Bài tài chính nhóm 18 Thu từ nhận viện trợ Luật Tài chính Các khái niệm Ngân sách nhà nước Khoản 14 Điều 4 Luật Ngân sách Nhà nước quy định cụ thể về ngân sách nhà nước như sau “Ngân sách nhà nước là.
Trang 1Thu từ nhận viện trợ
chính
Trang 2Các khái niệm
Ngân sách nhà nước
Kho n ả 14 Đi u ề 4 Lu t ậ Ngân sách Nhà n c ướ quy đ nh ị c ụ th ể v ề ngân sách nhà n c ướ nh ư sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Nh ư v y, nói ậ d ễ hi u ể thì ngân sách Nhà n c ướ là m t ộ danh sách thu, chi có kế hoạch của Nhà nước.
Trang 3Thu ngân sách nhà
nước
“Thu” có nghĩa là nh n ậ ti n ề v ề Vi c ệ thu ngân sách Nhà
n c ướ là vi c ệ Nhà n c ướ dùng quy n ề l c ự công c a ủ mình đ ể
t p ậ trung m t ộ ph n ầ ngu n ồ tài chính qu c ố gia, nói cách khác là t o ạ ra thu nh p ậ tài chính c a ủ Nhà n c; ướ hình thành Quỹ ngân sách Nhà n c ướ nh m ằ th a ỏ mãn các nhu
c u ầ ph i ả “chi” ra c a ủ Nhà n c ướ
Trang 4Các kho n ả thu ngân sách nhà n c ướ đ c ượ quy đ nh ị c ụ th ể t i ạ kho n ả 1
Đi u ề 5 Lu t ậ Ngân sách nhà n c ướ 2015, h ng ướ d n ẫ b i ở Đi u ề 2 Ngh ị
đ nh ị 163/2016/NĐ-CP, g m ồ 14 kho n ả thu khác nhau, trong đó có "Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân
ở ngoài nước cho Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, cho cơ quan nhà nước ở địa phương".
Trang 5Khái niệm
viện trợ Trong quan hệ quốc tế nói chung, "viện trợ" (còn được gọi là viện trợ quốc tế, viện trợ nước ngoài, viện trợ kinh tế) - đó là - theo quan điểm của các
chính phủ - một sự chuyển giao tài nguyên tự nguyện từ nước này sang nước khác.
Viện trợ có thể phục vụ một hoặc nhiều chức năng, như: nó có thể được đưa
ra như một tín hiệu của sự chấp thuận ngoại giao, hoặc để củng cố một đồng minh quân sự, để thưởng cho một chính phủ cho hành vi mà nhà tài trợ mong muốn, để mở rộng ảnh hưởng văn hóa của nhà tài trợ, để cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết cho nhà tài trợ để khai thác tài nguyên từ quốc gia nhận, hoặc để có được các loại truy cập thương mại khác Các quốc gia
có thể cung cấp viện trợ cho các lý do ngoại giao hơn nữa Mục đích nhân đạo và vị tha thường là lý do cho sự trợ giúp của nước ngoài.
Viện trợ có thể được các cá nhân, tổ chức tư nhân hoặc chính phủ thực hiện Các tiêu chuẩn phân định chính xác các loại chuyển khoản được coi là "viện trợ" khác nhau giữa các quốc gia.
Trang 6Phân loại viện trợ
Viện trợ nước ngoài
Là các khoản ưu đãi tài chính, hàng hóa và dịch vụ được tài trợ dành cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy phát triển ở các quốc gia này, thường được thực hiện dưới hình thức hỗ trợ tài chính hoặc hỗ trợ
kỹ thuật Cũng có thể hiểu, viện trợ nước ngoài là khoản tiền mà một quốc gia tự nguyện chuyển sang một quốc gia khác, có thể dưới dạng một món quà, một khoản trợ cấp hoặc một khoản vay.
-Viện trợ nước ngoài bao hàm mối quan hệ giữa một bên là chủ thể viện trợ và một bên là chủ thể nhận viện trợ Mặc dù quốc gia là chủ thể quan trọng nhất trong các mối quan hệ viện trợ nước ngoài, song các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đóng vai trò quan trọng.
-Viện trợ nước ngoài được xem là một công cụ chính sách mà chủ thể viện trợ thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu nhất định Do vậy, dù chủ thể viện trợ là quốc gia hay tổ chức quốc tế thì tính chất chính trị trong các mối quan hệ viện trợ vẫn tồn tại Tính chất chính trị này có thể được nhận thấy ở các điều kiện đi kèm
mà chủ thể viện trợ đặt ra cho chủ thể nhận viện trợ.
Trang 7Viện trợ nhà nước
Theo Điều 61 của Hiệp định Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA) là một ví dụ tốt về cách định nghĩa viện trợ Nhà nước trong bối cảnh quốc tế: “bất cứ khoản viện trợ nào được phê chuẩn bởi các Nhà nước Thành viên EC, các Nhà nước EFTA hoặc thông qua nguồn lực Nhà nước dưới bất cứ hình thức nào làm biến dạng, hay đe dọa cạnh tranh bằng cách ưu đãi những doanh nghiệp nhất định hoặc sản xuất những hàng hoá nhất định.” => Khái niệm trợ nhà nước có thể phân tích theo những hướng sau:
-Thứ nhất, khái niệm viện trợ thông thường được diễn giải rộng nghĩa, vì vậy những khoản trợ cấp cũng ở dạng khác với trực tiếp thanh toán từ ngân sách công cho người thụ hưởng Cho nên những biện pháp như lợi tức thuế (hoặc những dạng khác của thu nhập công đã từ bỏ), việc rót vốn từ các tổ chức công, bảo lãnh các khoản vay, trợ cấp lãi suất hoặc các giá khác biệt do các doanh nghiệp và các cơ quan đưa ra, cũng có thể tạo thành viện trợ
-Thứ hai, các biện pháp kinh tế mang tính chất phổ thông áp dụng cho mọi nhà hoạt động kinh tế theo cách không phân biệt đối xử
và không thể hiện rõ quyền lực của cơ quan, thông thường không được coi là viện trợ Nhà nước
Tuy nhiên, nếu một chương trình phổ thông đối xử với với hàng hoá nội địa ưu đãi hơn là hàng nhập khẩu (chẳng hạn tiêu thụ sản phẩm nội địa nhận được tỷ lệ trợ cấp cao hơn tiêu thụ sản phẩm nhập khẩu), thì biện pháp ấy bị coi là viện trợ Nhà nước
-Thứ ba, viện trợ Nhà nước không nhất thiết liên kết với lợi ích được chính phủ trung trơng phê chuẩn, cho nên, các biện pháp ở cấp khu vực hay địa phương cũng có thể cấu thành viện trợ Nhà nước Điều không quan trọng là tổ chức nào phê chuẩn viện trợ ở giai đoạn cuối cùng Chẳng hạn, bảo lãnh khoản vay ở một số nước hay các khoản vay ưu đãi được chuyển qua các tổ chức tư nhân hay bán tư nhân Tuy nhiên, nếu nguồn gốc của tài trợ là nguồn công, thì có nghĩa là các biện pháp liên quan bị coi là viện trợ Nhà nước
-Xét theo cơ sở pháp lý của biện pháp, tức là đó có phải là điều luật, Sắc lệnh, quyết định của cấp bộ trưởng hoặc cấp khác Hơn nữa các quy tắc viện trợ Nhà nước bao trùm viện trợ phê chuẩn cho tất cả doanh nghiệp, dù là công ty tư nhân hay doanh nghiệp công
2
Trang 8Viện trợ hoàn lại
Đây là hình thức vay vốn mà nước vay
không phải hoàn trả lại Mục đích nguồn
vốn này sẽ được sử dụng để thực hiện các
dự án cho nước vay theo thỏa thuận của 2
nước với điều kiện đó là các nhà thầu dự án
sẽ do bên cho vay đảm nhận Tuy nhiên có
thể xem viện trợ không hoàn lại như một
nguồn thu ngân sách của nhà nước Được
cấp phát lại theo nhu cầu phát triển kinh
tế xã hội của đất nước.
Viện trợ không hoàn lại
Đây là hình thức Vay vốn với một lãi suất ưu đãi
và một thời gian trả nợ thích hợp Tín dụng ưu đãi chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thế giới Nó không được sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường Mà thường được
sử dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lĩnh vực giao thông vận tải, nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng…Làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng kinh tế Các điều kiện ưu đãi bao gồm: Lãi suất thấp, thời gian trả nợ dài và có khoảng thời gian không trả lãi hoặc trả nợ.
Trang 9Các phương thức viện trợ không hoàn lại của nước ngoài dành cho Việt Nam theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 80/2020/NĐ-CP gồm chương trình, dự án, phi dự án, trong đó:
-Chương trình là tập hợp các hoạt động liên quan đến một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trong một hoặc nhiều giai đoạn.
-Dự án là tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu, được thực hiện trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định, dựa trên nguồn lực xác định.
-Phi dự án là khoản viện trợ thực hiện một lần, riêng lẻ bằng tiền, hiện vật, hàng hoá, chuyên gia (kể cả chuyên gia tình nguyện), cung cấp các đầu vào để tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn, nghiên cứu, khảo sát, đào tạo.
Các phương thức Viện trợ không hoàn
lại
Trang 10Nguyên tắc quản lý tài chính
đối với viện trợ
Theo Thông tư số 23/2022/TT-BTC của Bộ Tài chính, việc quản lý tài chính đối với khoản viện trợ thực hiện theo 8 nguyên tắc sau:
Một là, mọi khoản viện trợ đều phải được phân loại, quản lý, theo dõi và hạch toán theo từng phương
thức tài trợ (chương trình, dự án hoặc phi dự án); tính chất khoản chi NSNN (chi thường xuyên, chi đầu
tư, phát triển hoặc chi khác của NSNN), phương thức tổ chức thực hiện (bên tài trợ nước ngoài trực tiếp, hoặc ủy thác một tổ chức khác thực hiện hoặc chủ chương trình, chủ dự án bên Việt Nam thực hiện).
Hai là, vốn viện trợ không hoàn lại thuộc nguồn thu NSNN được dự toán, hạch toán đầy đủ, kịp thời;
quyết toán theo quy định về quyết toán thu, chi NSNN và quyết toán chi của chương trình, dự án, khoản
viện trợ Ba là, cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm lập dự toán thu, chi NSNN sát khả năng thực hiện
trong năm để tiếp nhận, thực hiện, hạch toán, quyết toán thu chi NSNN đối với khoản viện trợ theo quy định tại Thông tư này; kịp thời đề xuất bố trí dự toán bổ sung trong trường hợp phát sinh nhu cầu thu, chi viện trợ đột xuất; chỉ tiếp nhận vốn viện trợ khi có nhu cầu, khả năng sử dụng.
Bốn là, việc xử lý dự toán thu, chi các khoản viện trợ cuối năm được thực hiện theo quy định về pháp luật
quản lý NSNN.
Trang 11Năm là, mọi khoản viện trợ bằng tiền do chủ chương trình, dự án phía Việt Nam trực tiếp quản lý, thực hiện: Được
chuyển vào một tài khoản riêng mở tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại ngay khi tiếp nhận; được theo dõi, hạch toán, quyết toán riêng theo từng khoản viện trợ cụ thể; Không chuyển vốn viện trợ cho chương trình, dự
án cụ thể vào tài khoản cá nhân, thuê, mượn hoặc tài khoản chung của cơ quan, đơn vị khi tiếp nhận Không mở tài khoản tại nước ngoài để tiếp nhận vốn viện trợ, trừ trường hợp có yêu cầu theo quy định pháp luật của bên tài trợ và được quy định tại Thỏa thuận viện trợ/Hiệp định viện trợ.
Sáu là, các khoản viện trợ bằng tiền do chủ chương trình, dự án bên Việt Nam thực hiện phải kiểm soát chi theo quy
định pháp luật về kiểm soát chi NSNN.
Bảy là, việc hạch toán vào ngân sách nhà nước được thực hiện trên cơ sở đề xuất của chủ chương trình, dự án, phi
dự án; dự toán được cấp có thẩm quyền giao và hồ sơ thanh toán theo quy định.
Tám là, đối với các khoản viện trợ do bên tài trợ cung cấp theo hình thức hàng hóa, hiện vật, công trình bao gồm
khoản viện trợ theo hình thức chìa khóa trao tay, cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm toàn diện trong việc quản lý, theo dõi, phân bổ, phối hợp với nhà tài trợ để xác định giá trị khoản hiện vật được viện trợ cho bên Việt Nam và thực hiện việc hạch toán thu, chi NSNN, quyết toán theo quy định.
Trang 12Trách nhiệm quản lý tài chính nhà nước đối với viện trợ căn
cứ theo Thông tư số Số: 23/2022/TT-BTC
Hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với nguồn vốn viện trợ; Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về quản lý tài chính nhà nước đối với việc quản
lý, sử dụng vốn viện trợ của ngân sách trung ương; Thẩm định quyết toán thu, chi nguồn vốn viện trợ hằng năm của ngân sách trung ương.
Bộ tài
chính
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về quản lý tài chính nhà nước đối với việc quản lý, sử dụng vốn viện trợ của ngân sách địa phương; Thẩm định quyết toán thu, chi nguồn vốn viện trợ hằng năm của ngân sách cấp tỉnh; Thực hiện trách nhiệm báo cáo theo quy định của pháp luật và quy định của Thông tư này.
Sở tài chính
Mở tài khoản viện trợ cho các cơ quan đơn vị tiếp nhận viện trợ; Thực hiện theo dõi các khoản tiền viện trợ được chuyển vào tài khoản của chủ chương trình,
dự án và thực hiện việc kiểm soát chi, giải ngân, hạch toán, ghi thu ghi chi ngân sách nhà nước đối với nguồn viện trợ theo quy định; Thực hiện trách nhiệm báo cáo theo quy định của pháp luật và quy định tại Thông tư này Đối với viện trợ theo cơ chế tài chính trong nước, việc thực hiện báo cáo áp dụng như quy định tại Thông tư số 15/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về chế độ và biểu mẫu báo cáo tình hình thực hiện, thanh toán kế hoạch vốn đầu tư công.
Kho bạc Nhà
nước
Kiểm tra, thông quan hàng hóa viện trợ theo quy
định; Chế độ báo cáo theo quy định của pháp
luật.
Cơ quan Hải
quan
Giải ngân nguồn vốn viện trợ và cung cấp thông
tin, chế độ báo cáo theo quy định của pháp luật
và quy định tại Thông tư này. Ngân hàng
thương mại
Trang 13Cảm ơn thầy và
các bạn đã lắng nghe