1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm xây dựng hoạt động giáo dục địa phương hiệu quả

66 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng kiến kinh nghiệm xây dựng hoạt động giáo dục địa phương hiệu quả
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,73 MB
File đính kèm Sáng kiến kinh nghiệm.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG PHÙ HỢP VÀ DẠY HỌC HIỆU QUẢ MỤC LỤC 1. Đặt vấn đề 1.1 Lý do chọn đề tài a) Cơ sở lí luận Định hướng phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay đã đặt ra những yêu cầu đổi mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng được đòi hỏi mới của xã hội và thị trường lao động, đặc biệt là năng lực hành động, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực công tác làm việc, năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp. Vì thế mà trong những năm gần đây Bộ Giáo dục đã tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, hướng tới phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học ấy đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (11993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII (121996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (121998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (41999) Về phương pháp dạy học Luật giáo dục quy định “phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. (Luật Giáo dục 2005, trích điều 5). Luật Giáo dục cũng đưa ra những quy định về mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông cho từng cấp học. Về nội dung dạy học, Điều 28 Luật Giáo dục quy định Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học (Luật Giáo dục 2005). Về phương pháp giáo dục phổ thông, Điều 28 Luật giáo dục có quy định: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh (Luật Giáo dục 2005). NỘI DUNG TRANG 1 Đặt vấn đề 3 1 1 Lý do chọn đề tài 3 1 2 Xác định mục đích nghiên cứu 6 1 3 Đối tượ.

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM : XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG PHÙ HỢP VÀ DẠY HỌC HIỆU QUẢ

1.6 Phạm vi và thời gian nghiên cứu (bắt đầu, kết thúc) 8

Trang 2

những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Giáodục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng được đòi hỏi mới của xã hội vàthị trường lao động, đặc biệt là năng lực hành động, tính năng động, sáng tạo, tính tựlực và trách nhiệm cũng như năng lực công tác làm việc, năng lực giải quyết nhữngvấn đề phức hợp Vì thế mà trong những năm gần đây Bộ Giáo dục đã tiến hành đổimới phương pháp dạy học, hướng tới phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo củahọc sinh.

Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học ấy đã được xác định trong Nghịquyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII (12/1996),được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12/1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của

Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4/1999)

Về phương pháp dạy học Luật giáo dục quy định “phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục 2005, trích điều 5).

Luật Giáo dục cũng đưa ra những quy định về mục tiêu, nội dung và phươngpháp giáo dục phổ thông cho từng cấp học Về nội dung dạy học, Điều 28 Luật Giáo

dục quy định "Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm

lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học" (Luật Giáo dục

2005) Về phương pháp giáo dục phổ thông, Điều 28 Luật giáo dục có quy định:

"Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"

(Luật Giáo dục 2005)

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII và

lần thứ 7 khóa IX đã xác định mục tiêu cơ bản của giáo dục: "Nhằm xây dựng những con người và thế hệ tha thiết gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,

có đạo đức trong sáng, ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con

Trang 3

người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghiệp hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật; có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" như lời căn dặn của Bác Hồ".

b) Cơ sở thực tiễn

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khoá 8 (tháng 2năm 1997) đã khẳng định vai trò của môn Ngữ văn cùng các môn khoa học khác trongcông tác giáo dục Cũng như các môn học khác, với đặc điểm và chức năng của mình,việc học tập Ngữ văn cần phát huy năng lực tích cực, chủ động của học sinh Tuynhiên trong thực tế, khi đi vào thực hiện chương trình giáo dục vẫn còn những hạn chế

nhất định Trong "Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông"

của chính phủ (tháng 10/2014) đã chỉ ra những bài học kinh nghiệm, những hạn chế

của chương trình giáo dục hiện hành là: “Một trong những hạn chế cơ bản của chương trình hiện hành là chưa giải quyết hài hòa giữa yêu cầu và điều kiện chung của toàn quốc với yêu cầu và điều kiện riêng của mỗi địa phương, nhà trường” (tr.11)… Điều này dẫn đến “chưa khuyến khích được sự tự chủ, tính năng động, sáng tạo của các địa phương, cơ sở giáo dục; chưa phát huy được sở trường của mỗi học sinh” (tr.12) Ý

thức được điều đó, trong định hướng đổi mới giáo dục hiện nay, chương trình giáo dục

đã có tính mở và chú trọng đến tính vùng, miền và đặc thù của địa phương Cụ thể, đề

án cũng chỉ rõ: một trong những vấn đề cơ bản trong nội dung đổi mới chương trình

sách giáo khoa của chính phủ là: “Quản lý quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh”.

Từ những vấn đề đã rút ra kết luận trên chúng ta có thể nhận thấy hiện naychương trình địa phương đã không được nhìn nhận thấu đáo Việc xây dựng mộtchương trình địa phương chuẩn dựa trên chương trình sách giáo khoa thống nhất trêntoàn quốc cho bộ môn Ngữ văn cũng như một số bộ môn khác (Lịch sử, Địa lí, Âmnhạc, ) là vô cùng cần thiết Điều này sẽ góp phần thể hiện rõ tính linh hoạt của cácđịa phương và nhà trường Nhà trường, giáo viên từ thực hiện theo chuẩn phân phốichương trình và sách giáo khoa sang trao quyền cho các địa phương tự chủ trong việcxây dựng kế hoạch, định hướng nội dung, cách thức tổ chức giáo dục chương trình địaphương trong nhà trường

Trang 4

Phân phối chương trình THCS hiện hành những tiết có bài học địa phương cònchiếm số lượng ít Những bài học về chương trình địa phương thường đặt ở cuối mỗihọc kì, cuối năm học đã gây cho một số bộ phận giáo viên, học sinh có cái nhìn khôngđúng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ mà chương trình này mang lại Việc hướng dẫngiảng dạy cũng còn chung chung chưa thống nhất Kế hoạch, nội dung giảng dạy cáctiết còn phụ thuộc khá nhiều vào việc xây dựng, lựa chọn của giáo viên Từ việc chưa

có chuẩn kiến thức giảng dạy chương trình địa phương cho từng tiết học, đến hạn chế

về tài liệu giảng dạy, nội dung giảng dạy, cách thức tổ chức chính khóa hay ngoạikhóa, đã góp phần gây khó khăn cho người giáo viên khi lên lớp Từ việc chưa cómục đích học tập đúng, tài liệu tham khảo khan hiếm, ít ỏi, không được cập nhậtthường xuyên đến khả năng tiếp nhận tri thức, trình bày kết quả của học sinh vừa thiếuvừa yếu đã dẫn đến việc học sinh cảm thấy "ngại" khi thực hiện các tiết học này Trênthực tế, hầu hết giáo viên thực hiện độc lập, còn mang tính tự phát, chưa bài bản, sựphối hợp của các em là rất thiếu tích cực Các em chưa mấy hứng thú với mảng đề tàinày Việc hiểu biết những vấn đề của địa phương cũng trở nên hạn chế, không đáp ứngvới mục tiêu chương trình đã đề ra Cho nên không tránh khỏi những khó khăn chogiáo viên trong việc sưu tầm và lựa chọn nội dung dạy- học mang tính địa phương, tổchức cho học sinh học tập những nội dung mang tính địa phương, khả năng tích hợpgiữa các môn học với nhau Vấn đề đặt ra là mỗi giáo viên phải lựa chọn, xác định chomình những nội dung và cách thức dạy - học phù hợp Vậy làm thế nào để giáo viên,học sinh có những nhận thức tích cực hơn, đúng đắn hơn, toàn diện hơn để đáp ứngyêu cầu đổi mới chương trình giáo dục địa phương hiện nay? Trong sáng kiến này, tôixin mạnh dạn nêu ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy các tiếtChương trình địa phương môn Ngữ văn cấp THCS

Như đã thể hiện ở phần trên một trong những mục tiêu của phương pháp dạyhọc tích cực là nhằm tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập chohọc sinh Đổi mới phương pháp dạy học bao gồm đổi mới cả nội dung và hình thứchoạt động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới kỉthuật dạy học, theo định hướng chung

Trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa

là chủ thể của hoạt động Thông qua hoạt động dưới sự chỉ đạo của người thầy, người

Trang 5

học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoànthiện nhân cách.

D H D H

Khâu "kích thích" của người thầy giúp trò tự tìm đến chân lí là điều khác cơ bản

so với trước Muốn cho trò phát huy chủ thể, thầy phải cho xuất hiện tình huống và

nhu cầu Vấn đề đầu tiên với ngành nghệ thuật là phải có cảm xúc "không có cảm xúc thì không và không bao giờ con người có khát vọng đi tìm chân lí" (Lênin) Cảm xúc

sẽ khêu gợi các em một trạng thái tâm lí mới, gây kích thích đến việc tìm hiểu hay đòithỏa mãn những cái đẹp trong nghệ thuật Do vậy, muốn các em có sự hứng thú vớicác bài Chương trình Ngữ văn địa phương, việc kích thích tạo cảm xúc là vô cùng cầnthiết

Việc chủ đạo của người dạy là hết sức phức tạp và càng phức tạp hơn đối vớiviệc giảng dạy Chương trình địa phương Trong khi hầu hết bài khác đều có hướng dẫn

cụ thể thì các bài Chương trình địa phương đều không hoặc ít làm được việc này Việcđịnh hướng hội dung giảng dạy cũng phụ thuộc khá nhiều vào sự lựa chọn của giáoviên và học sinh Tâm lí của học sinh luôn biến động và phát triển theo các lứa tuổikhác nhau Vì vậy, nó cũng đòi hỏi sự biến đổi linh hoạt của các biện pháp tác độngkích thích khác nhau của mỗi giai đoạn Ngay trong văn học địa phương cũng có nhiềuthể loại khác nhau nên mỗi biện pháp khi vận dụng vào từng tác phẩm cụ thể lại cómàu sắc riêng

Năm 2009 - 2010, Bộ Giáo dục và đào tạo phát động chủ đề: "Đổi mới công tác quản lí, nâng cao chất lượng giáo dục" với mục tiêu "nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" Với vị trí của một người giáo viên, bản thân chúng

tôi cũng nhiều trăn trở suy ngẫm làm thế nào để giúp nâng cao chất lượng các giờ dạyNgữ văn nói chung và Chương trình Ngữ văn phần địa phương nói riêng Một trong số

đó là giúp các em hiểu về vai trò, vị trí của chương trình, có cái nhìn đúng đắn, biếtphát hiện, khám phá, bày tỏ ý kiến, đối với các vấn đề có liên quan đến địa phươngBình Định Từ đó học sinh có một hứng thú đặc biệt với bộ phận văn học này Nếu làmđược việc này chắc hẳn sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của mình Bản

Trang 6

thân tôi cũng đã tìm tòi nhiều biện pháp để cải thiện tình hình học tập của học sinh vàchất lượng của bộ phận chương trình này

1.2 Xác định mục đích nghiên cứu.

Như đã trình bày ở trên, trong phạm vi bài viết này tôi chỉ xin trình bày một sốgiải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy các tiết Chương trình địa phương mônNgữ văn cấp THCS Việc thể hiện kinh nghiệm này nhằm:

- Giúp các em hiểu về vai trò, vị trí của môn Ngữ văn nói chung, chương trìnhNgữ văn địa phương Bình Định nói riêng trong chương trình giáo dục phổ thông

- Giới thiệu những phương pháp, cách thức tiến hành; những kiến thức về địaphương Bình Định để giáo viên dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình dạyhọc

- Cung cấp cho học sinh những tài liệu tham khảo về văn học, lịch sử, địa lí đểphục vụ cho quá trình học tập

- Tạo hứng thú cho học sinh khi tìm hiểu, trình bày về mảng đề tài địa phươngBình Định Từ đó học sinh có tình yêu về quê hương, đất nước

Với ý nghĩa và tác dụng đó hi vọng sáng kiến này sẽ giúp cho giáo viên và họcsinh thuận lợi hơn trong quá trình dạy - học phần chương trình địa phương Bình Định

mà nhỏ hơn là các đơn vị huyện, xã

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Một thực trạng đáng buồn trong công tác dạy học Ngữ văn hiện nay là tâm lýxem thường bộ môn Xuất phát từ nhu cầu nghề nghiệp của xã hội nên không ít bậccha mẹ học sinh có nhận thức thiên lệch về vị trí, vai trò của bộ môn trong nhà trườngphổ thông Học sinh không quan tâm hay ít quan tâm đến môn học cho nên đến lớpkhông cần chuẩn bị bài Từ khó tiếp thu nội dung bài học do không chuẩn bị đến sinh

ra tâm lí chán học, học đối phó theo yêu cầu thi cử Nội dung chương trình các bàichính khóa đã như vậy, chương trình địa phương càng trở nên thê thảm hơn Nội dungthi thường là các bài chính khóa, đề ít khi có liên quan đến các vấn đề địa phương.Kiến thức địa phương càng trở nên xa vời, lạ lẫm Các em không thấy hứng thú với bộphận văn học này Kiến thức về Địa lí, Lịch sử, Văn học ở địa phương Bình Định (nhỏhơn là huyện, xã) là hoàn toàn xa lạ đối với các em Chúng ta không khỏi xót xa khimột học sinh không biết gì về địa danh, lịch sử, phong tục, tập quán, văn hóa, vănnghệ, lời ăn tiếng nói của quê hương ngay tại chính nơi các em đang sinh sống Nhà

Trang 7

văn I-li-a E- ren-bua từng viết "Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào đại trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra biển Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc" Lòng yêu quê hương là biểu hiện quan trọng nhất của lòng yêu

Tổ quốc Từ thuở bé thơ mỗi chúng ta đều biết về con người, cảnh vật, quá khứ nơichôn nhau, cắt rốn của mình Những câu ca dao, những lời hát ru, những mẩu chuyện

cổ tích của bà, của mẹ, của chị có một phần không nhỏ nói về gia đình, quê hương, xứ

sở đã sớm in đậm vào tâm trí các em, làm tăng thêm lòng yêu quê hương da diết và làtri thức ban đầu về quê hương, đất nước Không có tình yêu quê hương thì làm sao cótình yêu đất nước!

Từ nhận thức trên, tôi đã tập trung nghiên cứu mảng đề tài về thực trạng dạy –học các bài Chương trình địa phương Bình Định được thực hiện trong sách giáo khoaNgữ văn hiện hành (cụ thể chuyên sâu vào các lớp 6,7)

1.4 Đối tượng khảo sát, thực nghiệm.

Đề tài được nghiên cứu từ thực tiễn về tình hình giảng dạy môn Ngữ văn củagiáo viên và học tập của học sinh đối với việc thực hiện các tiết Chương trình Ngữ vănđịa phương cấp Trung học cơ sở

Đối tượng tham gia khảo sát, đánh giá: tập trung vào đối tượng học sinh cáckhối lớp 6,7

1.5 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu luận:

+ Trên cơ sở nghiên cứu luận và thực trạng học môn Ngữ văn nói chung vàChương trình địa phương nói riêng để đề ra những giải pháp hợp lý nhằm giúp họcsinh hiểu được vai trò, vị trí của nội dung chương trình từ đó góp phần nâng cao chấtlượng giảng dạy bộ môn, chất lượng giáo dục trong nhà trường

+ Nghiên cứu lý luận về yêu cầu của công tác đổi mới phương pháp dạy học,

lấy học sinh làm trung tâm để "phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" đòi hỏi người học phải chuẩn bị chu đáo và

nắm được những đơn vị kiến thức cơ bản của từng bài học

+ Rút ra được những bài học kinh nghiệm từ việc trải nghiệm thực tế

+ Thu thập những thông tin lý luận về vị trí, vai trò của người giáo viên trongcông tác dạy học trên các cổng thông tin đại chúng

Trang 8

+ Nắm bắt những thông tin lý luận về trách nhiệm và quyền hạn của giáo viên

bộ môn và nhiệm vụ, quyền hạn của người học sinh trong các văn bản quy định của BộGiáo dục và Đào tạo

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

+ Trên cơ sở Sách giáo khoa hiện hành, các văn bản chỉ đạo thực hiện, các bảnbáo cáo đánh giá, các nhận xét khi thực hiện chương trình, các tài liệu có liên quan,giáo viên đã tổng hợp, so sánh,… từ đó đưa ra các giải pháp, biện pháp tích cực khi cụthể hóa đề tài

+ Tham khảo những sáng kiến dạy tốt của giáo viên trong tổ bộ môn

+ Tham khảo sáng kiến giảng dạy của các trường bạn qua các tiết dạy chuyênđề

+ Tham khảo những sáng kiến những bài viết về vấn đề giảng dạy bộ môn trongcác sách, báo, trên mạng Internet

- Phương pháp kiểm tra

Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh: cách soạn bài, ghi bài và làm bài tậpcủa các đối tượng học sinh, từ đó rút ra đặc điểm chung Kiểm tra việc chia nhóm, hoạtđộng của các cá nhân trong nhóm,…

- Phương pháp điều tra

+ Trao đổi trò chuyện với các giáo viên bộ môn (Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, ) vềtình hình giảng dạy Chương trình địa phương ở các khối lớp

+ Trò chuyện, trao đổi với học sinh về những thuận lợi, khó khăn, thái độ củacác em khi thực hiện các tiết học về Chương trình địa phương

- Phương pháp thống kê toán học

+ Tham khảo những bản báo cáo tổng kết từng năm của tổ và nhà trường về bộmôn

+ Tổng hợp đánh giá tính tích cực trước và sau khi thực hiện đề tài (có đốichiếu, so sánh)

Trang 9

Trong các phương pháp trên, phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương phápthống kê toán học là phương pháp chủ đạo; các phương pháp còn lại là bổ trợ cho haiphương pháp trên.

1.6 Phạm vi và thời gian nghiên cứu (bắt đầu, kết thúc).

Thử áp dụng giải pháp vào việc giảng dạy Chương trình Ngữ văn địa phươngBình Định cho học sinh các khối lớp 6,7,8,9 tại trường THCS Cát Trinh mà tôi đangcông tác, trong đó tập trung ở hai khối lớp 6,7

Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tháng 09/1999, kết thúc: tháng 12/2016Thời gian áp dụng, đánh giá: năm học 2014- 2015; năm học 2015 - 2016

2 Nội dung

2.1 Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu.

Trang 10

Chương trình Ngữ văn THCS là một chương trình đồng tâm được xây dựng trên

cơ sở tiếp nối, mở rộng và nâng cao từ môn học Tiếng Việt và Tập làm văn của chươngtrình Tiểu học Ở chương trình THCS môn Ngữ văn là sự phức hợp của ba phân môn:Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn Mỗi phân môn cung cấp cho học sinh những kiếnthức và rèn luyện kĩ năng khác nhau nhưng chúng lại gắn bó hỗ trợ mật thiết cho nhau.Nếu như Văn học giúp các em tiếp xúc với các tác phẩm văn chương qua việc tìm hiểucác hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ Từ những hìnhtượng đó tác động đến tâm hồn, trí tuệ của các em Hình tượng nghệ thuật là nội dung

mà hình thức tồn tại của nó là ngôn từ Cùng với vốn từ riêng của mình, mỗi học sinh

có những diễn tả suy nghĩ, cảm xúc về nhân vật, tác phẩm Vốn từ ấy được phân mônTiếng Việt cung cấp Những kiến thức về từ vựng, ngữ pháp giúp các em tìm hiểu giátrị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Đối với phân môn Tập làm văn giúp các em rènluyện khả năng vận dụng những kiến thức đã học từ phân môn Văn học, kết hợp phầnTiếng Việt để tạo ra những tác phẩm cho riêng mình Trong chương trình Ngữ văn địaphương THCS đều chú ý đề cập đến cả ba phân môn này cũng như có sự sắp xếp khá

rõ ràng

Nếu như văn học địa phương là những sáng tác văn học (văn học dân gian vàvăn học viết) trong một khu vực địa lý cụ thể, nó phản ánh đời sống văn hóa tinh thầncủa cộng đồng dân cư ở một địa bàn cư trú nhất định và mang bản sắc riêng, độc đáo

có tính chất đặc thù của vùng, miền, địa phương thì phần Tiếng Việt đề cập đến cơ sởphát âm, sử dụng ngôn ngữ đặc trưng của vùng miền mà chủ yếu tập trung đi sâu vàorèn luyện chính tả Trong khi đó, phần Tập làm văn tập trung rèn luyện học sinh trìnhbày, giới thiệu, bàn luận những vấn đề có tính lịch sử, văn hóa nghệ thuật, phong tụctập quán, tính thời sự, xảy ra ở địa phương Hình thức thể hiện cũng khá phong phú

từ tự sự, biểu cảm đến thuyết minh, nghị luận

2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu.

Chương trình Ngữ văn địa phương là nội dung mới và khó được đưa vào sáchgiáo khoa Ngữ văn THCS Cho nên không tránh khỏi những khó khăn cho giáo viên,học sinh trong việc sưu tầm và lựa chọn nội dung dạy- học Vấn đề đặt ra là mỗi giáoviên, học sinh phải lựa chọn xác định cho mình những nội dung và cách thức học tậpphù hợp Từ đó có hứng thú, yêu thích đối với nội dung chương trình Có thể nói đây

là một trong những phần chương trình có khả năng dung nạp lớn nhất mọi hình thức

Trang 11

học tập (trên lớp, ở nhà, ngoại khoá, tọa đàm, ); cũng là phần có điều kiện thuận lợinhất trong việc phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với phươngpháp dạy - học tích cực Tuy nhiên, một số giáo viên có nhận thức không đúng về mụcđích, vị trí, vai trò, tác dụng của chương trình nên thực hiện một cách qua loa, đại kháicác tiết Ngữ văn địa phương Tâm lý học tập của nhiều học sinh còn chủ quan, xemthường, không tích cực, …

Từ những thực trạng đó, trong quá trình giảng dạy của mình, tôi đã tích lũy một

số giải pháp, kinh nghiệm và kiến thức để giúp các em thay đổi cách nhìn về chươngtrình; có một sở thích đặc biệt khi học tập các tiết Chương trình địa phương, nhất là địaphương Bình Định

Ở đây, tôi xin đưa ra một số giải pháp, phương hướng dạy - học bài Ngữ văn địaphương (cho cả ba phân môn) theo phương pháp dạy học tích cực có tích hợp mà quathực tế tôi thấy phát huy được tính năng động, sáng tạo của học sinh

2.3 Mô tả, phân tích các giải pháp (hoặc biện pháp, các cách ứng dụng, cách làm mới) mà tác giả đã thực hiện, đã sử dụng nhằm làm cho công việc có hiệu quả cao hơn.

2.3.1) Yêu cầu chung:

a) Đối với học sinh:

Cần có ý thức về việc học tập bộ môn Thấy được vai trò, tầm quan trọng của

bộ phận văn học này Do đặc điểm bài học mang tính địa phương cụ thể, do đặc điểmtâm lý lứa tuổi, điều kiện kinh tế, khả năng đi lại, tài liệu tham khảo nên học sinhphải chuẩn bị bài kĩ hơn, thời gian chuẩn bị phải lâu hơn Học sinh cần có kĩ năng tìmtòi, sưu tầm, ghi chép, trình bày, đánh giá, các vấn đề có liên quan đến địa phươngtheo sự hướng dẫn của giáo viên

Về kiến thức: Học sinh phải có những kiến thức về địa phương nhất định:những tác phẩm văn học (văn học dân gian, văn học viết), những tác giả của địaphương, ngoài địa phương viết về quê hương Bình Định (trước 1975, sau 1975); từngữ địa phương, cách sử dụng từ ngữ địa phương trong lời ăn tiếng nói (có so sánh,đối chiếu với ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ ở các địa phương khác); những vấn đề vềcon người, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên, môi trường sống,

Về kĩ năng: Học sinh phải có kĩ năng sưu tầm, trình bày các vấn đề có liên quanđến bài học Từ việc lựa chọn đơn vị kiến thức trong phạm vi cho phép của giáo viên

Trang 12

đến cách thức trình bày bằng bài viết hay trước tập thể Kĩ năng tích hợp với các bộmôn khác (Lịch sử, Địa lí, ) trong việc giải quyết vấn đề.

Về thái độ: Học sinh hứng thú trước các vấn đề đặt ra của giáo viên Tham giatích cực các hoạt động tiết học Hình thành tình yêu quê hương, đất nước; yêu tiếngnói dân tộc

b) Đối với giáo viên:

Cần xác định được vai trò, vị trí, nhiệm vụ của chương trình Mối liên hệ giữacác phân môn, các môn học có liên quan Xác định được mục đích, yêu cầu cơ bản củamỗi tiết dạy Xác định được thời gian tổ chức, nội dung, cách thức tiến hành trong mỗigiờ lên lớp Giáo viên phải là người thấy được những khó khăn, vướng mắt mà họcsinh gặp phải khi thực hiện các các tiết học về Ngữ văn địa phương từ đó tìm cáchkhắc phục những mặc còn tồn tại, hạn chế, nâng cao chất lượng bài dạy Đối với bàiChương trình địa phương giáo viên cần có sự chuẩn bị kĩ hơn, lâu dài hơn

bị động khi thực hiện loại bài dạy này

Cụ thể:

Lớp Tổng

số tiết

Tiết theo phân phối

Nội dung cụ thể

Trang 13

chương trình

Lớp 6 5 Tiết 70 Bài 16: Chương trình địa phương (phần Tiếng

Việt): Rèn luyện chính tảTiết 71 Bài 17: Chương trình địa phương (phần Văn và Tập

làm văn): Sưu tầm, kể chuyện dân gian, trò chơidân gian, sinh hoạt dân gian

Tiết 87 Bài 21: Chương trình địa phương (phần tiếng Việt):

Rèn luyện chính tảTiết 139,

140

Bài 33: Chương trình địa phương (phần Văn vàTập làm văn): Giới thiệu di tích lịch sử, bảo vệ gìngiữ môi trường

Lớp 7 6 Tiết 69 Bài 17: Rèn luyện chính tả

Tiết 74Tiết 133,134

Bài 18 và bài 33: Chương trình địa phương (phầnVăn và Tập làm văn): Sưu tầm tục ngữ, ca dao, dânca; cảm nhận vẻ đẹp của địa phương qua các câutục ngữ, ca dao, dân ca tìm được

Tiết137,138

Bài 34: Chương trình địa phương (phần tiếng Việt):Rèn luyện chính tả

Lớp 8 5 Tiết 31 Bài 8: Chương trình địa phương (phần tiếng Việt):

Từ ngữ chỉ người có quan hệ ruột thịt và việc sửdụng từ ngữ xưng hô

Tiết 52 Bài 14: Chương trình địa phương (phần Văn): Giới

thiệu các nhà thơ, nhà văn Bình Định hoặc có tácphẩm viết về Bình Định trước 1975

Tiết 92 Bài 31: Chương trình địa phương (phần Tập làm

văn): Giới thiệu, thuyết minh danh lam thắng cảnh,

di tích lịch sử ở địa phươngTiết 121 Bài 30: Chương trình địa phương (phần Văn): Trình

bày những vấn đề về môi trường, dân số, tệ nạn xãhội ở địa phương

Tiết 138 Bài 33: Chương trình địa phương (phần tiếng Việt):

Tìm và so sánh từ ngữ xưng hô địa phương và toàndân

Lơp 9 5 Tiết 40 Bài 9: Chương trình địa phương (phần Văn): Giới

thiệu các nhà thơ, nhà văn Bình Định hoặc có tác

Trang 14

phẩm viết về Bình Định sau 1975.

Tiết 63 Bài 13: Chương trình địa phương (phần tiếng Việt):

Giới thiệu một số từ ngữ địa phương có so sánh đốichiếu với từ toàn dân tương ứng

Tiết 102 Bài 19: Chương trình địa phương (phần Tập làm

văn): Hướng dẫn tìm hiểu, suy ngẫm và viết bài vềtình hình địa phương: môi trường, những đổi mớicủa quê hương, quyền trẻ em, an sinh xã hội,

Tiết 135 Bài 26: Chương trình địa phương (phần tiếng Việt):

Làm các bài tập có sử dụng từ địa phương Nam bộ,

có đối chiếu với từ toàn dân tương ứng

Tiết 145 Bài 28: Chương trình địa phương (phần tập làm

văn) (tiếp theo): Thực hiện công việc đã chuẩn bị ởtiết 102

* Theo Phân phối chương trình THCS, hướng dẫn giảng dạy phần Ngữ văn địaphương như sau:

- Sở GD - ĐT ủy nhiệm cho các Phòng GD - ĐT các huyện, thành phố lựa chọnnội dung cho các tiết thực hành ngoại khóa dựa trên các vấn đề sau:

+ Vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn

+ Những vấn đề đạo đức và pháp luật của địa phương tương ứng với các bài đãhọc

+ Những vấn đề bức xúc cần giáo dục ở địa phương như: trật tự an toàn giaothông, giáo dục môi trường, phòng chống HIV/AIDS, ma túy, tệ nạn xã hội,

+ Những gương người tốt, việc tốt, những học sinh chăm ngoan, vượt khó, họcgiỏi

+ Các hoạt động chính trị, xã hội của địa phương

- Nội dung tiết thực hành ngoại khóa có thể thay đổi từng năm

- Hình thức thể hiện: tổ chức trao đổi, thảo luận, liên hệ với thực tế nhà trường;

có thể tham quan, tổ chức thi tìm hiểu, có thể mời cán bộ, chuyên gia đến nói chuyện,trao đổi, tổ chức diễn đàn, câu lạc bộ văn học nghệ thuật, sân khấu hóa các tác phẩmvăn học dân gian ở địa phương,

Qua bảng thống kê và hướng dẫn thực hiện chương trình địa phương trên chúng

ta có thể thấy, nếu không có sự phối hợp, thống nhất giữa các phân môn rất có thểcùng một nội dung nhưng lặp lại hai hay nhiều lần dẫn đến chống lấn nhau (ví dụ khi

Trang 15

thực hiện tiết Rèn luyện chính tả, nội dung viết chính tả phụ âm cuối t/c , n/ng, thanhhỏi (  ) , ngã (  ), nguyên âm i/iê phụ âm đầu v/d/gi đều được thực hiện ở lớp 6,7nếu không có kế hoạch rất có thể bị trùng lặp); cũng như các môn học khác rất có thể

bị trùng lặp, hay bỏ sót kiến thức về địa phương Tuy nhiên nếu chúng ta biết khai tháchợp lý những kiến thức có liên quan theo hướng tích hợp từ đó xây dựng kế hoạch dạyhọc phù hợp thì học sinh sẽ có một kiến thức khá toàn vẹn về địa phương Nếu tíchhợp tốt, thì các môn học hoàn toàn có thể hỗ trợ cho nhau Ví dụ những kiến thức vềĐịa lí, Lịch sử có thể giúp học sinh làm tốt các bài thuyết minh về địa danh, sự kiệnlịch sử hay truyền thống, văn hóa, (các tiết 139-140, bài 33 của lớp 6 và tiết 92, bài31của lớp 8); nghị luận về các vấn đề có liên quan đến tình hình tự nhiên, môi trường,dân số, kinh tế, (các tiết 102, bài 19 và 145, bài 28 của lớp 9) ở địa phương Ngượclại những kiến thức về Ngữ văn, Lịch sử có thể hỗ trợ cho môn Địa lí trong việc xácđịnh những kiến thức về địa danh, địa giới hành chính, lịch sử phát triển của các vùng,miền, (tiết 50, bài 44, Địa lí 8; tiết 47, 48, 49, 50 bài 41, 42, 43, 54, Địa lí 9) Hoặcnhững kiến thức của môn Địa lí, Ngữ văn sẽ hỗ trợ cho bộ môn Lịch sử trong việc xácđịnh địa giới hành chính, trình bày những giá trị văn hóa, nghệ thuật, (tiết 32, Lịch

sử, lớp 6; tiết 32, 57, 65, Lịch sử 7; tiết 43, Lịch sử 8; tiết 37, 47, Lịch sử 9)

Như vậy, việc nghiên cứu kĩ chương trình sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc thựchiện các tiết giảng dạy Chương trình địa phương Bình Định trong nhà trường THCS

Giải pháp 2: Giao việc cụ thể cho học sinh trước khi học bài Chương trình địa phương.

Đây là một trong những bước rất quan trọng, khắc phục tình trạng không hợptác giữa học sinh với giáo viên, sự thiếu hứng thú của học sinh khi học tiết Chươngtrình địa phương Chính bước này sẽ góp phần làm nên một tiết Chương trình địaphương thành công, đúng ý nghĩa của nó

Để thực hiện việc này, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị từ trước Giáo viênphải yêu cầu học sinh chuẩn bị kĩ cho tiết Chương trình địa phương như mục đích bàihọc, xác định chủ đề, nội dung kiến thức sẽ được thực hiện trong tiết học, cách thứctiến hành, phân nhóm, chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ học tập, gợi ý địa chỉ một số nguồntài liệu tham khảo, cho tiết học mà học sinh có thể chuẩn bị được

Sau đây là một số biện pháp giúp thực hiện tốt giải pháp này:

Biện pháp 1: Chia nhóm hợp lí.

Trang 16

Điểm khác biệt của bài dạy Chương trình địa phương so với các bài dạy thôngthường khác là cần phải chia nhóm trước khi thực hành trên lớp Do đặc thù riêng biệtcủa chương trình đòi hỏi học sinh phải có sự phối hợp trong việc thu thập, lựa chọn,tìm hiểu, tổng hợp, sắp xếp và nhận xét lượng thông tin lớn nên giáo viên cần có sựphân chia nhóm cụ thể để các học sinh trong nhóm có điều kiện trao đổi lựa chọn vàtrình bày Đây cũng là cách để các cá nhân phát huy tính tích cực, tự chủ và vai trò củamình trong nhóm Trong quá trình chia nhóm cần có đủ các đối tượng Lựa chọn họcsinh khá giỏi, có năng lực, có khả năng điều hành nhóm làm nhóm trưởng Để làmđược điều này, giáo viên phải tìm hiểu kĩ, phân loại học sinh Có thể phân chia nhómtheo đơn vị tổ hoặc theo đơn vị địa phương (khu, thôn, xóm) để học sinh dễ dàng phốihợp

Biện pháp 2: Giao việc cụ thể cho các thành viên trong nhóm.

Để thực hiện tốt giải pháp này giáo viên có nhiều cách:

Thứ nhất, GV có thể giao việc cho nhóm trưởng, đề nghị nhóm trưởng phâncông lại nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm Nhóm trưởng có trách nhiệm đônđốc, nhắc nhở các bạn trong nhóm

Thứ hai, GV có thể trực tiếp giao việc cho từng HS: Cử học sinh phân loại, sắpxếp, nhận xét; học sinh ghi biên bản

Nếu làm tốt hoạt động giao việc cho học sinh sẽ hạn chế tình trạng chỉ có mộtvài học sinh tham gia, các học sinh khác không tham gia vào hoạt động của nhómmình

Công việc giao việc cho học sinh có thể tiến hành trong các khoảng thời giankhác nhau tùy thuộc vào mức độ khó dễ hay lượng thông tin của bài học: cuối tiết họctrước, hoặc ở nhiều tiết trước nếu bài yêu cầu sưu tầm, thống kê kiến thức đòi hỏi họcsinh phải có thời gian tìm hiểu nhiều hơn Công việc này phải tiến hành cụ thể và phảiđược đôn đốc, nhắc nhở thường xuyên Giáo viên phải giao việc thật cụ thể rõ ràngcho từng đối tượng Nhóm thảo luận cử nhóm trưởng, cử thành viên sưu tầm, tổnghợp, nhận xét, Chẳng hạn như: Cá nhân chuẩn bị sưu tầm, viết bài kiến thức liênquan đến bài học; nhóm thực hiện thống kê, phân loại, cử đại diện trình bày,

Ví dụ:

Trang 17

* Ngữ văn 6 - Bài 17 Tiết 71: Chương trình địa phương (phần Văn và Tập làmvăn) - Sưu tầm, kể chuyện dân gian, trò chơi dân gian, sinh hoạt dân gian Giáo viênyêu cầu học sinh chuẩn bị:

Đối với học sinh:

- Cá nhân từng học sinh:

+ Về kiến thức: học sinh ôn lại những thể loại truyện dân gian đã học trongchương trình Ngữ văn 6, tập 1 Tìm hiểu xem nơi mình đang sinh sống có các thể loạitruyện dân gian đã học ở trên không? Ghi chép lại và nắm chắc nội dung của một vàitruyện ở địa phương, so sánh với các truyện dân gian đã học Tìm hiểu một số sinhhoạt văn hóa dân gian ở địa phương như hát bội, hát bài chòi, đua ghe, Kể hoặc giớithiệu một truyện hay trò chơi dân gian mà em yêu thích

+ Về biểu mẫu: bảng thống kê các tác phẩm, bảng so sánh điểm giống và khácnhau giữa các thể loại,

+ Gợi ý nguồn tài liệu tham khảo: Ca dao, dân ca Nghĩa Bình (Đào Văn A), Cadao dân ca Nam Trung Bộ, Nước non Bình Định (Quách Tấn), Cẩm nan du lịch BìnhĐịnh, các sách, báo, tài liệu từ Internet, các nguồn truyền miệng từ ông bà, cha mẹ,

- Nhóm học sinh: trang phục hóa trang, dụng cụ một số trò chơi dân gian mà

các em dự định giới thiệu

* Ngữ văn 7 - Bài 18 và bài 33 Tiết 74, 133, 134: Chương trình địa phương(phần Văn và Tập làm văn) - Sưu tầm tục ngữ, ca dao, dân ca; cảm nhận vẻ đẹp củađịa phương qua các câu tục ngữ, ca dao, dân ca tìm được Giáo viên yêu cầu học sinhchuẩn bị:

- Cá nhân từng học sinh:

+ Kiến thức: học sinh ôn lại kiến thức về tục ngữ ca dao, dân ca Cách thứcphân biệt giữa tục ngữ, ca dao, dân ca ở địa phương với tục ngữ, ca dao, dân ca toàndân Sưu tầm tục ngữ, ca dao dân ca ở địa phương Bình Định theo định hướng chủ đềcủa giáo viên (như ca dao, dân ca về tình yêu; ca dao, hò vè về địa danh, vùng đất (sắpxếp theo địa lí địa phương cấp huyện); về lịch sử qua các phong trào khởi nghĩa; cadao dân ca về văn hóa: ghi lại những sinh hoạt, tập tục, nghề nghiệp, nhà ở, chợ búa,sản phẩm, văn hóa ẩm thực, ) Viết bài cảm nhận về vẻ đẹp của quê hương qua cáccâu tục ngữ, ca dao, dân ca tìm được

Trang 18

+ Biểu mẫu: thống kê các tác phẩm tục ngữ, ca dao, dân ca theo đề tài mà giáoviên đã định hướng (xem bảng bên dưới).

+ Gợi ý nguồn tài liệu tham khảo: Ca dao, dân ca Nghĩa Bình (Đào Văn A), Cadao dân ca Nam Trung Bộ (nhiều tác giả), Nước non Bình Định (Quách Tấn),

- Nhóm học sinh: tập hợp kết quả thống kê, lựa chọn trình bày trước tập thể lớp.

Khi thực hiện các bài này giáo viên cần sử dụng phần mềm iMindMap để vẽ sơ

đồ tư duy và trình chiếu nhằm đạt hiệu quả trực quan cao đồng thời giúp học sinh cócái nhìn toàn diện về địa phương Bình Định hoặc tạo lập cây thư mục để sắp xếp, quản

lý, bổ sung dữ liệu cho bài dạy qua các năm học

Trang 19

Ví dụ khi giới thiệu tục ngữ, ca dao, dân ca có liên quan đến các địa danh ở địaphương nơi các em sinh sống, từ sơ đồ tư duy trên ta có thể dẫn đến bảng tổng hợp sau

để giới thiệu

Đơn vị

hành

chính

Câu ca dao, dân ca có liên quan đến

địa phương Chú thích về các địa danh

Quy Nhơn - Cầu Đôi mà tháp cũng Đôi

Dễ chi nhân nghĩa mà rời được sao?

Cầu Đôi: bắt qua sông Hà

Thanh nối liền hai phường Nhơn Bình và Đống Đa.

Tháp Đôi (hay còn gọi làtháp Hưng Long): tọa lạc tại

góc đường Trần Hưng Đạo, đường Tháp Đôi, phường Đống Đa.

- Gió cầu Tấn trưa chiều thổi mátĐường Quy Nhơn mịn cát dễ điPhương Mai, Ghềnh Ráng tương triNgâm câu thủy tú, sơn kì thảnh thơi

(Bán đảo) Phương Mai: là

đoạn cuối của dải Triều Châu, nằm ở phía Đông đầm Thị Nại

Trang 20

Ghềnh Ráng: thuộc Phường

Ghềnh Ráng, cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 3km về phía Đông Nam

- Đố ai con rít mấy chưn (chân)Tàu ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người?

Chợ Dinh: thuộc phường

Nhơn Bình, Phía Bắc thành phố Quy Nhơn.

Phù Cát - Chiều chiều mưa phủ núi Bà

Ếch kêu giếng lạng, mây sa đầy đồng

Núi Bà (còn có tên khác làPhô Nghinh Đại Sơn): nằm

ở phía Đông Nam huyện PhùCát Có 66 đỉnh, đỉnh caonhất 1.100m với diện tíchkhoảng 40 km2

- Trông về Chánh Lý, Mò OCảm thương bên ấy ai lo, đừng buồn

Chánh Lý: một thôn nhỏ của

xã Cát Nhơn, Phù Cát Núi Mò O: cao 200m, nằm ởphía Nam thôn Chánh Mẫn,

xã Cát Nhơn, Phù Cát, tiếpgiáp với phường NhơnThành, thị xã An Nhơn

- Đường đi cát lún ngang giò

Ra đi còn nhớ đường đò Chánh Oai

Chánh Oai: thuộc xã CátHải, phía Đông huyện PhùCát

- Vọng Phu thuộc dãy núi BàPhước Sơn chất ngất gọi là hòn Ông Phải chi đây vợ đó chồng

Gánh tương tư khỏi nặng lòng nước non

Hòn Vọng Phu: thuộc thônChánh Oai, xã Cát Hải, phíaĐông huyện Phù Cát

Hòn ông : một ngọn núi nhỏthuộc xã Phước Sơn huyệnTuy Phước (không phải HònÔng ở Canh Hiển, VânCanh)

- Muốn ăn bánh ít nhân mèLấy chồng Hòa Đại đạp chè đen chân

Hòa Đại: một thôn nhỏthuộc xã Cát Hiệp, phía Bắc

Trang 21

- Muốn ăn bánh ít nhân tômLấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

- Anh về Hòa Đại hái chè

Bỏ cây cam mật sau hè ai trông

huyện Phù Cát

- Anh về qua cửa Đề GiNghe mùi chả cá chân đi không đành

Đề Gi: thuộc xã Cát Khánh,phía Đông huyện Phù Cát

- Em về mua vải chợ Gồm

Gò Găng mua nón phiên Chàm anh vô

Chợ Gồm: thuộc xã CátHanh, phía Bắc huyện PhùCát

Gò Găng: thuộc thị xã AnNhơn

- An Hành năm bữa một phiênGặp cô bán bún nên duyên vợ chồng

-…

- Chợ An Hành: Ngày nay làchợ Phù Cát Thuộc Thị TrấnNgô Mây, huyện Phù Cát

Tuy Phước - Tháp Bánh Ít đứng xí cầu Bà Gi

Sông xanh núi cũng xanh rì

Vô Nam ra Bắc ai cũng đi đường này

Nghìn thu gương cũ còn đâyLòng ơi phải lo nung son sắc kẻo nữa đầy bể dâu

- Tuy Phước nổi tiếng vớimón nem chua ở ChợHuyện, thuộc xã Phước Lộc

- Hưng Thạnh là một làngven biển thuộc phườngĐống Đa thành phố QuyNhơn nơi có tháp Đôi còngọi là tháp Hưng Thạnh

- Hà Thanh nước mãi trong xanhĐèo Son thắm mãi mối tình đôi taSông sâu cầu đã bắt qua

Nén hương bên tháp gọi là đền ơn

- Sông Hà Thanh chảy quahuyện Tuy Phước

- Đèo Son nằm ở phía Tâythành phố Quy Nhơn

- Muốn về Luật Lễ ăn dưa

Sợ e nước lớn đò đưa không đều

- Luật Lễ là một thôn thuộcthị trấn Diêu Trì, huyện Tuy

Trang 22

- Muốn ăn đi xuốngMuốn uống đi lênDạo khắp bốn bên

- Chợ Dinh thuộc phường Nhơn Bình, TP Quy Nhơn chuyên bán chả cá; Chợ Chợ Thành, chợ Giã

Chợ Dinh bán chảChợ Huyện bán nem

Huyện thuộc xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước chuyên bán nem chua

- Anh về dưới vạn Gò BồiBán mắm bán cá lần hồi cưới em

- Nước mắm Gò BồiTrã nồi An Thái

- Gò Bồi thuộc làng TùngGiảng, xã Phước Hòa, huyệnTuy Phước nổi tiếng làmnghề nước mắm, đây cũng lànơi có chợ cá buôn bánngược xuôi đây cũng là quê

mẹ của thi sĩ Xuân Diệu; AnThái thuộc thị xã An Nhơnnổi tiếng nghề làm trã nồibằng đất nung; hiện nay rấtnổi tiếng với nghề làm búnsong thằn

Em về dưới chợ Kỳ SơnMua tôm mua cá đền ơn mẹ già

- Kỳ Sơn thuộc huyện TuyPhước, nơi có ngọn Kỳ Sơnnổi tiếng

- Bao giờ Trường Úc hết vôiĐôi ta hết đứng hết ngồi với nhau

- Bao giờ Trường Úc hết vôiBiển Đông hết cá thì tôi hết yêu nàng

-Trường Úc thuộc thị trấnTuy Phước, huyện TuyPhước, nổi tiếng về nghềnung vôi, nơi đây cũng cóchợ Trường Úc

* Ngữ văn 7 - Bài 34 Tiết 137, 138: Chương trình địa phương (phần Tiếng Việt)

- Rèn luyện chính tả Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị:

- Cá nhân từng học sinh:

+ Kiến thức: ngoài việc thực hiện các yêu cầu trong sách giáo khoa, dưới sựhướng dẫn của giáo viên, học sinh biết phân biệt sự khác nhau giữa các từ gần âm nhưvần ac - at, các nguyên âm i - iê, o - ô, phụ âm đầu x - s, d - g - v, phụ âm cuối như c -

Trang 23

t, n - ng; phân biệt dấu hỏi (  ) và ngã (  ); cho học sinh chỉ ra nguyên nhân dẫnđến việc phát âm sai khi dùng từ địa phương.

+ Biểu mẫu: lập bảng thống kê so sánh, trình bày kết quả

+ Gợi ý nguồn tài liệu tham khảo: Ca dao, dân ca Nghĩa Bình (Đào Văn A), Cadao dân ca Nam Trung Bộ (nhiều tác giả), Từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học), Từđiển chính tả, Từ điển vần (Hoàng Phê), Từ điển phương ngữ tiếng Việt (PGS TSPhạm Văn Hảo chủ biên),

- Nhóm học sinh: tập hợp kết quả thống kê, trình bày trước tập thể

Giải pháp 3:Cần rèn cho học sinh các kĩ năng trình bày qua các bài học

lý thuyết.

- Việc rèn luyện kỹ năng trình bày ở các bài học lý thuyết có những mục đíchnhư: Giúp học sinh biết cách tổng hợp, so sánh, viết bài, trình bày (viết, nói, biểudiễn, ) các vấn đề có liên quan đến bài học Từ đó học sinh có điều kiện thâm nhậpthực tế, trình bày vấn đề theo nhận thức của các em Học sinh có thái độ hoạt động tíchcực, ham tìm hiểu, khám phá, về những vấn đề của địa phương; hình thành dần tìnhyêu đối với quê hương đất nước Việc làm này giáo viên phải cho học sinh tiến hànhthường xuyên trong tiết học lý thuyết Qua đó một số kỹ năng đã được học sinh biếtđến trong bài lý thuyết, phần nào giúp cho học sinh khỏi bỡ ngỡ khi thược hiện các bàihọc Chương trình địa phương theo yêu cầu của giáo viên

- Từ việc xác định được các kỹ năng mà học sinh đã biết giáo viên định hướngđược thời gian, phương pháp tổ chức tiến hành, cách đánh giá học sinh trong quá trìnhhọc tập

- Muốn rèn các kỹ năng trên cho học sinh, trong tiết lý thuyết giáo viên phải có

sự chuẩn bị chu đáo từ khâu xác định mục đích yêu cầu bài học đến lựa chọn kiếnthức, cách thức tiến hành, đến hướng dẫn học sinh thực hiện, nhận xét, đánh giá, rútkinh nghiệm; tránh hoạt động biểu diễn của giáo viên

- Ngoài việc rèn luyện kĩ năng thảo luận nhóm, đàm thoại, trình bày, đánh giá, qua các tiết học, giáo viên cũng phải rèn luyện, ôn tập kiến thức liên quan đến nộidung bài học

Ví dụ:

Để thực hiện tiết 71 bài 17 (Ngữ văn 6): Chương trình địa phương (phần Văn vàTập làm văn), giáo viên cho học sinh ôn tập kĩ các khái niệm về truyện dân gian đã

Trang 24

học (truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, ) ở các bài 1 (khái niệmtruyện truyền thuyết, sgk NV6 tập 1, trang 7), bài 5 (khái niệm truyện cổ tích, sgkNV6 tập 1, trang 53), bài 10 (khái niệm truyện ngụ ngôn, sgk NV6 tập 1, trang 100),bài 12 (khái niệm truyện cười, sgk NV6 tập 1, trang 124), ; kiến thức về văn tự sự ởcác bài 2 (Tìm hiểu chung về văn tự sự, sgk NV6 tập 1, trang 27), bài 3 (Sự việc vànhân vật trong văn tự sự, sgk NV6 tập 1, trang 37), bài 4 (Chủ đề và dàn bài của bàivăn tự sự, tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự, sgk NV6 tập 1, trang 44 - 47), bài 5(Lời văn, đoạn văn tự sự, sgk NV6 tập 1, trang 58), bài 8 (Ngôi kể trong văn tự sự, sgkNV6 tập 1, trang 87), bài 9 (Thứ tự kể trong văn tự sự, sgk NV6 tập 1, trang 97), bài

12 (Kể chuyện tưởng tượng, sgk NV6 tập 1, trang 135, 139), ; kiến thức, kĩ năng nóiqua các bài 7, bài 10 (Luyện nói kể chuyện, sgk NV6 tập 1, trang 77, 111), bài 16(Hoạt động Ngữ văn: Thi kể chuyện, sgk NV6 tập 1, trang 168),

Để thực hiện tiết 87, bài 21(Ngữ văn 6): Chương trình địa phương (phần tiếngViệt) - Rèn luyện chính tả Ngoài những kiến thức về tiếng Việt đã học ở bậc Tiểu học,các em cần phải nắm được hệ thống từ loại danh từ, động từ, tính từ, đặc điểm, cấutạo, khả năng liên kết của hệ thống từ loại này Bài 1 (Từ và cấu tạo từ tiếng Việt, sgkNV6 tập 1, trang 13), bài 2 (Từ mượn, sgk NV6 tập 1, trang 24), bài 3 (Nghĩa của từ,sgk NV6 tập 1, trang 35), bài 5 (Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ,trang 55), bài 6, 7 (Chữa lỗi dùng từ, sgk NV6 tập 1, trang 68, 75),

Đó là chương trình Ngữ văn lớp 6, sang các lớp tiếp theo thì việc rèn luyện kĩnăng càng phải được chú trọng nhiều hơn, ví dụ:

+ Chương trình Ngữ văn 7: ngoài việc rèn luyện kĩ năng sưu tầm, tổng hợp cầnrèn luyện kĩ năng so sánh (đã học ở lớp 6 qua các bài 19, 21, NV6, tập 2, trang 24, 41).Việc nắm vững những kiến thức về văn bản biểu cảm cũng vô cùng cần thiết khi muốntrình bày những cảm nhận về vẻ đẹp của địa phương qua các câu tục ngữ, ca dao, dân

ca Bình Định Điều này chỉ có thể có được khi học tập các bài về văn bản biểu cảm ởlớp 7: bài 5 (Tìm hiểu chung về văn biểu cảm, NV7, tập 1, trang 71), bài 6 (Đặc điểmcủa văn biểu cảm, đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm, NV7, tập 1, trang84,87), bài 9 (Cách lập ý của bài văn biểu cảm, NV7, tập 1, trang 117), bài 10 (Luyệnnói: Văn biểu cảm về sự vật, con người, NV7, tập 1, trang 129), bài 12 (Cách làm bàivăn biểu cảm về tác phẩm văn học, NV7, tập 1, trang 146), bài 13 (Luyện nói: Phátbiểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học),

Trang 25

Giải pháp 4:Tổ chức tốt tiết Chương trình địa phương.

Để thực hiện tốt giải pháp này, theo tôi cần có một số biện pháp:

Biện pháp 1: Trước khi dạy nhất thiết phải tìm hiểu thật kĩ nội dung giảng dạy.

Do có tính chất rộng, đơn vị kiến thức nhiều khi không chuẩn xác lại chưa đượckiểm chứng nên bắt buộc người giáo viên phải tìm hiểu thật kĩ để xác định thông tin

đúng, sai

Việc chuẩn bị kĩ trước khi đến lớp có nhiều thuận lợi như: Giáo viên chủ động đểchuẩn bị các đồ dùng dạy học đầy đủ; giáo viên có thể phát hiện được yêu cầu, đặcđiểm, cách thức thực hiện hoạt động; dự kiến những tình huống có thể xảy ra gây ảnhhưởng không tốt đến bài học Từ đó giáo viên có thể tự tin khi hướng dẫn cho học sinhthực hiện trên lớp

Qua việc làm này giúp giáo viên có thể thu được kết quả tích cực, làm cơ sở đểđánh giá kết quả chuẩn bị của các nhóm học sinh

Biện pháp 2: Xác định mục đích, cách thức tổ chức tiết học hợp lí.

Việc tổ chức tiết Chương trình địa phương có nhiều cách thức khác nhau.Ngoài cách tổ chức theo kiểu dạy học truyền thống trên lớp (học sinh trả lời các câuhỏi sách giáo khoa theo yêu cầu và sự hướng dẫn của giáo viên), người dạy có thểchọn các cách tiến hành khác để tạo hứng thú cho học sinh như dã ngoại, tham quan,tọa đàm, giao lưu, gặp gỡ nhân vật, sự kiện, hoặc kết hợp với các hoạt động ngoạikhóa khác như sinh hoạt câu lạc bộ văn học, nghệ thuật, hội diễn văn nghệ, Sựphong phú và mới lạ trong cách thức tổ chức sẽ góp phần quan trọng để học sinh cảmthấy hứng thú khi học những bài Chương trình địa phương Bình Định

Hầu hết các bài thuộc về Chương trình địa phương có dung lượng kiến thức khálớn, giáo viên khó có thể cho học sinh thực hiện hết, trọn vẹn trong một hoặc hai tiếtdạy Trong một bài học, đôi khi có những kiến thức không liên quan đến địa phươngmình đang sinh sống (ví như các bài Chương trình địa phương - phần tiếng Việt, cónhững phần, những nội dung thuộc về địa phương khác), giáo viên phải biết chọn đơn

vị kiến thức phù hợp, trọng tâm, trọng điểm có liên quan đến địa phương Bình Địnhhoặc miền Trung để giảng dạy, từ đó nêu ra điểm khác biệt của những đơn vị kiến thứcbài học của người Bình Định nói riêng và của người Nam Trung bộ nói chung so vớiđơn vị kiến thức toàn dân

Trang 26

Ví dụ:

Để thực hiện bài 17, bài 33 Ngữ văn 6 Chương trình Ngữ văn (phần Văn và Tậplàm văn), bài 31 Ngữ văn 8 Chương trình địa phương (phần Tập làm văn), bài 19, 28Chương trình địa phương (phần Tập làm văn) có hai cách thực hiện: Cách thứ nhất:Thực hiện trên lớp Giáo viên, học sinh ngoài việc chuẩn bị cho mình một số mẩuchuyện dân gian còn cần chuẩn bị một số trò chơi dân gian (bảng thuyết minh, giớithiệu, dụng cụ thực hiện, trang phục, yêu cầu, kết quả, ) Ví dụ: khi giới thiệu vềphong trào khởi nghĩa Tây Sơn giáo viên có thể cho học sinh kể lại mẩu chuyện "Ấn,Kiếm Tây Sơn" (sgk Ngữ văn 6, tập 1, trang 43) kèm theo những hình ảnh, hiện vật vềphong trào Tây Sơn; hoặc khi giới thiệu về sự tích các địa danh có thể giới thiệu tranhảnh có liên quan đến địa danh được kể; hoặc cho các em quan sát băng hình sân khấuhóa về phong trào này (Giáo viên nên có bản thuyết minh, giới, nhận xét, bình luận,cho học sinh nêu cảm tưởng, ) để tiết học trở nên sinh động Cách thứ hai: Tổ chức đi

dã ngoại đến địa danh có sự kiện (nên thực hiện ở những địa điểm trong địa phương

xã, huyện)

Sau đây là hình ảnh mà giáo viên và trường THCS Cát Trinh chúng tôi đã tổchức để cụ thể hóa các hoạt động đã nêu:

Văn nghệ tại lớp(Phần khởi động cho bài học: Chương

trình địa phương)

Hoạt động tham quan ngoại khóa, phục

vụ cho bài dạy:

(Tham quan bảo tàng Tây Sơn)Tuy nhiên đây chỉ là hoạt động riêng lẻ của cá nhân giáo viên và nhà trườngchúng tôi, để trở thành phong trào và có tính chất hệ thống Sở giáo dục và Phòng giáo

Trang 27

dục cũng nên tổ chức một số hoạt động thường xuyên như đưa nghệ thuật hát tuồng,bài chòi, vào biểu diễn ở trường học Có như thế những giá trị cần bảo tồn và pháthuy của tỉnh nhà mới có điều kiện đến với thực tế học sinh.

Cần lắm những hoạt động thường xuyên như thế này trong nhà trường chúng ta!

(Ảnh sưu tầm từ Internet: Biểu diễn trích đoạn vở tuồng “Trần Quốc Toản ra quân”- Nhà hát

tuồng Nguyễn Hữu Dĩnh tại trường tiểu học Trần Cao Vân)

Sau đây là bảng tổng hợp về một số địa danh mà giáo viên, học sinh có thểtham khảo, thực hiện:

Đơn vị

Quy Nhơn Mộ Hàn Mặc Tử (Qui Hòa), Đầm Thị Nại (còn có tên khác là

Hải Hạc Đàm, đầm lớn nhất của Bình Định, nơi nhận nước của sôngCôn và sông Hà Thanh, một số địa danh có liên quan: dãy Triều Châu,Gành Hổ, Cổ Rùa, Tháp Thầy Bói, Bãi Nhạn, ), Tháp Đôi (PhườngĐống Đa), Bãi Trứng (hay còn gọi là bãi tắm Hoàng Hậu, thuộc khu

du lịch Ghềnh Ráng),

Tuy Phước Đua thuyền ở Vạn Gò Bồi, Nhà lưu niệm Xuân Diệu (thôn

Tùng Giản, xã Phước Hòa), Hội Xuân Chợ Gò (thuộc thị trấn TuyPhước), Tháp Bánh Ít (còn gọi là tháp Bạc, thuộc xã Phước Hiệp),Tháp Bình Lâm (thuộc xã Phước Hòa),

An Nhơn Thành Đồ Bàn (còn có tên khác là thành Chà Bàn, hay thành

Trang 28

Hoàng Đế, thuộc xã Nhơn Hậu), Lăng Võ Tánh (Nằm trong nội thànhHoàng Đế), Suối Đục (tên chữ là Trược tuyền, phát nguyên từ TùngChánh, đổ vào sông Gò Găng - còn gọi là sông Vai Vạc), Sông AnTượng (phát nguyên tại Hòn Bà, chảy vào đầm Thị Nại), Ngạc Đàm(còn gọi là Bàu Sấu, giữa thôn Đại Bình ở phía Tây và thôn ThiếtTràng ở phía Đông, gắn liền với cuộc khởi nghĩa Mai Xuân Thưởng),Văn Miếu (thuộc Phường Nhơn Thành), Trường Thi (Thôn Hòa Nghi,

xã Nhơn Hòa, phía Nam thành Bình Định), Chùa Nhạn Sơn (thuộcthôn Nhạn Tháp, xã Nhơn Hậu), Thành Bình Định (nằm trên đường

Lê Hồng Phong, thuộc Phường Bình Định), Chùa Thập Tháp (thuộcthôn Vạn Thuận, phường Nhơn Thành, một trong những chùa cổ vàlớn của miền Trung, nơi đây còn có di tích hòn đá chém), Tháp CánhTiên (thuộc xã Nhơn Hậu), Tháp Phú Lốc (còn gọi là tháp Vàng,thuộc phường Nhơn Thành), Lễ Hội Đổ Giàn (tổ chức vào ngày15/7 âm lịch hàng năm tại chùa Bà, làng An Thái),

Phù Cát Suối Nước Nóng (tên chữ là Thang Khê, thuộc thôn Hội Vân,

Cát Hiệp), Sông La Tinh (bắt nguồn từ hồ Hội Sơn, kết thúc khi đổvào đầm Nước Ngọt), Chợ Cách Thử (thuộc thôn Phương Phi, xã CátTiến), Cửa Đề Gi (thuộc xã Cát Khánh), Đá Vọng Phu (thuộc thônthôn Chánh Oai, Cát Hải), Hang Chàng Lía (thuộc thôn An Đức, xãCát Trinh), Chùa Linh Phong (còn có tên khác là Linh Phong Thiền

Tự, hay thường gọi là chùa Ông Núi, thuộc thôn Phương Phi, xã CátTiến),

Phù Mỹ Cửa Hà Ra (xã Mỹ Đức), Đầm Đạm Thủy (Bắt có dãy Lạc

Phụng thuộc Phù Mỹ, Nam có dãy Núi Bà thuộc Phù Cát làm phêndậu), Đầm Trà Ô (còn có tên gọi khác là Trà Ồ, đầm Bàu Bàn, đầmChâu Trúc), Chùa Hang (còn gọi là Thạch Cốc Tự, hay Thiên SanhThạch Tự, thuộc thôn Hội Khánh, xã Mỹ Hòa), Chiến thắng ĐèoNhong - Dương Liễu (thuộc xã Mỹ Phong và Mỹ Trinh),

Hoài Nhơn Cửa An Giũ (xã Hoài Hương), Cửa Kim Bồng (dưới chân dãy

Bình Đê, ăn thông vào cửa Tân Quan), Đồi Mười (phía Đông xã HoàiChâu Bắc),

Hoài Ân Căn cứ Truông Mây và mộ Chàng Lía (thuộc thôn Ân Đức, xã

Trang 29

Phú Thuận),

Tây sơn Suối Đá Dàn (phát nguyên từ Phú Lạc, chảy ra suối Thuận

Ninh), Suối Từ Bi (phát nguyên tại vùng đèo Bồ Bồ, chảy vào sông

Hà Giao, thuộc ấp Tiên Thuận, xã Bình Giang), Suối Đá Trải (phátnguyên tại Đồng Lớn, xã Bình Nghi, chảy ra sông Côn), Đền Tây Sơn(thuộc thôn Kiên Mỹ, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn), Lăng MaiXuân Thưởng (thuộc xã Bình Tường, nơi thờ tự người anh hùng MaiXuân Thưởng), Hầm Hô (thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú, có nhiều cảnhđep), Tháp Dương Long (còn gọi là tháp Ngà, thuộc xã Bình Hòa),tháp Thủ Thiện (thuộc xã Bình Nghi), Từ đường Võ Văn Dũng (thuộcthôn Phú Mỹ, xã Tây Phú), Từ đường Bùi Thị Xuân (thuộc Phú Xuân,Tây Xuân), Đàn tế trời Tây Sơn (thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường), Khutưởng niệm Nguyễn Sinh Sắc tại huyện đường Bình Khê (thônThượng Giang 2, xãTây Giang),

An Lão Lại Dương Giang (khởi nguồn từ vùng rừng núi An Lão, chảy

qua Hoài Ân, Hoài Nhơn, kết thúc khi đổ vào cửa An Dũ), Sông Côn(bắt nguồn từ vùng rừng núi Gia Lai chảy qua An Lão, Vĩnh Thạnh,Tây Sơn, Vân Canh, An Nhơn, Tuy Phước, rồi đổ ra đầm Thị Nại),Chiến thắng An Lão (thuộc xã An Trung),

Vân Canh Sông Hà Thanh (bắt nguồn từ ba con suối nhỏ, hợp nhau ở Vân

Canh cuối cùng đổ vào đầm Thị Nại),

Vĩnh Thạnh Chiến thắng Tờ-lók - Tờ lék (thuộc xã Vĩnh Thịnh và xã Vĩnh

Hiệp),

Biện pháp 3: Làm tốt khâu chuẩn bị.

Để bài học được diễn ra một cách thuận lợi, có hiệu quả, giáo viên cần phảithực hiện tốt bước chuẩn bị

Đối với các tiết thực hiện trên lớp, giáo viên ngoài việc chuẩn bị giáo án, dựkiến các tình huống có thể xảy ra và cách xử lý còn cần phải chuẩn bị đồ dùng dạy họcphù hợp cho tiết dạy Có hai loại đồ dùng thông dụng: đồ dùng thuộc kênh chữ và đồdùng thuộc kênh hình Đồ dùng thuộc kênh chữ thường là nội dung các câu hỏi sáchgiáo khoa (phần rèn luyện chính tả - điền vào chỗ trống), các bảng tổng hợp, sơ đồ tưduy bài học, Đồ dùng thuộc kênh hình thường là những hình ảnh, hiện vật, đoạnphim tư liệu về địa danh, sự kiện, sinh hoạt văn hóa dân gian, các tác giả, tác phẩm, cần giới thiệu, thuyết minh, nghị luận Trong các bài Chương trình địa phương Việc

Trang 30

lựa chọn, kết hợp các loại đồ dùng phù hợp phục vụ cho tiết học sẽ góp phần khôngnhỏ tạo nên sự hứng thú và thành công cho cả học sinh và giáo viên

Ví dụ:

Khi thực hiện những bài có liên quan đến giới thiệu, thuyết minh những di tíchlịch sử ở lớp 6 (tiết 139, 140), lớp 8 (tiết 92), giáo viên có thể lựa chọn, giới thiệunhững tranh ảnh có liên quan bằng cách đặt câu hỏi:

Câu hỏi 1 Em hãy nêu tên một số danh lam thắng cảnh hoặc tên những di tíchlịch sử ở địa phương nơi em đang sinh sống? Học sinh trả lời Giáo viên kết luận, trìnhbày bảng phụ (kênh chữ) có nêu một số địa danh ở địa phương để học sinh quan sát.Giáo viên có thể tham khảo bảng thống kê các địa danh ở mục biện pháp 1 Nên chọnđịa danh theo xã, huyện để gần gũi với học sinh

Câu hỏi 2: Theo các em những hình ảnh dưới đây có liên quan đến di tích lịch

sử hoặc danh lam thắng cảnh nào ở địa phương Bình Định? Giáo viên chọn ảnh giớithiệu (kênh hình) Học sinh nhận diện trả lời

Hay khi thực hiện phần giới thiệu một số sinh hoạt văn hóa dân gian ở địaphương, giáo viên cũng có thể ra câu hỏi:

Câu hỏi 1 Em hãy nêu một số sinh hoạt văn hóa dân gian ở địa phương mà embiết? Học sinh nêu, giáo viên nhận xét

Câu hỏi 2 Theo em, những hình ảnh dưới đây giới thiệu về sinh hoạt văn hóadân gian nào? Giáo viên giới thiệu ảnh, đoạn phim tư liệu hoặc hiện vật phục vụ chosinh hoạt văn hóa dân gian ở địa phương (kênh hình) Nếu có sự chuẩn bị tốt, giáo viênhoặc học sinh có thể biểu diễn hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian đó

Nếu là hoạt động ngoại khóa, giáo viên cần liên hệ trước những cá nhân, tổchức quản lý danh lam, thắng cảnh dự định cho học sinh tham quan Nếu là hình thứcsinh hoạt dân gian (như hát tuồng, bài chòi, đua ghe, ) thì cần liên hệ trước các cơquan, tổ chức, cá nhân có sự chuẩn bị trước để có thể biểu diễn, giao lưu trực tiếp vớihọc sinh Đối với các hoạt động ngoại khóa, giáo viên có thể định hướng một số nộidung để sau khi đi thực tế, học sinh có thể làm bài thu hoạch hoặc trình bày, bàn luậnvấn đề trước tập thể

Ví dụ một số câu hỏi được sử dụng sau khi đi thực tế:

- Đối với bài thu hoạch về các danh lam, thắng cảnh, giáo viên đã sử dụng cáccâu hỏi:

Trang 31

Câu hỏi 1: Xác định vị trí địa lí của di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh.Câu hỏi 2: Trình bày về nguồn gốc, quá trình hình thành, các giai thoại (nếu có)

về di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh

Câu hỏi 3: Vai trò của di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh đối với địaphương Bình Định

Câu hỏi 4: Thái độ và hành động của em đối với di tích hoặc danh lam thắngcảnh ở địa phương

Câu 4: Thái độ và hành động của các em về vấn đề bảo lưu, gìn giữ và phát huyhình thức sinh hoạt văn hóa dân gian ở địa phương (có so sánh với các hình thức sinhhoạt ngày nay: phim ảnh, trò chơi điện tử, )

Để giúp cho học sinh tự đề xuất được phương án thực hiện có thể tiến hành theonhững cách sau:

+ Giáo viên căn cứ vào kiến thức cũ để hướng dẫn học sinh tự đề xuất phương

án tiến hành, chọn nội dung cho phù hợp với tình hình địa phương và khả năng thựchiện của học sinh

Trang 32

+ Dựa vào sự chuẩn bị của học sinh có kết hợp sách giáo khoa, định hướng nộidung cách thức tổ chức của giáo viên để tiến hành trên lớp hoặc ngoài lớp sao cho linhhoạt, tự nhiên, tránh gò bó, hình thức.

Ví dụ: Bài 17 (NV6): Chương trình địa phương (phần Văn và Tập làm văn): Sưu

tầm, kể chuyện dân gian, trò chơi dân gian, sinh hoạt dân gian Giáo viên có thể nêucâu hỏi:

GV: Kể tên một số thể loại truyện dân gian mà em đã học?

HS: Truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười

GV: Em hãy kể tên một số truyện dân gian nơi em đang sinh sống?

HS: Truyện “Ấn, Kiếm Tây Sơn”, Sự tích hòn Vọng Phu, chuyện "Chàng Lía",chuyện ông khổng lồ, (căn cứ vào địa phương nơi các em sinh sống mà trả lời) Sau đây là một số tên chuyện mà các em có thể lấy làm tư liệu để trình bày:

Đơn vị hành

chính

Địa danh

Quy Nhơn Cổ tích về Eo Vược và Sòng Tát Khổng Lồ (thuộc dãy Triều Châu),

Sự tích về tháp Thầy Bói ở đầm Thị Nại,

Tuy Phước Sự tích bà Cố Hỷ (thôn Huỳnh Giảng, Phước Hòa), Sự tích khổng lồ

ăn cá bỏ xương ở Hòn Xương Cá (hay gọi là hòn Ngư Cốt), truyềnthuyết về lăng Tướng Rái ở làng Dương Thiện,

An Nhơn Sự tích hai ông đá chùa Nhạn Sơn (Nhơn Hậu), Sự tích vỏ lúa ở chùa

Thập Tháp (Nhơn Hậu), Trường Thi và truyền thuyết về người anhhùng Mai Xuân Thưởng (Nhơn Hậu), Hòn Gian và sự tích rít nhảngọc,

Phù Cát Truyền thuyết về chùa Linh Phong (Cát Tiến), Sự tích hang chàng Lía

(Cát Trinh), Sự tích Đá Vọng Phu (Cát Hải), sự tích gò Xa Tó (gò xegãy - Cát Hanh), sự tích thử tiền thật-giả ở chợ Cách Thử (CátTiến),

Phù Mỹ Sự tích mộ ông Khám, Sự tích Cao Biền chém đôi hòn Vi Rồng, cổ

tích về lăng Mãn Xà Vương (lăng Ông Mãn) ở thôn An Xuyên, MỹChánh,

Hoài Ân Sự tích về Truông Mây và chàng Lía, Sự tích về tổ mộ họ Trần (Trần

Quang Diệu),

Tây sơn Sự tích thu phục đàn ngựa trắng của Nguyễn Nhạc ở núi Ngang, cổ

tích về mộ của ông Nguyễn Phi Phúc (thân sinh ba anh em nhà Tây

Trang 33

Sơn) ở Hoành Sơn, Truyền thuyết về việc Nguyễn Nhạc nhận sắcphong vương, ấn, kiếm Sự tích Hầm Hô và Thác Cá Bay, Núi Ngang

và những truyền thuyết về nhà Tây Sơn, sự tích Miếu Xà, truyềnthuyết về anh hùng Mai Xuân Thưởng, Sự tích ông khổng lồ gánh TràSơn và Khánh Long, truyền thuyết về việc Nguyễn Nhạc tin thầy địa

lí Tầu đào hai nhánh sông Đá Hàng thành Tả Trạch và Hữu Trạch vàđào thêm sông La Vỹ làm đứt long mạch nhà Tây Sơn, Sự tích vềnhững dấu tích để lại của ông khổng lồ ở suối Đá Trải (xã BìnhNghi),

An Lão Sự tích về tổ mộ họ Phan (Phan Thanh Giản),

Vân Canh Sự tích có tiên trên Hòn Ông,

là cho học sinh biểu diễn tiết mục, trích đoạn (tuy nhiên phải thật cẩn thận nếu không

sẽ trở thành trò cười, phản tác dụng và mục tiêu bài học)

Ví dụ: Khi thực hiện bài 17, NV6 - Chương trình địa phương (phần Văn và Tậplàm văn): Sưu tầm, kể chuyện dân gian, trò chơi dân gian, sinh hoạt dân gian Ngoàiviệc giáo viên cho các em sưu tầm các mẩu chuyện dân gian, kể lại nội dung câuchuyện (có thể một em kể hoặc nhiều em cùng tham gia kể theo phương pháp đóngvai, cho các học sinh khác nhận xét, rút ra bài học, Giáo viên có thể cho các em tự

Ngày đăng: 07/05/2023, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Hoàng Phê, 2010, Từ Điển Vần - NXB Từ điển Bách khoa 10. Châu Nhiên Khanh sưu tầm, 2004, Ca dao Việt Nam - NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: sưu tầm
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa 10. Châu Nhiên Khanh "sưu tầm"
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 6, 7, 8, 9 NXB Giáo dục 2. Sách giáo viên Ngữ văn 6, 7, 8, 9 NXB Giáo dục Khác
3. Phân phối chương trình môn Ngữ văn, Lịch Sử, Địa lí THCS của Sở GD&ĐT tỉnh Bình Định Khác
4. PGS Phạm Viết Vượng, 1996, Phương pháp nguyên cứu khoa học giáo dục Khác
5. PGS Nguyễn Quang Uẩn, 1995, Tâm lí học đại cương Khác
6. GS Bùi Quang Tịnh, Bùi Thị Tuyết Khanh, 2001, Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin Khác
7. Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường, 1999, Từ điển Văn học Việt Nam- NXB Giáo dục Khác
8. Nguyễn Như Ý, Đỗ Việt Hùng, 2006, Từ điển Chính tả tiếng Việt - NXB Thanh niên Khác
11. Thạch Phương, Ngô Quang Hiến (Sưu tầm -tuyển chọn), Ca dao, dân ca Nam Trung Bộ, NXB Tổng hợp - Tp Hồ Chí Minh Khác
12. Đào Văn A, 1986, Ca dao, dân ca Nghĩa Bình (Quyển 1), NXB Nghĩa Bình Khác
13. Quách Tấn, 1999, Nước non Bình Định - NXB Thanh niên Khác
14. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII và lần thứ VII khóa IX Khác
16. Cẩm nan Du lịch Bình Định 17. Wedsite:http:://WWW.edu.net.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w