Bảo hiến hay còn gọi là bảo vệ hiến pháp có thể hiểu là cách thức đánh giá tính hợp hiến của các văn bản pháp luật, các hành vi pháp lý của các cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA: LUẬT ………○0○………
TIỂU LUẬN MÔN HỌC LUẬT HIẾN PHÁP ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH CƠ CHẾ BẢO HIẾN HIẾN PHÁP NĂM 2013
NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN PHƯƠNG ANH
MÃ SINH VIÊN: 221460003
NGÀNH HỌC: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Hà Nội, 2023
Trang 3I Giới thiệu các mô hình bảo hiến trên thế giới
1 Khái niệm, sự hình thành và vai trò cua bảo hiến
1.1 Khái niệm và sự hình thành bảo hiến
Hiến pháp là một hệ thống cao nhất của pháp luật, là đạo luật tối cao của một quốc gia Hiến pháp ra đời thể hiện ý chí của nhân dân tồn tại trong hoặc ngoài nhà nước đó, nhằm mục đích giới hạn quyền lực nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thủ tục, quyền hạn, trách nhiệm của một chính quyền Hiến pháp là cơ sở để xem xét tính pháp lý của mọi văn bản, mọi quyết định
và mọi hành vi của bộ máy nhà nước và công dân Nhân dân có quyền xem xét tính hợp hiến của pháp luật Hiến pháp xuất hiện trong một xã hội có nền dân chủ, có sự phân chia quyền lực nhà nước, phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước với nhau
Hiện nay, trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất, chính xác về bảo hiến Bảo hiến hay còn gọi là bảo vệ hiến pháp có thể hiểu là cách thức đánh giá tính hợp hiến của các văn bản pháp luật, các hành vi pháp lý của các cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện bởi một cơ quan hiến định Theo nghĩa hẹp, bảo hiến được giải thích là bảo vệ tính hợp hiến của các đạo luật nhằm mục đích tìm ra sự phù hợp mang tính chính xác giữa Hiến pháp, đạo luật gốc với những văn bản mang tính pháp lý khác Dù văn bản nào mang tính pháp lý được ban hành đều cần có sự tuân thủ tuyệt đối của Hiến pháp Ngược lại, ở nghĩa rộng hơn thì bảo hiến được hiểu là bảo vệ tinh thần và nội dung của Hiến pháp Tinh thần được nói đến ở đây là công sức, trí tuệ của các nhà lập hiến đã truyền tải vào bản Hiến pháp Bảo vệ các mối liên hệ mật thiết giữa hành pháp, tư pháp và lập pháp Mỗi quốc gia đều lựa một mô hình bảo hiến cho riêng mình và mỗi cơ chế bảo hiến này thường không giống nhau nhưng ta vẫn thấy chúng có những điểm chung nhất định
Được biết bảo hiến có thể xuất hiện vào thời Hy Lạp cổ đại Những hình thức sơ khai của mô hình bảo hiến ngày càng phổ biến ở châu Âu trung đại, từ đó hình thành những điều luật liên quan đến mô hình bảo hiến ở nhiều quốc gia Những điều luật này chưa thành chế định bảo hiến cụ thể nhưng đâu đó đã để lại giá trị mang tính tham khảo lớn phải kể đến như các nước Đức, Áo, Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp và không thể không nhắc đến Vương quốc Anh - quê hương của nền dân chủ và nghị viện hiện đại Tiêu biểu
là bản “Đại Hiến chương” hay Magna Carta (15/06/1215) - một trong những văn bản pháp luật quan trọng trong lịch sử của nước Anh đánh dấu cột mốc tự do, dân chủ của đất nước Anh Văn kiện ấy cũng đã góp phần lớn cho sự phát triển nền dân chủ thế giới
Qua sự kiện của Vương quốc Anh, trong đó có quan điểm về tính tối cao của Hiến pháp và quyền được toà án xem xét tính hợp pháp của các hoạt động chính phủ Thế kỷ XVIII, toà án tuyên bố các luật của đế chế Anh không còn giá trị pháp lý trên lãnh thổ Hoa Kỳ Từ đó, Hoa Kỳ được chính thức xác nhận hình thành mô hình bảo hiến kiểu Hoa
Kỳ do những toà án thường thực hiện dân đến sự ra đời của chế định bảo hiến ở Hoa Kỳ
Sự kiện này đã mở đường cho hàng loạt quốc gia khác với các bản Hiến pháp sau đó như Hiến pháp Cadiz ra đời làm nền tảng cho Hiến pháp Bồ Đào Nha (1822) Từ sự ảnh hưởng của Hiến pháp Hoa Kỳ các nước Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp đã đưa quyền giám
Trang 4sát Hiến Pháp vào thế kỷ XIX Toà án Liên bang Áo được trao quyền giải quyết những tranh chấp về thẩm quyền, Toà án Tiểu bang được trao quyền ra quyết định với các vụ kiện vi phạm Hiến pháp
Áo đã sáng tạo ra mô hình bảo hiến tập trung qua sự áp dụng công trình của hai nhà khoa học Hans Kelsen và Adolf Merkl Mô hình bảo hiến tập trung đã mở đường cho hàng loạt các Tào án Hiến pháp ở Châu Âu Toà án Hiến pháp đã được xác nhận qua Hiến pháp năm 1920 ở Áo, chịu trách nhiệm cơ bản bảo hiến như là một nhiệm vụ độc lập - trở thành một trong những mô hình cơ bản về cơ chế bảo hiến trên thế giới Từ giai đoạn sau đó trở đi rất nhiều quốc gia trên thế giới thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp theo những mô hình khác nhau như Nhật Bản, Ấn Độ, Italia Ngoài toà án thường và toà
án Hiến pháp ở Mỹ và Áo, mô hình hội đồng Hiến pháp của Pháp và mô hình bảo hiến Quốc hội - nghị viện của Liên Xô đã mở ra thêm nhiều sự lựa chọn phù hợp hơn hoàn cảnh của mỗi quốc gia Sự phát triển của các mô hình bảo hiến trên thế giới hiện nay diễn gia nhanh chóng, được đa số các quốc gia trên thế giới ghi nhận là một trong những chế định bắt buộc tồn tại trong hệ thống pháp luật quốc gia và được quy định trong văn bản
có giá trị pháp lý cao nhất của quốc gia đó
1.2 Vai trò của bảo hiến
Pháp luật, nền dân chủ hay sự phát triển của quốc gia đang dần được hoàn thiện nhờ sự đóng góp của bảo hiến Mô hình bảo hiến ở mỗi quốc gia là khác nhau, tuy nhiên
ta có thể thấy những điểm chung cơ bản của bảo hiến như: kiểm so quyền lực nhà nước, duy trì hiệu quả các hoạt động bộ máy nhà nước, hoàn chỉnh chức năng của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước; Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; Hoàn thiện về
hệ thống pháp luật Vai trò của bảo hiến cũng giống như tên gọi của nó là bảo vệ Hiến pháp, những giá trị cốt lõi, những điểm căn bản nhất của quốc gia cho dù bản Hiến pháp
đó tồn tại ở bất kỳ dạng nào (thành văn hay bất thành văn) Quá trình xây dựng pháp luật ban đầu cũng có thể mang nhiều hạn chế như xuất phát từ các ý kiến cá nhân, cá thể mà không dựa trên cái nhìn khách quan về vấn đề Việc tồn tại những sai sót là không thể thiếu hay cả những mâu thuẫn trong thực tiễn Sự hình thành các mô hình bảo hiến sẽ bảo
vệ xã hội khỏi những văn bản, điều luật mâu thuẫn từ đó tạo ra sự thống nhất trong phạm
vi Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp có thể hạn chế một phần hoặc toàn bộ những vấn đề
có thể phát sinh trong việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật
Bản chất của bảo hiến chính là bảo vệ toàn bộ quy trình lập hiến và lập pháp, đưa quy trình vào thực tế và tiếp đó là áp dụng Qua đó, hệ thống pháp luật sẽ được xây dựng hoàn chỉnh, đúng trình tự, có sự giám sát chặt chẽ và sự điều chỉnh kịp thời khi cần Hiến pháp sẽ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cũng như quyền lực nhà nước theo đúng khuôn khổ pháp luật Làm phát huy quyền tự do dân chủ được quy định trong Hiến pháp Nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan bảo hiến bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước những văn bản vi hiến, hành vi vi hiến của cơ quan quyền lực nhà nước hay những các nhân thẩm quyền Giữa hàng ngàn những mâu thuẫn về các chuẩn mực, quy định trong xã hội thì Hiến pháp đóng vai trò tồn tại thiết yếu, nhưng vẫn chưa đủ Vì vậy chúng ta cần
Trang 5áp dụng tới mô hình bảo hiến, cơ quan bảo hiến không chỉ để bảo vệ tính pháp lý của Hiến pháp mà còn để công dân dựa vào đó để bảo vệ quyền và lợi ích của mình
2 Các kiểu mô hình bảo hiến trên thế giới
Mô hình bảo hiến trên thế giới có thể chia thành các kiểu mô hình khác nhau Có
mô hình giám sát Hiến pháp tập trung và mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung nếu phân chia theo cách thức giám sát Cách thức phân chia theo trình tự thủ tục thẩm quyền
cơ quan bảo hiến thông thường là phân chia được sử dụng nhiều nhất thì thế giới có bốn
mô hình bảo hiến điển hình như:
Mô hình bảo hiến bằng toà án Hiến pháp (điển hình tại Áo, Đức)
Mô hình bảo hiến bằng toà án tư pháp (điển hình tại Hoa Kỳ)
Mô hình bảo hiến bằng hội đồng Hiến pháp (điển hình tại Pháp)
Mô hình bảo hiến khác
2.1 Mô hình hội đồng Hiến pháp (Cộng hoà Pháp)
Bối cảnh hình thành:
Hình thành đầu tiên ở cộng hoà Pháp và dần phát triển đến nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng chính trị và pháp lý cũng như văn hoá từ cộng hoà Pháp Để có thể xây dựng
và áp dụng hiệu quả được mô hình hội đồng Hiến pháp, nước Pháp cũng đã phải trải qua một quá trình đấu tranh hàng trăm năm, bắt nguồn từ thế kỷ 18 Hiến pháp năm 1799 đã chính thức ghi nhận sự xuất hiện của cơ chế bảo hiến với mục đích chính nhằm tìm sự cân bằng giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp Hiến pháp 1799 quy định trao quyền bảo hiến cho một trong hai viện thuộc nghị viện Thượng viện có thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến, có thể tuyên bố hủy bỏ văn bản vi hiến không có giá trị pháp lý (mô hình có đôi nét gần giống với mô hình bảo hiến nghị viện của Liên Xô) Đến Hiến pháp năm 1892, cộng hòa Pháp vẫn thừa nhận sự tồn tại của bảo hiến thông qua Thượng viện Thượng viện vẫn được trao quyền kiểm tra, tuyên bố hủy bỏ văn bản không có giá trị pháp lý và thêm quyền đình chỉ văn bản pháp luật đang thi hành Quyền năng thì tăng lên nhưng Thượng viện lại không sử dụng quyền năng của mình vào bảo vệ Hiến pháp nên chỉ dừng lại ở những quy định mang đậm tính hình thức
Thời kỳ cộng hoà đệ Tam: Hiến pháp năm 1985 đã không còn thừa nhận cơ chế bảo vệ Hiến pháp của Thượng viện, quy định về tài phán Hiến pháp hoàn toàn vị xoá bỏ trong bản Hiến pháp thời kỳ này Hiến pháp năm 1946 đã quy định thành lập một Uỷ ban Hiến pháp do tổng thống đứng đầu Đến thời điểm này mô hình bảo hiến vẫn chỉ mang tính hình thức Do nhiều nguyên nhân khi quy định Hiến pháp không có giá trị thực tế để kiểm soát những đạo luật dễ gây lên tình trạng vi hiến - vi phạm nghiêm trọng quyền về con người, gây lên những ảnh hưởng xấu cho xã hội Đến năm 1958, những mâu thuẫn bắt đầu bùng nổ, xã hội Pháp trở nên vô cùng phức tạp, Pháp kiều ở Algieri liên lục nổi dậy chống lại chính phủ Pháp Chính phủ Pháp được sự ủng hộ của nghị viện cũng không thể ổn định được tình hình xã hội Giữa năm 1958, chính phủ Pháp tuyên bố từ chức, nghị viện Pháp tìm mọi cách để thành lập ra chính phủ mới nhưng đều không thành công Bất
ổn chính trị ở nước Pháp kéo dài suốt từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến thời điểm này khiến cho lòng tin của nhân dân vào nghị viện và các Đảng phái chính trị hoàn toàn không còn Đứng trước hoàn cảnh khó khăn, nghị viện Pháp đã phải thay đổi thể chế,
Trang 6hoàn thiện lại chế độ chính trị nhằm tìm ra lối thoát cho sự khủng hoảng Tháng 9 năm
1958, tướng Đờ Gôn được mời làm thủ tướng cho một chính phủ mới, sự xuất hiện của anh hùng quốc gia với uy tín rất cao đã khiến cho sự ủng hộ của nhân dân tăng cao cho chính phủ Pháp
Hiến pháp năm 1958 do tướng Đờ Gôn khởi xướng được thông qua đã mở ra một thời kỳ mới cho cộng hòa Pháp đồng thời đầu cho một trong những mô hình bảo hiến tiêu biểu trên thế giới được hình thành Bản Hiến pháp đã thiết lập nên một nền cộng hòa mới gắn liền với tướng Đờ gôn, Hiến pháp năm 1958 ra đời đã tiến hành giải quyết hai vấn đề chủ chốt mà suốt thời gian dài trước sức ép của nghị viện mà không thể tiến hành được:
Hiến pháp năm 1958 đã tăng quyền hạn cho tổng thống, hạn chế được sự tham gia của nghị viện vào mọi hoạt động của chính phủ
Hiến pháp năm 1958 đã quy định thành lập thành công hội đồng Hiến pháp đúng nghĩa để có thể xem xét hoạt động lập pháp, vốn là hoạt động quan trọng nhất của nghị viện Nghị viện có rất nhiều quyền hạn vào thời gian trước
đã bị hạn chế thông qua bản Hiến pháp năm 1958 mang đậm chất tổng thống
Đờ Gôn Tại sao nước Pháp tại thời điểm đó lại lựa chọn mô hình riêng biệt là hội đồng Hiến pháp chứ không đi theo những mô hình tòa án Hiến pháp hay tòa án tư pháp đã tồn tại và phát triển trước đó
Trong một khoảng thời gian dài, khoảng hơn hai thế kỷ, các nhà học giả Pháp đã bắt đầu nghiên cứu để lựa chọn mô hình bảo hiến phù hợp Sự nghiên cứu, tích lũy phân tích trong giai đoạn đó đã tạo nên nhận thức pháp lý khi xây dựng mô hình hội đồng Hiến pháp Nhận thức pháp lý của nhân dân Pháp tại thời điểm đó yêu cầu tồn tại mô hình bảo hiến để hạn chế quyền lực của nghị viện Mọi tầng lớp xã hội Pháp đều nhận thấy quyền
và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm khi để nghị viện quá nhiều quyền lực, cần thiết phải lên tiếng bảo vệ quyền lợi của mình Hiến pháp năm 1958 thể theo nguyện vọng nhân dân, xây dựng cơ chế đảm bảo sự phân chia quyền lực giữa các cơ quan nhà nước với nhau Cộng hòa Pháp với bản Hiến pháp năm 1958 đã thể hiện được sự nhìn nhận đúng đắn về tầm quan trọng của mô hình bảo hiến và mục đích đúng đắn khi xây dựng mô hình bảo hiến
Mô hình hội đồng Hiến pháp được xây dựng trong Hiến pháp năm 1958 đã đáp ứng được lợi ích của nhiều thành phần trong xã hội Hội đồng Hiến pháp trước hết hạn chế quyền lực nghị viện, phục vụ lợi ích của tổng thống và chính phủ mới, đồng thời bảo
vệ lợi ích chính trị của các tầng lớp trong xã hội Mô hình hội đồng Hiến pháp về cơ bản phục vụ phần lớn lợi ích của số đông nhân dân và lợi ích chính trị của chính phủ mà tướng Đề Gôn đã xây dựng so với nghị viện Cộng hòa Pháp chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền pháp luật châu Âu lục địa, đồng thời là những ảnh hưởng nhất định từ những nền pháp luật tiến bộ khác như hệ thống pháp luật Anh - Mỹ Khi đề cập đến việc xây dựng
mô hình bảo hiến, các nhà nghiên cứu khoa học Pháp đều hướng tới mô hình bảo hiến theo kiểu Anh Mỹ, mô hình bảo hiến bằng tòa án thường với hệ thống tòa án đã tồn tại ở Pháp Tuy nhiên, nhận thấy mô hình tòa án không thể phù hợp với hoàn cảnh xây dựng
mô hình bảo hiến ở Pháp bởi vì: hệ thống tòa án của cộng hòa Pháp không đủ khả năng
để đảm nhận nhiệm vụ bảo hiến khi gần như bị phụ thuộc hoàn toàn và nghị viện, tính độc lập của tư pháp không tồn tại Đồng thời, với truyền thống pháp lý lâu dài, nước Pháp
Trang 7đã không cho phép mình rập khuôn mô hình nào khác mà lựa chọn con đường khó khăn hơn rất nhiều là tự xây dựng cho mình mô hình bảo hiến đặc thù, riêng biệt và phù hợp với hoàn cảnh quốc gia
Đặc điểm
Mô hình không chỉ mang bản chất đúng của tài phán Hiến pháp mà còn mang đạm yếu tố tổ chức chính trị Hoạt động theo một cơ chế đặc biệt không công khai quy trình bảo hiến Thành viên mô hình cũng rất đa dạng bao gồm cả những tổng thống đã hết nhiệm kỳ Thời gian đầu được xây dựng chỉ mang nhiệm vụ kiểm tra dự án luật chưa được thông qua bởi nghị viện Sau khi nhận ra việc chỉ kiểm tra dự án đã làm mất đi tính thực tế của Hiến pháp và chỉ khi đưa vào thực tiễn mới có thể phát hiện được sự vi hiến tồn tại dẫn đến việc quy định lại đầy đủ quyền hạn của hội đồng Hiến pháp trong việc thẩm tra những dự án luật và cả những văn bản pháp luật đã được thông qua bởi nghị viện Hội đồng Hiến pháp sau khi thẩm tra được tuyên bố văn bản hay hành vi là vi hiến,
có thể hủy bỏ hoặc sửa đổi những văn bản hay hành vi pháp luật có sự vi hiến Khi được đưa vào thực tiễn mô hình hoạt động mang lại sự hiệu quả và trở thành mô hình tiêu biểu trong các mô hình bảo hiến Mô hình hội đồng Hiến pháp là mô hình có thể phù hợp với hoàn cảnh đặc thù và khó có thể áp dụng rộng rãi được Một thể chế mang bản chất chính trị phải có những cách thức riêng mới có thể tránh được sự ảnh hưởng của những cơ quan quyền lực nhà nước khác Hội đồng Hiến pháp là mô hình rất khó để áp dụng thành công nếu không thực sự phù hợp quốc gia lựa chọn mô hình
2.2 Mô hình bảo hiến bằng toà án (Hoa Kỳ)
Bối cảnh hình thành
Mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ ra đời mang đúng bản chất sử dụng án lệ, tức là sử dụng từ những vụ án cụ thể Đầu thế kỷ 19, trong cuộc bầu cử tổng thống John Adams và đảng Federalist của ông thất cử, Thomas Jefferson người của đảng Dân chủ và Cộng hòa Hoa Kỳ trúng cử Tổng thống Trước khi rời khỏi ghế tổng thống, nhằm đảm bảo cho sự quyền lợi của mình sau khi rời vị trí, John Adams đã bổ nhiệm hàng loạt thành viên của đảng Federalist vào chức vụ thẩm phán và thẩm phán hòa giải Khi Jefferson lên làm tổng thống, các quyết định của John Adams đã được ký và đóng dấu nhưng lại chưa được chuyển đi hết Jefferson chỉ đạo cho James Madison, lúc đó là bộ trưởng bộ Ngoại giao không chuyển quyết định mà Adams đã ký cho những người có tên để họ không thể nhận chức vụ Thẩm phán Trong số những người không nhận được quyết định đó có William Marbury Khi không nhận được quyết định, William Marbury đã khởi kiện James Madison yêu cầu giải thích lý do tại sao các quyết định lại không được chuyển cho mình; đồng thời Marbury yêu cầu tòa án tối cao quyết định buộc trao quyết định để những người có liên quan thực thi nhiệm vụ của mình Chánh án lúc đó là John Marshall lúc đó,
vì những tình huống chính trị, đã rất khó khăn khi giải quyết vụ việc này John Marshall
đã đưa ra phán quyết cho vụ việc này:
Thứ nhất, Madison đã vi phạm pháp luật vì không chuyển giao quyết định cho những người liên quan
Trang 8Thứ hai, Đạo luật thành lập các tòa án tư pháp năm 1789 cho phép tòa án ban hành mệnh lệnh trên là trái với Hiến pháp Marshall đã tuyên bố tòa án tối cao liên bang không
có quyền giải quyết vấn đề này, mặc dù mục 13 của Đạo luật Tư pháp liên bang trao cho tòa án thẩm quyền trong lĩnh vực đó nhưng quy định này trái với điều 3 của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 Ông cho rằng Hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước và có hiệu lực pháp lý tối cao Vì vậy khi một đạo luật thông thường trái với Hiến pháp thì đạo luật đó phải bị tuyên bố là vô hiệu Cuối cùng, John Marshall đã đưa ra phán quyết lịch sử: Hiến pháp là luật tối cao của đất nước, những luật hay quyết định được đưa ra bởi cơ quan lập pháp là một bộ phận của Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp Thẩm phán, người
đã từng tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp, phải tuyên bố hủy bỏ những luật, lệ quy định nào của cơ quan lập pháp mâu thuẫn với Hiến pháp
Ba phán quyết trên đây đã xác lập chức năng bảo vệ Hiến pháp của tòa án và quyền tài phán của tòa án về các quyết định của lập pháp và hành pháp liên quan đến Hiến pháp Với những tuyên bố trên đây và những đóng góp lớn lao cho ngành tư pháp, John Marshall được coi là Chánh án tòa án Tối cao vĩ đại nhất của Hoa Kỳ Ông đã thực
sự khẳng định sức mạnh của nhánh quyền lực thứ ba trong ba nhánh quyền lực nhà nước Với phán quyết trên, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến thế giới, tòa án có quyền xem xét tính hợp hiến của một đạo luật đến từ hành pháp, đây được coi là lần xuất hiện chính thức đầu tiên của chế định bảo vệ Hiến pháp Vụ việc này cũng dẫn những đặc trưng trong mô hình bảo hiến kiểu Mỹ sau này Đó là việc chứng minh một đạo luật vi hiến luôn là trách nhiệm của bên nguyên, và chỉ những người có quyền và lợi ích bị xâm phạm bởi đạo luật hay hành vi mới được quyền khởi kiện xem xét tính vi hiến
Đặc điểm
Hoạt động dựa trên mô hình tòa án tư pháp thông thường Từ tòa án địa phương cho đến tòa án liên bang đều có thẩm quyền xét xử những vụ án liên quan đến vi hiến Tuy quyền hạn trao cho tất cả các tòa án các cấp quyền bảo hiến nhưng các quyết định của các tòa án cấp cao nhất có ưu thế bởi chỉ những quyết định đó mới có tính bắt buộc với mọi tòa khác Sau khi tòa án cấp cao nhất phủ nhận tính hợp hiến của đạo luật thì đạo luật đó trên thực tế mới mất hiệu lực pháp lý
Tòa án thực hiện giám sát Hiến pháp sau khi văn bản pháp luật được ban hành hoặc có hiệu lực Đây là một cái nhìn thực tiễn sâu sắc, mang màu sắc của án lệ, đặc trưng của hệ thống thông luật, mọi đạo luật đều được kiểm nghiệm tính pháp lý thông qua thực tiễn chứ không phải chỉ trên giấy tờ Sự ảnh hưởng của đạo luật nhất định phải được chứng minh bằng thực tiễn áp dụng
Toà án bảo vệ Hiến pháp trong từng sự việc cụ thể, điều này một phần xuất phát từ triết lý chân lý luôn mang tính cụ thể của Hoa Kỳ Tòa án chỉ giám sát tính hợp hiến của văn bản pháp luật khi có những sự kiện pháp lý nhất định, hay nói cách khác kiện tụng chính là tiền đề để Tòa án phán xét tính hợp hiến của một đạo luật Đây là ưu thế lớn của
mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ khi mà ngay cả việc hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp mang dáng dấp của án lệ (Án lệ đánh dấu sự ra đời của Hiến pháp trong vụ kiến Marbury chống Madison với phán quyết của Chánh án Tòa án Tối cao Marshall) Quyền bảo hiến chỉ được các Tòa án sử dụng trong trường hợp tìm thấy sự liên quan trực tiếp đến quyền
Trang 9và lợi ích hợp pháp của người đề nghị xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Đặc điểm này xác định rõ ràng hơn phạm vi của quyền giám sát, tránh sự trừu tượng và kém hiệu quả Từ đây, mô hình này cho phép các bên có tranh chấp trong vụ án bình thường, khi nhận ra những phán quyết hay những hành động trái Hiến pháp của bên còn lại gây ảnh hưởng đến lợi ích của mình thì đều có quyền đề nghị thực hiện quyền bảo vệ Hiến pháp (xuất phát từ một hành vi vi hiến ảnh hưởng trực tiếp đến mình).điều này một phần xuất phát từ triết lý chân lý luôn mang tính cụ thể của Hoa Kỳ Tòa án chỉ giám sát tính hợp hiến của văn bản pháp luật khi có những sự kiện pháp lý nhất định, hay nói cách khác kiện tụng chính là tiền đề để Tòa án phán xét tính hợp hiến của một đạo luật Đây là ưu thế lớn của mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ khi mà ngay cả việc hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp mang dáng dấp của án lệ (Án lệ đánh dấu sự ra đời của Hiến pháp trong vụ kiến Marbury chống Madison với phán quyết của Chánh án Tòa án Tối cao Marshall) Quyền bảo hiến chỉ được các Tòa án sử dụng trong trường hợp tìm thấy sự liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đề nghị xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Đặc điểm này xác định rõ ràng hơn phạm vi của quyền giám sát, tránh sự trừu tượng
và kém hiệu quả Từ đây, mô hình này cho phép các bên có tranh chấp trong vụ án bình thường, khi nhận ra những phán quyết hay những hành động trái Hiến pháp của bên còn lại gây ảnh hưởng đến lợi ích của mình thì đều có quyền đề nghị thực hiện quyền bảo vệ Hiến pháp (xuất phát từ một hành vi vi hiến ảnh hưởng trực tiếp đến mình)
2.3 Mô hình toà án Hiến pháp (Đức)
Bối cảnh hình thành
Giai đoạn 1918 được coi là "thời kỳ của nước Áo" (the Austrian Period) Nước Áo
áp dụng công trình nghiên cứu của hai nhà khoa học Hans Kelsen và Adolf Merkl hình thành ra mô hình bảo hiến Tòa án Hiến pháp Mô hình đã mở đường cho hàng loạt các Tòa án Hiến pháp xuất hiện ở Châu Âu Hiến pháp năm 1920 ở Áo xác nhận nền tảng của Tòa án Hiến pháp quốc gia Mô hình Tòa án Hiến pháp chịu trách nhiệm cơ bản bảo vệHiến pháp như là một nhiệm vụ độc lập đã được xác nhận ở Áo và phổ biến ra nhiều quốc gia khác nhất là ở châu Âu, trở thành một trong những mô hình cơ bản về cơ chế bảo hiến trên thế giới Sau đó tại Đức, dựa trên những yêu cầu thực tiễn về một cơ quan bảo hiến chuyên trách nhằm bảo vệ giá trị tối cao của Hiến pháp, đồng thời đánh giá những ưu nhược điểm của mô hình bảo hiến Hoa Kỳ và cộng hòa Áo, năm 1949, Cộng hòa Đức đã quyết định xây dựng cơ quan chuyên trách theo hướng tòa án Hiến pháp, vẫn dựa vào học thuyết của Hans Kelsen và Adolf Merkl để đặt nền tảng cho tòa án Hiến pháp ở Đức Tại thời điểm Đức xây dựng mô hình Tòa án Hiến pháp, cơ chế bảo hiến bằng tòa án kiểu Hoa Kỳ đang thể hiện rất nhiều những nét ưu việt sau một thời gian sử dụng trong thực tiễn, nếu có thể áp dụng sẽ đem lại những hiệu quả nhất định Tuy nhiên,
mô hình tòa án bảo hiến kiểu Hoa Kỳ nếu muốn áp dụng sẽ tồn tại rất nhiều khó khăn bởi nguyên tắc “nghị viện tối cao” vẫn tồn tại rất mạnh mẽ ở châu Âu và Đức Quyền lực tối cao của nghị viện sẽ bị ảnh hưởng khi mọi tòa án đều có quyền đưa ra những phán quyết
về tính hợp hiến văn bản pháp luật của nghị viện Không những thế, nhận định mô hình bảo hiến Hoa Kỳ đòi hỏi yêu cầu rất khắt khe về đội ngũ thẩm phán cũng như cần một hệ
Trang 10thống nguồn pháp luật, án lệ hoàn chỉnh, mô hình này cũng đi ngược lại việc vẫn đang sử dụng tập quán pháp trong hệ thống pháp luật tại Đức Vậy nên, mô hình bảo hiến Hoa Kỳ không được thừa nhận và áp dụng tại Đức Từ những nguyên nhân kể trên, dựa trên nền tảng mô hình bảo hiến của Áo, nước Đức đã lựa chọn xây dựng tòa án Hiến pháp là cơ quan bảo hiến chuyên trách với những điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh đất nước
Đặc điểm
Tòa án Hiến pháp tiến hành hoạt động xem xét văn bản pháp lý, hành vi, sự kiện một cách độc lập, có trình tự và thủ tục hoạt động riêng, thống nhất và đồng bộ, không bị ảnh hưởng bởi hệ thống tư pháp Trình tự thủ tục bảo hiến được xây dựng theo tính đặc thù mô hình, không bị trùng lập với bất kỳ thủ tục tố tụng dân sự, hình sự hay hành chính Tòa án Hiến pháp xem xét tất cả những vấn đề liên quan đến bảo vệ Hiến pháp, thụ lý không chỉ những vụ việc mang tính cụ thể mà còn tiến hành xem xét cả những vấn đề có dấu hiệu vi hiến Tòa án Hiến pháp sẽ thụ lý tất cả những vụ việc được yêu cầu đúng trình tự thủ tục tố tụng
Tòa án Hiến pháp hoạt động độc lập với hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp hay tư pháp Tòa án Hiến pháp có quyền tuyên bố những văn bản pháp lý là vi hiến, có quyền đình chỉ hay hủy bỏ văn bản pháp luật đã có hiệu lực pháp luật
Tòa án Hiến pháp là hoạt động trên nguyên tắc công khai, thông thường hướng đến việc xem xét kiểm hiến sau, kiểm tra các văn bản đã có hiệu lực pháp luật chứ không thực hiện nhiệm vụ kiểm hiến trước Điều này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của nước Đức khi xây dựng cơ quan chuyên trách, đặc điểm trên vừa mang tính đặc thù, vừa là hạn chế của tòa án Hiến pháp
2.4 Mô hình bảo hiến Quốc hội
Mô hình bảo hiến nghị viện là mô hình được áp dụng ở một số quốc gia và đem lại những giá trị nhất định Mô hình bảo hiến mà Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhân dân có quyền bảo hiến Mô hình bảo hiến bằng nghị viện được áp dụng ở một số quốc gia như Liên Xô, các nước Đông Âu cũ, ở Trung Quốc, Lào và Việt Nam Mô hình được áp dụng
ở không nhiều quốc gia và đã bộc lộ nhiều những nhược điểm khiến cho vấn đề bảo vệ Hiến pháp không được hiệu quả ở các quốc gia áp dụng Mô hình bảo hiến xây dựng cơ quan thuộc ngành quyền lực lập pháp để xem xét những hành vi vi hiến Bên cạnh đó, Quốc hội là cơ quan không đủ trình tự và thủ tục đặc biệt để tiến hành xem xét vấn đề vi hiến Việc lựa chọn mô hình bảo hiến bằng Quốc hội sẽ đem lại rất nhiều những hạn chế trong quá trình thực hiện chức năng Hiến pháp ở mỗi quốc gia Mô hình bảo hiến Quốc hội tuy có những điểm hạn chế nhưng tại thời điểm xây dựng thì đây có thể coi là mô hình phù hợp nhất với chế độ chính trị Xã hội chủ nghĩa
Quốc hội là cơ quan chuyên trách thực hiện hai chức năng bao gồm: lập hiến và kiểm hiến Quyền hạn Quốc hội là cao nhất, Quốc hội có thể tự mình thực hiện việc bảo vệ Hiến pháp, kiểm tra văn bản pháp luật hoặc trao quyền cho một ủy ban trực thuộc tiến hành bảo hiến Thông thường Quốc hội trao quyền cho ủy ban trực thuộc thực hiện bảo hiến Mô hình bảo hiến bằng Quốc hội có trình tự và thủ tục đặc biệt, không được công
bố rộng rãi Cơ quan có thẩm quyền sẽ tự động xem xét những hành vi, văn bản có dấu