Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thời tống đạt văn bản tố tụng trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân...26 2.1.1.. Để đạt được mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUÓC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐAI HOC KINH TÉ - LUÂT
LÊ THỊ HUYÊN DIỆU THỜI HẠN TỐNG ĐẠT VĂN BẢN TỐ TỤNG
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THEO QUY ĐỊNH
CỦA BÔ LUẢT TÓ TUNG DÂN sư 2015
Ngành: Luậí dân sự và tô tụng dân sự
Mã số: 8380103
LUÂN VĂN THAC sĩ LUÀT HOC NGƯỜI HƯỚNG DẢN KHOA HOC: PGS.TS NGUYỄN NGOC ĐIÊN
TP HỒ CHÍ MINH - NẤM 2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan răng, đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Luận
văn “Thời hạn tống đạt văn bản tố tụng của tòa án nhân dãn theo quy định của bộ luật
tổ tụng dân sự 2015” được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc
Điện Các kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học khác được sử dụng trong luậnvăn này đều được giữ nguyên ý tưởng và được trích dần đầy đủ, đảm bảo trung thực,chính xác và đúng quy trình
Vậy tôi viết Lời cam đoan này, kính đề nghị trường đại học Kinh tể - Luật xemxét cho tôi được bảo vệ luận văn của mình
ĐắkLắk, ngày 30 tháng 5 năm 2021
TÁC GIẢ
Lê Thị Huyền Diệu
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIÉT TẮT
BLDS Bô luât dân sư• • •
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHŨ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
6 Kết cấu luận văn 5
CHUƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ THỜI HẠN TÓNG ĐẠT VĂN BẢN TỐ TỤNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 6
1.1 Lý luận về thòi hạn tống đạt văn bản tố tụng 6
1.1.1 Khái niệm về văn bàn tố tụng, thời hạn tống đạt văn bản tố tụng 8
1.1.2 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của thời hạn tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân 12
1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thòi hạn tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân 14
1.2.1 Các loại văn bản tố tụng phài được tống đạt theo quy định cùa Bộ luật tố tụng dân sự 2015 14
1.2.2 Thời hạn Tống đạt qua đường bưu điện hoặc người thân thích, tố trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc 15
1.2.3 Thời hạn niêm yết công khai: 19
Trang 51.2.4 Thời hạn Thông báo trên các phưong tiện thông tin đại chúng: 21
KÉT LUẬN CHƯƠNG 1 24 CHƯƠNG 2 THỤC TIẺN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN TỐNG ĐẠT VÀN BẢN TỐ TỤNG DÂN sụ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 25 2.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thời tống đạt văn bản tố tụng
trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân 26
2.1.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thời tống đạt văn bản tố tụng 26
2.1.2 Thực tiễn trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân 31
2.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thòi hạn tống đạt văn bản tố
tụng của Tòa án nhân dân 40 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51 KẾT LUẬN 52 DANH MUC TÀI LIÊU THAM KHÃO
Trang 6pháp; “ báo vệ công lý; quyền con người; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhản
Điều quan trọng là trong quá trình thực thi pháp luật, ngành Tòa án đã tuân thủnghiêm các nguyên tắc hoạt động cúa ngành theo Hiến pháp và pháp luật về bảo vệquyền công dân góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm pháp luật được thực hiện
và chấp hành nghiêm minh, thúc đấy sự phát triền lành mạnh cúa các giao dịch dân sự,kinh doanh thương mại; bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân
Bên cạnh đó Tòa án còn có nhiều đóng góp tích cực, có hiệu quả vào công tácxây dựng pháp luật, hoàn thiện thế chế và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trongphạm vi lãnh thổ Việt Nam TANDTC đã bám sát và thực hiện tốt các yêu cầu và mụctiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam Các nghịquyết của hội đồng thẩm phán TANDTC, Thông tư liên tịch, giải đáp hướng dẫn nghiệp
vụ xét xử được ban hành với số lượng ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao, đãtạo ra hành lang pháp lý hướng dẫn áp dụng pháp luật tháo gỡ những bất cập trong ápdụng pháp luật giải quyết các vụ việc dân sự, phục vụ phát triến kinh tế - xã hội của đấtnước Công tác phát triến án lệ cũng đã tạo được dấu ấn trong việc thực hiện nhiệm vụcủa Tòa án theo yêu cầu cải cách tư pháp
Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh đổi với cán bộ tư pháp tạiHội nghị học tập của cán bộ ngành Tư pháp năm 1950 “phải công bằng, liêm khiết,trong sạch, gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân” trên cơ sở nguyên tắc Hiên định “ Các
cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục
Trang 7vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân” Tòa án cáccấp luôn đề cao tinh thần phục vụ nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi nhất để giải quyếtcác yêu cầu của đương sự tại Tòa án hoặc có công việc tại Tòa án thông qua nhiều giảipháp, hướng đến phục vụ người dân một cách tốt nhất, góp phần củng cố và giữ vữngniềm tin của nhân dân đối với cơ quan xét xử
Khi giải quyết một vụ việc dân sự, việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa ánđến đương sự, người yêu cầu đảm bảo đúng thời hạn theo quy định của
pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi của họ rất quan trọng BLTTDS 2015 được xây dựngnhằm thề chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hóacác quy định của Hiến pháp năm 2013; Luật tổ chức TAND và Luật tổ chức Viện kiểmsát nhân dân năm 2014; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật;khắc phục những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn trong giải quyết các vụ án dân sự, việcdân sự, trong đó đặc biệt chú trọng đến thời hạn tống đạt của TAND theo quy định củaBLTTDS 2015
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc lựa chọn đề tài ‘‘thời hạn tổng đạt văn bản tố
tụng của tòa án nhãn dãn theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự 2015” làm đề tài
luận văn thạc sĩ là đáp ứng cả yêu cầu về lý luận và thực tiễn hiện nay
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được ban hành dựa trên sơ sở kế thừa và phát triểncác quy định của BLTTDS 2004 Việc nghiên cứu, phân tích những quy định trongBLTTDS 2015 là cấp thiết trong tiến trình tố tụng giải quyết án đảm bảo đúng pháp luật,giải quyết các vụ án chất lượng, bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp cúa cá nhân, cơquan, tổ chức
Tuy vậy, thực tiễn việc tống đạt các văn bản tố tụng đảm bảo đúng thời hạn còngặp nhiều bất cập Vì vậy, cần từng bước nghiên cứu và có hệ thống qua đó có thể phântích các trường hợp cụ thể để đưa ra đề xuất và kiến nghị hoàn thiện những bất cập trongquy định của pháp luật Qua tìm hiểu các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu cóliên quan đến đề tài này đến nay chỉ có một vài công trình nghiên cứu có liên quan vềviệc cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS, còn về thời hạn tống đạt VBTTDS chưa có công
Trang 8trình nào nghiên cứu Cụ thể có các công trình của các tác giả sau: Luận văn cao học của
tác giả Bùi Thu Ilương (2019), Cấp tống đạt, thông bảo văn bản tố tụng theo BLTTDS
2015, Trường đại học Luật Hà Nội; Đèo Thị Thủy (2013), cấp, thông báo, tống đạt VBTTDS Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Sơn La, trường đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Trí
Tuyển (2014), Thời hạn tố tụng dân sự, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Nguyệt (2012), Thủ tục cấp, thông báo, tống đạt
các VBTT, trường đại học luật Hà Nội Các khóa luận và luận văn này đã phân tích làm
rõ nhiều vấn đề về thông báo, cấp và tống đạt VBTTDS Còn phân tích và trình bày vềthời hạn tống đạt VBTTDS chưa được đi vào phân tích cụ thể và chuyên sâu
về nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo có giáo trình Luật tố tụng dân sự củaTrường Đại học Kinh tế - Luật do PGS Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Nhung chủ biên; Giáotrình luật Tố tụng dân sự Việt Nam của học viện Tư pháp do Tiến sĩ Nguyễn Hữu Thưchủ biên; Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học luật Hà Nội doTiến sĩ Nguyễn Công Bình chủ biên; Giáo trình Luật tổ tụng dân sự Việt Nam cuaTrường Đại học Kiểm sát Hà Nội do PGS Tiến sĩ Vũ Thị Hồng Vân chủ biên
Ngoài ra còn có một số bài viết về thời hạn tống đạt VBTTDS trên các báo, tạpchí, trang tin điện tử Nhưng qua nghiên cứu và tìm hiếu của tác giả có thể nhận thấycho đến nay chưa có một nghiên cứu khoa học nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật họcđược thực hiện để nghiên cứu riêng về “thời hạn tống đạt VBTTDS cúa TAND” có tínhkhái quát, tồng họp, chưa nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các văn bàn pháp luật quyđịnh về thời hạn tống đạt trong TTDS qua đó chỉ ra những bất cập và kiến nghị hoànthiện
Trang 93 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đê tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng từ những vụ án
cụ thể, tìm ra những nguyên nhân, hạn chế của vấn đề xác định được những bất cập khi
áp dụng pháp luật hiện hành, để từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm nâng caohiệu lực, hiệu quả đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật cúa một số vụ việc đã được thụ
lý giải quyết tại Tòa án, sau đó tác giả mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp hoànthiện pháp luật
Để đạt được mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài được xác định cụ thểnhư sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thời hạn tống đạt VBTTDS
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định của BLTTDS 2015
- Thực tiễn giải quyết các vụ án liên quan đến thời hạn tống đạt VBTTDS thôngqua các vụ án
- Tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện quy định của BLTTDS
2015 về thời hạn tổng đạt VBTTDS
Giới hạn đề tài: Vì đề tài theo định hướng ứng dụng nên chỉ tập trung nghiên cứuviệc áp dụng pháp luật trong thực tế về thời hạn tống đạt văn bản tố tụng của tòa ánnhân dân theo quy định của BLTTDS 2015 từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện vềBLTTDS 2015 Đây là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có tính hệthống tại cấp sơ thấm, đánh giá đúng những thực trạng các quy định của BLTTDS 2015hiện hành về thời hạn tống đạt trong tố tụng dân sự và thực tiễn giải quyết tại các Tòa
án Trong một chừng mực nhất định có thể làm tài liệu tham khảo cho những ngườinghiên cứu chuyên sâu về tố tụng dân sự và cho các cán bộ làm công tác thực tiễn nhưThấm phán, Thư ký tòa án, Luật sư trong việc hiểu biết một cách đúng đắn và vậndụng pháp luật khi áp dụng chế định về thời hạn tống đạt trong tổ tụng dân sự
Vê nội dung nghiên cứu lý thuyêt: Thời hạn tông đạt theo quy định của BLTTDS
Trang 102015 (thời hạn tổng đạt trực tiếp, qua người thân thích, thời hạn niêm yết, thời hạnthông báo tìm kiếm qua phương tiện thông tin đại chúng) Từ đó đưa ra những kiếnnghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật đế từ đó áp dụng pháp luật một cách thống nhất.
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giá sử dụng kết họp nhiềuphương pháp nghiên cứu trong đó gồm các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích: Áp dụng trong việc phân tích, làm rõ các loại thời hạntống đạt theo quy định của BLTTDS 2015 Phân tích những thuận lợi, khó khăn trongthực tiễn áp dụng pháp luật
- Phương pháp bình luận: Đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về các quy địnhcủa pháp luật về vi phạm thời hạn tống đạt VBTTDS của Tòa án theo pháp luật hiệnhành thông qua các bản án trong thực tiễn khi áp dụng các quy định tại BLTTDS 2015
Ngoài ra luận văn còn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu khác: Phươngpháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp chứng minh, bình luận bản án trong thực tiễnxét xử, để từ đó đưa ra định hướng nhằm hoàn thiện và áp dụng thống nhất pháp luật
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn gồm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thời hạn tống đạt văn bản tố tụng của Tòa ánnhân dân
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về thời hạn tống đạt văn bản tố tụng dân
sự cúa tòa án nhân dân và kiến nghị hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG 1 NHŨNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ THỜI HẠN TỐNG ĐẠT VÀN BẢN TỐ
TỤNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 Lý luận về thòi hạn tống đạt văn bản tố tụng
Pháp luật là một hệ thống đa dạng các quan hệ xã hội, khi các quan hệ xã hội đóphát sinh các quan hệ trong xã hội thì các chủ thể phải thực hiện đúng các nguyên tắc xử
sự theo quy định của pháp luật Việc một chủ thế thực hiện hay không thực hiện hoặcthực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình mà luật đã định có thể sẽ xâm phạmđến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và điều này sẽ dần đến tranh chấpquyền và lợi ích giữa các chủ thể trong các mối quan hệ pháp luật dân sự
Để duy trì và đảm bào trật tự pháp luật, Nhà nước thiết lập một cơ chế để quyền,lợi ích hợp pháp của các chủ thể được bảo vệ trong các quan hệ pháp luật dân sự khi có
sự thiệt hại về quyền lợi Theo đó, cá nhân, cơ quan, tồ chức hay cá chủ thế khác củapháp luật có quyền, lợi ích hợp pháp bị thiệt hại thì có quyền sử dụng các biện pháp luậtđịnh đề bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình Nên khi quyền và lợi ích của chủ thểtrong quan hệ pháp luật dân sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật Trong khoa học pháp
lý gọi là trình tự, thủ tục luật định đó là TTDS và những hoạt động của các chủ thể nêutrên trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật được gọi làhoạt động TTDS bao gồm việc khởi kiện, thụ lý, hòa giải, xét xứ Nếu giài quyết các
vụ việc dân sự nhanh chóng sẽ giải quyết được các tranh chấp, báo vệ quyền và lợi íchhọp pháp của các chủ thế Để thực hiện được điều này thì hành vi của người tiến hành tốtụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đều phải tiếnhành trong một khoảng thời gian nhất định
Theo từ điển Luật học do Nhà xuất bản tư pháp xuất bản năm 2006 thì tống đạt được
hiểu là việc chuyến văn bản, giấy tờ đến tận tay người nhận Theo nghĩa pháp lý, "tông
đạt" là việc chuyên đên đương sự giây tờ cân thiêt của cơ quan tư pháp.
Việc tống đạt được BLTTDS quy định, đảm bảo cho những người liên quan nhậnđược tài liệu đúng thời hạn Đồng thời việc tống đạt VBTT phải được người có thẩm
Trang 12quyền thực hiện và được thực hiện qua những phương thức như: “trực tiếp, qua bưu
điện hoặc người thứ ba được uỷ quyền; niêm yết công khai hoặc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng” theo quy định cúa BLTTDS Tòa án mà cụ thể ở đây
là người tiến hành và tham gia tố tụng, người liên quan khi tiến và tham gia tố tụng đềuphải xác định rõ trách nhiệm của mình Trách nhiệm ở đây tương ứng với mồi chủ thểphải hiểu rằng mình phải có trách nhiệm tuân thủ cũng như thi hành các quy định củapháp luật về thời hạn TTDS vì nếu hết thời hạn mà chủ thể được tống đạt không thể thựchiện hoặc thực hiện không tốt thì chắc chắn chủ thể còn lại sẽ không thực hiện tốt đượccông việc của mình ví dụ như Tòa án triệu tập nhưng không lên làm việc sẽ ảnh hưởngđến thời gian và kết quả của việc giải quyết vụ án Như vậy, nếu người tiến hành tốtụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm của mình sẽ làm choviệc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, kịp thời, chính xác
Thời hạn trong TTDS khác với thời hạn trong luật dân sự Thời hạn dân sự có thể
do pháp luật quy định hoặc được xác lập trên cơ sở thỏa thuận của các bên đương sựtrong khi đó thời hạn trong TTDS chi do pháp luật quy định hoặc do người có thấmquyền của các cơ quan tiến hành tố tụng ấn định theo quy định của pháp luật, đương sựhay chủ thể khác nói chung không có quyền thỏa thuận xác lập thời hạn tố tụng Ngoài
ra nếu thời hạn dân sự theo thời gian liên tục thì thời hạn tố tụng dân sự có thể bị giánđoạn bởi các ngày nghỉ như thứ bảy, chủ nhật, các ngày lễ, tết do các hoạt động tố tụngđược thực hiện phải thông qua các CQTHTT Hơn nữa hoạt động TTDS thường diễn raban ngày đề đảm bảo tính công khai, minh bạch cúa việc giải quyết các vụ việc dân sựnên thời hạn tống đạt văn bản tố tụng được tính bằng ngày, tháng, năm là chú yếu, ít khithời hạn tố tụng được tính bằng giờ như thời hạn dân sự
1.1.1 Khái niệm vê vãn bản tô tụng, thòi hạn tông đạt văn bản tô tụng
Khái niệm về văn bản tố tụng:
Trong hoạt động tố tụng, CỌTHTT, người tiến hành tố tụng ban hành nhiều loạiVBTTDS khác nhau, được gọi chung là văn bàn tố tụng Hình thức cùa các VBTT cũngchính là hình thức các văn bản hành chính nói chung như các quyết định, biên bản,thông báo, giấy mời Như vậy, về mặt nội dung thì VBTT phản ánh các mối quan hệ
Trang 13trong xã hội là hoạt động tố tụng của CQTHTT, người tiến hành tố tụng Còn xét về tínhchất và hình thức cụ thể của văn bản thì VBTT là một loại văn bản chuyên ngành.
Như vậy, VBTT là “các tài liệu phản ánh các hoạt động tổ tụng của cơ quan,
người tiến hành tố tụng gồm các hình thức văn bản khác nhau, do cơ quan, người tiến hành tổ tụng lập hoặc ban hành trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng lập hoặc ban hành trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng, xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia một quan hệ pháp luật tố tụng cụ thể."
Đặc diêm của VBTT:
Do VBTT được lập và ban hành theo quy định cùa pháp luật nên về CO' bảnVBTT tương tự như các văn bản hành chính Do vậy, việc lập và ban hành VBTT cũngđược thực hiện theo quy định của pháp luật về thể thức và kỳ thuật trình bày văn bảnhành chính và được ban hành trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng, phản ánh hoạtđộng tố tụng của các chủ thể trong quan hệ tổ tụng
Phân loại văn VB TT:
Phân loại theo cơ quan ban hành thì VBTT bao gồm: Văn bản của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và TAND Trong phạm vi đề tài chí nghiên cứu VBTT của Tòa án theo quy định của BLTTDS năm 2015
Phân loại theo cấp xét xử thì có văn bản tố tụng cùa Tòa án cấp sơ thấm, giám
đốc thẩm, tái thẩm
Trang 14Phân loại theo giai đoạn tô tụng thì có văn bản ban hành trong giai đoạn thụ lý
vụ án, thu thập xác minh chứng cứ, họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, chuấn
bị xét xứ, xét xử tại phiên tòa, sau phiên tòa
Phán loại theo tính chất của hoạt động tố tụng, văn bản tố tụng bao gồm: Văn
bán về thủ tục và văn bản về nội dung
Văn bản vê thủ tục nhu quyêt định phân công Thâm phán giải quyêt vụ án,
Quyết định chuyển vụ án, quyết định rát vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấytriệu tập, giấy mời, thông báo
Văn bủn vê nội dung vụ ủn như biên bản lây lời khai, biên bàn họp tiêp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải, biên bản đối chất, biên bản xác minh, biên bản xem xét thẩmđịnh tại chỗ, kết luận giám định, biên bản định giá, biên bản phiên tòa, bản án, quyếtđịnh cúa Tòa án
Sự phân loại loại văn bàn chi mang tính tương đối, vì có nhiều văn bản vừa thềhiện trình tự, thủ tục tố tụng nhưng cũng chứa đựng nội dung như Quyết định áp dụngbiện pháp khấn cấp tạm thời; Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, ngược lại, cácvăn bản về nội dung cũng đồng thời thể hiện trình tự thủ tục tố tụng như biên bản hòagiải, biên bán phiên tòa, quyết định công nhận sự thỏa thuận cúa các đương sự
Khái niệm thòi hạn tông đạt VBTT:
Thời hạn là khoảng thời gian có giới hạn nhất định để làm một việc gì đó Theo
quy định bộ Luật dân sự 2015 thì ‘7AỜZ hạn là một khoảng thời gian được xác định từ
thời điểm này đến thời điếm khác Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, thảng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.” 7
Theo từ điên tiêng việt, từ “tông” có nghĩa là đưa đên, gửi đên mà bât châp cóđồng ý nhận hay không [7,tr 1302] và từ “đạt” có ý nghĩa là đến được mục đích thựchiện được mục tiêu đã đề ra; đúng với yêu cầu ở mức tương đối [28,tr.386J
1 Điều 144 Bộ luật dân sự 2015
Hoạt động tông đạt VBTTDS do Tòa án ban hành văn bản trực tiêp thực hiện hoặc cóthế giao cho các cơ quan, cá nhân khác thực hiện tổng đạt văn bản tố tụng thay mình
Trang 15theo quy định cùa pháp luật Hoạt động này nhằm đế giao VBTT đến các đuơng sự hayngười liên quan đến vụ việc Tòa án hoặc cơ quan tiến hành tố tụng, đang giải quyết
Vậy, có thể hiểu “thời hạn tống đạt văn bản tố tụng là thời hạn được xác định từ
thời điểm này đến thời điểm khác để cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tô chức có liên quan thực hiện việc tống đạt các văn bản tổ tụng cho đương sự từ thòi điểm ra quyết định đến thời điểm cuối cùng mà đương sự có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình ”
Cách tính thời hạn: Có thế xác định được bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, nămhoặc một sự kiện có thể xảy ra
Trừ những trường hợp dựa theo sự thỏa thuận của các bên hoặc do pháp luậtchuyên ngành có quy định khác thì khoảng thời gian trong thời hạn được tính theodương lịch trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Theo các BLTTDS quy định việc quy định về thời hạn khá là chung chung Vậynên, để xác định thời hạn được tính như thế nào cần dựa vào quy định cùa Bộ luật dân
sự Neu dựa vào Bộ luật dân sự hiện hành sẽ xác định được cách tính thời hạn, thời điểmtính thời hạn, thời điểm bắt đầu thời hạn cũng như thời điểm kết thúc thời hạn.2
Nhưng dù có dựa theo sự thỏa thuận của các bên hay do pháp luật có quy địnhthì thời gian được tính như sau: 12 tháng là một năm tính là 365 ngày, nứa năm là 06tháng, một tháng là 30 ngày, nửa tháng tính là 15 ngày, một tuần là 07 ngày, một ngày
là 24 giờ, một giờ là 60 phút, một phút bàng 60 giây
Môi loại thời hạn tông đạt khác nhau thì thời điêm băt đâu và thời điêm kêt thúcthời hạn sẽ khác nhau
Ví dụ: Khoảng thời gian được xác định bằng phút hoặc bằng giờ thì thời hạn bắtđầu từ thời điểm đã xác định
Vào lúc 15 giờ 30 ngày 01 tháng 3 năm 2020 đương sự nộp đơn yêu cầu Tòa án
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “ cho thu hoạch, cho bán hoa màu” thì trong thờihạn 48 giờ kể từ thời điểm Tòa án nhận được đơn, tức là muộn nhất 15 giờ 30 ngày 03tháng 3 năm 2020 Tòa án phải đưa ra quyết định của mình: Ra quyết định áp dụng biện
2 Đồ Văn Chĩnh, thời hạn, thời hiệu trong hoạt động tố tụng, https://tapchitoaan.vn/bai-vieưphap- luat/thoi-han-thoi-hieu-trong-hoat-dong-to-tung
Trang 16pháp khẩn cấp tạm thời hoặc ra thông báo bằng văn bản không chấp nhận yêu cầu ápdụng biện pháp khấn cấp, tạm thời.
Khi khoảng thời gian được xác định bằng đơn vị như ngày, tuần, tháng, năm thìthời điếm bắt đầu cùa thời hạn không được tính từ ngày đầu tiên mà tính bắt đầu từ ngàytiếp theo của ngày được xác định Ngày đầu tiên được gọi là điểm mốc thời gian để xácđịnh, còn điểm cuối của khoảng thời gian khi xác định thời hạn được tính là thời điểmkết thúc ngày cuối cùng tính đến 24 giờ, tính đến tận giờ phút cuối cùng trong ngày đó.Nếu như ngày cuối cùng của thời hạn trùng vào đúng ngày nghỉ lề hay ngày nghỉ lề làthời điểm kết thúc được tính đến giờ phút cuối cùng kết thúc 24 giờ của ngày làm việcđầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó
Trường hợp quy định là ngày làm việc thì thời hạn chỉ tính ngày làm việc, khôngtính liên tục, phải trừ ngày nghỉ, lễ
Ví dụ: "Trong thời hạn 03 ngày làm việc Tòa án phải thông báo bằng văn bán về
việc thụ lý vụ án cho đương sự và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp ” “ Thông báo về
việc thụ lý vụ án” Nếu Tòa án sẽ thụ lý giải quyết vào thứ 6, ngày 01 tháng 3 năm 2020thì thời hạn tống đạt “Thông báo thụ lý vụ án” đến thứ ba ngày 05 tháng 3 năm 2020,nếu Tòa án gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp sau ngày 05 tháng 3 năm 2020
Ví dụ: Ngày 10 tháng 4 năm 2020 sẽ xét xử vụ án nhưng ngày 09 tháng 4 năm
2020 Tòa án mới tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự
Điêu 170 BLTTDS 2015 quy định Tòa án, Viện kiêm sát, cơ quan Thi hành án
có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, người tham gia
tố tụng khác, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Tuy nhiên, lại không quy định thờihạn cơ quan tố tụng phải chuyển giao các văn bản này cho đương sự
Để đảm bảo thời gian theo luật định cua các quá trình tố tụng thì các VBTT củaTòa án phải thực hiện tống đạt một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác đến đương sựcác quyết định như giấy triệu tập đương sự, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử, hoãn phiên tòa cho đương sự
Mặc dù Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định thời hạn tống đạt các văn bản tốtụng, nhưng những văn bản này đương sự có thể được nhận sớm hay muộn nhiều khi
Trang 17còn phụ thuộc vào ý chí của người tiến hành tố tụng có nghĩa vụ tống đạt văn bản hay vìnhững lý do khách quan khác Điều này có thể dần đến việc gây khó khăn cua người cótrách nhiệm tống đạt văn bản hay người trực tiếp giải quyết hồ sơ vụ án Trong thực tếkhông hiếm trường hợp văn bản tố tụng gửi đến đương sự
chậm; đương sự ở xa nên không bố trí sắp xếp được thời gian làm việc tại Tòa án dẫnđến kéo dài thời gian giải quyết vụ án Tại khoản 4 Điều 22 Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19 tháng 6 năm 2017 của TANDTC quy định rõ trách nhiệm của Thư
ký Tòa án trong việc cấp, giao, gửi hoặc thông báo các quyết định, văn bản tố tụng theoquy định của pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp cúa đương sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sẽ được xử lý bằng hình thức kiếm điềm trước cơ quan,đơn vị Vậy việc thư ký Tòa án vi phạm về thời hạn tống đạt VBTT có được xem xét xử
lý không? Có được xem là gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự
1.1.2 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của thòi hạn tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân.
Đặc điểm: Thời hạn tống đạt VBTT có đặc điểm khác biệt, thể hiện qua việc
người được tổng đạt có nhận được VBTT mà Tòa án tống đạt hay không, thể hiện quyềncũng như đảm bảo quyền của người nhận văn bản Việc tống đạt VBTT là nghĩa vụ củaTòa án đê đảm bảo quyên cho đương sự Người được tông đạt VBTT có nhận haykhông thì Tòa án phải căn cứ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự có chứng cứ thếhiện cũng như khắng định là bên nhận đã nhận được văn bản tố tụng hợp lệ đúng thờihạn tống đạt để bên được tống đạt thực hiện các yêu cầu trong văn bản được tống đạt, làcăn cứ xác định đương sự có quyền hay không, có nghĩa vụ hay không có nghĩa vụtrong vụ án, là căn cứ để Tòa án tiến hành các tiến trình tố tụng trong vụ án đảm bảođúng quy định của pháp luật
Vai trò: Thời hạn tống đạt VBTT của TAND đóng một vai trò quan trọng trong
tiến trình tố tụng của vụ án tại Tòa án Việc giải quyết vụ án có đúng thời hạn theo quyđịnh của Bộ luật tố tụng dân sự hay không tùy thuộc vào việc tống đạt các văn bản đếnđương sự
Ỷ nghĩa: Thời hạn tống đạt văn bản tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng trong
hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án
Trang 18Việc Tòa án tổng đạt các VBTT đúng về mặt thời hạn cho cá nhân, cơ quan, tốchức khi tham gia trong vụ án giúp họ biết được các quyền và nghĩa vụ của mình khitham gia tố tụng tại Tòa án
Việc đảm bảo về thời hạn tống đạt VBTT giúp cho Tòa án áp dụng đúng các quyđịnh của BLTTDS 2015 trong giải quyết vụ việc dân sự Nâng cao trách nhiệm của Tòa
án, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, đặc biệt là niềm tin của người dânđối với ngành Tòa án được củng cố Kể từ khi BLTTDS 2015 đi vào thực tiễn, tìnhtrạng án hủy, sửa, án quá hạn có xu hướng giảm đã thể hiện sự cố gắng, nồ lực rất lớncủa ngành Tòa án Để duy trì được tỉ lệ này thì việc nâng cao trách nhiệm của Tòa án(Thẩm phán, thư ký) là một trong những yếu tố then chốt
Giúp cho việc giải quyết các vụ việc dân sự nhanh chóng vì hoạt động giải quyếtcác vụ việc dân sự gồm nhiều hoạt động tố tụng như: xác minh, thu thập chứng cứ, hòagiải và để đảm bảo thực hiện các hoạt động này việc tống đạt
sớm cho đương sự biết về thời gian, địa điểm đảm bảo cho đương sự có thể sắp xếp
Trang 19công việc tại Tòa án Là điêu kiện cân cho các hoạt động tô tụng khác được thực hiệnđảm bảo theo quy định của pháp luật.
Việc giải quyết vụ án nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào việc đảm bảo tốngđạt VBTT cho đương sự đúng thời hạn Việc tống đạt văn bản tố tụng nhanh chóng thìcác giai đoạn tố tụng khác có cơ sở đề thực hiện, hạn chế các vụ việc giải quyết quá hạnluật định góp phần không nhỏ giải quyết các vụ việc dân sự diễn ra đúng quy định cúapháp luật Nếu các hoạt động tổng đạt không đám bảo về thời hạn hoặc thực hiện chậmtrễ kéo dài thời gian giải quyết vụ án
1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thòi hạn tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân
1.2.1 Các loại văn bản tổ tụng phải dược tống dạt theo quy dinh của Bộ luật
tố tụng dân sự 2015
Theo quy định tại Điêu 171 BLTTDS 2015 các VBTT phải được câp, tông đạt,
thông báo gồm: “Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mòi trong tố tụng dân sự;
Bủn án, quyết định của Tòa án, các văn bủn khác mà pháp luật có quy
Ví dụ: Khoản 1 Điêu 315 BLTTDS 2015 quy định vê gửi bản án, quyêt định
phúc thẩm “ Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa
án cấp phúc thấm phải gửi bản án, quyết định phúc thấm cho người kháng cáo, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Trường họp Tòa án nhãn dân cấp cao xét xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 25 ngày ”
Khoản 2 Điêu 370 BLTTDS 2015 quy định vê gửi Quyêt định giải quyêt việcdân sự cho người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanđến việc giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kề từ ngày ra quyếtđịnh
Trang 20Khoản 4 Điêu 375 BLTTDS 2015 quy định “Quyêt định phúc thâm giải quyết
việc dân sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và được gửi cho cơ quan, tô chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 370 của Bộ luật này” Như vậy,
Quyết định giải quyết việc dân sự phúc thẩm được tống đạt trong thời hạn 05 ngày làmviệc, kể từ ngày ra quyết định
Việc tống đạt có thể bằng hình thức “trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc ngườithứ ba được ủy quyền thực hiện việc tống đạt, bằng phương tiện điện tử theo yêu cầucủa đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định cúa pháp luật vềgiao dịch điện tử, niêm yết công khai hoặc thông báo trên các phương tiện thông tin đạichúng.”
1.2.2 Thời hạn Tống đạt qua đường hưu điện hoặc người thân thích, tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, hán, buôn, phum, sóc.
Khoản 1 Điều 175 BLTTDS quy định: “Người thực hiện việc cấp, tống đạt,
thông báo vein bản tố tụng phải trực tiếp chuyển giao cho người được cấp, tổng đạt, thông bảo văn bản tố tụng có liên quan Người được cấp, tống đạt, thông báo phải ký nhận vào biên bản hoặc sô giao nhận văn bản tố tụng Thời điếm đê tính thời hạn tố tụng là ngày họ được cấp, tổng đạt, thông báo văn bản tố tụng ”
Ngày nay, hệ thống bưu điện đã triến khai đến địa bàn của xã, phường, thị trấn;nhân viên bưu điện được phân công phụ trách đến tận thôn, xóm Hoạt động vận chuyếncủa bưu điện tương đối nhanh chóng Vì vậy, phần lớn các VBTT của Tòa án được thựchiện bằng việc gửi bưu điện, thông qua nhân viên bưu điện giao đến cho người đượctống đạt Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua dịch vụ bưu chính phải bằngthư bảo đảm và có xác nhận của người nhận văn bản tố tụng Văn bản có xác nhận phảiđược chuyển lại cho Tòa án Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ xác nhận đãnhận được văn bán tố tụng do tố chức dịch vụ bưu chính chuyển đến
Việc tống đạt qua đường bưu điện có ba hình thức: tống đạt thường, gửi bảođảm, báo phát Trong đó gửi bảo đảm được coi là tống đạt hợp pháp.người phải tông đạtkhông phải thực hiện tông đạt trực tiêp nhưng vân đúng pháp luật vê thời hạn tống đạt,
vì thời hạn tống đạt được tính từ ngày đương sự nhận được văn bản do bưu điện giao
Trang 21Nhược điểm của tống đạt qua đường bưu điện: Không thể hiện rõ nội dung vănbản là gì, bưu điện sau khi nhận được văn bản của Tòa án chỉ chuyến phát đến địa chỉngười gửi nên trong những trường hợp nhận thay ký nhận không thể hiện rõ họ có mổiquan hệ như thế nào với người nhận, họ có cam đoan giao lại tận tay cho người pháiđược nhân hay không, bên cạnh đó việc hoàn lại biên bán giao nhận cho Tòa án làm căn
cứ tính thời hạn của bưu điện thường xuyên chậm trễ, thậm chí không hoàn lại kéo dàithời gian giải quyết vụ án
Việc bưu điện nhận các VBTT của Tòa án không có phần nội dung để Tòa án ghi
số hiệu, ngày tháng năm ban hành văn bản cũng như ghi thời gian triệu tập, mời đương
sự, người tham gia tố tụng khác và không có mục nhân viên bưu điện phải giao tận taycho người được tống đạt Hơn nữa, việc tống đạt thường phải qua nhiều đầu mối nênngười giao tận tay cho người được tống đạt văn bản tố tụng không phải là người nhậnvăn bản từ cán bộ Tòa án ban đầu Chính vì vậy, văn bản chỉ được chuyến đến địa chỉ
mà Tòa án đã xác định trên bao thư còn việc người có tên trên bao thư có ký nhận haykhông, giao có đúng thời hạn hay không thì không được nhân viên bưu điện quan tâm
Tại điều 172 BLTTDS 2015 quy định, “nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính thực hiện
việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng” Tuy nhiên, lại không quy định cụ thế
nghĩa vụ của họ trong việc nhận tống đạt văn bản tổ tụng Cho nên, rất nhiều trường hợpngười khác sẽ nhận thay nhưng nhân viên bưu điện không ghi rõ người nhận là ai, quan
hệ như thế nào với người được tống đạt Điều này dẫn đến trường hợp, khi đển thời gian
mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đối chất,đưa ra xét xử nếu đương sự được triệu tập không đến thì rất khó đảm bảo thủ tục tốngđạt
của Tòa án hợp lệ hay không
Trang 22Trường hợp Tòa án đã tông đạt nhưng đương sự văng mặt thì người thực hiệnviệc việc tống đạt phải lập thành biên bản giao phải thực hiện theo quy định của
BLTTDS tại khoán 5 Điều 177 “c7zơ người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự
cùng nơi cư trú với họ ký nhận và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được tổng đạt” Ngày ký nhận của ‘‘người thân thích cùng cư trú ” được coi là
ngày được tống đạt Việc nhờ những người thân thích cùng cư trú giao lại các VBTTcho người được tống đạt sẽ đảm bảo chắc chắn văn bản sẽ được đến tận tay người đượctống đạt Việc quy định người thân thích có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhàm đảmbảo những người này biết được việc giao văn bản đó có ý nghĩa thế nào đối với VBTTđược tống đạt Đồng thời họ cũng biết được trách nhiệm cùa người nhận thay văn bản
Từ đó đảm bảo họ sẽ giao lại các văn bản đó cho người được tống đạt, tránh trường hợpsau khi nhận thay văn bản họ xé hoặc vứt đi ánh hưởng đến việc tống đạt, quyền lợi vànghĩa vụ của người được tống đạt Vậy người thân thích của người được tống đạt VBTT
là ai thì BLTTDS 2015 không quy định Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại khoản 2, Điều 13Nghị quyết 03/2012/NQ- HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao thì ‘‘2 Người thân thích của đương sự là người có quan hệ sau
đây với đương sự:
a Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của đương sự;
b Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của đương sự;
c Là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của đương sự;
d Là cháu ruột của đương sự, mà đương sự là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột ”
Tuy đây không phải là quy định, hướng dẫn trực tiếp nhưng dựa theo hướng dẫnnày có thể xác định nếu người thân thích của người được tống đạt từ chối nhận văn bảntống đạt thì Tòa án được phép chuyển giao văn bản đó cho Tổ trưởng tổ dân phô, trưởngthôn, làng, âp, bản, buôn, phum, sóc đê thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chi và yêu cầungười này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được tổng đạt Tố trướng tồ dân phố,trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc là những người phụ trách địa bàn nơi người
Trang 23được nhận VBTT cư trú Họ là người nắm bắt rõ các hoạt động của dân cư nơi địa bànmình đang quản lý, là người nắm rõ tình hình của người được tống đạt văn bản tố tụngdân sự nhất Vì vậy, trong trường hợp không có người thân thích có đủ năng lực hành vidân sự cùng cư trú hoặc có nhưng không nhận thay VBTTDS thì người thực hiện việctống đạt có thể nhờ Tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc,công an xã, phường, thị trấn nơi người được tống đạt cư trú đế nhờ người này giao chongười được tống đạt và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người đượctống đạt.
Việc tống đạt thông qua người khác phái lập biên bản ghi rõ việc người đượctống đạt vắng mặt, văn bản tố tụng dân sự được giao cho ai, lý do, ngày giờ giao, phải
có nội dung ý kiến người nhận ghi rõ cam kết giao lại tận tay ngay văn bản tố tụng dân
sự cho người được tống đạt Biên bản phải có chừ ký của người nhận chuyển và chữ lýcủa cán bộ Tòa án, người chứng kiến nếu có
Biên bán này sẽ được lưu lại trong hồ sơ vụ án, nó chính là căn cứ để chứngminh Tòa án đã thực hiện việc tống đạt đối với người được tống đạt Tuy nhiênBLTTDS lại không quy định thời điểm nào là thời điểm Tòa án tống đạt hợp lệ, tại thờiđiếm lập biên bản giao giữa tòa án với Tổ trưởng tồ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản,buôn, phum, sóc có được coi là thời điếm tống đạt hợp lệ chưa
Trong thực tiễn Tòa án luôn tiến hành niêm yết công khai VBTT tại ủy ban nhândân cấp xã nơi đương sự cư trú, nơi cơ quan, tồ chức có trụ sở và xác định thời hạn niêmyết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết tránh trường họp vì lý dokhách quan nào đó người được tống đạt không nhận được văn bản tổng đạt xác định thờihạn sau 15 ngày VBTT được tống đạt hợp pháp
Chú thể có trách nhiệm tống đạt muốn đảm bảo thời hạn tống đạt tùy mồi chú thế
có những điếm mạnh, hạn chế nhất định Vì vậy, tùy vào mồi loại vụ việc Tòa án cân cónhững sự lựa chọn chủ thê thực hiện việc tông đạt VBTT cho phù hợp việc tống đạtVBTT cho phù hợp
1.2.3 Thòi hạn niêm yết công khai:
Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự nhiều trường hợp Tòa án khôngxác định được người được tống đạt đang ở đâu hoặc việc trực tiếp tống đạt là không thể
Trang 24vì thực tế địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk lắk người dân chủ yểu làm nông nghiệpnên trong giờ hành chính khi Tòa án trực tiếp đi tống đạt thì người được tổng đạt sẽkhông có ở nhà Do đó, liên quan đến thời hạn giải quyết các vụ án Vậy, để không làmảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án cũng như đảm bảo quyền lợi của các bênđương sự thì pháp luật tố tụng dân sự đã quy định thú tục niêm yết công khai VBTTDS.Thủ tục này là việc dán các văn bản tố tụng cần phải tống đạt cho đương sự tại nơi cưtrú, tại ủy ban nhân dân xã nơi người được tống đạt cư trú và tại Tòa án Thông qua đó,người nhận được văn bản của Tòa án sẽ biết được nội dung của văn bản tố tụng cần tốngđạt để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, qua đó Tòa án cũng có căn cứ giảiquyết vụ án theo quy định của pháp luật, vụ án không bị quá thời hạn giải quyết, hạn chếđược án tồn, vụ việc được giải quyết nhanh chóng đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều
177 và Điều 178 của Bộ luật tố tụng dân sự Do Tòa án trực tiếp thực hiện hoặc ủyquyền cho người có chức năng tống đạt hoặc ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cưtrú, nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở thực hiện theo thủ tục sau:
“Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo; Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của
cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sỏ’ cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo; Lập biên bủn về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết; Thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kế
từ ngày niêm yết ”
Việc niêm yêt công khai trong thời hạn 15 ngày là nhăm đê người được tông đạtbiết được nội dung VBTT Việc niêm yết tại Tòa án, trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã nơi
cư trú cuối cùng và nơi cư trú cuối cùng cùa người được tống đạt là nơi họ hoặc ngườithân thích của họ có khả năng nắm được thông tin nhiều nhất, do vậy, việc niêm yết ởnhững nơi như vậy là phù hợp với thực tế giải quyết các vụ việc hiện nay tại Tòa án
Chủ thể được quyền thực hiện việc niêm yết chỉ có thể là Tòa án hoặc là ủy bannhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc là nơi cư trú cuối cùng của người được tống đạt được
Trang 25Tòa án ủy quyền Các văn bản niêm yết phải giống nhau, niêm yết bản chính tại trụ sởTòa án, ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người đượctống đạt; Niêm yết bản sao tại nơi cư trá hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được tốngđạt Việc quy định như vậy tạo ra sự rườm rà, phức tạp cho hoạt động niêm yết vì thực
tế khi Tòa án thực hiện việc niêm yết tại Tòa án, ủy ban nhân dân cấp xã hay nơi cư trúcủa người được tống đạt đều niêm yết bản chính
Bản chất của hoạt động niêm yết là thông báo cho người được tống đạt nội dungVBTT Do vậy, việc niêm yết công khai cần có một thời gian hợp lý đúng theo quy địnhcủa pháp luật, người thực hiện niêm yết phải lập biên bản về việc niêm yết công khai,trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết, nội dung văn bản được niêm yết như số,ngày, tháng, năm, tên của văn bản, có chữ ký của người chứng kiến Ngày niêm yết làngày tống đạt hợp lệ, thời hạn niêm yết không ít hơn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết nên
về bản chất việc niêm yết chỉ là thủ tục đế tiến hành các bước tiếp theo tại Tòa án
Việc niêm yết công khai chỉ có Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện,Viện kiểm sát cũng là một cơ quan có thẩm quyền ban hành VBTT, có nghĩa vụ tống đạtVBTT nhưng không có văn bản nào quy định Viện kiểm sát được niêm yết công khaivăn bản tố tụng của Viện kiểm sát
Ví dụ: Điều 281 khoản 1 BLTTDS quy định “ 1 Viện kiểm sát ra quyết định
kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị ” Trong trường hợp người bị ảnh hưởng do việc kháng nghị văng mặt khỏi địa
phương, nếu Viện kiểm sát không có trách nhiệm niêm yết thì sẽ không đảm bảo đúng
về mặt tố tụng dân sự
Quy định như vậy đã hạn chế hoạt động của Viện kiểm sát trong việc niêm yếtcác văn bản do cơ quan mình ban hành, bất hợp lý của pháp luật
1.2.4 Thời hạn Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng:
Điều 189 BLTTDS 2015 đã quy định rõ “ Việc thông báo trên phương tiện thông
tin đại chủng được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không đảm bão cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về vãn bản cần được cấp, tống đạt, thông bảo ”
Trang 26Mục đích của thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài phátthanh, đài truyền hình) để phát đi thông tin thông báo để người được tống đạt văn bản tốtụng biết được thông tin khi nghe được, đọc được Hoặc biết được thông tin thông quanhững người xung quanh nghe được, đọc được, nói lại cho người đó biết nội dung thôngbáo Qua đó, người được thông báo biết được quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện.
Phạm vi thực hiện thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng rộng hơnnhiều so với niêm yết Nếu niêm yết thì chỉ niêm yết ở trụ sở Tòa án, ủy ban nhân dâncấp xã nơi cư trú cuối cùng, nơi cư trú cuối cùng của người được tống đạt Phạm vitruyền thông tin chỉ nhắm vào những người đến Tòa án hay ủy ban nhân dân cấp xã,những người xung quanh nơi cư trú đọc được văn bản niêm yết, còn thủ tục thông báotrên phương tiện thông tin đại chúng đối tượng truyền thông tin là rất lớn, mọi ngườitrong phạm vi quốc gia
“Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên cổng thôngtin điện tử của Tòa án, trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liêntiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong
ba ngày liên tiếp”, số lần đăng tải liên tiếp thông tin trên báo, đài chỉ là đề cân đối giữaviệc đảm bảo chi phí hoạt động thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạngiải quyêt vụ việc, thời gian hợp lý đê người được thông báo nắm bắt được nội dungthông báo trên phương tiện thông tin đại chúng Việc thực hiện trên các phương tiệnthông tin đại chúng không phải lúc nào cũng trùng ngày với nhau Do vậy, quy định việcthông báo ba lần trên phương tiện thông tin đại chúng là dựa vào phương tiện báo, đàiphát thanh hay đài truyền hình Đây là một nội dung mà pháp luật cần xem xét đế quyđịnh rõ ràng hơn
Trong yêu cầu giải quyết thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trá quy
định tại khoán 1 Điều 385 BLTTDS “Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra
quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại noi cư trú, thông bảo này phải được đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba sổ liên tiếp, Cống thông tin điện tử của Tòa án, ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.’’ Nếu
căn cứ thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người
Trang 27vắng mặt tại nơi cư trú thì sẽ phát sinh những bất cập bởi lẽ, nếu đến ngày thứ 25 Tòa ánmới làm các thủ tục đăng tin thì thời gian người được đăng tin thông báo tìm kiếm tiếpcận được thông tin sẽ quá ngắn nếu ở xa sẽ không kịp sắp xếp công việc để đến Tòa án
ra thông báo tìm kiếm làm việc
Trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích tại khoản 2 Điều 387
BLTTDS quy định “ Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bổ mất tích
là 04 tháng, kề từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên ” Việc pháp luật quy định
như vậy mặc nhiên sẽ xác định được thông báo trên báo, đài phát thanh hay truyền hìnhphát tin đầu tiên là căn cứ để tính thời hạn, quy định tại tại khoản 1 Điều 385 BLTTDS
là bất cập cần sửa đổi nội dung thời hạn thông báo là 01 tháng kể từ ngày đăng, phátthông báo đầu tiên giống quy định tại khoản 2 Điều 387 sẽ giúp cho việc áp dụng phápluật thống nhất hơn
Qua thực tiễn cho thấy thù tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúngchưa phù hợp vì trên thực tế rất ít khi Tòa án thực hiện thủ tục thông báo trên phươngtiện thông tin đại chúng vì BLTTDS không quy định loại trừ những văn bản tố tụng nàođược bỏ qua thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên về nguyên tắctất cả các văn bản tố tụng đều phải lần lượt thông báo trên phương tiện thông tin đạichúng
Bên cạnh đó, “chi phí cho việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại
chúng thì đương sự phải chịu khi họ có yêu cầu” (khoản 2 Điều 180 BLTTDS) Do các
cơ quan báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình là những đơn vị sự nghiệp có thu, vì vậycác hoạt động thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đều mất khá nhiều chi phídịch vụ nhưng hiệu quả không cao Vậy, trong trường hợp họ có yêu cầu mà pháp luậtkhông có quy định hoặc có căn cứ xác định cho rằng việc niêm yết công khai khôngđảm bảo cho người được tống đạt nhận được văn bản thì đương sự không phải chịu lệphí đăng báo, đài Vậy chi phí này Tòa án chịu hay đương sự có quyền lợi chịu, nguồnkinh phí nào đề Tòa án thực hiện Nên thực tế Niêm yết công khai được Tòa án áp dụngnhiều nhất, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng chỉ thực hiện khi cácđương sự có yêu cầu
Trang 28KÉT LUẬN CHUÔNG 1
Pháp luật TTDS mặc dù quy định khá chặt chẽ về chủ thể thực hiện, phươngthức, tính hợp lệ nhưng không quy định cụ thể, rõ ràng về thời hạn tống đạt văn bản tốtụng là một lồ hổng lớn, vừa không đảm bảo được tính hợp lý trong xây dựng và banhành luật, có những chú thế có thể lợi dụng việc bao che cho một bên nào đó, khôngđảm bảo được nguyên tắc khách quan, vô tư theo quy định tại Điều 16 Bộ luật tố tụngdân sự.3 Thời hạn tổng đạt VBTTDS là một trong những hoạt động tố tụng dân sự, vìvậy yêu cầu khách quan cũng giữ một vai trò quan rất quan trọng trong giải quyết các vụviệc dân sự Khi thực hiện tống đạt VBTTDS diễn biến của việc tống đạt phải đượcphản ánh trung thực, khách quan trên biên bản đế làm căn cứ cho việc giải quyết đúng
vụ việc và pháp luật quy định về thời hạn tổng đạt VBTTDS sự cần phải tiếp tục chinhsửa đề ngày càng hoàn thiện hơn
Việc nhận thức đúng và áp dụng nghiêm chỉnh thống nhất về thời hạn tống đạttrong tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự
CHƯƠNG 2 THỤC TIẺN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN TỐNG ĐẠT
VĂN BẢN TỐ TỤNG DÂN sự CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Trong những năm vừa qua hoạt động tư pháp luôn nhận đưọc sự quan tâm sâusắc của Đảng và nhà nước ta Nhiều chính sách pháp luật đã được đưa ra triển khaithống nhất từ trang ương đển địa phương nhằm tăng cường cải cách tư pháp, góp phầnvào công cuộc xây dựng đất nước kinh tế phát triển bền vững, thịnh vượng, văn minh vàpháp luật công bằng Góp phần không nhở vào đó là hoạt động cải cách tư pháp mạnh
mẽ, ngày càng hoàn thiện sao cho phù hợp với sự phát triển của đất nước, trong đó cóvãn bản pháp luật quan trọng là Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã được Quốc hội khóa
3 “Điều 16 Bão đám sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự
1 Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thấm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trường Viện kiềm sát, Kiêm sát viên, Kiêm tra viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đong định giá không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thề không vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cùa mình."
Trang 29XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01tháng 7 năm 2016 đã đáp ứng được những yêu cầu cấp bách của thực tiễn giải quyết các
vụ việc dân sự trong giai đoạn hiện nay Qua đó, các cơ quan tiến hành tố tụng cụ thể ởđây là Tòa án có cơ sở vừng chắc trong giải quyết các vụ việc được thuận lợi, nâng caochất lượng giải quyết án, nâng cao hiệu quả công tác góp phần cùng các cấp, các ngànhthực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới
Là điều kiện không thể thiếu trong quá trình giải quyết các loại vụ việc tại Tòa
án, thời hạn tống đạt VBTTDS cùa Tòa án luôn được chú trọng trong tiến trình tố tụngnên trong những năm qua, việc tống đạt cho đương sự đảm bảo thời hạn theo quy địnhcùa BLTTDS đã góp phần đạt được nhiều kết quả khả quan
Việc đảm bảo thời hạn tống đạt các văn bản tố tụng dân sự hiện nay đã góp phầnrất lớn trong việc giải quyết án tại Tòa án Tòa án nhân dân huyện CưMgar, tinh ĐắkLắk từ khi BLTTDS 2015 có hiệu lực cho đến nay đã được 05 năm, tỉ lệ giải quyết cáctranh chấp dân sự ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước Trong thời gian từ ngày01/7/2016 đến 30/6/2020, TAND huyện Cư M’gar đã thụ lý 3.154