1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án nghiên cứu đầu tư quốc tế và các giải pháp

93 511 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề án nghiên cứu đầu tư quốc tế và các giải pháp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Đầu Tư
Thể loại Đề án nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề án nghiên cứu đầu tư quốc tế và các giải pháp thuận tiện cho các luận văn nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Đầu tư ra nước ngoài là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế chungcủa các quốc gia trên khắp thế giới, Việt Nam ta cũng không nằm ngoài xu thếnày Các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu mang vốn đi đầu tư ra nước ngoài từnhững năm 1987, và đến nay xem như đã hơn 20 năm “ta mang quân đi đánh xứngười” Tuy nhiên, khi nhìn trên danh sách xếp hạng của thế giới về FDI ra nướcngoài, thì cái tên nước Việt Nam đứng ở thứ hạng 76 vào năm 2007 và thứ 82vào năm 2008 Điều này nói lên rằng Việt Nam ta đang bị tụt hạng về xếp hạngđầu tư ra nước ngoài Trong khi Trung Quốc - quốc gia láng giếng với nước ta thìlại tăng hạng từ 17 năm 2007 lên hạng thứ 12 năm 2008 Phải chăng việc đầu tư

ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa phát huy hiệu quả ?Chúng ta còn gặp phải những khó khăn và vướng mắc gì khi đầu tư ra nướcngoài ?

Để giải đáp những thắc mắc trên, đề tài về “Thực trạng đầu tư ra nướcngoài của Việt Nam và những giải pháp”, với mong muốn tìm hiểu cặn kẽ hơn vềnhững gì đạt được và chưa đạt được trong việc đầu tư ra nước ngoài của cácdoanh nghiệp Việt Nam, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất một số giải phápcho doanh nghiệp và các cơ quan ban ngành liên quan

Mặc dù đầu tư ra nước ngoài đã được hơn 20 năm, nhưng việc đầu tư củacác doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hạn chế Và thông tin, số liệu vẫn chưa đượcthống kê và công bố đầy đủ, thống nhất Do vậy, chúng em chỉ chuyên sâu phântích về thực trạng đầu tư ra nước ngoài ở ba khía cạnh: đầu tư ra nước ngoài theonăm, theo ngành, và theo đối tác

Trang 2

CHƯƠNG I : NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm FDI

Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu

tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chứ trong một nền kinh thế (nhà đầu

tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tếkhác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việcquản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”

Hội nghị Liên Hợp Quốc về TM và Phát triển UNCTAD cũng đưa ra

một khái niệm về FDI Theo đó, “luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp(trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếpnước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nướcngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI FDI gồm có ba bộ phận: vốn cở phần, thunhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty.”

Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : “đầu tư trực tiếp nước ngoài là

người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nướckhác Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nướcngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêmquyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.”

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm:

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào ViệtNam vốn bằng tiền nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Namchấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệpliên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “ một

doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không có tưcách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thườnghoặc có quyền biểu quyết Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thựchiện quyền kiểm soát công ty” Tuy nhiên không phải tất cả các QG nào đều sửdụng mức 10% làm mốc xác định FDI Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ

Trang 3

sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫnđược quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưngvẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau về

FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư)cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDIvới các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tàisản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong nhữngtrường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sảnđược gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" “

Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trựctiếp nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia làviệc nhà đầu tư ở một nươc khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vàoquốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thựcthể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình”

Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữuhình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợp đòng vàgiáy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinhnghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghinợ…) Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nướcngoài Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư bản trong phạm viquốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sửdụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư

Trang 4

1.2 Các hình thức FDI phổ biến và đặc trưng cơ bản của chúng

1.2.1 Doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp liên doanh với nươc ngoài gọi tắt là liên doanh là hình thứcđược sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới từ trướcđến nay Nó công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp

và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác

Khái niệm liên doanh là một hình thức tổ chức kinh donah có tính chấtquốc tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệthốgn tài chính, luật pháp và bản sác văn hoá; hoạt động trên cơ sở sự đóng gópcủa các bên về vốn, quản lí lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũngnhư rủi ro có thể xảy ra; hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sảnxuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ, hoạt đọng nghiên cứu cơ bản và nghiên cứutriển khai

Đối với nước tiếp nhận đầu tư

-Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hoá sp, đổi mới

Công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho ngưòi lao động làm việc vàhọc tập kinh nghiệm quản lí của nước ngoài

-Nhược điểm: mất nhiều thời gian thương thảo vác vấn đề liên quan đến dự án

đầu tư, thường xuất hiện mẫu thuẫn trong quản lý điều hành doanh nghiệp; đốitác nước ngoài thương quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi lcú liên doanhphải chịu thua thiệt vì lợi ích ở nơi khác.; thay đổi nhân sự ở cty mẹ có ảnhhưởng tới tương lai phát triển của liên doanh

Đối với nhà dầu tư nước ngoài

-Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại; được

đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lình vực bị cấm hoặc hạn chếđối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm nhập được nhữngthị trường truyền thống của nước chủ nhà Không mất thời gian và chi phí cho

Trang 5

việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ Chia sẻ được chiphí và rủi ro đầu tư.

-Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác; mất

nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đtư, định giá tài sảngóp vốn giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác trong nước; khôngchủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hội kinh doanh khógiải quyết khác biệt vè tập quán, văn hoá

1.2.2 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanh trong hoạtđộng đầu tư quốc tế

Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh

có tư cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủ đầu tư vànước sở tại

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản lýcủa chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về môitrường kinh doanh của nước sở tại, đó là các đk về chính trị, kt luạt háp văn hoámức độ cạnh tranh…

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là 1 thự thểpháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại Thành lập dưới dạng công

ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần

Đối với nước tiếp nhận

-Ưu điểm: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù DN bị lỗ; giải

quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư; tập trung thu hút vốn

và công nghệ của nước ngoài vào những linh vực khuyến khích xuất khảu; tiếpcận được thị trường nước ngoài

Trang 6

-Nhược điểm: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài đê

nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật ở các doanh nghiệp trong nước.Đối với nhà đầu tư nước ngoài

-Ưu điểm: chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp thực hiện được chiến

lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai nhanh dự án đầu tư; được quyền chủ độngtuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển chung của tậpđoàn

-Nhược điểm: chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư; phải chi phí nhiều

hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới; không xâm nhập được vào nhữnglĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị trường trong nước lớn, khó quan hệ với các cơquan quản lý Nhà nước nước sở tại

1.2.3 Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hình thức này là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm vàphân hia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh màkhông thành lập pháp nhân mới

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được kí kết giứa đại diện cóthẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõ việcthực hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên

Đặc điểm là các bên kí kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, trong qúa trìnhkinh doanh các bên hợp doanh có thể thành lập ban điều phối để theo dõi, giámsát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh Phân chia kết quả kinh doanh:hình thức hợp doanh không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chiakết quả kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thoả thuận giữa các bên.Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước sở tại một cáchriêng rẽ Pháp lý hợp doanh là một thực thể kinh doanh hoạt động theo luật phápnước sở tại chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại Quyền lợi và nghĩa vụcủa các bên hơp doanh được ghi trong hợp đồng hợp tác kinh doanh

Trang 7

Đối với nước tiếp nhận

-Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu cnghệ, tạo ra thị trường mới

nhưng vấn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền đièu hành dự án

-Nhược điểm: khó thu hút đầu tư, chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ

sinh lời

Đối với nước đầu tư

-Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của dối tác nước sở tại vào

được những linh vực hạn chế đầu tư thâm nhập được nhưng thị trường truyềnthống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thịtrường mới và xây dựng các mối quan hệ; không bị tác động lớn do khác biệt vềvăn hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư

-Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp tác với

đối tác nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại

1.2.4 Đầu tư theo hợp đồng BOT

BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ một số

mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhan để thực hiện xây dựng cơ sở hạtầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhà nước Trong một dự án xây dựngBOT, một doanh nhân tư nhân được đặc quyền xây dựng và vận hành một côngtrình mà thường do chính phủ thực hiện Công trình này có thể là nhà máy điện,sân bay, cầu, cầu đường… Vào cuối giai đoạn vận hành doanh nghiệp tư nhân sẽchuyển quyền sở hữu dự án về cho chính phủ Ngoài hợp đồng BOT còn cóBTO, BT

Hợp đồng BOT là văn bản kí kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơquan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạtầng (kể cả mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh trong mộtthời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển giao

Trang 8

Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây dựngchuyển giao BT, được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng có điểmkhác là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tưnước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chinh phủ nước chủ nhàdành cho quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một thờigian đủ để hoàn lại toàn bộ vốn đầu tư và có lợi nhuận thoả đáng về công trình đãxây dựng và chuyển giao.

Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư nướcngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chính phủ nước chủ nhà thanhtoán bằng tiền hoặc bằng tài sản nào đó tương xứng với vốn đầu tư đã bỏ ra vàmột tỉ lệ lợi nhuận hợp lí

Doanh nghiệp được thành lập thực hiện hợp đồng BOT, BTO, BT mặc dùhợp đồng dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài nhưng đối tác cùng thực hiện hợp đòng là các cơ quan quản lí nhànước ở nước sở tại Lĩnh vực hợp đồng hẹp hơn các doanh nghiệp FDI khác, chủyếu áp dụng cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng; được hưởng các ưu đãi đầu

tư cao hơn sơ với các hình thức đầu tư khác và điểm đặc biệt là khi hết hạn hoạtđộng, phải chuyển giao không bồi hoàn công trình cơ sở hạn tầng đã được xâydựng và khai thác cho nước sở tại

Đối với nước tiếp nhận

-Ưu điểm: thu hút được vốn đầu tư vào những dự án co9ư sở hạ tầng đòi hỏi vốn

đầu tư lớn, do đó giảm được sức ép cho ngân sách nhà nước, đồng thời nhanhchóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh giúp khơi dậy các nguồnlực trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển kinh tế

-Nhược điểm: khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lí và khó kiểm soát công trình.

Mặt khác, nhà nước phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát của nhà đầutư

Trang 9

Đối với đầu tư nước ngoài

-Ưu điểm: hiệu quả sử dụng vốn được bảo đảm; chủ động quản lí, điều hành và

tự chủ kinh doanh lợi nhuận, hông bị chia sẻ và được nhà nước sở tại đảm bảo,tránh những rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát

-Nhược điểm: việc đàm phán và thực thi hợp đồng BOT thương gặp nhiều khókhăn tốn kém nhiều thời gian và công sức

1.2.5 Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company)

Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lí được thừanhận rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển

Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ởmức đủ để kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua việcgây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị

Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giớihạn hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám sáthoạt động quản lí của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì quyền kiểmsoát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo rất nhiều thuận lợi:

-Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu tưkhác nhau mà còn tạo điểu kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và hỗ trợcác công ty trực thuộc trong việc tiêps thị, tiệu thụ hàng hoá, điều tiết chi phí thunhập và các nghiệp vụ tài chính

-Quản lí các khoản vốn góp của mình trong công ty khác như một thểthống nhất và chịu trách nhiệm về vịec ra quyết định và lập kế hoạch chiến lượcđiều phối các hoạt động và tài chính của cả nhóm công ty

-Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danhmục đầu tư Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ đầu tư chocác công ty con và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này

-Cung cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan hệđối ngoại, phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển (R&D)…

Trang 10

Công ty cổ phần (công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn)là doanh nghiệptrong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần các cổđông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệptrong phạm vi vốn đã góp vào doanh nghiệp cổ đông có thể là tổ chức cá nhânvới số lượng tối đa không hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số cổ đông tốithiểu Đặc trưng của công ty cổ phần là nó có quyền phát hành chứng khoán racông chúng và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình chongười khác

Cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng quản trị

và giám đốc

Thông thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sởhữu trên 10% số cổ phiếu thường có quyền tham gia gimá sát quản lý hoạt độngcủa công ty cổ phần Đại hội cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết là

cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần

Ở một số nước khác, công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu nước ngoàiđược thành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hoá doanh nghiệp FDI (doanhnghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt động, mualại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hoá

1.2.7 Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài

Hình thức này được phân biệt với hình thức cty con 100% vốn nước ngoài

ở chỗ chi nhánh không được coi là một pháp nhân độc lập trong khi công ty conthường là một pháp nhân độc lập Trách nhiệm của công ty con thường giới hạntrong phạm vi tài sản ở nước sở tại, trong khi trách nhiẹm của chi nhánh theo quyđịnh của 1 ở nước, không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh, màcòn được mở rộng đến cả phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài

Chi nhánh được phép khấu trừ các khoản lỗ ở nước sở tại và các khoản chiphí thành lập ban đầu vào các khoản thu nhập của công ty mẹ tại nước ngoài.Ngoài ra chi nhánh còn được khấu trừ một phần các chi phí quản lý của công ty

mẹ ở nước ngoài vào phần thu nhập chịu thuế ở nước sở tại

Trang 11

Việc thành lập chi nhánh thường đơn giản hơn so với việc thành lập công

ty con Do không thành lập 1 pháp nhân độc lập, việc thành lập chi nhánh khôngphải tuân thủ theo các quy định về thành lập công ty, thường chỉ thông qua việcđăng kí tại các cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà

1.2.8 Hình thức công ty hợp danh

Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp danh,ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợpdanh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp và phải chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty; thành viêngóp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn

đã góp vào công ty Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứngkhoán nào Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn

đề quản lý công ty, còn thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ

lệ quy định tại điều lệ công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty vàhoạt động kinh doanh nhân danh công ty

Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàihình thức đầu tư này mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về thân nhântrách nhiệm vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ Hình thức đầu tư này trước hết rấtphù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm rõ rệt nên cũngđược các doanh nghiệp lớn quan tâm

Việc cho ra đời hình thức cty hợp danh ở các nước nhằm tạo thêm cơ hộicho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu, lợi ích của

họ Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như tư vấn pháp luật, khám chữabệnh, thiết kế kiến trúc đã và đang phát triển nhanh chóng Đó là những dịch vụ

mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng trước khi sửdụng, nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khởe tính mạng và tài sản của người tiêudùng khi sử dụng Việc thành lập công ty hợp danh là hình thức thức đầu tư phùhợp trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêu trên Trong đó nhữngngười có vốn đóng vai trò là thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn còn

Trang 12

các nhà chuyên môn là thàn viên hợp danh tổ chức điều hành, cung ứng dịch vụ

và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của họ

1.2.9 Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A)

Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các TNC lớn và tập trung vàocác lĩnh vực công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở các nướcphát triển

Mục đích chủ yếu :

-Khai thác lợi thế của thị trường mới mà hoạt động thương mại quốc tếhay đầu tư mới theo kênh truyền thống không mang lại hiệu quả mong đợi Hoạtđộng M&A tạo cho các công ty cơ hội mở rộng nhanh chóng hoạt động ra thịtrường nước ngoài

-Bằng con đường M&A, các TNC có thể sáp nhập các ty của mình vớinhau hình thnàh một công ty khổng lồ hoạt độg trong nhiều lĩnh vự hay các công

ty khác nhau cùng hoạt động trông một lĩnh vực có thể sáp nhập lại nhằm tăngkhả năng cạnh tranh toàn cầu của tập đoàn

-Các công ty vì mục đích quốc tế hoá sản phẩm muốn lấp chỗ trống trong

hệ thống phân phối của họ trên thị trường thế giới

-Thông qua cong đường M&A các ty có thể giảm chi phí từng lĩnh vựcnghiên cứu và phát triển sản xuất, phân phối và lưu thông

-M&A tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc các ngành công nghiệp

và cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia, do đó, hình thức này đóng vai tròquan trọng trong sự phát triển công nghiệp ở mọi quốc gia

Hoạt động phân làm 3 loại:

-MA theo chiều ngang xảy ra khi 2 cty hoạt động trong cùng 1 lĩnh vựcsản xuất kinh doanh muốn hình thành 1 công ty lớn hơn để tăng khả năng cạnhtranh, mở rộng thị trường của cùng 1 loại mặt mà trc đó 2 cty cùng sản xuất

Trang 13

-MA theo chiều dọc diễn ra khi 2 cty hoạt động ở 2 lĩnh vự khác nhaunhưng cùng chịu sự chi phối của 1 cty mẹ, laọi hình MA này thwongf xảy ra ởcác cty xuyên quốc gia

-MA theo hướng đa dạng hoá hay kết hợp thường xảy ra khi các ty lớntiến hành sáp nhập với nhau với mục tiêu tối thiểu hoá rủi ro và tránh thiệt hạikhi 1 cty tự thâm nhập thị trường

So với đầu tư truyền thống, từ quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư:

-Về bổ sung vốn đầu tư trong khi hình thức đầu tư truyền thống bổ ngàymột lượng vốn FDI nhất định cho đầu tư phát triển thì hình thức MA chủ yếuchuyển sở hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà cho các công tynước ngoài Tuy nhiên, về dài hạn, hình thức này cũng thu hút mạnh được nguồnvốn từ bên ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt độn của doanhnghiệp

-Về tạo việc làm, hình thức đầu tư truyền thống tạo ngay được việc làmcho nước chủ nhà, trong khi hình thức M&A không những không tạo được việclàm ngay mà còn có thể làm tang thêm tình trạng căng thẳng về việc làm (tăngthất nghiệp) cho nước chủ nhà Tuy nhiên về lâu dài, tình trạng này có thể đượccải thiện khi các doanh nghiệp mở rông quy mô sản xuất

-Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đầu tư truyền thống tác động trựctiếp dến thay dổi cơ cấu knh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mớitrong khi đó M&A không có tác động trong giai đoạn ngắn hạn

-Về cạnh tranh và an ninh quốc gia, trong khi đầu tư truyền thống thúcđẩy cạnh tranh thì M&A không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh vềmặt ngắn hạn nhưng về dài hạn có thể làm tăng canh tranh độc quyền Mặt khác,M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức đưtruyền thống vởi vì tài sản của nước chủ nhà được chuyển cho người nước ngoài

Trang 14

1.3.1 Bản chất

- FDI mặc dù vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ, nhưng nó ít bị lệ thuộchơn vào quan hệ chính trị hai bên nếu so sánh với hình thức tín dụng quan hệquốc tế

- Bên nước ngoài trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh của doanhnghiệp, nên họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và đưa ra những quyết định cólợi nhất cho việc đầu tư Vì vậy mức độ khả thi của công cuộc đầu tư khá cao,đặc biệt trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu

- Do quyền lợi của chủ đầu tư nước ngoài gắn liền với lợi ích do đầu tưđem lại cho nên có thể lựa chọn kỹ thuật, công nghệ thích hợp, nâng cao dầntrình độ quản lý, tay nghề cho công nhân ở nước tiếp nhận đầu tư

- FDI liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia

và sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế

1.3.2 Vai trò

1.3.2.1.Đối với nước đi đầu tư

 Đứng trên góc độ quốc gia

Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là cách để các quốc gia có thể mởrộng và nâng cao quan hệ hợp tác về nhiều mặt đối với các quốc gia khác màmình sẽ đầu tư Khi một nước đầu tư sang nước khác một mặt hàng thì nước đóthường có những ưu thế nhất định về mặt hàng như về chất lượng, năng suất vàgiá cả cùng với chính sách hướng xuất khẩu của nước này; thêm vào đó là sự cómột sự sẵn sàng hợp tác chấp nhận sự đầu tư đó của nước sở tại cùng với nhữngnguồn lực thích hợp cho sản phẩm đó Mặt khác, khi đầu tư FDI nước đi đầu tư

có rất nhiều có lợi về kinh tế cũng như chính trị

Thứ nhất, quan hệ hợp tác với nước sở tại được tăng cường và vị thế của

nước đi đầu tư được nâng lên trên trường quốc tế

Thứ hai, mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, khi trong nước sản

phẩm đang thừa mà nước sở tại lại thiếu

Trang 15

Thứ ba, giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động, vì khi đầu tư

sang nước khác, thì nước đó phải cần có những người hướng dẫn, hay còn gọi làcác chuyên gia trong lĩnh vực này Đồng thời tránh được việc phải khai thác cácnguồn lực trong nước, như tài nguyên thiên nhiên hay ô nhiễm môi trường

Thứ tư, đó là vấn đề chính trị, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng

những kẻ hở của pháp luật, sự yếu kém về quản lý hay sự ưu đãi của Chính phủnước sở tại sẽ có những mục đích khác như làm gián điệp

 Đứng trên góc độ doanh nghiệp

Mục đích của doanh nghiệp cũng như mục đích của một quốc gia thường

là lợi nhuận, lợi nhuận càng nhiều càng tốt Một khi trong nước hay các thịtrường quen thuộc bị tràn ngập những sản phẩm của họ và sản phẩm cùng loạicủa đối thủ cạnh tranh thì họ phải đầu tư ra nước khác để tiêu thụ số sản phẩm

đó Trong khi đầu tư ra nước ngoài, họ chắc chắn sẽ tìm thấy ở nước sở tại nhữnglợi thế so sánh so với thị trường cũ như lao động rẻ hay tài nguyên chưa bị khaithác nhiều

Một nguyên nhân nữa là họ có thể bán được những máy móc và côngnghệ cũ kỹ lạc hậu hay bị hao mòn vô hình do thời gian với giá cao nhưng lại làmới đối với nước nhận đầu tư (khi nước đầu tư là nước đang phát triển)

Thêm vào đó, là sản phẩm của họ được bán tại thị trường này sẽ ngàycàng tăng uy tín và tiếng tăm cho nó và làm tăng sức cạnh tranh đối với các đốithủ có sản phẩm cùng loại

1.3.2.2.Đối với nước nhận đầu tư

 Thuận lợi

a Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý (chuyển giao nguồn lực):

Đối với một nước lạc hậu, trình độ sản xuất kém, năng lực sản xuất chưa đượcphát huy kèm với cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn thì việc tiếp thu được mộtnguồn vốn lớn, công nghệ phù hợp để tăng năng suất và cải tiến chất lượng sảnphẩm, trình độ quản lý chặt chẽ là một điều hết sức cần thiết

Trang 16

Những hoạt động chuyển giao công nghệ (bao gồm cả năng lực quản lý vàmarketing) khó đo lường hơn so với các luồng chảy vào, nhưng phần lớn chuyểngiao đã diễn ra ở công ty mẹ ở nước ngoài và các chi nhánh của chúng Trongcác ngành sử dụng kỹ thuật mới hoặc kỹ thuật đặc thù của doanh nghiệp (như cácngành điện tử), đa số các hoạt động chuyển giao diễn ra giữa các công ty mẹ vàchi nhánh thuộc quyền sở hữu hoàn toàn hoặc sở hữu một phần lớn của công tymẹ; do có sự lo lắng tới việc duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối với kỹ thuật côngnghệ có liên quan Tuy nhiên, trong nhiều ngành khác, các hoạt động chuyểngiao công nghệ diễn ra thông qua các hợp đồng cấp giấy phép sản xuất khác nhau

đã tăng lên nhanh hơn so với sự chuyển giao công nghệ thông qua FDI

b Các nhà đầu tư gánh chịu rủi ro: Đầu tư trực tiếp khác với đầu tư gián tiếp

là nhà đầu tư phải tự đứng ra quản lý đồng vốn của mình, tự chịu trách nhiệmtrước những quyết định đầu tư của mình, do vậy độ rủi ro cao hơn so với đầu tưgián tiếp Các nước nhận đầu tư trực tiếp do vậy cũng không phải lo trả nợ haynhư đầu tư gián tiếp theo mức lãi suất nào đó hay phải chịu trách nhiệm trước sựphá sản hay giải thể của nhà đầu tư nước ngoài

c Tăng năng suất và thu nhập quốc dân; cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế

hơn: Do có công nghệ cùng với trình độ quản lý được nâng lên nên đối với cácngành sản xuất thì việc tăng năng suất là điều tất yếu Không những thế nhữngcông nghệ này còn cho ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, tính năng đadạng hơn, bền hơn và với những mẫu mã đa dạng, hàng hoá lúc này sẽ nhiều vàtất nhiên sẽ rẻ hơn so với trước Điều này chính là cung tăng lên nhưng thực ra

nó tăng lên để đáp ứng lại lượng cầu cũng tăng lên rất nhanh do quá trình đầu tư

có tác động vào Tốc độ quay của vòng vốn tăng lên nhanh hơn, do vậy sản phẩmcũng được sản xuất ra nhiều hơn và tiêu thụ cũng nhiều hơn Do sự tiêu thụ đượctăng lên do vậy các ngành sản xuất, dịch vụ được tiếp thêm một luồng sức sốngmới, nhân lực, máy móc và các nguyên vật liệu được đem ngay vào sản xuất, từ

đó sức đóng góp của các ngành này vào GDP cũng đã tăng lên

Việc có được những công ty có hiệu quả với khả năng cạnh tranh trên thịtrường thế giới có thể đưa lại một sự khai thông quan trọng, tiềm tàng cho việc

Trang 17

chuyển giao các kỹ năng quản lý và công nghệ cho các nước chủ nhà Điều này

có thể xảy ra ở bên trong một ngành công nghiệp riêng rẽ, trong đó có nhữngngười cung ứng các đầu vào cho các chi nhánh nước ngoài, những người tiêudùng trong nước đối với các sản phẩm của chi nhánh này và những đối thủ cạnhtranh của chúng, tất cả đều muốn lựa chọn những phương pháp kỹ thuật có hiệuquả hơn Nó cũng có thể diễn ra một cách rộng rãi hơn trong nội bộ nền kinh tếthông qua sự tăng cường có kết quả công tác đào tạo và kinh nghiệm của lựclượng lao động và thông qua sự khuyến khích có thể có đối với các ngành hỗ trợtài chính và kỹ thuật có khả năng dẫn tới sự hạ thấp toàn bộ chi phí công nghiệp

d Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước: Do có các nhà đầu tư

nước ngoài nhảy vào các thị trường vốn có các nhà đầu tư trong nước chiếm giữphần lớn thị phần, nhưng ưu thế này sẽ không kéo dài đối với nhà đầu tư trongnước khi ưu thế về nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài trội hơn hẳn Chính vìvậy các nhà đầu tư trong nước phải đổi mới cả quá trình sản xuất của mình từtrước từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ bằng việc cải tiến công nghệ và phươngpháp quản lý để có thể trụ vững trên thị trường đó Đó chính là một trong nhữngthử thách tất yếu của nền kinh tế thị trường đối với các nhà sản xuất trong nước,không có kẻ yếu nào có thể tồn tại nếu không tự nó làm mình mạnh lên để sốngtrong cơ chế đó

e Tiếp cận với thị trường nước ngoài: Nếu như trước đây khi chưa có FDI,

các doanh nghiệp trong nước chỉ biết đến có thị trường trong nước, nhưng khi cóFDI thì họ được làm quen với các đối tác kinh tế mới không phải trong nước Họchắc chắn sẽ nhận thấy rất nhiều nơi cần cái họ đang có, và họ cũng đang cần thì

ở nơi đối tác lại có, do vậy cần phải tăng cường hợp tác sẽ có nhiều sản phẩmđược xuất khẩu để thu ngoại tệ về cho đất nước đồng thời cũng cần phải nhậpkhẩu một số loại mặt hàng mà trong nước đang cần Từ các việc trao đổi thươngmại này sẽ lại thúc đẩy các công cuộc đầu tư giữa các nước Như vậy quá trìnhđầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế là một quá trình luôn luôn thúc đẩynhau, hỗ trợ nhau và cùng phát triển

f Chuyển đổi cơ cấu kinh tế: Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực trong

Trang 18

thường tập trung vào những ngành công nghệ cao có sức cạnh tranh như côngnghiệp hay thông tin Nếu là một nước nông nghiệp thì bây giờ trong cơ cấu kinh

tế các ngành đòi hỏi cao hơn như công nghiệp và dịch vụ đã tăng lên về tỷ trọng

và sức đóng góp cho Ngân sách, GDP và cho xã hội nói chung Ngoài ra về cơcấu lãnh thổ, nó có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa cácvùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo đói,phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, đưa những tiềm năng chưakhai phá vào quá trình sản xuất và dịch vụ, và làm bàn đạp thúc đẩy những vùngkhác cùng phát triển

 Thiệt hại

a Vốn nước ngoài rất hạn chế: Mặc dù tính tổng thể vốn đầu tư trực tiếp lớn

hơn và quan trọng hơn đầu tư gián tiếp, nhưng so với đầu tư gián tiếp thì mứcvốn trung bình của một dự án đầu tư là thường nhỏ hơn nhiều Do vậy tác độngkịp thời của một dự án đầu tư trực tiếp cũng không tức thì như dự án đầu tư giántiếp Hơn thế nữa các nhà đầu tư trực tiếp thường thiếu sự trung thành đối với thịtrường đang đầu tư, do vậy luồng vốn đầu tư trực tiếp cũng rất thất thường, đặcbiệt khi cần vốn đầu tư trực tiếp thì nó lại rất ít làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh

tế chung của đất nước nhận đầu tư

b Công nghệ không thích hợp, “giá chuyển nhượng nội bộ” cùng với việc

giảm tính linh hoạt trong xuất khẩu, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán: người tacho rằng các công ty có sự kiểm soát nước ngoài có thể sử dụng các kỹ thuật sảnxuất sử dụng nhiều tư bản là chủ yếu (mà chúng sẵn có, nhưng không thích hợp)dẫn tới sự chuyển giao công nghệ không đầy đủ ở mức chi phí quá cao (để duy trì

ưu thế công nghệ), định ra những giá cả chuyển nhượng giao cao một cách giảtạo (để bòn rút lợi nhuận quá mức), gây ra sự căng thẳng cho cán cân thanh toán(bởi vì với tư cách là một bộ phận của các chi nhánh sản xuất đa quốc gia, cácdoanh nghiệp đó có thể có ít khả năng hơn so với các công ty thuộc quyền kiểmsoát trong nước trong việc mở rộng xuất khẩu, và có thể phải lệ thuộc nhiều vàohàng nhập khẩu) Bản chất thông tin của công nghệ được chuyển giao, cho nên

nó được chuyển giao trong một thị trường không hoàn hảo cao độ mà trong đóthường khó có thể cố định giá cả một cách chính xác Các nước đang phát triển

Trang 19

thường xuyên ở vào vị trí thương lượng yếu hơn trong các thị trường này, đặcbiệt là khi họ thiếu lực lượng cán bộ chuyên môn để có thể giúp xác định mứcđóng góp thích hợp của hoạt động chuyển giao công nghệ cần thiết.

c Thâm hụt cán cân thanh toán Mặc dù việc tiếp nhận nguồn vốn FDI tạo

ra một sự thặng dư lớn về cán cân tài khoản vốn cho nước tiếp nhận đầu tưnhưng về lâu dài việc chuyển các khoản lợi nhuận thu được về nước chủ đầu tư

sẽ tạo ra một sự thâm hụt lớn trong cán cân thương mại Bên cạnh đó xu hướngtăng cán cân thương mại của khối đầu tư nước ngoài đặc biệt là đối với cácdoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã chèn lấn các doanh nghiệp trong nướcbằng cách thực hiện các thương vụ sáp nhập và thôn tính ( M&A) các doanhnghiệp trong nước nhằm độc quyền chiếm lợi nhuận, điều này đặc biệt nghiêmtrọng khi có sự biến động của nền kinh tế và sự thoái lui của khối này sẽ gây ramột sự mất cân bằng lớn trong cán cân thương mại dẫn tới sự mất cân bằng trongcán cân thanh toán

d Bán rẻ nguồn tài nguyên Sự thiếu hụt về nguồn vốn cũng như yếu kém về

khoa học công nghệ buộc nước nhận FDI phải chấp nhận các điều khoản thuathiệt về lợi nhuận của các doanh nghiệp đầu tư, nhất là trong cấc lĩnh vực côngnghiệp khai thác khoảng sản, tài nguyên cùng với việc ham muốn lợi nhuậntrước mắt của các địa phương cũng như doanh nghiệp trong nước cho phép khaithác ồ ạt làm cho nguồn tài nguyên không chỉ bị đem bán một cách rẻ mạt màcòn làm cho nó ngày càng cạn kiệt Chưa kể đến những dự án triển khai khônghiệu quả rút vốn bỏ dở công trình hoặc chuyển hướng đầu tư làm cho nguồn tàinguyên bị khai thác sai quy trình và mục đích dẫn tới không tận dụng được tối đanguồn tài nguyên gây lãng phí Phần lớn các dự án FDI ở nước nhận đầu tư đềuđược tiếp nhận do đia phương đó thiếu về vốn và công nghệ, chưa tính đến việcmua đắt các công cụ phục vụ dự án của nước đầu tư nước tiếp nhận đầu tư còn bịthiệt về lợi nhuận thu được bên cạnh những hậu quả của tương lai do dự án đểlại

e Gây ô nhiễm môi trường Việc các dự án FDI hoạt động tràn lan với cơ

chế quản lý lỏng lẻo gây ra rất nhiều tác động xấu tới môi trường, các dự án khai

Trang 20

nhưng vì mục đích lợi nhuận mà bỏ qua hoặc xem nhẹ tác hại của nó tới môitrường đang dần trở nên phổ biến với quy mô và mức độ ngày càng nghiêmtrọng Sự cạn kiệt nguồn tài nguyên do các dự án này triển khai không chỉ gâyhiệu ứng dây chuyền tới môi trường mà còn gây ra tác động xấu lớn tới đời sốngcủa xã hội Các nước tiếp nhận đầu tư trong quá trình dự án được triển khaikhông kiểm tra sát sao hoặc làm ngơ trước những ảnh hưởng xấu của dự án cũnggóp phần làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm.

f Mỗi quốc gia có những chính sách quản lý, lãi suất và thuế suất khác

nhau Đa số các dự án được thực hiện bởi vồn FDI có nguồn thu khá cao, sựchênh lệch về thuế nhìu khi sẽ dẫn tới sự gian lận của các nhà đầu tư Hiện nayrất nhiều công ty đa quốc gia thông báo lỗ trong khi họ vẫn tiếp tục và cả triểnkhai những dự án mới, sự điều chỉnh của công ty mẹ nhằm mục tiêu tối đa hóalợi nhuận sẽ dẫn tới những tác động tiêu cực mà chủ yếu là tình trạng “ chuyểngiá” làm mất đi các khoản thuế lớn đối với nước tiếp nhận đầu tư gầy thiệt hạilớn về nguồn thu của nhà nước

g Tăng khoảng cách giàu nghèo Cải cách kinh tế ở các nước phát triển và

đang phát triển được thế giới nhìn nhận rộng rãi như một thành công lớn GDPbình quân đầu người đã tăng với tốc độ khá cao trong vài thập kỷ lại đây, gópphần làm giảm mạnh tỷ lệ đói nghèo xuống hơn một nửa trong thời gian này Tuyvậy, cải cách bằng ngồn FDI tuy góp phần đưa các vùng kém phát triển vươn lênmột tầm mới nhưng sự vươn lên của nó lại không bằng các vùng, ngành vốn đã

có thế mạnh và điều này dẫn đến một kết quả tất yếu là khoảng cách giàu nghèođang ngày càng tăng, tuy với tốc độ và mức độ chưa đến mức báo động Sự cómặt của các doanh nghiệp FDI với vô số việc làm mới, rất nhiều khoản thu nhậpđược tạo ra cho người dân địa phương, tuy nhiên sự có mặt của các doanh nghiệpFDI này không phải được phân bố một cách đều đặn cho các vùng theo địa lý mà

nó chỉ tập trung vào các vùng có thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên hay sự pháttriển của cơ sở hạ tầng các vùng mà vốn có của nó đã phát triển hơn những vùngsâu, xa nghèo tài nguyên còn lại Chính điều này đang ngày càng tạo thêm mộtkhoảng cách giàu nghèo giữa các vùng

Trang 21

1.4 Bài học kinh nghiệm

1.4.1 Kinh nghiệm ĐTRNN của các doanh nghiệp Trung Quốc

Thâm nhập sâu hơn thị trường các nước đang phát triển

Năm 2009, Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thành đối tác thương mại lớnnhất của Brazil Mối quan hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ của họ trong thập kỷ qua

đã trở thành một biểu tượng của sự dịch chuyển kinh tế toàn cầu Các ngân hàngTrung Quốc đã cho Công ty Dầu mỏ Petrobras vay 10 tỷ USD; cho Công ty Khaikhoáng Vale vay 1,23 tỷ USD Trong năm 2009, tổng giá trị đầu tư của TrungQuốc vào Brazil chỉ đạt 92 triệu USD song ước tính năm 2010 có thể vượt 10 tỷUSD

Nếu đầu tư vào Brazil là một biểu tượng của thời kỳ mới trong đó kinh tếTrung Quốc thâm nhập sâu hơn vào các nước đang phát triển, thì một biểu tượngnữa đó là một loạt mạng lưới đường sắt do Trung Quốc xây dựng đang lan toả ratoàn cầu gồm một số nước ở Trung Á, Đông Nam Á, ở Ukraina, Thổ Nhĩ Kỳ vàArgentina

 Trung Quốc đã tạo ra một thế hệ công ty có sức cạnh tranh quốc tế Họ cóthể cung cấp cho các nước đang phát triển những đoàn tàu, trạm điện, máymóc khai mỏ và thiết bị viễn thông với giá cả thường thấp hơn nhiều sovới các nhà cung cấp khác

 Sự hỗ trợ của một hệ thống ngân hàng được chính phủ huy động “chốnglưng” cho các doanh nghiệp nói trên

Tận dụng tối đa chính sách hỗ trợ của nhà nước

Có thể nói việc tăng giá đồng NDT được thực hiện trên cơ sở lợi ích kinh

tế của Trung Quốc, vì hiện nay Trung Quốc đang mở rộng đầu tư ra nước ngoài.Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp trở thành nguồn vốn quan trọng nhất và tỷ lệdoanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay từ ngân hàng nhà nước từ 49% giảm xuốngcòn 45%, tỷ lệ sử dụng nguồn vốn vay của ngân hàng không thuộc nhà nước tăng

Trang 22

nguồn vốn, đã phản ánh 2 vấn đề, một là doanh thu của doanh nghiệp TrungQuốc trong vài năm tới có khả năng tăng cao, nguồn vốn tự có sẽ gia tăng; hai làthể chế tiền tệ và thị trường vốn của Trung Quốc sắp tới sẽ có thay đổi quantrọng, nguồn vốn sẽ đa dạng hóa, vấn đề khó khăn về vốn trước đây sẽ có thayđổi lớn Điều này phù hợp với những diễn biến gần đây về tỷ giá linh hoạt củađồng NDT.

 Lợi dụng việc đồng nội tệ tăng giá các doanh nghiệp Trung Quốc pháttriển sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và đẩy mạnh đầu tư ranước ngoài

1.4.2 Kinh nghiệm thành công

Công ty phân bón Năm Sao

i Định hướng phát triển đúng đắn

Thực tế, để có được những thành công nhất định, trong quá trình đầu tưban đầu Năm sao đã gặp phải một trở ngại rất lớn khi tại thị trường Campuchiabởi nhiều phong tục tập quán tại Campuchia Thậm chí, nhiều địa phương tạiCampuchia chính quyền nghiêm cấm việc bán hoặc phân phối phân bón bởi họvẫn còn quan niệm rằng dùng phân bón sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đất…

Cùng thời điểm này, tại thị trường Campuchia có đến hàng chục nhà cungứng và khai thác thị trường nên nó đã chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh.Nhưng có một điểm đã gây ra không ít khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoàiđến với Campuchia là các cơ chế chính sách, môi trường đầu tư đều thiếu tínhminh bạch Những điều này đã có thời kỳ tại VN thị trường phân bón đã vấp phảinhưng với kinh nghiệm gần 20 năm trong ngành phân bón tại VN nên Năm Saotập trung mạnh vào 2 mảng chính là phải nhanh chóng có được nhà máy để đưa

ra được sản phẩm được sản xuất tại đất Campuchia và tạo dựng thương hiệu đểgây dựng niềm tin ngay từ trong lòng khách hàng

ii Nghiên cứu ngành – nghiên cứu văn hóa tại nước đầu tư

Trang 23

Ngay từ khi có ý định đầu tư nhà máy vào thị trường Campuchia, Tậpđoàn quốc tế Năm Sao đã vấp ngay phải hàng loạt câu hỏi: Tại sao lại đầu tư ranước ngoài khi mà chính trong nước còn rất nhiều việc phải làm ? Nhất là đối vớithị trường Campuchia từ trước tới nay đều được cho là có độ rủi ro rất cao (?).Quan trọng hơn nữa là đối với thị trường phân bón trong nước vẫn còn là một

“sân chơi” rộng mở đối với thương hiệu Phân bón Năm Sao và các DN ngànhphân bón

Một trong những câu trả lời đầu tiên được chứng minh qua bước nghiêncứu thực tế Campuchia là nước nằm liền kề VN và một quốc gia đang có nhữngbước phát triển mạnh mẽ về nông nghiệp, trồng rừng nhưng cạnh tranh của thịtrường phân bón rất cao, luôn phải cạnh tranh với nhiều hãng phân bón quốc tếkhác thì đây chính là cơ hội quan trọng để cọ xát, đúc rút kinh nghiệm cạnh tranhquốc tế Đặc biệt, các loại cây trồng như lúa, cao su và các loại trái cây tạiCampuchia rất phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu của VN Trong đó, loại phânbón đầu tiên được thích ứng tại thị trường Campuchia là NPK Đây cũng chính làsản phẩm của Năm Sao đã khá thành công và được khẳng định thương hiệu trongnước

iii Làm ăn lâu dài, tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với nước đầu tư

Từ trước đến nay nhiều DN VN cũng như quốc tế khi đến với Campuchiachỉ như kiểu kinh doanh mua đứt bán đoạn mà không đầu tư nhà máy tại đây Do

đó, ngay từ đầu triển khai dự án xây dựng nhà máy, Năm Sao đã nhận được sự hỗtrợ rất lớn từ Chính phủ Campuchia Được sự chấp thuận của Chính phủ VN vàChính phủ Campuchia ngày 24/12/2009, Tập đoàn quốc tế Năm Sao đã khởicông nhà máy Phân Bón Năm Sao tại Campuchia với tổng vốn đầu tư 65 triệuUSD, công suất trên 300 nghìn tấn/năm Đến nay, tuy đang trong bước đầu tưban đầu nhưng Tập đoàn quốc tế Năm Sao đã nhanh chóng đưa các mặt hàngphân bón sản xuất tại VN để tiếp cận với khách hàng Campuchia và được ngườitiêu dùng đón nhận Hiện tại, phân bón mang thương hiệu Năm Sao tiêu thụkhoảng 3.000 tấn các loại/tháng

Trang 24

iv Tận dụng triệt để các ưu thế trong nước và nước ngoài

Năm Sao đang triệt để hóa những thành công tại VN để áp dụng về cácmặt như tài chính, công nghệ và con người tại thị trường Campuchia Trong đó,

về tài chính sẽ tiết kiệm chi phí để có vốn đầu tư, đồng thời phát huy vốn nội lực,thu hút nhà đầu tư; về công nghệ với lợi thế là DN mới, cơ hội để áp dụng nhữngtiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất, cung ứng dịch vụ phân bóncho khách hàng của Năm Sao; về con người cũng như bước phát triển Tập đoànquốc tế Năm Sao đã nhanh chóng tạo ra một đội ngũ CBCNV linh hoạt, luônhoạt động trong áp lực cao, với độ tuổi còn rất trẻ nhưng đã rất giàu kinh nghiệm

và rất dễ thích ứng trong các môi trường đầu tư, kinh doanh mới

Công ty viễn thông Viettel

Tháng 5/2006, Viettel bắt đầu cung cấp dịch vụ tại Campuchia với dịch vụVoIP, sau đó là dịch vụ internet, tiếp theo đó Viettel triển khai mạng di động KhiViettel bắt đầu thâm nhập vào thị trường Capuchia thì đã phải đối mặt với cácdoanh nghiệp viễn thông đang hoạt động tại Campuchia có nhiều kinh nghiệm vàtiềm lực tài chính mạnh, chủ yếu là liên doanh với nước ngoài như Thuỵ Điển,Thái Lan, NaUy

Viettel đã đẩy nhanh tập trung vào xây dựng hạ tầng mạng lưới và xâydựng riêng một đường truyền về Việt Nam, trong khi các doanh nghiệp viễnthông khác tại Campuchia không có đường truyền riêng như vậy Đến ngày19/2/2009, Viettel chính thức khai trương mạng Metfone thuộc công ty ViettelCambodia ( Công ty 100% vốn của Viettel đầu tư), chỉ sau 3 tháng đi vào hoạtđộng mạng lưới Metfone đã triển khai rộng khắp Campuchia, dung lượng lớn vớihơn 1000 trạm phát sóng BTS tương đương hớn 40% tổng số trạm phát sóng của

cả nước Campuchia, phủ sóng cả nước, với một mạng cáp quang lớn nhấtCamphuchia với chiều dài 5000km phủ khắp các quốc lộ, tỉnh thành

Sự thích ứng nhanh của Viettel khi đầu tư ra nước ngoài còn thể hiện ởchỗ Metfone xây dựng gói cước đa dạng với mệnh giá thấp và dịch vụ gia tăngphong phú đã đem đến cho người dân Camphuchia nhiều sự lựa chọn Hiện nayMetfone là mạng có giá cước tốt nhất, giúp người dân Campuchia tiết kiêm 25%

Trang 25

chi phí nhờ cách tính cước theo từng giây cho tất cả các hướng gọi, kể cả liênmạng và quốc tế Sau 3 tháng cung cấp thử nghiệm Metfone đã có 500.000 thuêbao

Viettel đẩy mạnh kinh doanh gắn kết với vấn đề xã hội, cùng với việc khaitrương mạng Metfone tại Campuchia, Viettel chính thức công bố tài trợ dịch vụinternet miễn phí tới các trường học Camphuchia, dự kiến 5 năm tới Metfone sẽcung cấp internet miễn phí cho 1.000 trường học trên toàn lãnh thổ Campuchiavới tổng giá trị ước tính 5 triệu USD Dự kiến năm 2011 Metfone sẽ tiếp tục đẩymạnh phát triển mạng lưới, mở rộng lên 3000 trạm BTS với 10,000 km cápquang Viettel đặt mục tiêu là doanh nghiệp số 1 Camphuchia

 Bài học kinh nghiệm rút ra từ Viettel

Qua bài học của Viettel, là doanh nghiệp viễn thông đầu tiên của ViệtNam vươn ra đầu tư hẳn một mạng viễn thông nước ngoài bước đầu thành công

đã rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá không chỉ cho các doanh nghiệpviễn thông mà cho cả các doanh nghiệp khác để nâng cao khả năng và sức mạnhcạnh tranh, các bài học được rút ra là:

 Các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam cần sự chủ động tìm kiếm cơ hội mới

và dám chấp nhận mạo hiểm thách thức ở thị trường bên ngoài Việt Nam để pháttriển

 Thích ứng nhanh với thị trường và môi trường cạnh tranh ở nước ngoài, xâydựng các chính sách marketing đa dạng phù hợp với nhu cầu của khách hàng

 Gắn kết phát triển kinh doanh với vấn đề nâng cao phúc lợi xã hội để phát triểnbền vững và gắn kết với nước sở tại

 Xây dựng cơ sở hạ tầng mạng lưới vững chắc làm cơ sở cho phát triển kinhdoanh và thực hiện các chiến lược trong kinh doanh

Trang 26

 Cuối cùng, điều quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam

là cùng gắn kết, cạnh tranh lành mạnh và luôn tìm hướng đi mới, cách làm mới

để nâng cao khả năng cạnh tranh không chỉ trên sân nhà mà cả trên sân khách

1.4.3 Kinh nghiệm thất bại

Công ty Đức Hạnh (Duhaco)

Đầu tư ra nước ngoài không phải bao giờ cũng mang lại nụ cười cho cácnhà đầu tư Việt Nam Ông Đoàn Văn Đức, Giám đốc Công ty Đức Hạnh(Duhaco), buồn bã khi nhắc đến hai dự án đầu tư tại Campuchia.""Chúng tôi không lường trước được rằng lao động là yếu tố đưa đến sự thất bại của hai

dự án này"", ông Đức nói

Cuối năm 1999, Duhaco hợp đồng với Bộ Tài nguyên nước và Khí tượngVương quốc Campuchia về việc nạo vét kênh Tà Tam thuộc huyện Kong PongLieu, tỉnh Prey Veng Trị giá toàn bộ công trình này khoảng 3 triệu USD Cũngtrong năm này, Duhaco đã ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công tyRithymexco trong 20 năm để khai thác cát, đá, sỏi, sản xuất kinh doanh vậtliệu xây dựng Đặc biệt, trong khuôn khổ hợp tác này, hai nhà đầu tư đãnhận được một hợp đồng thực hiện khai thác một triệu khối cát, sỏi trên sôngMekong trong thời gian hai năm với tổng trị giá hợp đồng 1,8 triệu USD

"Thế nhưng, đến nay không triển khai được dự án nào vì công nhân kỹthuật Việt Nam không muốn sang Campuchia làm việc mà thuê lao động địaphương thì tôi không dám do không nắm rõ nguồn gốc", ông Đức nói Đến nayDuhaco đã đầu tư gần 4 tỷ đồng cho việc khảo sát, lập thiết kế và lập dự toáncông trình

Công ty cổ phần Công nghệ thông tin EIS

Nói đến các doanh nghiệp có dự án đầu tư ra nước ngoài không thể khôngnhắc đến Công ty cổ phần Công nghệ thông tin EIS Năm 2001, EIS đã quyếtđịnh đầu tư ba dự án tại Singapore, Thái Lan và Mỹ Vốn đầu tư của dự án tạiSingapore không lớn, chỉ 380.000 USD nhưng lại là dự án thành công ngoàimong đợi của nhà đầu tư

Trang 27

Tuy rất thành công với văn phòng tại Singapore, song Công ty EIS phảiđối phó với nhiều khó khăn của hai dự án tại Thái Lan - chuyên cung cấp các hệthống bảo mật cho các hệ thống thông tin của ngân hàng, thị trường chứng khoán

và trường học, và gia công sản xuất phần mềm tại Mỹ.""Cả hai dự án này đềuchưa mang lại lợi nhuận do cạnh tranh trong kinh doanh công nghệ thông tinngày càng gay gắt và nhất là việc giảm mạnh của thị trường công nghệ phầnmềm tại Mỹ từ năm 2001"", ông Bách nói

Công ty Xây dựng - Kiến trúc AA

Phải có nhiều vốn khi muốn đầu tư ra nước ngoài là một yếu tố khiến cácdoanh nghiệp phải cân nhắc Ông Nguyễn Đức Khanh, Giám đốc Công ty Xâydựng - Kiến trúc AA, cho biết công ty đã mở văn phòng tại Thye Hong Center,Singapore vào năm 1999 nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc thi công nội thấtmột khách sạn tại Colombo, Sri Lanka cũng như tranh thủ tiếp thị sản phẩm gỗ trang trí nội thất với khách hàng.""Do chi phí quá cao mà việc thi công dự án tại Sri Lanka đã xong, chúng tôi quyết định đóng cửa văn phòng này"", ôngKhanh nói

 Bài học rút ra

 Xác định mức vốn của công ty và đầu tư vào dự án có quy mô phù hợp, tránhđầu tư vượt qua nguồn vốn dẫn đến dự án không triển khai được làm tốn thờigian và tiền bạc

 Nghiên cứu môi trường kinh doanh tại nước đầu tư trước khi đầu tư, đặc biệt là

về đối thủ cạnh tranh, nên chọn đầu tư các dự án thuộc thế mạnh công ty và ít đốithủ cạnh tranh

 Tìm hiểu các chính sách ưu đãi của quốc gia sẽ đầu tư, tìm hiểu các nguồn lựcsẵn có có thể phục vụ cho việc đầu tư như tài nguyên, nhân công…

Trang 28

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

2.1 Quy chế quản lý hoạt động ĐTRNN của Việt Nam

2.1.1 Tổng quan hệ thống pháp luật của Việt Nam về ĐTRNN

Những năm đầu thập niên 90, lượng vốn ĐTNN vào Việt Nam tăng mỗinăm, số các doanh nghiệp ĐTNN trong sản xuất hàng dệt-may tăng cao nên sốlượng quota xuất khẩu hàng năm không đáp ứng đủ năng lực sản xuất Bên cạnh

đó, chính sách “đóng cửa rừng”, cấm khai thác đánh bắt gần bờ để bảo vệ tàinguyên, môi trường cũng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một sốdoanh nghiệp trong công nghiệp chế biến sản xuất hàng tiêu dùng Vì vậy, nhằm

bù đắp các “thiếu hụt trên” đã có một số doanh nghiệp ĐTNN chuyển mục tiêuhoạt động hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư tại một số nước láng giềng trong khu vực.Trong số các doanh nghiệp đi tiên phong trong ĐTRNN còn phải kể tới một sốdoanh nghiệp tư nhân của một số địa phương tại vùng biên giới với một số nướcbạn (Lào, Campuchia) đã thực hiện dự án đầu tư tại nước bạn theo thỏa thuậnhợp tác song phương giữa chính quyền địa phương hai nước

Trước thực tế đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CPngày 14/4/1999 quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam để hướng dẫn vàquản lý hoạt động ĐTRNN Như vậy, có thể nói sau hơn 10 năm thực thi Luậtđầu tư nước ngoài tại Việt Nam pháp luật về ĐTRNN tại Việt Nam bắt đầu hìnhthành, mở đường cho các hoạt động ĐTRNN sau này

Để triển khai Nghị định 22/1999/NĐ-CP nói trên, các Bộ, ngành liên quan

đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệpViệt Nam (Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30/8/2001 của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với ĐTRNN củadoanh nghiệp Việt Nam) Những văn bản nêu trên cùng với các văn bản phápluật khác đã tạo nên một khung pháp lý cần thiết cho hoạt động ĐTRNN Tronghơn 16 năm qua, đã có 249 dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam với tổngvốn đầu tư đăng ký 1,39 tỷ USD

Trang 29

Việc ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn đãđánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt độngĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy hoạt độngĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn khi triểnkhai thực hiện, bộc lộ một số hạn chế đòi hởi cần được hoàn thiện Chẳng hạn,các quy định còn thiếu cụ thể, đồng bộ, nhất quán, có một số điều khoản đến naykhông còn phù hợp, không bao quát được sự đa dạng của các hình thức ĐTRNN.Thủ tục hành chính nhìn chung vẫn còn phức tạp, rườm rà, không ít quy định của

cơ quan quản lý can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanhcủa doanh nghiệp Quy trình đăng ký và thẩm định cấp Giấy chứng nhận đầu tư

ra nước ngoài còn phức tạp, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư chưađược rõ ràng Thiếu các chế tài cụ thể về cơ chế báo cáo, cung cấp thông tin vềtriển khai dự án đầu tư ở nước ngoài và chưa có cơ chế kiểm soát hoạt độngĐTRNN Cơ chế phối hợp quản lý đối với ĐTRNN chưa được quy định cụ thể,

rõ ràng Ngoài ra, văn bản pháp lý về ĐTRNN mới dừng lại ở cấp Nghị định củaChính phủ nên hiệu lực pháp lý chưa cao

Từ thực tế nêu trên, năm 2005 Chính phủ đã trình Quốc hội luật hóa hoạtđộng ĐTRNN và được Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệulực vào tháng 7/2006), trong đó có các quy định về ĐTRNN của doanh nghiệpViệt Nam

Sau một thời gian ngắn, Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ quyđịnh về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam được ban hành ngày 09/9/2006nhằm hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 với 4 mục tiêu chủ đạo là (I)phù hợp với thực tiễn hoạt động; (II) quy định rõ ràng, cụ thể hơn; (III) tăngcường hiệu quả của quản lý nhà nước và (IV) đơn giản hóa thủ tục hành chính.Đồng thời, kế thừa và phát huy có chọn lọc những mặt tích cực, cũng như khắcphục những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về ĐTRNN nhằm mở rộng

và phát triển quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.2 Thủ tục cấp giấy chứng nhận ĐTRNN ( Theo Luật Đầu tư và Nghị định

78/NĐ-CP ngày 9 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước

Trang 30

* Điều kiện đầu tư ra nước ngoài:

- Có dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (sau đây gọi là dự án đầu tư)

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam

- Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước đốivới các trường hợp sử dụng vốn nhà nước để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

- Được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư

* Thẩm quyền chấp thuận và cấp giấy chứng nhận đầu tư

Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đầu tư đối với các dự án đầu tư sau:

- Dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, tài chính, tíndụng, báo chí, phát thanh, truyền hình, viễn thông có sử dụng vốn nhà nước từ

150 tỷ đồng Việt Nam trở lên hoặc vốn của các thành phần kinh tế từ 300 tỷ đồngViệt Nam trở lên

- Dự án đầu tư khác có sử dụng vốn nhà nước từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lênhoặc vốn của các thành phần kinh tế từ 600 tỷ đồng Việt Nam trở lên

Sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đầu tư cho các dự án nhưtrên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành các thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư

Các dự án còn lại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận, xem xét và tiến hànhcác thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư

* Quy trình cấp giấy chứng nhận Đầu tư:

Quy trình đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đầu tư áp dụng đối với dự án đầu

tư có quy mô vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng Việt Nam.

Hồ sơ dự án đầu tư gồm:

- Văn bản đăng ký dự án đầu tư

- Bản sao có công chứng của: Giấy chứng nhận đầu tư đối với nhà đầu tư làdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh hoặc quyết định thành lập hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương đốivới nhà đầu tư là tổ chức; hoặc Giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu đốivới nhà đầu tư là cá nhân Việt Nam; hoặc Giấy phép đầu tư đối với nhà đầu tư làdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép đầu tư trước ngày

01 tháng 7 năm 2006 nhưng không đăng ký lại theo Luật Đầu tư, Luật Doanhnghiệp

Trang 31

- Hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận với đối tác về việc góp vốn hoặc mua cổphần hoặc hợp tác đầu tư đối với dự án đầu tư có đối tác khác cùng tham gia đầutư.

- Văn bản đồng ý của Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hộiđồng cổ đông hoặc đại hội xã viên về việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối vớitrường hợp nhà đầu tư là Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty hợp danhhoặc Công ty cổ phần hoặc hợp tác xã trong trường hợp cần thiết theo quy địnhcủa pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã

- Nhà đầu tư nộp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư 03 bộ hồ sơ dự án đầu tư, trong đó

có 01 bộ hồ sơ gốc Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự ánđầu tư quy định tại khoản 1 Điều này Trường hợp có nội dung cần phải đượclàm rõ liên quan đến hồ sơ dự án đầu tư, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từngày nhận được hồ sơ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản đề nghị nhà đầu tưgiải trình về nội dung cần phải được làm rõ

Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ

Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư, đồng thời sao gửi Bộ Tàichính, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ quản lý ngành kinh

tế - kỹ thuật, Bộ Ngoại giao và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi nhà đầu tư đặt trụ sởchính

Trường hợp hồ sơ dự án đầu tư không được chấp thuận, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

có văn bản thông báo và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư

Quy trình thẩm tra, cấp Giấy chứng nhận đầu tư áp dụng đối với dự án đầu

tư có quy mô vốn đầu tư từ 15 tỷ đồng Việt Nam trở lên.

Hồ sơ dự án đầu tư gồm:

- Văn bản đề nghị thẩm tra dự án đầu tư

- Bản sao có công chứng của: Giấy chứng nhận đầu tư đối với nhà đầu tư làdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; hoặc Giấy đăng ký kinh doanh hoặcquyết định thành lập hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương đối với nhà đầu

tư là tổ chức; hoặc Giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu

Trang 32

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép đầu tư trước ngày 01 tháng

7 năm 2006 nhưng không đăng ký lại theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp

- Văn bản giải trình về dự án đầu tư gồm các nội dung sau: mục tiêu đầu tư; địađiểm đầu tư; quy mô vốn đầu tư; nguồn vốn đầu tư; việc sử dụng lao động ViệtNam (nếu có); việc sử dụng nguyên liệu từ Việt Nam (nếu có); tiến độ thực hiện

dự án đầu tư

- Hợp đồng hoặc bản thỏa thuận với đối tác về việc góp vốn hoặc mua cổ phầnhoặc cùng hợp tác đầu tư đối với trường hợp có đối tác khác cùng tham gia đầutư

Văn bản đồng ý của Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng

cổ đông hoặc đại hội xã viên về việc đầu tư ra nước ngoài đối với nhà đầu tư làCông ty trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty hợp danh hoặc Công ty cổ phần hoặchợp tác xã trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật về doanhnghiệp, hợp tác xã

Nhà đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư 08 bộ hồ sơ dự án đầu tư, trong đó

có 01 bộ hồ sơ gốc Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự ánđầu tư quy định tại khoản 1 Điều này

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ

Kế hoạch và Đầu tư có văn bản lấy ý kiến kèm theo hồ sơ dự án đầu tư gửi các

Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính

Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiếncủa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan được hỏi ý kiến tiến hành thẩm tra hồ sơ dự

án đầu tư và có ý kiến bằng văn bản về các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhànước được phân công; quá thời hạn trên mà cơ quan được hỏi không có ý kiếnbằng văn bản thì được coi là đã chấp thuận hồ sơ dự án đầu tư đối với những nộidung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công

Đối với các dự án đầu tư quy định tại Điều 9 Nghị định này, trong thờihạn 25 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư trình Thủ tướng Chính phủ ý kiến thẩm định bằng văn bản kèm theo hồ sơ dự

án đầu tư và ý kiến bằng văn bản của các cơ quan có liên quan để Thủ tướngChính phủ xem xét, quyết định

Trang 33

Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được ý kiến chấp thuận của Thủtướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

Đối với các dự án đầu tư không quy định tại Điều 9 Nghị định này, trong thờihạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấpGiấy chứng nhận đầu tư

Giấy chứng nhận đầu tư được sao gửi Bộ Tài chính, Bộ Thương mại,Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, Bộ Ngoạigiao và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính

Trường hợp hồ sơ dự án đầu tư không được chấp thuận, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

có văn bản thông báo và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư

2.1.3 Mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ( Theo Thông tư số 01 ngày 19/1/2001

của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài của DN Việt Nam)

Để thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài, doanh nghiệp phải mở một tàikhoản tiền gửi ngoại tệ tại Ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối ( sau đâygọi là Ngân hàng được phép ) Mọi giao dịch chuyển tiền ra nước ngoài và vàoViệt nam liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp phảithực hiện thông qua tài khoản này:

b/ Chi chuyển vào tài khoản tiền gửi ngoại tệ của Doanh nghiệp;

c/ Bán ngoại tệ cho các ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối

Trang 34

Việc mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ tại nước ngoài của dự án đầu tư ởnước ngoài được thực hiện theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư và chỉ phục

vụ các giao dịch có liên quan đến hoạt động của dự án đầu tư ở nước ngoài

2.1.4 Chuyển vốn ĐTRNN Chuyển lợi nhuận, vốn đầu tư và tái đầu tư về Việt Nam ( Theo Thông tư số 01 ngày 19/1/2001 của Ngân hàng Nhà nước

hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của DNViệt Nam)

Doanh nghiệp phải đăng ký với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Tỉnh,Thành phố nơi đặt trụ sở chính về việc mở tài khoản ngoại tệ và tiến độ chuyểnvốn đầu tư ra nước ngoài Hồ sơ gồm:

- Đơn đăng ký tài khoản và chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài ( Mẫu số 1 );

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ( bản sao có công chứng )

- Giấy phép đầu tư ra nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của Việt nam cấp(bản sao có công chứng );

- Văn bản chấp thuận đầu tư do nước tiếp nhận đầu tư cấp ( kèm bản dịch tiếngViệt có dấu và chữ ký xác nhận của Tổng giám đốc hoặc Giám đốc );

- Văn bản quy định tiến độ góp vốn đầu tư ( ghi trong điều lệ hoặc hợp đồng liêndoanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh đã được cơ quan có thẩm quyền của nướctiếp nhận đầu tư phê duyệt (nếu có) hoặc bản dự kiến tiến độ góp vốn đầu tư củadoanh nghiệp được phép đầu tư ra nước ngoài )

Trong thời gian 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, chinhánh Ngân hàng Nhà nước Tỉnh, Thành phố có trách nhiệm xác nhận việc mởtài khoản và đăng ký tiến độ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài ( Mẫu số 2 ) đểnhà đầu tư Việt nam làm cơ sở chuyển tiền đầu tư ra nước ngoài thực hiện dự ánđầu tư thông qua tài khoản đã mở ở Ngân hàng được phép

Doanh nghiệp chỉ được phép sử dụng nguồn ngoại tệ trên tài khoản tiềngửi ngoại tệ của mình mở tại các ngân hàng được phép để chuyển ra nước ngoàigóp vốn đầu tư trên cơ sở quy định tại Giấy phép đầu tư do cơ quan có thẩmquyền cấp

Trang 35

Hàng năm, Doanh nghiệp có vốn đầu tư ra nước ngoài phải chuyển lợinhuận và các khoản thu nhập hợp pháp khác về nước trong thời hạn chậm nhất là

6 tháng kể từ khi kết thúc năm tài chính của nước tiếp nhận đầu tư

Trường hợp không thể chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp phápkhác về Việt nam đúng thời hạn nêu trên, Doanh nghiệp phải có văn bản báo cáogiải trình rõ lý do với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Tỉnh, Thành phố nơiDoanh nghiệp đặt trụ sở chính

Doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ kết hối đối với lợi nhuận và cáckhoản thu nhập hợp pháp khác từ hoạt động đầu tư tại nước ngoài theo quy địnhcủa Chính phủ trong từng thời kỳ

Khi kết thúc dự án hoặc giải thể trước hạn, hoặc không triển khai được dự

án, Doanh nghiệp phải chuyển vốn đầu tư, vốn tái đầu tư và các khoản thu đựơcsau thanh lý về nước trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày kết thúc việc thanh lý vàphải báo cáo cho chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Tỉnh, Thành phố nơi Doanhnghiệp đặt trụ sở chính về tình hình chuyển vốn, lợi nhuận và các thu nhập hợppháp khác về Việt nam của Doanh nghiệp

Trường hợp không thể chuyển vốn về Việt nam đúng thời hạn nêu trên,Doanh nghiệp phải có văn bản báo cáo giải trình rõ lý do với chi nhánh Ngânhàng Nhà nước tỉnh/ thành phố nơi Doanh nghiệp đóng trụ sở chính

Trường hợp Doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư hoặc kéo dàithời hạn đầu tư ở nước ngoài, sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Kế hoach vàĐầu tư doanh nghiệp phải đăng ký với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh/thành phố nơi Doanh nghiệp đặt trụ sở chính về tình hình sử dụng lợi nhuận đểtái đầu tư hoặc kéo dài thời hạn đầu tư

Khi thực hiện chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài theo yêu cầu của doanhnghiệp, Ngân hàng được phép có trách nhiệm kiểm tra văn bản xác nhận đăng ký

mở tài khoản ngoại tệ và chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài của Doanh nghiệptheo quy định tại Điểm 5 Thông tư này Ngân hàng được phép chỉT được chuyểnvốn đầu tư ra nước ngoài khi Doanh nghiệp có văn bản xác nhận đăng ký mở tàikhoản ngoại tệ và chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài của chi nhánh Ngân hàng

Trang 36

2.1.5 Chính sách Thuế đối với doanh nghiệp ĐTRNN

Tại thông tư số 97/2002/TT-BTC của bộ Tài chính hướng dẫn thực hiệnnghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài Đó là, máymóc, thiết bị, bộ phận rời xuất khẩu ra nước ngoài để tạo tài sản cố định của dự

án đầu tư tại nước ngoài khi thanh lý hoặc kết thúc dự án và được nhập khẩu trởlại vào Việt Nam, được miễn thuế nhập khẩu và thuộc đối tượng không chịu thuếgiá trị gia tăng Còn đối với thuế thu nhập doanh nghiệp ( hoặc một loại thuế cóbản chất tương tự như thuế thu nhập doanh nghiệp) ở nước ngoài, khi tính thuếthu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ranước ngoài được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài hoặc đã được đối tác nước tiếpnhận đầu tư trả thay ( kể cả đối với tiền lãi cổ phần) nhưng số thuế được trừkhông vượt quá số thuế thu nhập tính theo quy định của Luật Thuế Thu nhậpdoanh nghiệp của Việt Nam

Theo Nghị định số 121/2007/NĐ-CP quy định về ĐTRNN trong lĩnh vựcdầu khí, hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với các Doanh nghiệp trong lĩnhvực dầu khí như sau:

Khi xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam đối với

dự án dầu khí ở nước ngoài, Nhà đầu tư được trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp

đã nộp ở nước ngoài hoặc đã được nước tiếp nhận đầu tư trả thay (có chứng từhợp lệ), nhưng số thuế thu nhập doanh nghiệp được trừ không vượt quá số thuếthu nhập doanh nghiệp tính theo thuế suất quy định tại Luật Thuế thu nhập doanhnghiệp

Cá nhân làm việc cho các dự án dầu khí phải nộp thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao theo quy định của pháp luật Việt Nam Khi xác định sốthuế thu nhập đối với người có thu nhập cao phải nộp tại Việt Nam, cá nhân đượctrừ số thuế thu nhập cá nhân đã nộp ở nước ngoài hoặc được nước tiếp nhận đầu

tư trả thay (có chứng từ hợp lệ), nhưng số thuế được trừ không vượt quá số thuếthu nhập phải nộp đối với người có thu nhập cao theo quy định của pháp luậtViệt Nam về thuế thu nhập đối với người thu nhập cao

Thiết bị, phương tiện, vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu thuộc đối tượng chịuthuế xuất khẩu và thuế giá trị gia tăng do Nhà đầu tư xuất khẩu ra nước ngoài để

Trang 37

thực hiện dự án dầu khí được miễn thuế xuất khẩu và được áp dụng thuế suấtthuế giá trị gia tăng bằng không (0%)

Mẫu vật, tài liệu kỹ thuật (băng từ, băng giấy và các tài liệu khác) nhậpkhẩu nhằm mục đích nghiên cứu, phân tích để thực hiện dự án dầu khí được miễnthuế nhập khẩu và không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng

Các thiết bị, vật tư chuyên dụng cho hoạt động dầu khí mà trong nướcchưa sản xuất được, khi tạm nhập khẩu để gia công, chế biến, sau đó tái xuấtkhẩu để thực hiện dự án dầu khí thì được miễn thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu vàkhông thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng

2.1.6 Quy định về hỗ trợ vay vốn ĐTRNN ( Theo Thông tư số

10/2006/TT-NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để đầu tư trựctiếp ra nước ngoài)

Các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối được cho vay để đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài với điều kiện: dự án đầu tư không thuộc danh mục cáclĩnh vực bị cấm, hạn chế đầu tư trực tiếp ra nước ngoài do Thủ tướng Chính phủquy định; có vốn chủ sở hữu ( bao gồm: vốn của chủ sở hữu, các quỹ và lợinhuận chưa phân phối) tham gia vào tổng mức vốn đầu tư của dự án đầu tư trựctiếp ra nước ngoài theo quy định của tổ chức tín dụng Các tổ chức tín dụng cũngđược xem xét, quyết định cho khách hàng vay vốn để đầu tư trực tiếp ra nướcngoài trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm theo quy định của pháp luật

và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trường hợp bảo đảm tiền vay bằngtài sản của khách hàng vay hoặc bên thứ ba ở nước ngoài, tài sản của pháp nhânđược hình thành từ dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì các bên thực hiệntheo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư ( nếu việc áp dụng hoặc hậuquả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật ViệtNam); tổ chức tín dụng nhận bảo đảm bằng tài sản ở nước ngoài phải có khảnăng quản lý tài sản trong quá trình cho vay, xử lý được tài sản đó để thu hồi nợ,khi khách hàng vay không trả được nợ

Trang 38

2.1.7 Thành công và hạn chế

2.1.7.1 Thành công

Việc ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn đãđánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt độngĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự ánĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đạt hiệu quả nhất định Đồngthời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của các doanh nghiệp ViệtNam từng bước hội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế giới

Khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN đã dần dần được hoàn thiệnhơn thông việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005, đồng thời, Nghị định số78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về ĐTRNN đã thay thế Nghị định số22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 và thủ tục đầu tư ra nước ngoài đã được hướngdẫn cụ thể, rõ ràng, đơn giản tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH ngày10/10/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư So với Nghị định số 22/1999/NĐ-CPngày 14/4/1999, Nghị định 78/2006/NĐ-CP có những tiến bộ hơn: phù hợp vớithực tiễn hoạt động; quy định rõ ràng, cụ thể hơn; tăng cường hiệu quả của quản

lý nhà nước và đơn giản hóa thủ tục hành chính; kế thừa và phát huy có chọn lọcnhững mặt tích cực, cũng như khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luậttrước đó về ĐTRNN nhằm mở rộng và phát triển quyền tự chủ, tự do kinh doanhcủa doanh nghiệp (Cụ thể quy định các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp có vốn ĐTNN, đều có quyềnĐTRNN, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, đượclựa chọn hay thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội bộ, hình thức đầu tư thíchứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật Việt Nam bảo hộ Giảm thiểu cácquy định mang tính “xin-cho” hoặc “phê duyệt” bất hợp lý, không cần thiết, tráivới nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư, đồng thời,

có tính đến với lộ trình cam kết trong các thoả thuận đa phương và song phươngtrong hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệquốc Bên cạnh đó, Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định rõ về trách nhiệm,các quan hệ giữa cơ quan nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp, về việcthực hiện các mối quan hệ đó cũng như chế tài khi có những vi phạm từ hai phía

Trang 39

(nhà đầu tư và cơ quan, công chức nhà nước) nếu không thực hiện đúng các quyđịnh của pháp luật)

Riêng đối với lĩnh vực dầu khí, đã có quy định riêng điều tiết hoạt độngđầu tư ra nước ngoài (Quyết định số 116/2001/QĐ- TTg ngày 02/8/2001 củaThủ tướng Chính phủ về một số ưu đãi khuyến khích đầu tư ra nước ngoài tronglĩnh vực hoạt động dầu khí; Nghị định số 121/2007/NĐ-CP quy định về đầu tưtrực tiếp ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí)

2.1.7.2 Hạn chế

Thể chế chính sách luôn đi chậm so với thực tế ( Những năm đầu thậpniên 90, các Doanh nghiệp Việt Nam đã có những hoạt động đầu tư ở Lào vàCampuchia, nhưng đến tận năm 1999, Việt Nam mới chính thức có Nghị địnhcủa Chính phủ điều tiết, hướng dẫn hoạt động này)

Thể chế chính sách chưa hoàn chỉnh, thậm chí còn gây một số trở ngại chohoạt động ĐTRNN của các Doanh nghiệp Việt Nam

- Các quy định pháp lý về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của DN trongnước chưa được hình thành trong hệ thống pháp luật Việt Nam Các quy định lâunay chỉ dừng lại ở những khoản đầu tư trực tiếp, có nghĩa là DN Việt Nam bỏvốn đầu tư, tham gia hoạt động quản lý dự án đầu tư tại nước ngoài Đầu tư giántiếp ra nước ngoài có nghĩa là nhà đầu tư Việt Nam không trực tiếp tham giaquản lý dự án đầu tư thì lại chưa được đề cập đến, trong khi hình thức đầu tư nàyđang trở nên phổ biến hiện nay

- Các DN Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh và nhu cầu mở rộng thịtrường ra nước ngoài là điều tất yếu Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có được một

kế hoạch tổng thể xây dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài của DN Việt Nam,trừ ngành Dầu khí đã có kế hoạnh phát triển dài hạn Điều này thể hiện sự thiếuthốn về những biện pháp hỗ trợ từ phía chính phủ cho các dự án đầu tư ra nướcngoài

- Việc cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài chưa được phân cấp Dùcho dự án có quy mô lớn hay nhỏ thì Bộ KH –ĐT là nơi duy nhất cấp phép Các

DN ở các vùng địa phương, hay ở tận miền Trung, miền Nam muốn đầu tư ra

Trang 40

tư để xin phép Trong khi để thu hút hoạt động FDI, Việt Nam có đến 4 nơi cấpgiấy chứng nhận (Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Nhândân tỉnh, thành phố và Ban quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất, khu côngnghệ cao) Điều này thể hiện sự thiếu cân bằng trong chính sách đầu tư- pháttriển kinh tế.

- Các DN trong nước muốn có giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải có vănbản cho phép hoặc thoả thuận với bên nước ngoài Tuy nhiên, có nhiều quốc gia (như Lào, Campuchia, Trung Quốc…) lại có quy định chỉ được phép đầu tư vàoquốc gia đó khi đã được sự cho phép của quốc gia mà DN đầu tư mang quốc tịch.Điều này để phòng tránh nạn “rửa tiền” thông qua việc đầu tư Tuy nhiên, sự tráinhau về những quy định cấp phép đầu tư này sẽ gây không ít khó khăn cho DNmuốn đem vốn ra nước ngoài kinh doanh Thực tế, nhiều quốc gia lại không quyđịnh khắt khe như phía Việt Nam, điều này làm mất cơ hội mở rộng kinh doanhcủa các Doanh nghiệp có tiềm năng, và cũng làm giảm khả năng cạnh tranh củacác Doanh nghiệp Việt Nam trên đấu trường quốc tế Trong khi đó, đối với hoạtđộng thu hút FDI vào Việt Nam, các cơ quan chức năng lại không cần giấy phépđầu tư hay giấy chấp thuận đầu tư ra nước ngoài từ nước xuất khẩu vốn

- Một trong những vướng mắc nhiều nhất hiện nay là vấn đề chuyển vốn

ra nước ngoài để thực hiện đầu tư Ở giai đoạn làm khảo sát, thăm dò, thiết kế dự

án, DN sẽ không được chuyển tiền ra nước ngoài Đây sẽ là khó khăn cho DNkhi đây là giai đoạn cần thiết để có được giấy phép chấp thuận đầu tư của nướcdoanh nghiệp muốn đầu tư Theo Thông tư số 01 ngày 19/1/2001 của Ngân hàngNhà nước hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoàicủa DN Việt Nam, DN phải mở một tài khoản tại ngân hàng được phép hoạtđộng tại Việt Nam và mọi giao dịch chuyển tiền ra nước ngoài và vào Việt Namliên quan đến hoạt động của DN phải được thực hiện thông qua tài khoản này.Ngoài ra, DN còn phải làm thủ tục đăng ký với chi nhánh Ngân hàng Nhà nướctại địa phương mình có trụ sở chính về việc mở tài khoản ngoại tệ và tiền USDchuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Như vậy, cùng một việc chuyển vốn đầu tư ranước ngoài, DN phải hai lần đăng ký mở tài khoản, với chi nhánh Ngân hàngNhà nước và với ngân hàng thương mại khác hoạt động tại Việt Nam Ngoài ra,

Ngày đăng: 17/05/2014, 06:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số dự án đầu tư ra nước ngoài qua các năm - Đề án nghiên cứu đầu tư quốc tế và các giải pháp
Bảng 1 Số dự án đầu tư ra nước ngoài qua các năm (Trang 42)
(xem bảng 4, bảng 5 phụ lục) - Đề án nghiên cứu đầu tư quốc tế và các giải pháp
xem bảng 4, bảng 5 phụ lục) (Trang 63)
Bảng : Tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2009- phân theo ngành. - Đề án nghiên cứu đầu tư quốc tế và các giải pháp
ng Tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2009- phân theo ngành (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w