1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án phát triển hàng hóa trong nông nghiệp và nông thôn hiện nay và các giải pháp.

32 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Án Phát Triển Hàng Hóa Trong Nông Nghiệp Và Nông Thôn Hiện Nay Và Các Giải Pháp
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Đề án
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 179 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề án phát triển hàng hóa trong nông nghiệp và nông thôn hiện nay cho thấy rõ những mặt mạnh và yếu, những nghiên cứu chuyên sâu về phát triển hàng hóa nông nghiệp và nông thôn, cùng với những giải pháp.

Trang 1

ĐỀ ÁN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HOÁ TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN HIỆN NAY.

Trang 2

MỤC LỤCLời nói đầu

Chương I : Những vấn đề lý luận về kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp.

Kinh tế nông thôn

Khái niệm

Đặc điểm

Kinh tế hàng hoá trong khu vực nông thôn

Kinh tế hàng hoá

Khái niệm, điều kiện ra đời và tồn tại

Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá

Ý nghĩa của phát triển kinh tế hàng hoá trong nông nghiệp

Chỉ tiêu đánh giá trình độ sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp

Các nhân tố chủ yếu ảnh hưỡng đến trình độ sản xuất hàng hoá trong nôngnghiệp

Vai trò của kinh tế nông thôn trong nền kinh tế quốc dân

Xu hướng phát triển của kinh tế hàng hoá khu vực nông thôn

Chương II : Thực trạng phát triển kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp và nông thôn những năm qua ở nước ta.

2.1 Thành tựu và hạn chế của phát triển kinh tế hàng hoá ở khu vực nôngnghiệp nông thôn trong thời gian qua

2.2 Thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế hàng hoá ở khu vựcnông nghiệp nông thôn nước ta

Chương III : Giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn.

Quá trình hinh thành quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế hàng hoá ởkhu vực nông nghiệp nông thôn

3.2 Các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá trong nông nghiệpnông thôn hiện nay

Kết luận

Trang 3

Đặc điểm :

Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội.Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất kháckhông thể có đó là:

1- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp,phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc điểm trên chothấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Thếnhưng ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu rất khácnhau đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét

2- Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thaythế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích,do đó con người không thể tăng

Trang 4

lên theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruống đất là không có giới hạn,nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhucầu tăng lên của mình về nông sản phẩm.

3- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống: cây trồng và vậtnuôi Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định(sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoạicảnh,vì thế mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếpđến sự phát triển và diệt vong của cây trồng, vật nuôi,tác động đến kết quả thuhoạch sản phẩm cuối cùng Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuấtđặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sảnphẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sảnxuất sau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thườngxuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành laitạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điềukiện từng vùng và từng địa phương

4- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điển hìnhnhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt của quá trình sản xuất nông nghiệplà quá trình tái sản xuất kinh tế kết hợp với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thờigian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàntrùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tính thời vụ trong nôngnghiệp là tất yếu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạnchế nó Mặt khác do sự thay đổi về điều kiện thời tiết - khí hậu, mỗi loại cây trồngcó sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau.Nhưvậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân Tạo hoá đã cung cấpnhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng, ôn độ, độ ẩm,lượng mưa, không khí Lợi thế tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợidụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp chất lượng Đểkhai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp đòihỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thờivụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu v.v Việc thực hiện kịp thời vụ cũngdẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức laođộng hợp lý, cung ứng vật tư - kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thíchhợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghềdịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn

Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp nêu trên,nôngnghiệp nước ta còn có những đặc điểm riêng cần chú ý đó là:

Nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu,tiến lên xây dựng nền nôngnghiệp sản xuất hàng hoá theo định huớng XHCN không qua giai đoạn phát triển

Trang 5

tư bản chủ nghĩa.Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệpnứoc ta khi chuyển lên xây dựng,phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá làrất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.Đến nay nhiều nước có nềnkinh tế phát triển, nông nghiệp đã đạt trình độ sản xuất hàng hoá cao, nhiều khâucông việc được thực hiện bằng máy móc, một số loại cây con chủ yếu được thựchiện cơ giới hoá tổng hợp hoặc tự động hoá Năng suất ruộng đất và năng suất laođộng đạt trình độ cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp vàtoàn bộ nền kinh tế quốc dân Tỷ lệ dân số và lao động nông nghiệp giảm xuốngcả tương đối và tuyệt đối Đời sống người dân nông nghiệp và nông thôn đượcnâng cao ngày càng xích gần với thành thị.Trong khi đó, nông nghiệp nước ta vớiđiểm xuất phát còn rất thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nôngthôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng laođộng xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động còn thấp v.v Từ khichuyển sang nền kinh tế thị trường, khẳng định phát triển nền nông nghiệp nhiềuthành phần và hộ nông dân được xác định là đơn vị tự chủ, nông nghiệp nước ta đãcó bước phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, nhất là về sản lượng lươngthực Sản xuất lương thực chẳng những trang trải được nhu cầu trong nước, có dựtrữ mà còn dư thừa để xuất khẩu Bên cạnh đó một số sản phẩm khác cngx pháttriển khá, như cà phê, cao su, chè, hạt điều v.v đã và đang là nguồn xuất khẩuquan trọng Nông nghiệp nước ta đang chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuấthàng hoá Nhiều vùng của đất nước đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệpvà nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp tăng sản phẩm phinông nghiệp.

Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tínhchất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp:trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển Đặc điểm này đem lại cho nôngnghiệp nhiều thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng có những khó khăn rất lớn trong quátrình phát triển sản xuất nông nghiệp Thời tiết, khí hậu của nước ta có nhữngthuận lợi rất cơ bản Đó là hàng năm có lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảmbảo nguồn nước ngọt rất phong phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn nănglượng mặt trời dồi dào (cường độ, ánh sáng, nhiệt độ trung bình hàng năm là 230Cv.v ), tập đoàn cây trồng và vật nuôi phong phú, đa dạng Nhờ những thuận lợi đómà ta có thể gieo trồng và thu hoạch quanh năm với nhiều loại cây trồng và vậtnuôi phong phú,có gia trị kinh tế cao như : cây công nghiệp lâu năm, cây côngnghiệp ngắn ngày,cây ăn quả Bên cạnh những điều kiện thuận lợi nếu trên,điềukiện thời tiết – khí hậu nước ta cũng có nhiều khó khăn lớn như; mưa nhiều vàluợng mưa thuờng tập trung vào ba tháng trong năm gây lũ lụt, ngập úng.Nắngnhiều thuờng gây nên khô hạn,có nhiều nơi thiếu cả nước sinh hoạt cho người dân

Trang 6

Khí hậu ẩm ướt,sâu bệnh,dịch bệnh lây lan gây ra những tổn thất lớn đối với mùamàng.

Trong quá trình đưa nông nghiệp nước ta sản xuất hàng hoá.chúng ta tìmkiếm mọi cách để phát huy những thuận lợi cơ bản nêu trên và hạn chế hững khókhăn do điều kiện khắc nghiệt của thiên gây ra đảm bảo cho nông nghiệp pháttriển nhanh chóng và vững chắc

Kinh tế hàng hoá trong khu vực nông thôn :

Kinh tế hàng hóa :

Điều kiện ra đời,tồn tại của sản xuất hàng hóa :

Sán xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sảnxuất ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính ngừoi trực tiếp sảnxuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác,thông qua việc traođổi, mua bán

Sản xuất hàng hóa ra đời ,tồn tại được trên hai điều kiện :

Thứ nhất : Sự phân công lao động xã hội.

Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sàn xuất ,phân chia laođộng xã hội thành các ngành,các lĩnh vực sản xuất khác nhau, là tiền đề của sảnxuất hàng hóa Phân công lao động xã hội càng phát triển thì sản xuất và trao đổihàng hóa càng mở rộng hơn, đa dạng hơn

Thứ hai : Sự tách biệt tuơng đối về mặt kinh tế giữa những người

sản xuất Những ngừơi sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất địnhvới nhau Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinhtế,người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác phải thông quatrao đổi,mua bán hàng hoá

Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá :

Đặc trưng của sản xuất hàng hoá :

Sản xuất hàng hoá có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, sản xuất hàng hoá là sản xuất để trao đổi, mua bán.

Trong lịch sử loài người tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau làsản xuất tự cung,tự cấp và sản xuất hàng hoá.Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tốchức kinh tế trong đó các sản phẩm đuợc sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêudùng của chính bản thân ngừoi sản xuất như sản xuất của nguời dân trong thời kỳcông xã nguyên thuỷ,sản xuất của những người nông dân gia truởng dứoi chế dộphong kiến Ngược lại, sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sảnphẩm đuợc sản xuất ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùngcủa chính người sản xuất ra nó,tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngừoikhác,thông qua việc trao đổi,buôn bán

Trang 7

Thứ hai,lao động của người sản xuất hàng hoá vừa mang tính tư

nhân,vừa mang tính xã hội

Lao động của ngừoi sản xuất hàng hoá mang tính chất xã hội vì sảnphẩm làm ra để cho xã hội,đáp ứngnhu cầu của ngừoi khác trong xã hội.Nhưng vớisự tách biệt tuơng đối về kinh tế,và lao động của người sản xuất hàng hoá đồngthời vẫn mang tính chất tư nhân,vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việcriêng mang tính độc lập của mỗi người trong tính chất tư nhân đó có thể phù hợphoặc không phù hợp với tính chất xã hội

Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá.Mâu thuẫn giữa laođộng tư nhân và lao động xã hội là cơ sở,mầm mống của khủng hoảng trong nềnkinh tế hàng hoá

Ưu thế của sản xuất hàng hoá :

So với sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn:

Thứ nhất : sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã

hội, chuyên môn hoá sản xuất.Do đó,nó khai thác đuợc những lợi thế về tựnhiên,xã hội, kỹ thuật của từng người,từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng,từngđịa phương.Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hoá lại có tác động trở lại,thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội,làm cho chuyên môn hoá laođộng ngày càng tăng,mối liên hệ giữa các ngành,các vùng ngày càng trở nên mởrộng,sâu sắc Từ đó, nó phá vỡ tính tự cấp,tự túc, bảo thủ, trì trệ,lạc hậu của mỗingành,mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanhchóng,nhu cầu của xã hội đuợc đáp ứng đầy đủ hơn,khi sản xuất và trao đổi hànghoá mở rộng giữa các quốc gia,thì nó còn khai thác được lợi thế giữa các quốc giavới nhau

Thứ hai: trong nền sản xuất hàng hoá,quy mô sản xuất không còn bị giới

hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân,gia đình,mỗi cơsở, mỗi vùng, mỗi địa phương,và nó đuợc mở rộng dựa trên cơ sở nhu cầu vànguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng nhữngthành tựu khoa học – kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển

Thứ ba : trong nền sản xuất hàng hoá,sự tác động của quy luật vốn có của

sản xuất và trao đổi hàng hoá là quy luật giá trị,cung – cầu ,cạnh tranh buộcngừoi sản xuất hàng hoá phải luôn luôn năng động,nhạy bén biết tính toán,cải tiếnkỹ thuật,hợp lý sản xuất, nâng cao năng suất,chất luợng và hiệu quả kinh tế,cảitiến hình thức,quy cách và chủng loại hàng hoá,làm cho chi phí sản xuất hạ xuốngđáp ứng nhu cầu , thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn

Thứ tư : Trong nền sản xuất hàng hoá,sự phát triển của sản xuất ,sự mở

rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân ,các vùng,giữa các nước không chỉ làm

Trang 8

cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn,phong phú hơn,đa dạng hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực,sản xuất hàng hoá cũng có nhữngmặt trái của nó như phân hoá giàu-nghèo giữa những ngừoi sản xuất hànghoá,tiềm ẩn những khả năg khủng hoảng,phá hoại môi trường sinh thái ,xã hội

Ý nghĩa của phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp :

Thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội trong nôngnghiệp,nông thôn theo hướng chuểyn nền nông nghiệp từ độc canh cây lúa sangphát triển toàn diện với phương hướng chuyên môn hoá kết hợp phát triển kinhdoanh tổng hợp ngành nghề,góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nôngnghiệp và trên địa bàn nông thôn

Hợp lý hoá việc khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của sảnxuất nông nghiệp trên cơ sở đánh giá đúng tiềm năng và lợi thế của từng vùng,địaphuơng doanh nghiệp và các nông hộ

Kích thích ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và đầu tư vốn,lao động nhằmsản xuất ngày càng nhiều sản phẩm với chất lượng và có tính cạnh tranh cao trênthị trường

Mở rộng các quan hệ hợp tác trao đổi trong và ngoài nước nhằm thựchiện xã hội hoá sản xuất trong nông nghiệp Việt Nam với nền nông nghiệp thếgiới

Phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp và nông thôn,tạo điều kiệnnâng cao phúc lợi xã hội,cải thiện đời sống nông dân và bộ mặt nông thôn

Để đánh giá trình độ sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất hàng hoá nông sản theo ngành,vùng hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh nông nghiệp:

Tỷ suất hàng hoá là tỉ lệ giữa khối luợng nông sản hàng hoá và khốilượng nông sản được sản xuất ra

Khối lượng nông sản hàng hoá và khối lượng nông sản sản xuất ra co1thể được tính dứoi hình thức hiện vật đối với từng loại nông sản hoặc dứoi hìnhthức giá trị chung cho nhiều nông sản khác nhau

Về mặt giá trị,có thể tính theo giá cố định để so sánh tốc độ pháttriển của sản xuất nông sản và nông sản hàng hoá qua các thời kỳ;có thể tính theogiá thực tế để đánh giá tình hình kinh doanh thực tế

Trang 9

Các nhân tố chủ yếu ảnh hưỡng đến trình độ sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp :

Điều kiện tự nhiên : vì đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật nêncó sự gắn bó chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên.Đây cũng chính là cơ sở tự nhiêncủa phân công lao động xã hội trong nông nghiệp Các tác động vào nền nôngnghiệp hánghoá chỉ thực sự có ý nghĩa khi ácc tác động đó thích ứng với các điềukiện của tự nhiên và nhu cầu sinh trưởng phát triển của cây trồng vật nuôi

Do điều kiện tự nhiên của từng vùng,từng nơi có sự khác nhau nêncần phải xác định được các tập đoàn cây trồng vật nuôi thích ứng cho từng vùngnhằm khai thác lợi thế so sánh trong đáp ứng các nhu cầu khác nhau của thịtrường

Nhu cầu thị trường: vì sản xuất sản phẩm nông nghiệp là để trao đổi trên thịtruờng Đây là một trong những cơ sỡ về kinh tế xã hội của phân công lao động.Nông sản phẩm nào có khả năng thoả mãn cao nhất nhu cầu của thị trường thì tínhhàng hoá của nông sản đó sẽ càng cao

Vốn và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong nông nghiệp xét trên tổng thểnền kinh tế quốc dân (cơ cấu vốn đầu tư),trongnội bộ ngành nông nghiệp ( tỷ lệphân bổ cho nhiều lĩnh vực đầu tư trong ngành nông nghiệp) và trong từng đơn vịsản xuất kinh doanh nông nghiệp (khả năng tích luỹ tái sản xuất mở rộng)

Khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,công nghệ vào sản xuất nôngnghiệp để nhanh chóng nâng cao khối lượng và chất lượng của nông sản hàng hoácung ứng

Hệ thống chính sách kinh tế của hà nứơc: vì sản xuất nông nghiệp có nhiềutủi rovà bản thân thị trường nông sản hàng hoá lại có những quy luật vận động đặcthù.Việc nhận thức đầy đủ các đặc điểm của nông nghiệp trong sản xuất tiêu thụcó ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc ban hành các chính sách kinh tế vĩ môđểđịnh hướng cũng như tác động thúc đẩy sản xuất nông sản hàng hoá Việt Nam trênthị trường quốc tế

Mở rộng thị trường quốc tế cũng là nhân tố quan trọng cần hết sức quan tâmchuẩn bị các điều kiện cần thiết để kinh tế nông nghiệp Việt Nam có thể phát huycác lợi thế so sánh của mình trong sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hoá

3 Vai trò của kinh tế nông thôn trong nền kinh tế quốc dân :

Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp Nókhông chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật,bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học

- cây trồng, vật nuôi Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người

Trang 10

không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, màphải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác độngthích hợp với chúng Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất cósự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằmtạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn

Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chănnuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa rộng nócòn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việcphát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển ở nhữngnước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên, ngay cả nhữngnước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp khônglớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tănglên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đólà lương thực, thực phẩm Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - côngnghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được Lươngthực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển củacon người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thìnhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về sốlượng, chất lượng và chủng loại Điều đó do tác động của các nhân tố đó là: Sự giatăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người Các nhà kinh tế họcđều thống nhất rằng điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lương thựccho nền kinh tế quốc dân bằng sản xuất - hoặc nhập khẩu lương thực Có thể chọncon đường nhập khẩu lương thực để giành nguồn lực làm việc khác có lợihơn.Nhưng điều đó chỉ phù hợp với các nước như: Singapore, Arậpsaudi hayBrunay mà không dễ gì đối với các nước như: Trung Quốc, Indonexia, ấn Độ hayViệt Nam - là những nước đông dân Các nước đông dân này muốn nền kinh tếphát triển, đời sống của nhân dân được ổn định thì phần lớn lương thực tiêu dùngphải được sản xuất trong nước Indonexia là một thí dụ tiêu biểu, một triệu tấn gạomà Indonexia tự sản xuất được thay vì phải mua thường xuyên trên thị trường thếgiới đã làm cho giá gạo thấp xuống 50 USD/tấn Giữa những năm của thập kỷ 70-

80 Indonexia liên tục phải nhập hàng năm từ 2,5-3,0 triệu tấn lương thực Nhưngnhờ sự thành công của chương trình lương thực đã giúp cho Indonexia tự giải quyếtđược vấn đề lương thực vào giữa những năm 80 và góp phần làm giảm giá gạotrên thị trường thế giới Các nước ở Châu á đang tìm mọi biện pháp để tăng khảnăng an ninh lương thực, khi mà tự sản xuất và cung cấp được 95% nhu cầu lươngthực trong nước Thực tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh chỉ có

Trang 11

thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninhlương thực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trịvà thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho cácnhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn Nông nghiệp có vai tròquan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vựcthành thị Điều đó được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây:

Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là khuvực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị Trong giaiđoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tậptrung sống ở khu vực nông thôn Vì thế khu vực nông nghiệp, nông thôn thực sự lànguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị Quá trìnhnông nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khácđó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao độngtừ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều Số lao động này dịch chuyển, bổsung cho phát triển công nghiệp và đô thị Đó là xu hướng có tính qui luật của mọiquốc gia trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quí chocông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến,giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnhtranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường…

Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinhtế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì đâylà khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nôngnghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiện của nông dân đầu tư vàocác hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩunông sản v.v trong đó thuế có vị trí rất quan trọng “Kuznets cho rằng gánh nặngcủa thuế mà nông nghiệp phải chịu là cao hơn nhiều so với dịch vụ Nhà nước cungcấp cho công nghiệp” Việc huy động vốn từ nông nghiệp để đầu tư phát triểncông nghiệp là cần thiết và đúng đắn trên cơ sở việc thực hiện bằng cơ chế thịtrường, chứ không phải bằng sự áp đặt của Chính phủ Những điển hình về sựthành công của sự phát triển ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệpđể đầu tư cho nông nghiệp Tuy nhiên vốn tích luỹ từ nông nghiệp chỉ là một trongnhững nguồn cần thiết phát huy, phải coi trọng các nguồn vốn khác nữa để khaithác hợp lý, đừng quá cường điệu vai trò tích luỹ vốn từ nông nghiệp

Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp

ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêudùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước màtrước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn Sự thay đổi về cầu trong khu vực

Trang 12

nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nôngnghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nôngnghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm côngnghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng cóthể cạnh tranh với thị trường thế giới.

Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn.Các loại nông, lâm thuỷ sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với cáchàng hoá công nghiệp Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để cóngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm thuỷ sản Xu hướng chung ở các nướctrong quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông lâm, thuỷsản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dầncùng với sự phát triển cao của nền kinh tế ở Thái Lan năm 1970 tỷ trọng giá trịnông, lâm, thuỷ sản trong tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm 76,71% giảm xuống59,36% năm 1980; 38,11% năm 1990; 35,40% năm 1991; 34,57% năm 1992;29,80% năm 1993 và 29,60% năm 1994 Tuy nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sảnthường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúcđó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá cánh kéo giữa hàng nông sản vàhàng công nghệ ngày càng mở rộng, làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt

Ở một số nước chỉ dựa vào một vài loại nông sản xuất khẩu chủ yếu, như Coca ởGhana, đường mía ở Cuba, cà phê ở Braxin v.v đã phải chịu nhiều rủi ro và sựbất lợi trong xuất khẩu Vì vậy gần đây nhiều nước đã thực hiện đa dạng hoá sảnxuất và xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệđáng kể cho đất nước

Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự pháttriển bền vững của môi trường Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bónhoá học, thuốc trừ sâu bệnh v.v làm ô nhiễm đất và nguồn nước Trong quá trìnhcanh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mởrộng diện tích đất rừng v.v Vì thế, trong quá trình phát triển sản xuất nôngnghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bềnvững của môi trường

Tóm lại, nền kinh tế thị trường, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triểnbao gồm hai loại đóng góp: thứ nhất là đóng góp về thị trường - cung cấp sảnphẩm cho thị trường trong và ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho các khu vựckhác, thứ hai là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịch các nguồnlực (lao động, vốn v.v ) từ nông nghiệp sang khu vực khác

Trang 13

Nhiều năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn do biến động thị trường,thiên tai, dịch bệnh, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục phát triển, tăngtrưởng bình quân khoảng 3,7%/năm Bình quân lương thực đầu người tăng từ 420

kg năm 2001 lên 470 kg năm 2007 Kết quả này không những giúp Việt Nam bảođảm được an ninh lương thực mà còn xuất khẩu trung bình hơn 4 triệu tấngạo/năm

Nét nổi bật của sản xuất nông nghiệp là hình thành các vùng sản xuất hànghóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến, làm cho các sản phẩm nông nghiệpcó giá trị kinh tế ngày càng cao, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trongnước, mà còn mở rộng xuất khẩu trên thị trường thế giới Giá trị kim ngạch xuấtkhẩu các loại nông, lâm, thủy sản liên tục tăng

Đạt được những kết quả trên là do trong những năm qua chúng ta đãtích cực áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, khoảng 90 giống cây trồng, vậtnuôi được chọn tạo và đưa vào sản xuất nông nghiệp Không chỉ công nghệ sinhhọc mà cơ giới hóa cũng được áp dụng rộng rãi vào sản xuất nông nghiệp Tỷ lệsử dụng máy móc vào các công việc như làm đất, tưới tiêu, tuốt lúa đạt trên 80%

Trang 14

Công nghệ sau thu hoạch, công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp cũng đượcphát triển mạnh Hiện nay, ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sảnchiếm khoảng 28% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp, tăng trưởng trungbình 14,8%/năm Nhiều đơn vị chế biến nông sản phẩm đã sử dụng công nghệ vàtrang thiết bị hiện đại trong sản xuất; đồng thời, liên kết với nông dân thực hiệnsản xuất "trọn gói", theo quy trình từ nuôi trồng đến chế biến và xuất khẩu Do đó,đã góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành nông nghiệp, nângcao giá trị gia tăng của sản phẩm, tạo thêm nhiều việc làm và cải thiện đời sốngcủa người lao động ở nông thôn

Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, các hình thức tổchức sản xuất ở nông thôn được đổi mới và phát triển phù hợp với yêu cầu pháttriển của nền nông nghiệp hàng hóa Kinh tế hộ phát huy mạnh mẽ vai trò kinh tếcủa mình, đáng chú ý là có trên 113 nghìn hộ đã phát triển theo hình thức kinh tếtrang trại, tăng 86,4% so với năm 2001 Nét mới trong phát triển kinh tế trang trạilà loại hình sản xuất ngày càng đa dạng và có sự chuyển dịch về cơ cấu theohướng giảm tỷ trọng các trang trại trồng cây hằng năm và cây lâu năm, tăng tỷtrọng các loại trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sản xuất kinh doanh tổnghợp

Các hợp tác xã kiểu cũ đã cơ bản được chuyển đổi và hình thànhnhiều hợp tác xã mới theo Luật Hợp tác xã Đến nay, cả nước có khoảng 7.310hợp tác xã nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đang hoạt động Những hợp tácxã này bước đầu thực hiện có hiệu quả vai trò hỗ trợ kinh tế hộ và các thành phầnkinh tế khác ở nông thôn phát triển Qua đó, góp phần tích cực trong việc chuyểndịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng nông thôn mới, tạo điều kiện cho nôngdân và nông thôn ngày càng giàu có hơn, dân chủ và công bằng hơn; đồng thời,góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân ở từng địa phương.Không chỉ có kinh tế hộ, kinh tế hợp tác, các doanh nghiệp ở nông thôn cũng pháttriển mạnh cả về số lượng và chất lượng Tỷ lệ đầu tư phát triển của kinh tế tưnhân ngày càng cao Chỉ tính riêng các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biếnnông, lâm, thủy sản đã chiếm tới 13% tổng số vốn đầu tư xã hội cho khu vực nôngnghiệp, nông thôn

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn cũng không ngừng được tăngcường, nhất là về hệ thống thủy lợi Với sự nỗ lực đầu tư của Nhà nước và khơidậy được nguồn vốn trong dân, đến nay đã có 96,9% số xã có đường ô tô đếntrung tâm; 96,8% số xã có điện lưới quốc gia (tỷ lệ này vượt xa nhiều nước trongkhu vực châu á như Philippines: 64% số hộ nông dân có điện, Bangladesh: 57%,Srilanca: 44%, Indonesia: 40%,Ấn Độ: 39%) Hệ thống chợ, bưu chính viễn thôngnông thôn, các chương trình kiên cố hóa trường học, xây dựng trạm y tế, nhà văn

Trang 15

hóa được quan tâm đầu tư phát triển Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dụcthể thao được tăng cường, mạng lưới truyền thanh, truyền hình phát triển tới hầuhết các vùng nông thôn, góp phần quan trọng nâng cao mức hưởng thụ văn hóacho người dân nông thôn.

Kinh tế nông thôn phát triển nên đời sống vật chất và tinh thần củanông dân ngày càng được cải thiện Thu nhập thực của nông dân tăng khá nhanh.Trong vòng 10 năm, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng 2,7 lần(khoảng 6,1 triệu đồng/người); tích lũy để dành tăng 2,1 lần, đạt 6,7 triệu đồng/hộ.Công tác xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh Tỷ lệ hộ giàu, khá giả tăng lên; sốhộ nghèo đói giảm xuống Nhiều tỉnh cơ bản đã xóa được số hộ đói

Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của sự phát triển đất nước, nhất là khinước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và là thành viên củaWTO, nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam cũng đang bộc lộ nhiều yếukém, khó khăn và đứng trước những thách thức to lớn cần được khắc phục, vượtqua Cụ thể là:

- Sản xuất nông nghiệp có xu hướng tăng trưởng chậm lại và kémbền vững Tốc độ tăng giá trị sản xuất nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sảngần đây có xu hướng giảm dần (năm 2000 tăng 7,3%, năm 2005: 4,9%, năm 2007:4,6%), trong đó nông nghiệp còn giảm mạnh hơn (tương ứng là 5,4%, 3,2% và2,9%); tốc độ tăng giá trị sản xuất chăn nuôi cũng giảm mạnh liên tục trong banăm nay (năm 2005 tăng 11,4%, năm 2006: 7,3%, năm 2007: 4,6%) Năng suất,chất lượng của nhiều loại cây trồng, vật nuôi còn thấp và chậm được cải thiện Vệsinh, an toàn thực phẩm thấp và đang là thách thức lớn khi Việt Nam ngày cànghội nhập quốc tế sâu rộng Diện tích đất sản xuất nông nghiệp đang giảm nhanh.Nguyên nhân chủ yếu là do những năm gần đây, bình quân mỗi năm có trên 73nghìn ha đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng các khu, cụm công nghiệp và đôthị Dân số gia tăng, đất canh tác suy giảm dẫn đến quy mô canh tác của các hộnông dân ngày càng giảm

- Dịch bệnh xảy ra liên tiếp trong mấy năm qua đã đe dọa nghiêmtrọng đến sự phát triển bền vững của nông nghiệp nói riêng, toàn nền kinh tế nóichung Theo ước tính, thiệt hại vật chất do thiên tai, dịch bệnh hằng năm rất lớn,khoảng 1% GDP, chủ yếu trong nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản

- Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm, thiếubền vững Ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trên 57%; các ngành chănnuôi, lâm nghiệp chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế và xu hướng phát triểnkhông ổn định Việc xây dựng các vùng nguyên liệu lớn, tập trung cho côngnghiệp chế biến tiến hành chậm Cơ cấu lao động ở nông thôn chuyển dịch chậm.Trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp

Trang 16

giảm 10,4% Tuy nhiên, lao động trong nông nghiệp đến năm 2006 vẫn chiếm55,7% trong tổng số lao động của cả nước

- Việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ vào quá trìnhsản xuất nông, lâm, ngư nghiệp còn chậm Hầu hết các loại cây trồng, vật nuôi cónăng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh thấp Năng suất cây trồng thườngmới đạt từ 50% đến 70% mức bình quân chung của thế giới Công tác nghiên cứu,chuyển giao khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới còn nhiều bất cập Hệ thống quảnlý thủy nông, thú y, bảo vệ thực vật, cung ứng giống, vật tư chưa đáp ứng được yêucầu công nghiệp hóa nông nghiệp Công tác bảo quản sau thu hoạch, bao bì, nhãnhiệu hàng hóa, thương hiệu vẫn chưa đáp ứng theo tiêu chuẩn quốc tế trong quátrình hội nhập

- Công nghiệp nông thôn phát triển còn chậm, các cơ sở công nghiệpchủ yếu tập trung ở các vùng ven và phổ biến là quy mô nhỏ, dưới 5 tỉ đồng(chiếm trên 70%), các cơ sở mới được xây dựng có máy móc, thiết bị tương đốihiện đại chưa nhiều Tỷ trọng nông sản qua chế biến công nghiệp đạt thấp Nhữngyếu kém trên làm cho giá trị kinh tế của nông sản thấp, giá thành sản phẩm cao,

an toàn, vệ sinh thực phẩm chưa được quan tâm đầy đủ khi đưa sản phẩm ra thịtrường, công sức của người lao động không được bảo đảm, và do vậy, gây nênnhững tổn thất lớn về kim ngạch xuất khẩu và thu nhập cho nền kinh tế quốc dân

- Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn hoạt động chưa manglại hiệu quả cao; thiếu tổ chức có đủ khả năng "kết dính" và năng lực dẫn dắttrong quá trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

- Kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống của dân cư cònnhiều yếu kém Nhiều hệ thống thủy nông bị xuống cấp nghiêm trọng Hệ thốngđê điều nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ sản xuất, dân sinh và đối phóvới tình trạng nước biển dâng Phần lớn chất lượng đường giao thông nông thônchưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất, dân sinh và lưu thông hàng hóa Đầu

tư vào địa bàn nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế

Ngày đăng: 17/05/2014, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w