì sơ thẩm được hiểu là “xét xử lần đầu” Chính vì vậy, thẩm quyền sơ thẩm dân sự của toàn án được hiểu là quyền của Tòa án trong việc xem xét, giải quyết các vụ việc dân sự và quyền ra bản án, quyết định khi lần đầu tiên giải quyết vụ việc đó theo trình tự tố tụng dân sự Ở Việt Nam, thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án được tiếp cận dưới 03 góc độ là: thẩm quyền sơ thẩm dân

sự theo loại việc; thẩm quyền sơ thẩm dân sự theo cấp và thẩm quyền sơ thẩm dân

sự theo lãnh thổ

Khái niệm thẩm quyền dân sự sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ được hiểu là quyền của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc xem xét giải quyết các vụ việc dân sự và quyền hạn ra bản án, quyết định khi giải quyết các vụ việc dân sự lần đầu tiên giải quyết các vụ việc đó được xác định dựa trên nơi cư trú nơi có có trụ sở của một trong các bên đương sự, nơi có bất động sản hoặc nơi phát sinh sự kiện hoặc các dấu hiệu khác mà pháp luật quy định

1.2 Cơ sở xác định thẩm quyền dân sự sơ thẩm theo lãnh thổ

Cơ sở xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự Tòa án theo lãnh thổ: được quy định tại điều 35 bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.Việc xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền sơ thẩm vụ việc dân sự giữa các tòa án với nhau Hiện nay, các quy định của BLTTDS về xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ cũng dựa trên cơ sở nhất định

Về nguyên tắc, việc xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ phải được tiến hành trên cơ sở đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự của tòa án được nhanh chóng đúng đắn, bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; tạo thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng, tránh việc chồng chéo trong việc thực hiện thẩm quyền giữa các tòa án cùng cấp Bên cạnh đó giải quyết các vụ việc cũng tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự trong việc tham

3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, NXB Công an nhân dân,

trg 59

Trang 3

gia vào quá trình tố tụng cũng như cung cấp chứng cứ, đi lại có mặt khi được tòa

án triệu tập Như vậy có thể thấy việc xét xử được thuận lợi, tiết kiệm công sức, tiền bạc và thời gian của người tham gia tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng

Ngoài ra, việc phân định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ còn phải đảm bảo quyết định tự định đoạt của đương sự Trong một số trường hợp pháp luật quy định cho nguyên đơn người, người yêu cầu có quyền lựa chọn một trong các tòa án có yêu cầu giải quyết vụ việc mà không phụ thuộc vào ý chí của bị đơn, người bị yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự

1.3 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ có ý nghĩa hết sức quan trọng với cả Tòa án và đương sự Cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với Tòa án: Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xác định

một vụ việc cụ thể có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không, tránh được việc áp dụng không thống nhất trong thực tiễn gây kéo dài thời gian giải quyết do

vụ việc phải chuyển đi chuyển lại giữa các Tòa án, quyết định bị hủy để xét xử lại

do vi phạm về thẩm quyền Đồng thời thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ là cơ sở để giải quyết trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền xét xử sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau Mặt khác, quy định về thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của Tòa án giúp tránh việc đương sự lạm dụng quyền khởi kiện để cùng một lúc khởi kiện vụ việc ở nhiều Tòa án khác nhau gây ra tình trạng có nhiều tòa

án cùng giải quyết một vụ việc và ra những phán quyết trái ngược nhau gây mất niềm tin và khó khăn cho cơ quan thi hành án

Thứ hai, đối với đương sự: Đây là cơ sở pháp lý để nguyên đơn chủ động trong

việc xác định được Tòa án mà mình có thể gửi đơn khởi kiện hoặc lựa chọn Tòa án thuận lợi nhất cho mình trong việc tham gia tố tụng Thông qua đó giúp đương sự nhanh chóng thực hiện được quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân

2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ

Với pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, thẩm quyền dân sự sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ được quy định theo các nguyên tắc chung tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Để xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ có thể chia

Trang 4

thành thẩm quyền dân sự của Tòa án theo lãnh thổ đối với các tranh chấp dân sự và thẩm quyền dân sự của Tòa án theo lãnh thổ đối với các yêu cầu việc dân sự

2.1 Thẩm quyền dân sự của Tòa án theo lãnh thổ đối với các tranh chấp dân sự

Để xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ đối với các tranh chấp dân sự ta dựa vào một số tiêu chí cơ bản sau:

- Tòa án nơi có bất động sản đối với các tố quyền bất động sản

- Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của bị đơn

Như vậy, dựa vào các tiêu chí trên chúng ta lần lượt phân tích thẩm quyền xét xử

sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ đối với các tranh chấp dân sự theo các tiêu chí như sau:

 Tiêu chí Tòa án nơi có bất động sản

Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) thì bất động sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật Bất động sản là loại tài sản không dịch chuyển được, bên cạnh đó, các giấy tờ, tài liệu quan trọng liên quan đến bất động sản như giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, nhà ở do cơ quan địa phương cấp, quản lý

Đối với các tranh chấp về bất động sản, theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết chỉ là Tòa án nơi có bất động sản Để xác định được như thế nào là tranh chấp về bất động sản thì trước tiên cần phải xác định bất động sản bao gồm những tài sản nào và tài sản đó có đúng là đối tượng của việc tranh chấp hay không? Có thể coi vụ kiện có đối tượng tranh chấp là bất động sản là các vụ kiện về quyền sở hữu: yêu cầu hủy bỏ giao dịch về nhà, đất được thành lập do không có sự đồng ý của các đồng sở hữu chủ; kiện đòi trả nhà, đất cho thuê, cho mượn…

Ngoài những vụ kiện có đối tượng tranh chấp là bất động sản thì cần quy định theo hướng mở rộng thêm thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản đối với các tranh chấp về các quyền gắn liền với bất động sản như tranh chấp về quyền đối với bất động sản liền kề, tranh chấp quyền hưởng dụng, quyền bề mặt…

Trang 5

Như vậy, việc quy định Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết

là quy định phù hợp với thực tế, tạo điều kiện cho Tòa án có thể xác minh, thu thập các giấy tờ, tài liệu liên quan, xây dựng hồ sơ, giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác nhất Việc sửa đổi này nhằm khắc phục hạn chế do BLTTDS 2004 quy định không rõ nên hiểu khác nhau về thẩm quyền Tòa án khi bị đơn ở “nơi này”, bất động sản tranh chấp ở “nơi kia” thì thuộc về thẩm quyền của Tòa án nơi bị đơn cư trú hay Tòa án nơi có bất động sản là đối tượng tranh chấp Tiêu chí Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của bị đơn, người bị yêu cầu; nơi có tài sản đối với các tố quyền đối nhân và tố quyền động sản

 Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của bị đơn

Tại điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 quy định đối với các vụ việc dân

sự khác không phải là tranh chấp về bất động sản thì tòa án có thẩm quyền là tòa

án nơi bị đơn, người bị yêu cầu là cá nhân cư trú, làm việc hoặc tòa án nơi bị đơn, người yêu cầu có trụ sở nếu họ là cơ quan, tổ chức

Bị đơn trong vụ án dân sự, người bị yêu cầu trong việc dân sự là người bị buộc phải tham gia tố tụng Về mặt tâm lý bị đơn, người bị yêu cầu, người đại diện hợp pháp của họ thường không muốn tham gia tố tụng và thường nêu ra những khó khăn để không đến tòa án Việc quy định tòa án có thẩm quyền giải quyết là tòa án nơi cư trú, làm việc, có trụ sở của bị đơn, người bị yêu cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi để bị đơn, người bị yêu cầu, người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng Mặt khác, tòa án này cũng có khả năng xác minh, nắm được các vấn đề của vụ việc, trên cơ sở đó có đường lối giải quyết phù hợp Mặt khác, nơi bị đơn cư trú cũng là nơi cưỡng chế tài sản tốt nhất, khi quy định thẩm quyền giải quyết thuộc về tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ quan tiến

có thẩm quyền trong quá trình tố tụng nếu cần phải cưỡng chế tài sản hoặc thuận lợi trong thi hành án Đối với các vụ án dân sự này, các bên đương sự cũng có thể thỏa thuận với nhau về việc yêu cầu tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết

So với điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì quy định này đã thể hiện sự thống nhất trong tư duy của các nhà lập pháp Tuy nhiên nó cũng bộc lộ một số khó khăn trong thực tế áp dụng, đơn cử:

Trang 6

- Đối với trường hợp bị đơn là cơ quan, tổ chức thì theo quy định tại điểm a Khoản

1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nơi đặt trụ sở của cơ quan, tổ chức đó Theo quy định tại Điều 79 BLDS 2015 thì nơi có trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân Tuy nhiên, trên thực tế một pháp nhân có thể có nhiều văn phòng đại diện và có các chi nhánh khác nhau, có thể đặt các văn phòng đại diện và chi nhánh này ở nhiều nơi khác với nơi đặt trụ sở của pháp nhân Chính vì vậy, để xác định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án cần có sự phân biệt trụ sở của pháp nhân với văn phòng đại diện và chi nhánh của nó Tòa án nơi pháp nhân đặt văn phòng đại diện hoặc chi nhánh chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi nguyên đơn lựa chọn Tòa án

đó4

2.2 Thẩm quyền dân sự của Tòa án theo lãnh thổ đối với các yêu cầu việc dân sự

Đối với yêu cầu việc dân sự thì thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ được xác định qua các tiêu chí sau:

- Tòa án nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở của người bị yêu cầu

- Tòa án nơi người yêu cầu, người gửi đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở

- Tòa án nơi người phải thi hành án phải thi hành án

- Tòa án nơi phát sinh sự kiện pháp lý

- Tòa án nơi tổ chức hành nghề công chứng, Văn phòng công chứng, cơ quan thi hành án có trụ sở

- Thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án đối với các yêu cầu liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại Việt Nam

Tại Khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015 các nhà làm luật đã làm rõ các trường hợp xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, bổ sung thêm những trường hợp mới so với BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 Cụ thể:

 Thẩm quyền của Tòa án nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở của người bị yêu

cầu

Thêm vào đó, tại điểm a, điểm b Khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015 cũng quy định về việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ với những trường hợp

4 Trần Cảnh Vinh (2018) – Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ và thực tiễn tại các Tòa án ở tỉnh Sơn La – Luận văn thạc sĩ luật học – Trường Đại học Luật Hà Nội, trg 31

Trang 7

người bị yêu cầu mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết Trong trường hợp này thì Tòa án nơi mà người bị yêu cầu làm việc, sinh sống hoặc

có trụ sở Cụ thể:

- Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

- Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là

đã chết

Những quy định này là hoàn toàn hợp lý và phù hợp bởi các Tòa án này sẽ có điều kiện tốt nhất để xác minh đúng tình trạng của người bị yêu cầu từ đó có những quyết định đúng đắn và cũng tạo điều kiện cho những người bị yêu cầu tham gia quá trình tố tụng

 Thẩm quyền của Tòa án nơi người yêu cầu, người gửi đơn cư trí làm việc

hoặc có trụ sở

Theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015 “Tòa án nơi người yêu

cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc

là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.”

Quy định này xuất phát từ thực trạng một người đã bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự…nhưng sau đó họ không còn trong trình trạng đó nữa Để được công nhận năng lực hành vi như bình

Trang 8

thường thì chính họ hoặc người khác do pháp luật quy định có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án đã ra quyết định phải hủy bỏ quyết định Như vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể, pháp luật đã quy định họ có thể yêu cầu Tòa án nơi chính họ đnag cư trú, làm việc Tương tự như vậy với trường hợp người bị tuyên

bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là họ còn sống, thì Tòa án đã ra quyết định tuyên bố người đó mất tích hoặc là đã chết là Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ việc Do đó sẽ có điều kiện tốt nhất để giải quyết việc hủy quyết định tuyên bố một người bị mất tích hoặc là đã chết

Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam (điểm đ Khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015) Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam

 Thẩm quyền của Tòa án nơi người phải thi hành án phải thi hành án

Trường hợp này được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015 theo

đó: “Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia

đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài” Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Tòa án

giải quyết và cho người phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài về dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động

Ngoài ra đối với những phán quyết của Trọng tài nước ngoài thì Tòa án nơi người phải thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành

là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của

Trang 9

Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài

 Thẩm quyền của Tòa án nơi phát sinh sự kiện pháp lý

+ Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015 Quy định này nhằm bảo đảm sẽ tạo điều kiện cho cơ quan tiến hành tố tụng xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án nhanh chóng và chính xác Đồng thời tạo điều kiện cho cơ quan thi hành án trong việc thi hành quyết định của Tòa án

+ Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận về thay đổi nuôi con, chia tài sản khi hôn cư trú, làm việc (điểm h Khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015) Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự trong quá trình tham gia tố tụng, đồng thời đảm bảo tốt nhất cho công tác thi hành án sau này + Tòa án nơi một trong các bên thỏa thuận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn (điểm i Khoản 2 Điều 39) Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa án nơi người con đang cư trú có thẩm quyền giải quyết

+ Tòa án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền chăm non con sau khi ky hôn (điểm k khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015) + Tòa án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án và cả đương sự tham gia tố tụng

 Thẩm quyền của Tòa án nơi Tổ chức hành nghề công chứng, Văn phòng

công chứng, cơ quan thi hành án có trụ sở

Theo quy định tại điểm m khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015, Tòa án nơi tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

Ngoài ra, tại điểm n Khoản 2 Điều 39 BLTTDS 2015 cũng quy định Tòa án nơi cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan

Trang 10

đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật thi hành án dân sự

Những quy định này góp phần bảo đảm sự thuận lợi cho việc xác minh, giải quyết việc dân sự, nhằm tạo điều kiện cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ và giải quyết

vụ án được nhanh chóng Đồng thời nhằm bảo đảm thuận lợi cho công tác thi hành

án sau này

Có thể thấy rằng, so với BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 thì ở BLTTDS 2015 các nhà làm luật đã bổ sung thêm rất nhiều trường hợp mới phù hợp với thực tế có thể kể đến như5:

- Tòa án nơi có tài sản có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận tài sản đó có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam

- Tòa án nơi người mang thai hộ cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ

- Tòa án nơi cư trú, làm việc của một trong những người có tài sản chung có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định

3 Quyền lựa chọn tòa án của đương sự

Theo quy định của pháp luật, đối với các tranh chấp có đối tượng là bất động sản việc xác định Tòa án có thẩm quyền được xác định theo nguyên tắc Tòa án nơi

có bất động sản và đây là quy định bắt buộc phải tuân thủ Còn đối với các tranh chấp và yêu cầu có đối tượng không phải là bất động sản thì việc xác định thẩm quyền của Tòa án dựa trên tiêu chí nơi cư trú của bị đơn, nơi có tài sản hoặc nơi phát sinh sự việc Việc xây dựng quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ này dựa trên cơ sở bảo đảm quyền tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ của đương sự và

không mang tính “bất di bất dịch” như đối với bất động sản6 Do vậy, trên cơ sở

5 Trần Cảnh Vinh (2018) – Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ và thực tiễn tại

các Tòa án ở tỉnh Sơn La – Luận văn thạc sĩ luật học – Trường Đại học Luật Hà Nội, trg 48

6Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2015 / Trần Anh Tuấn chủ biên , năm 2017, NXB Tư pháp

Ngày đăng: 07/05/2023, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w