Đây là tài liệuquan trọng giúp tác giả hệ thống quy định của pháp luật về giao dịch quyền sửdụng đất làm cơ sở đối chiếu các quy định của pháp luật thi hành án dân sự trongviệc giải quyế
Trang 1ĐẠI HỌC QUÓC GIA THÀNH PHÒ HÒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐAI HOC KINH TÉ - LUÁT
NGUYỄN HŨU KIM
THỎA THUẬN NHẢM TRỐN TRÁNH NGHĨA vụ THI HÀNH ÁN DÂN sự
Ngành: Luật Dãn sự và Tô tụng dân sự
Mã số: 8380ỉ03
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẢN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn luật học này là công trình nghiên cứu của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Nhung.
Những thông tin trích dẫn, bàn án trong luận văn là trung thực, được dẫn từ nguồn tham khảo có thật Các phân tích, đánh giá, kiến nghị trong luận văn dựa trên quá trình làm việc, nghiên cứu của tác giả Nếu có sự gian lận nào, tác giả xin hoàn toàn chiu trách nhiêm.
Tác giả
Nguyễn Hữu Kim
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục luận văn 5
CHUÔNG 1: THỎA THUẬN NGOÀI THI HÀNH ÁN NHẢM TRỚN TRÁNH NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN DÂN sụ 7
1.1 Khái niệm và dấu hiệu nhận diện thỏa thuận ngoài thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự 7
1.1.1 Khái niệm thỏa thuận ngoài thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự 7
1.1.2 Dấu hiệu nhận diện thỏa thuận ngoài thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự 9
1.2 Thõa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự thông qua các giao dịch chuyến giao quyền sỏ' hũru, quyền sủ' dụng tài sản 10
1.2.1 Quy định của pháp luật thi hành án dân sự xác định các giao dịch trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự 10
1.2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong thi hành án dân sự đối với các giao dịch chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự 16
Trang 41.3 Kiến nghị 26 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30 CHƯƠNG 2: THỎA THUẬN TRONG THI HÀNH ÁN NHẦM TRỐN TRÁNH NGHĨA vụ THI HÀNH ÁN DÂN sụ 31 2.1 Khái niệm và dấu hiệu nhận diện thồa thuận trong thi hành án nhằm trốn
tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự 31
2.1.1 Khái niệm thỏa thuận trong thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án
dân sự 31 2.1.2 Dấu hiệu nhận diện thỏa thuận trong thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi
hành án dân sự 32
2.2 Thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự thông qua các
thỏa thuận cụ thể của người phải thi hành án 32
2.2.1 Thỏa thuận tạo ra nhiều khoản nợ, tạo ra các giao dịch chuyển giao quyền sở
hữu, quyền sừ dụng tài sản 32 2.2.2 Thỏa thuận đình chỉ thi hành án
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
KẾT LUẬN
Trang 5Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Thỏa thuận nhằm trốn tránhnghĩa vụ thi hành án dân sự” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ củamình nhằm mục đích hệ thống những quy định của pháp luật về giải quyết đối vớigiao dịch về tài sản nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án, đồngthời đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụngpháp luật.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu về “Thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ thihành án dân sự” hiện nay chưa nhiều và thể hiện một cách tập trung Tác giả đànghiên cứu nhóm công trình sau:
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Giáo trình Luật Thi hành án dân sự, NXBĐại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2020 Nội dung của giáo trình đề cậpnhững vấn đề cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự; trình tự, thủ tục thi hànhquyêt định, bản án dân sự Nội dung của giáo trình đã khái quát cơ sở pháp lý của
Trang 6việc tổ chức thi hành bản án, quyết định dân sự của cơ quan tài phán có thẩmquyền; quyền, nghĩa vụ của đương sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quantrong quá trình tổ chức thi hành án dân sự Đây là cơ sở lý luận nhận diện nhữngtrường hợp trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Đề cương môn học Phápluật về thi hành án dân sự, 2020 Tại công trình này, tác giả nghiên cứu về tầmquan trọng và vị trí của pháp luật về thi hành án dân sự trong hệ thống pháp luật;hiệu lực, hiệu quả trong việc bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của Nhà nước, tổchức và cá nhân, đồng thời đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về thi hành ándân sự làm cơ sở kiến nghị các giải pháp khắc phục
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về họpđồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, NXB Hồng Đức, 2017 Nội dungcủa giáo trình bao gồm những vấn đề nghía vụ và họp đồng, trách nhiệm dân sự
do vi phạm nghĩa vụ Liên quan đến đề tài, tác giả đã trình bày những lý luận cơbản về họp đồng, giao kết hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng là cơ sở để giảiquyết liên quan giao dịch nhằm tẩu tán tài sản
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình những quy địnhchung về luật dân sự, NXB Hồng Đức, 2018 Nội dung của giáo trình tác giảnghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến giao dịch dân sự,điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, các trường họp giao dịch dân sự vôhiệu và bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu Đây
là tài liệu quan trọng đế tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trang 7Lưu Tiên Dũng và Đặng Thanh Hoa, Lý giải một sô vân đê của Bộ Luật
Tố tụng dân sự năm 2015 từ thực tiễn xét xử, NXB Hồng Đức, 2020 Nội dungcủa quyển sách là công trình thu thập các bản án, quyết định cụ thể để từ đó đổichiếu vào các quy định của Bộ luật Tổ tụng dân sự năm 2015 nhàm xác định một
số vấn đề của quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự năm 2015 để phân tích vàluận giải Quyển sách đề cập đến nội dung thụ lý và giải quyết yêu cầu xác địnhphần sở hữu, chia tài sản chung để thi hành án và tranh chấp liên quan đến tài sảnthi hành án Trên cơ sở thu thập, phân tích, đánh giá nội dung các bản án cụ thểgiúp cho tác giả nghiên cứu một cách hệ thống về quá trình thụ lý, giải quyết củatòa án về tranh chấp liên quan đến tài sản thi hành án
Châu Thị Khánh Vân và Nguyễn Thị Thu Trang, Hiệu lực giao dịch quyền
sử dụng đất, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2019 Quyển sách trìnhbày, luận giải các quy định pháp luật về hiệu lực của giao dịch quyền sử dụng đấtthông qua việc bình luận các bản án đồng thời đưa ra các kiến nghị để khắc phụcnhững điểm hạn chế của pháp luật về giao dịch quyền sử dụng đất Đây là tài liệuquan trọng giúp tác giả hệ thống quy định của pháp luật về giao dịch quyền sửdụng đất làm cơ sở đối chiếu các quy định của pháp luật thi hành án dân sự trongviệc giải quyết liên quan các giao dịch về tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thihành án
Cùng nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trên các tạp chí liên quan đếnhoạt động thi hành án dân sự Các đề tài đã nghiên cứu một cách hệ thống nhữngquy định pháp luật về thi hành án dân sự, đánh giá những khó khăn, vướng mắctrong thực tiễn áp dụng và kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 8Các bài viêt này nghiên cứu một khía cạnh hoặc chưa làm rõ hêt những đặctrưng pháp lý cũng như những bất cập về lý luận với thực tiễn liên quan đến quyđịnh để xử lý, ngăn chặn những thỏa thuận nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ thihành án dân sự Bài viết ở những thời điểm khác nhau, chưa có điều kiện để tiếpcận những văn bản pháp luật mới có liên quan đến thi hành án nên việc nghiêncứu còn nhiều hạn chế.
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.7 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài trên cơ sở phân tích những quy địnhpháp luật về thi hành án dân sự làm cơ sở để nhận diện, xử lý đối với những thỏathuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự; từ đó đề ra những kiến nghịgóp phần hoàn thiện pháp luật, ngăn chặn tình trạng trốn tránh thực hiện nghĩa vụthi hành án của người phải thi hành án
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố, luận văn tiếptục nghiên cứu làm rõ các nội dung sau đây:
- Quy định của pháp luật về nhận diện, xử lý thóa thuận nhằm mục đíchtrốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự
- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật qua thực tiễn áp dụnglàm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
4 Đối tuựng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 9Đê tài nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiên áp dụng các quy địnhpháp luật đối với các trường hợp thởa thuận nhàm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự và việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về pháp luật thi hành án dân sự, cụ thể là các thỏa thuậncủa người phải thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự và cácquy định trong việc xử lý đối với các trường hợp thỏa thuận nhằm trốn tránhnghĩa vụ thi hành án dân sự trên cơ sở áp dụng pháp luật của cơ quan xét xử, thihành án trên phạm vi toàn quốc Ngoài ra, đề tài cũng nghiên cứu đến các quyđịnh có liên quan của pháp luật dân sự trong việc nhận diện, xử lý các thỏa thuậnnhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu có hiệu quả đề tài, tác giả sử dụng phương pháp phân tích,tổng hợp và bình luận các bản án, quyết định thi hành án Phương pháp phân tíchquy định của pháp luật dân sự, thi hành án dân sự về các vấn đề liên quan đếnthỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự nhưng chủ yếu là quyđịnh tại pháp luật thi hành án dân sự hiện hành được tòa án, cơ quan thi hành ánvận dụng xác định, xử lý thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự.Phương pháp tồng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích đểtổng hợp và khái quát kết quả nghiên cứu từ đó đưa ra kết luận, kiến nghị hoànchỉnh pháp luật
6 Bố cục luận văn
Luận văn được xây dựng theo việc phát hiện những bất cập, vướng mắccủa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng đối với các trường hợp thỏa thuậnnhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự và việc xử lý đối với các thỏa thuậnkhông hợp pháp của người phải thi hành án, gồm:
Chương 1: Thỏa thuận ngoài thi hành án nhăm trôn tránh nghĩa vụ thi
Trang 10hành án dân sự
Chương 2: Thỏa thuận trong thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án dân sự
Trang 11CHƯƠNG 1 THỎA THUẬN NGOÀI THI HÀNH ÁN NHẦM TRỐN TRÁNH
NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN DÂN sụ 1.1 Khái niệm và dấu hiệu nhận diện thỏa thuận ngoài thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự
vụ thi hành án dãn sự
Luật Thi hành án dân sự (THADS)2 quy định thi hành án dân sự là “trình
tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định hành chỉnh của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cỏ liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại
”.
Tham gia vào quá trình thi hành án dân sự có nhiều chủ thể tùy thuộc từngtrường hợp cụ thể như người được thi hành án, người phải thi hành án, người cóquyền lợi nghĩa vụ liên quan, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan, tổ chức cánhân có liên quan đến việc thi hành án dân sự, người có trách nhiệm phối hợp với
cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án hoặc người có trách nhiệm thực hiệncác yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên trong quá trình tổchức thi hành án
Mồi chủ thể đều có những quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể theo pháp luật quyđịnh, trong đó người được thi hành án, người phải thi hành có quyền thỏa thuậnthi hành án nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và khôngtrái đạo đức xã hội Luật Thi hành án dân sự3 quy định “Đương sự có quyền thỏa
thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp
2Điều 1, Luật THADS năm 2008, dược sửa đổi bổ sung năm 2014.
3 Khoản 1, Điều 6 Luật THADS.
Trang 12luật và không trải đạo đức xã hội Kết quả thỉ hành án theo thỏa thuận được công nhận".
Thỏa thuận thể hiện ở việc thống nhất, đồng tình về mặt ý chí của các bên,không có sự đổi lập hay mâu thuần về vấn đề thỏa thuận Như vậy, thỏa thuậntrong thi hành án dân sự là việc các đương sự thống nhất ý chí với nhau về việc thihành án dân sự Việc thỏa thuận thi hành án có thể thực hiện khi cơ quan thi hànhdân sự chưa ra quyết định thi hành án hoặc thỏa thuận thi hành án khi cơ quan thihành án dân sự đã ra quyết định thi hành án
Tuy nhiên, việc thỏa thuận không phải lúc nào cũng tuân thủ pháp luật, đạođức xã hội để thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Có trường hợpngười phải thi hành án thực hiện các thỏa thuận chuyển dịch tài sản trong khi đang
có nghĩa vụ với người khác để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình
Pháp luật thi hành án dân sự quy định giao dịch về tài sản kể từ thời điểmbản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng người phải thi hành án không sửdụng toàn bộ khoản tiền thu được từ giao dịch đó để thi hành án và không còn tàisản khác hoặc có tài sản khác nhưng không đủ đảm bảo nghĩa vụ thi hành án làgiao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án4
Từ phân tích nêu trên, tác giả đưa ra khải niệm thỏa thuận ngoài thi hành
án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án là thỏa thuận của người phải thi hành
án với người khác trước khi người được thi hành án có yêu cầu thi hành án hoặc
đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành dân sự chưa ra quyết định thỉ hành án Thỏa thuận này liên quan việc giao dịch về tài sản sau thòi điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng người phải thi hành án không sử dụng toàn bộ khoản tiền thu được từ giao dịch đó để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc có
4 Khoản 1, Điều 24 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS Vàn bản hợp nhất số 357/VBHN-BTP ngày 14/4/2020 của Bộ Tư pháp đối với Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/8/2015 cua Chính phu quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS được sửa đổi, bồ sung năm 2014 và Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 cua Chính phu sừa đồi, bố sung một số điều Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.
Trang 13tài sản khác nhưng không đủ đảm bảo nghĩa vụ thỉ hành án.
tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự
Thỏa thuận ngoài thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự
có các dấu hiệu nhận diện như sau:
- Chủ thể thỏa thuận ngoài thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án là người phải thi hành án và người khác thông qua giao dịch về tài sản đểchuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng về tài sản cho người khác Người phải thihành án là cá nhân, cơ quan, tố chức thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết địnhđược thi hành, được pháp luật thi hành án dân sự quy định các quyền và nghĩa vụ
để thi hành đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định Khi thực hiện các giao dịch đểtrốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì người phải thi hành án đã thực hiện khôngđúng nghĩa vụ của mình được pháp luật quy định
- Thời điểm thực hiện giao dịch về tài sản của người phải thi hành án trướckhi cơ quan thi hành án dân sự thụ lý thi hành án và sau thời điểm bản án, quyếtđịnh có hiệu lực pháp luật
- Khoản tiền thu được từ giao dịch về tài sản không được người phải thihành án sử dụng đế thi hành nghĩa vụ của mình và người phải thi hành án khôngcòn tài sản khác hoặc có tài sản khác nhưng không đủ đảm bảo thực hiện nghĩa vụthi hành án
1.2 Thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự thông qua các giao dịch chuyến giao quyền sờ hữu, quyền sú’ dụng tài sản
1.2.1 Quy định của pháp luật thi hành án dãn sự xác định các giao dịch trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự
Cơ sở pháp lý để cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành đối vớinhững bản án, quyết định mà người phải thi hành án thực hiện các giao dịch nhằmtrốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự được quy định tại Thông tư liên tịch số
Trang 1414/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC5: "kể từ thòi điểm có bản án, quyết
định sơ thâm mà người phái thi hành án bán, chuyển đổi, chuyến nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được đế thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Neu có tranh chấp thì Chấp hành viên hưởng dẫn đương sự thực hiện việc khỏi kiện tại Toà án đê bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình Het thời hạn
30 ngày, kể từ ngày được thông bảo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án
Căn cứ để kê biên tài sản thi hành án được áp dụng khi người phải thi hành
án có điều kiện về tài sản đề thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành Việckhông tự nguyện thi hành án thế hiện ở hành vi bán, chuyển đối, chuyển nhượng,tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cổ tài sản của mình cho người khác kê từ thờiđiêm có bản án, quyêt định sơ thâm mà không sử dụng tiền thu được để thi hànhán
Như vậy, giao dịch liên quan tài sản cùa người phải thi hành án gồm giaodịch nhằm mục đích để chấm dứt quyền sở hữu như bán, chuyển đổi, chuyểnnhượng, tặng cho về tài sản và giao dịch chưa dẫn đến việc chuyển giao quyền sởhữu tài sản như thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản
Đối với giao dịch chưa chuyển giao quyền sở hữu về tài sản của người phảithi hành án thì việc kê biên được thực hiện theo quy định vì vẫn còn là tài sản củangười phải thi hành án Tuy nhiên, đối với giao dịch đã chuyển quyền sở hữu củangười phải thi hành án thì việc kê biên tài sản lúc này đã không còn là tài sán củangười phải thi hành án mà tài sản đã chuyển giao quyền sở hữu từ người phải thihành án cho người khác Vì vậy, việc kê biên tài sản lúc này thì người sở hữu tài
5 Khoàn 1, Điều 6, Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 cùa
Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn de về thủ tục thi hành
án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.
Trang 15sản là người khác chứ không còn là người phải thi hành án trong khi chưa có căn
cứ pháp lý xác định giao dịch dân sự vô hiệu Do vậy giao dịch giữa người phảithi hành án với người khác được thực hiện kể từ khi có bản án, quyết định sơ thẩmvần diễn ra
Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một sổ điều của Luật THADS kế thừa các quy định củaThông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC và quy định cụthể hơn căn cứ đế kê biên tài sản khi người phải thi hành án có điều kiện về tài sản
để thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành
Nghị định 62/2015/NĐ-CP6 quy định “kê từ thòi điểm bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đôi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoan tiên thu được đê thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Khi kê biên tài sản, nếu có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự Trường họp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn Cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác thì tài sản đó bị kê biên, xử lý đế thi hành án; Chấp hành viên cỏ văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bổ giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó
Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổsung một sổ điều Nghị định số 62/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung khoản 1, Điều 24
như sau: “Trường hợp tài sản đã bị ảp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp
6 Khoản 1, Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phù quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS.
Trang 16khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành
án mà phát sinh các giao dịch liên quan đến tài sản đó thì tài sản đó bị kê biên,
xử lý để thi hành án Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bổ giao dịch đổi với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thấm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đổi với tài sản đó Trường hợp có giao dịch về tài sản mà người phải thi hành án không sử dụng toàn bộ khoản tiền thu được từ giao dịch
đó để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc có tài sản khác nhưng không đủ
đê bảo đảm nghĩa vụ thi hành án thì xử lý như sau:
a) Trường họp có giao dịch về tài sản nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điêu 75 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp cần tuyên
hố giao dịch vô hiệu hoặc yêu Cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp có giao dịch về tài sản kế từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên không kê biên tài sản mà thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự và cỏ văn bản thông bảo cho các cơ quan, tổ chức, cả nhãn có liên quan để phổi hợp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản Việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thâm quyền.
b) Trường hợp có các giao dịch khác liên quan đến tài sản mà không chuyển giao quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người khác thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản để thi hành án Quyền và lợi ích họp pháp của người tham gia giao dịch được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và các quy định của pháp luật có liên quan
Trang 17Quy định sửa đổi, bổ sung của Nghị định số 33/2020/NĐ-CP theo hướngcác giao dịch về tài sản kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luậtphân chia trường hợp người phải thi hành án có giao dịch về tài sản hoàn thànhviệc chuyển quyền sở hữu và chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu Căn cứvào thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản để cơ quan thi hành án dân sự tiếnhành kê biên hay không kê biên Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên tàisản đối với trường hợp có giao dịch nhưng chưa hoàn
Trang 18thành việc chuyên quyên sở hữu là phù hợp quy định chỉ kê biên, xử lý ‘7Ờ/ sản
của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ” 7
Trường họp giao dịch về tài sản đã hoàn thành việc chuyển nhượng quyền sởhữu thì cơ quan thi hành án không kê biên mà thông báo đế người được thi hành
án thực hiện quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Nếu người được thihành án không yêu cầu thì giao cho Chấp hành viên yêu cầu tòa án tuyên bố giaodịch đó là vô hiệu Luật THADS8 quy định “Trường hợp có căn cứ xác định giao
dịch liên quan đến tài sản thi hành ủn nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông hảo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên
hố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó Het thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông hảo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên
bố giao dịch đó vó hiệu yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó”
Tuyên bố giao dịch về tài sản của người phải thi hành án vô hiệu của tòa án
là cơ sở pháp lý để hủy bỏ giao dịch Hậu quả pháp lý được xử lý theo quy định
Bộ luật Dân sự năm 20159 là “Khi giao dịch dãn sự vô hiệu thì các bên khôi phục
lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường họp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giả thành tiền đê hoàn trả” Theo đó, tình trạng
pháp lý về tài sản đã giao dịch của người phải thi hành án được xác lập lại nhưban đầu là căn cứ để cơ quan thi hành án tiến hành các thủ tục xử lý về tài sản
Giao dịch dân sự vô hiệu có trường hợp liên quan đên người thứ ba ngaytình, quyền lợi của người thứ ba ngay tình được pháp luật báo vệ thừa nhận giá trịpháp lý của giao dịch hoặc là không thừa nhận giá trị pháp lý của giao dịch tùytrường hợp giao dịch và tài sản giao dịch
7 Khoàn 3, Điều 71 Luật THADS.
8 Khoăn 2, Điều 75 Luật THADS.
9 Khoản 3, Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trang 19Điều 133, 167 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau: “ Trường hợp giao
dịch dãn sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký
đã được chuyên giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực thực hiện với người thứ ba ngay tình vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được tài sản là động sản thông qua hợp đồng không có đền bù với ngưòí không có quyền định đoạt tài sản, nếu là họp đồng có đền bù thì trừ trường họp giao dịch liên quan đến tài sản là động sản bị lấy cắp, bị mất hoặc bị chiếm hữu ngoài ỷ chí của chủ sở hữu 10 11 Trường hợp tài sản đã được đãng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyến giao cho người thứ ba ngay tình bằng một giao dịch dân sự và người thứ ba ngay tình căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không vô hiệu Trường hợp tài sản phủi đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dãn sự với người thứ ba vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định là chủ sở hữu tài sản nhung sau đó không phải
là chủ sở hữu do bản án, quyết định bị hủy, sửa ỉ0 ”.
Như phân tích ở trên, việc Tòa án tuyên bố giao dịch liên quan đến tài sảnthi hành án trốn tránh nghĩa vụ thi hành án là vô hiệu là cơ sở pháp lý để cơ quanthi hành án tổ chức thi hành bản án mà quan trọng nhất là việc xử lý tài sản đê thihành án nhưng trong trường hợp phát sinh liên quan đên quyên lợi của người thứ
ba ngay tình được pháp luật bảo vệ thì giao dịch với người thứ ba ngay tình không
vô hiệu Như vậy, tình trạng pháp lý về tài sản đã được người phải thi hành ánthực hiện giao dịch không thể xác lập lại như ban đầu thì cơ quan thi hành dân sựkhông thể xử lý tài sản của người phải thi hành án Nếu giải quyết theo hướng trịgiá thành tiền để hoàn trả thì cũng không giải quyết được việc thi hành án vìngười phải thi hành án đã né tránh trách nhiệm thi hành bằng cách tẩu tán tài sản,
10 Khoăn 1, Điều 133 và Điều 167 Bộ luật Dân sự 2015.
11 Khoản 2, Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 20khi phát sinh thêm trách nhiệm trả tiền trong giao dịch dân sự bị tòa án tuyên là
vô hiệu thì không đảm bảo được việc họ tự nguyện thi hành trách nhiệm củamình
1.2.2 Thục tiễn áp dụng pháp luật trong thi hành án dân sự đối với các giao dịch chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản để trốn tránh nghĩa
vụ thi hành án dân sự
Hiện nay tình trạng người phải thi hành án trốn tránh nghĩa vụ thi hành ándân sự thông qua các giao dịch chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng về tàisản là tương đối phổ biến Tuy nhiên, quy định pháp luật còn nhiều vướng mắcnên việc tổ chức thi hành bản án, quyết định cùa cơ quan thi hành án dân sự cũngnhư việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích đương sự củatòa án có nhiều quan điểm khác nhau
Vụ án tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vôhiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là Công
ty trách nhiệm hữu hạn H, bị đơn là bà Lê Thị c và ông Nguyễn Ngọc Kh do Tòa
án nhân dân (TAND) hai cấp tỉnh Bình Phước thụ lý như sau:
Theo Bản án số 06/2014/KDTM-ST ngày 30/9/2014 của TAND thị xã
Đ, tỉnh Bình Phước đã có hiệu lực pháp luật của TAND thị xã Đ, tỉnh Bình Phướcthì bà Lê Thị c phải trả cho Công ty H sô tiên 310.804.855 đông Quá trình tổchức thi hành án, Chi cục THADS thị xã Đ xác minh điều kiện thi hành án của bà
Lê Thị c có quyền sử dụng đất 296,2 m2 nhưng vào ngày 15/10/2014 bà c đã kýhợp đồng chuyển nhượng quyền sừ dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho ôngNguyễn Ngọc Kh
Chi cục THADS thị xã Đ thông báo cho Công ty H biết để yêu cầu Tòa ántuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đấtgiữa bà c và ông Kh vô hiệu Công ty H yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà c và ông Kh và văn bản công chứngcủa Văn phòng công chứng B công chứng họp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất là vô hiệu
Trang 21Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 29/5/2018 cùa TAND thị
xã Đ quyết định không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của Công ty H Hội đồngxét xử phúc thẩm nhận định sau khi Bản án số 06/2014/KDTM-ST ngày30/9/2014 có hiệu lực pháp luật thì đến ngày 03/12/2015 (sau 14 tháng 03 ngày)Chi cục THADS thị xã Đ mới nhận được đơn yêu cầu thi hành án của Công ty H.Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại phía công ty Hkhông yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản làquyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà c Do vậy ngày 15/10/2014,khi bà c chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng công chúng B côngchúng là phù họp pháp luật được quy định tại Điều 4, 17 Bộ Luật dân sự năm
2005 và Điều 35, 36, 41 Luật Công chứng năm 2006 Như vậy việc ông Kh nhậnchuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà c là hợp pháp Tại thời điểm bà c chuyểnnhượng quyền sử dụng đất chưa có cơ quan có thấm quyền nào kê biên, cấmchuyến dịch tài sản còn ông Kh là người mua ngay tình có nhu cầu sử dụng đất.Bản án dân sự phúc thẩm số
Trang 22111/2018/DS-PT ngày 30/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước12 tuyênbác kháng cáo, không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của Công ty H.
Theo nội dung Bản án13 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minhxét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tàisản gắn liền với đất do Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2014/DS-ST ngày28/10/2014 của TAND tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo Người có quyền lợi vànghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Yen H có yêu cầu độc lập hủy một phần Hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 08, quyển số01/2010TP-CC-SCC/HĐGD cùa Văn phòng công chứng M, phường 1, thành phố
M, tỉnh Tiền Giang chứng thực vào ngày 01/7/2010 giữa bà Đồ Thị D và bà ĐinhThị Thanh T để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bà D đối với khoản nợ của bàH
Nội dung liên quan tranh chấp giữa bà H và bà D do vào ngày 02/4/2010
bà D có mượn của bà H số tiền là 1.355.000.000 đồng, đến hẹn là ngày03/01/2011 nhưng bà D không thanh toán nên bà H đã khởi kiện Ngày27/04/2011 TAND huyện G, tỉnh Tiền Giang đã ban hành quyết định công nhận
sự thỏa thuận thành của đương sự Theo đơn yêu cầu của bà H, Chi cục THADShuyện G đã thụ lý thi hành án và ngày 29/4/2011 Ngày 07/6/2011, Chi cụcTHADS huyện G ra quyết định cưỡng chế thi hành án bằng biện pháp kê biên tàisản đất diện tích 432,1 m2 và căn nhà tọa lạc trên đất Tài sản trên bà D đã tặngcho con là Đinh Thị Thanh T theo họp đồng công chứng được công chúng ngày01/7/2010 tại Văn phòng công chứng M nhưng chưa làm thủ tục đăng ký tại Vănphòng đăng ký quyền sử dụng đất
12 Bàn án dân sự phúc thẩm số 111/2018/DS-PT ngày 30/10/2018 về việc “tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố vãn bán công chứng vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhặn quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
13 Bàn án dân sự phúc thẩm số 221/2015/DS-PT ngày 31/12/2015 về việc “tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sàn gắn liền với đất” của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 23Bản án sơ thẩm, phúc thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu độc lập của bà H hủymột phần Họp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 08,quyển số 01/2010TP-CC-SCC/HĐGD của Văn phòng công chứng M, phường 1,thành phố M, tỉnh Tiền Giang chứng thực vào ngày 01/7/2010 giữa bà ĐỖ Thị D
và bà Đinh Thị Thanh T để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bà D đối với khoản
nợ của bà H
Hội đồng xét xử phúc thấm nhận định bà D mượn tiền bà H và ngày02/4/2010 và cam kết đến ngày 03/01/2011 trả nợ nhưng ngày 01/7/2010 đã làmhợp đồng tặng cho con ruột toàn bộ tài sán trong khi tài sản đang thế chấp tạingân hàng và cho đến thời điểm xét xừ phúc thẩm vẫn không trả cho bà H đồngnào nên có cơ sở xác định đây là hành vi tấu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụtrả nợ của bà H
Quan điếm của tác giả:
Tác giả thống nhất quan điểm nhận xét của Hội đồng xét xử phúc thẩmTAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để chấp nhận yêu cầu độc lập của bàPhạm Thị Yen H
Đổi với kết quả xét xử cùa TAND hai cấp tỉnh Bình Phước bác yêu cầukhởi kiện của Công ty H, nhận định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đấtcủa bà c cho ông Kh là hợp pháp vì thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đấtchưa có cơ quan có thẩm quyền nào kê biên, cấm chuyển dịch tài sản nên Vănphòng công chứng xác nhận giao dịch chuyển nhượng tài sản giữa bà c và ông Khđối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất là phù hợp pháp luật là chưaxem xét đánh giá toàn diện vụ án
Trang 24Bởi vì, bà c là người phải thi hành án trả tiên cho Công ty H nhưng sau khiBản án số 06/2014/KDTM-ST ngày 30/9/2014 có hiệu lực pháp luật đến ngày15/10/2014 thì bà c chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Kh nhưng không
sử dụng số tiền nhận chuyển nhượng để thi hành nghĩa vụ trả tiền cho Công ty H
Từ phân tích vụ án, tác giả nhận thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất giữa bà c và ông Kh là không họp pháp vì nhằm mục đích trốn tránhnghĩa vụ thi hành án, thuộc trường hợp bị kê biên xử lý theo Nghị định số62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015
Từ tình huống này cho thấy các quy định pháp luật vẫn còn nhiều bất cậptrong việc xác định giao dịch nhàm mục đích trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân
sự Trong quá trình xét xử, Tòa án căn cứ vào quy định của các luật chuyên ngànhnhư Luật công chứng, Luật đất đai và quy định của Bộ Luật dân sự để xác địnhgiao dịch dân sự là họp pháp hay không họp pháp Trong quá trình xét xử có nơivận dụng nhũng quy định Luật THADS và các văn bản hướng dẫn việc kê biên tàisản xử lý để thi hành án để xem xét bản chất của giao dịch là vô hiệu nhưng cótrường hợp không căn cứ vào các quy định này để xem xét Vì vậy, có trường họptưong tự về tình huống pháp lý nhung kết quả xét xử khác nhau dẫn đến hậu quảpháp lý khác nhau và kết quả tổ chức thi hành án cũng khác nhau
Trường hợp đã có cơ sở xác định giao dịch về về tài sản nhằm mục đíchtrốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự nhưng việc tổ chức thi hành của cơ quanthi hành án dân sự gặp nhiều khó khăn Chi cục THADS huyện Châu Thành, BếnTre tổ chức thi hành Quyết định14 của Tòa án nhân dân Thị xã Long Khánh, tỉnhĐông Nai và Quyêt định ủy thác sô 26/QĐ-CCTHA ngày 16/6/2014 của Chi cụcTHADS huyện Long Khánh, tỉnh Đồng Nai buộc ông Bạch Văn Lừ và bà Lê ThịĐẹp phải liên đới hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Đồng số tiền 74.000.000 đồng vàtiền lãi suất chậm thi hành án
14 Quyết định cồng nhận sự thoa thuận của các đương sự số 14/2013/QĐST - TCDS ngày 12/3/2013 của Tòa án nhân dân Thị xà Long Khánh, tinh Đồng Nai.
Trang 25Kết quả xác minh điều kiện thi hành án thể hiện ông Bạch Văn Lừ đứngtên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 100, tờ bản đồ sổ 16, diện tích1014,9 m tọa lạc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, Ben Tre nhưng đã chuyểnnhượng cho bà Bạch Thị Tây (là em ruột ông Lữ) theo hợp đồng chuyển nhượngquyền sử dụng đất được chứng thực ngày 12/3/2013 (cùng ngày với Quyết định
số 14/2013/QĐST-TCDS ngày 12/3/2013 của Tòa án nhân dân Thị xã LongKhánh) và được úy ban nhân dân huyện Châu Thành cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ngày 12/4/2013 nhưng ông Lữ không sử dụng khoản tiền chuyểnnhượng từ quyền sử dụng đất nêu trên để thi hành án và hiện ông Lừ, bà Đẹpkhông còn tài sản nào khác để đảm bảo thi hành án
Xác định giao dịch chuyển quyền sử dụng đất từ ông Lữ và bà Đẹp để tẩután tài sản mà người được thi hành án không yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vôhiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan giao dịch vô hiệutheo thông báo của Chấp hành viên Ngày 08/3/2017, Chấp hành viên gửi đơn yêucầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tuyên bố họp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lữ và bà Tây vô hiệu
Ngày 27/02/2018, TAND huyện Châu Thành có Quyết định15 đình chỉ yêucầu tuyên bố giao dịch vô hiệu vì theo Nghị định số 62/2015/NĐ-CP15
15 Quyết định số 15/2018/QĐST-DS của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, Ben Tre.
Trang 2615 Khoản 1, Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 cua Chính phù quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều cùa Luật THADS.
quy định “Trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khân cấp
tạm thời, biện pháp đảm bảo thỉ hành án mà tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyên nhượng, thế chấp, cầm cổ cho người khác thì tài sản đỏ bị kê biên, xử lý
để thi hành án; Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bổ giao dịch đồi với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thâm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối vói tài sản đó” Vì vậy, Chấp hành viên chỉ có quyền yêu
cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu khi cơ quan thi hành án dân sự đã áp dụng biệnpháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp đảm bảo thi hành án,biện pháp cưỡng chế thi hành án mà sau đó người phải thi hành án chuyểnnhượng quyền sử dụng đất cho người khác Trường hợp này do Chấp hành viênchưa áp dụng các biện pháp nêu trên nên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân
sự vô hiệu là chưa phù hợp quy định pháp pháp luật
Không đồng ý với việc đình chỉ yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu củaTAND huyện Châu Thành Cục THADS yêu cầu TAND tỉnh Bốn Tre có ý kiếnvới quan điểm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lữ cho bàTây nhằm mục đích tẩu tán tài sản, người phải thi hành án chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho em của mình và việc chuyển nhượng sau khi có quyết định củatòa án có hiệu lực Mặt khác, tài sản là quyền sử dụng đất không còn đứng tên ông
Lữ mà đã chuyến sang bà Tây nên Chấp hành viên không thể cưỡng chế quyền sửdụng đất của bà Tây
Quan điểm của Cục THADS không được TAND tỉnh chấp nhận và thốngnhất việc đình chỉ yêu cầu tuyên bổ giao dịch vô hiệu của TAND huyện ChâuThành Trên cơ sở trao đổi quan điểm của Chi cục THADS về việc tiến
Trang 27hành kê quyên sử dụng đât, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đât đai huyện ChâuThành có quan điểm không thể thu hồi quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Tây vì đãđuợc cấp đúng theo quy định16
Từ tình huống trên, tác giả nhận thấy, người phải thi hành án đã chuyển
nhượng tài sản và hoàn tất thủ tục chuyển nhượng sau khi bản án có hiệu lực phápluật nhưng người phải thi hành án đà không dùng khoản tiền đó để thi hành án nên
có cơ sở xác định giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án theo Nghị định
số 62/2015/NĐ-CP
Quan điểm của TAND huyện Châu Thành đình chỉ yêu cầu tuyên bố giaodịch vô hiệu của Chấp hành viên do Chấp hành viên chưa áp dụng biện pháp ngănchặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp
cường chế thi hành án là chưa phù hợp vì đây là trường hợp đã áp dụng các biện
pháp này mà tài sản vẫn chuyển nhượng cho người khác tức là cơ quan thi hành
án dân sự chưa áp dụng biện pháp hạn chế quyền tài sản của người phải thi hànhán
Tuy nhiên, Chi cục THADS huyện Châu Thành cho rằng không tiến hành
kê biên mà yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch là vô hiệu trước cũng chưa phù hợpvới quy định Nghị định số 62/2015/NĐ-CP17: “ẤV từ thời điểm bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật, nếu người phủi thi hành án chuyển đối, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vân bị kê biên, xử lý đê thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy đinh khác Khi kê biên tài sản, nếu
có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông bảo cho đương sự, người có
16 Khoản 5, Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phù quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai năm 2013.
17 Khoản 1, Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 cua Chính phù quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều cùa Luật THADS.
Trang 28tranh chấp thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật thi hành án dân sự”.
Trường hợp này, người phải thi hành án đã chuyển nhượng quyền sử dụngđất cho người khác và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất Theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Việc chuyên quyền sở
hữu đối với bất động sản có hiệu lực kê từ thời điểm đăng ký quyền sờ hữu ” 18 ,
“đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyên cho bên mua kể từ thòi điểm hoàn thành thủ tục đăng
ký quyền sở hữu đối với tài sản Ể?ó”19; đồng thời “việc chuyển quyền sử dụng đất
có hiệu lực từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định về đất đai” 20 Vì
vậy, nếu Chi cục THADS huyện Châu Thành tiến hành kê biên, xử lý tài sản đểthi hành án sẽ trái với quy định Khoản 3, Điều 71 Luật THADS chỉ được kê biên
xử lý tài sản của người phải thi hành án
Mặt khác, để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi và hủy giấychứng nhận đã cấp cho bà Tây theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự làkhông có cơ sở vì không thuộc trường hợp thu hồi giấy chứng nhận quyền sửdụng đất
Theo quy định Luật Đất đai thì Nhà nước chỉ thu hồi giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất đã cấp trong các trường họp:21
“a) Nhà nước thu hôi toàn bộ diện tích đát trên Giây chứng nhận đã cấp; b) Cấp đổi Giấy chúng nhận đã cấp; c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng kỷ biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; d) Giấy chúng nhận đã cấp không đủng thâm quyền, không đủng đổi tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đủng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng
18 Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Dân sự năm 2015.
19 Khoản 2, Điều 439 Bộ luật Dân sự năm 2015.
20 Điều 692 Bộ luật Dân sự năm 2015.
21 Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013.
Trang 29đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai ”
Nghị định số 33/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 62/2015/NĐ-CP quy định cụ thể và tương thích với các quy định của pháp luậtdân sự khi phân biệt trường hợp có giao dịch về tài sản nhưng chưa hoàn thànhviệc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì cơ quan thi hành án dân sự được tiến hành
kê biên, xử lý tài sản theo quy định
Trường hợp có giao dịch về tài sản kể từ thời điểm bản án, quyết định cóhiệu lực pháp luật nhung đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì cơquan thi hành án dân sự không tiến hành kê biên tài sản mà thực hiện thông báocho người được thi hành án để thực hiện quyền yêu cầu Tòa án xem xét giao dịch
đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thấm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giaodịch đó Trở lại tình huống tố chức thi hành án của Chi cục THADS huyện ChâuThành, tỉnh Ben Tre thì có cơ sở giải quyết xung đột quan điểm là tòa án tiến hànhthụ lý yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Lữsang bà Tây vô hiệu là căn cứ để tổ chức thi hành án
Trang 30Tuy nhiên, theo quy định22 thì Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch vô hiệu và thông báo cho các
cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan để phổi hợp tạm dừng việc đăng ký, chuyểnquyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng Như đã phân tích, để cơ quan có thẩmquyền thực hiện việc thu hồi và hủy giấy chứng nhận đã cấp cho bà Tây theo yêucầu của cơ quan thi hành án dân sự là không có cơ sở vì không thuộc trường hợpthu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nếu Chấp hành viên chọn thực hiệntheo quy định này thì không khả thi do vướng các quy định khác của pháp luật mà
cụ thế là quy định Luật Đất đai
1.3 Kiến nghị
Qua nghiên cứu quy định pháp luật và các trường hợp thực tiễn giải quyếtliên quan các thỏa thuận trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự thông qua các giaodịch tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tác giảnhận thấy các thỏa thuận này là trái luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích họp phápcủa người được thi hành án do người có nghĩa vụ thực hiện nhằm mục đích trốntránh thực hiện nghĩa vụ của mình Quy định của pháp luật thi hành án dân sự là
cơ sở ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản của người phải thi hành án Tuy nhiên, vẫncòn bộc lộ nhiều hạn chế như đã phân tích ở nội dung trên từ đó quan điểm trongviệc nhận định giao dịch họp pháp hay không họp pháp liên quan đến hành vi trốntránh nghĩa vụ thi hành án dân sự thông qua các họp đồng mua bán, tặng cho tàisản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nhưng không cómối liên hệ Cơ quan thi hành án dân sự không có thẩm quyền để kết luận mộtgiao dịch trốn tránh nghĩa vụ thi hành án Thẩm quyền thuộc về tòa án, tuy nhiênquan điểm của mỗi Hội đồng xét xử cũng khác nhau trong việc vận dụng quy địnhcủa luật và không phải trường hợp nào cũng áp dụng pháp luật thi hành án dân sự,
cụ thể là Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ CP và Nghị định số 33/2020/NĐ
-CP sừa đổi bổ sung một số điều của 62/2015/NĐ - -CP trong việc kê biên, xử lý tài
22 Khoản 2, Điều 75 Luật THADS.