CHLONG 2: PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỤC TUYẾN THEO HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TÙ XA TẠI VIỆT NAM...332.1.. hoặc mua sắm tại website cung cấp dịch vụ thươ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐAI HOC KINH TẾ - LUẬT
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẢN KHOA HOC: PGS.TS NGUYỄN NGOC ĐIÊN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Huỳnh Như, mã sô học viên là c 18610209, là học viên lớp Cao họcLuật Kinh tế Khóa 2018, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố
TP HÒ CHÍ MINH - 2021
Lĩ
Trang 2Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Bảo vệ quyền lọi nguôi tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo họp đồng giao kết từ xa” (Sau đây
gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong luận văn này là kết quảcủa quá trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dần của giảng viên hướng dẫn khoa học
- PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện Trong luận văn có trích dẫn nhiều điều luật hiện hành; sửdụng một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả cũng như tồng hợp tri thức
từ những công trình nghiên cứu đã công bố Các thông tin này đều được trích dần nguồn
cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các thông tin được sử dụng trong Luận văn làhoàn toàn khách quan và trung thực
TÁC GIẢ
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỎ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SÓ LÝ LUẬN CHƯNG VÈ BÃO VỆ QUYÈN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MƯA SẤM TRỰC TUYẾN THEO HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TÙ XA 8
1.1 Khái quát chung về người tiêu dùng và vấn đề báo vệ người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến 8
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng 8
1.1.2 Vấn đề báo vệ người tiêu dùng 10
1.1.2.1 So lược về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tạiViệt Nam 10
1.1.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 11
1.1.2.3 Các quyền co bản của người tiêu dùng 13
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm về giao dịch mua sắm trực tuyến 15
1.2 Khái quát chung về hợp đồng giao kết từ xa 17
1.2.1 Khái niệm hợp đồng giao kết từ xa 17
1.2.2 Những đặc trung của hợp đồng giao kết từ xa 18
1.2.2.1 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng 19
1.2.2.2 Đối tượng, hình thức hợp đồng, phương tiện giao kết hợp đồng 19
1.2.2.3 Trình tự giao kết họp đồng 20
1.3 Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa 25
1.4 Một số quy định của Liên minh Châu Âu về hợp đồng giao kết từ xa 26
Kết luận Chương 1 32
Trang 5CHLONG 2: PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỤC TUYẾN THEO HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TÙ XA TẠI VIỆT NAM 33
2.1 Thực trạng báo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực
tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa theo pháp luật Việt Nam 33
2.1.1 Biện pháp phòng ngừa 34
2.1.1.1 Vấn đề cung cấp thông tin 34
2.1.1.2 Hình thứchợp đồng giao kết từ xa 36
2.1.2 Biệnpháp khắc phục 37
2.1.2.1 Quyền thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng của người tiêu
dùng 38
2.1.2.2 Quyền rút lui khỏi hợp đồng của người tiêu dùng 39
2.1.2.3 Bảo vệ quyền lời người tiêu dùng khi người tiêu dùng phát hiện
hàng hóa bị khuyết tật, hàng hóa không đảm bảo chất lượng sau khi đã sử dụng 422.1.3 Thực trạng chế tài xử lý hành vi vi phạm bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến 45
2.1.3.1 Chế tàihành chính 45
2.1.3.2 Chế tàihình sự 49
2.1.3.3 Chế tài dân sự 50
2.1.4 Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng
trong giao dịch mua sắm trực tuyến 52
Trang 62.2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa 602.2.1 Định hướng chung trong hoàn thiện pháp luật 60
Trang 72.2.1.1 Bảo vệ quyên lợi người tiêu dùng trong các giao dịch mua săm trực
tuyến với mức độ không thấp hơn so với các phương thức khác 60
2.2.1.2 Tăng cường nhiệm vụ quản lý Nhà nước đổi với giao dịch mua sắm trực tuyến 61
2.2.2 Kiến nghị cụ thể đối với các quy định pháp luật 62
2.2.2.1 Mở rộng phạm vi điêu chỉnh, đôi tượng áp dụng đê bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến xuyên biên giới 62
2.2.2.2 Tăng cường chế tài xử lý vi phạm nhằm đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa 63
2.2.2.3 Quy định về trách nhiệm cúa sàn thương mại điện tử trong việc thực ỉ r hiện giao dịch mua săm trực tuyên 64
2.2.2.4 Vê quyên rút lui khỏi hợp đông của người tiêu dùng 64
2.2.2.5 về quy trình thủ tục rút gọn 65
Kết luận Chuông 2 67
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 8PHẦN MỎ ĐẦU
1 Tính câp thiêt của đê tài
Hiện nay, mua sắm trực tuyến đã trở nên rất quen thuộc với người tiêu dùng trên thếgiới và ngày càng phổ biến tại Việt Nam Đây là hình thức mua sắm chủ yếu thông qua
phương tiện điện tử' kết nối internet1 2, đáp ứng nhu cầu mua sắm hiện đại, mới mẻ,thuận tiện cùa người tiêu dùng Thông qua hình thức giao dịch mua sắm trực tuyến này,
người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm hiếu được các thông tin về sản phẩm3, hàng hóa4
mình muốn mua và tiếp cận từ nhiều nguồn cung cấp thông tin đa dạng như: tivi;website thương mại điện tử bán hàng5, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Instagram, TikTok, ) hoặc mua sắm tại website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử6 thông qua các
sàn giao dịch thương mại điện tử như: Lazada.vn, Shopee.vn, Sendo.vn, Tiki.vn, Không thể phủ nhận những ưu điểm mà hình thức giao dịch mua sắm trực tuyến nàymang lại cho người tiêu dùng hiện nay với nhiều sự tiện lợi như: tiết kiệm thời gian,giao dịch nhanh chóng, dễ dàng tiếp cận thông tin cũng như tham khảo các ý kiến đánhgiá sản phẩm trước khi mua, Với nhiều ưu điểm trên, mua sắm trực tuyến đã trở thànhhình thức mua sắm rất phổ biến trên thế giới và trong vài năm trớ lại đây, hình thức mua
sắm này ở Việt Nam đã có sự phát triên vượt bậc, thê hiện ở chât lượng dịch vụ cũng
như phương thức giao dịch ngày càng được cải thiện hơn.Hợp đồng giao kết từ xa là họp đồng đặc trưng trong giao kết giữa tổ chức, cá
1 Khoản 10, Điều 4, Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định: "Phương tiện điện từ lă phương tiện hoạt động dựa trên
công nghệ điện, điện từ, kỹ thuật so, từ tính, truyền dan không dây, quang học, điện tù’ hoặc công nghệ tương tự”.
2 Theo Bách khoa toàn thư mờ Wikipedia, Internet (thường được đọc theo khâu âm tiếng Việt là "in-tơ-nét") là một hệ thống thông tin toàn cầu có thê được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau.
Hệ thống này truyền thông tin theo kiêu nối chuyên gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đà được chuẩn hóa (giao thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn cùa các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, cùa người dùng cá nhân và các chính phù trên toàn cầu.
3 Khoản 1, Điều 3 Luật Chât lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 quy định: "San phàm là kết quá cùa quá trình sán
xuất hoặc cung ứng dịch vụ nham mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng”.
4 Khoản 1, Điêu 3 Luật Chất lượng sàn phẩm, hàng hóa 2007 quy định: "Hàng hóa ỉà sán phẩm được đưa vào thị
trường, tiêu dùng thông qua trao đôi, mua bán, tiếp thị
5 Khoản 1, Điều 25, Nghị dịnh số 52/2013/NĐ-CP quy định: “Website thương mại điện tử bán hàng là website
thương mại điện từ do các thương nhân, tô chức, cá nhân tự thiết lập đê phục vụ hoạt động xức tiên thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cùa mình ”.
6 Khoản 2, Điều 25, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định: "Website cung cấp dịch vụ thương mại điện từ là
website thương mại điện từ do thương nhản, tô chức thiêĩ lập đê cung cáp môi trường cho các thương nhân, tô chức, cá nhân khác tiên hành hoạt động thương mại Website cung cap dịch vụ thương mại điện tử bao gôm các loại sau: Sàn giao dịch thương mại điện tử; ”.
Trang 9nhân kinh doanh (bên bán) với người tiêu dùng (bên mua) cho các giao dịch mua sắmtrực tuyến, được thiết lập từ xa thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại Thực tế,hiện nay, mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa vẫn còn tiềm ấn nhiều rủi ro,ánh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng với hình thức ngày càng phức tạp hơn như:mua sắm hàng giả, hàng nhái; hàng không đúng với quảng cáo về hình ảnh, màu sắc,cam kết chất lượng, xuất xứ hàng hóa; các vấn đề liên quan đến bảo hành, đổi trả sảnphẩm, Và một số vấn đề hạn chế như: cách thức mua hàng qua mạng vẫn còn phức tạpvới nhiều người tiêu dùng; việc đổi trả sản phẩm, hàng hóa khi bị lồi, hàng hóa khôngđúng như thông tin đã cung cấp, vần còn gây nhiều khó khăn Bên cạnh đó, hiện naycác quy định pháp luật, hành lang pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch muasắm trực tuyến theo họp đồng giao kết từ xa vần còn một số bất cập, chưa theo kịp với
xu hướng Vì vậy, tác giả xin chọn đề tài: “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
giao dịch mua sấm trực tuyến theo hợp dồng giao kết từ xa ” để nghiên cứu và tìm
hiểu, với mong muốn làm rõ thêm quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng và đề xuất, kiến nghị những bất cập còn tồn tại về vấn đề này theo pháp luậtViệt Nam bằng việc so sánh và học tập một số nước trên thể giới, đặc biệt là pháp luậtLiên minh Châu Âu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng; tăng cường hiệuquả quản lý Nhà nước, nâng cao trách nhiệm cùa tổ chức, cá nhân sàn xuất, kinh doanhhàng hoá, dịch vụ; Việt Nam đã ban hành văn bản pháp luật đầu tiên để điều chỉnh vấn
đề bảo vệ người tiêu dùng là Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng số ƯBTVQH10 ngày 27/04/1999 (Pháp lệnh) Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường ngày cànghội nhập và phát triển, các quy định trong Pháp lệnh và các văn bản liên quan đã dầnbộc lộ những điểm bất cập và chưa thực sự hiệu quả Do đó,
13/1999/PL-Luật Bảo vệ quyên lợi người tiêu dùng năm 2010 (13/1999/PL-Luật sô 59/2010/QH12) đã đượcQuốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 và chính thức
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 Ngày 27 tháng 10 năm 2011, Chínhphủ đã ban hành Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Trang 10Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Đồ Thị Huyền Thanh
(2014), Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử,
Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM); Phạm Ngọc Hân
(2018), Pháp luật về giao kết họp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam, Luận văn thạc
sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM); Bùi Thị Phương Loan (2017), Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hợp đồng giao kết từ xa, Luận văn thạc sĩ, Trường
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh,
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu khoa học, bài viết học thuật trên lànhững tài liệu vô cùng quan trọng giúp tác giả có thêm thông tin hữu ích phục vụ chonghiên cứu luận văn Tuy nhiên, những nghiên cứu về cơ chể bào vệ người tiêu dùngtrong từng lĩnh vực cụ thề vẫn chưa nhiều, đặc biệt trong giao dịch mua sắm trực tuyếntheo hợp đồng giao kết từ xa đang vô cùng sôi nổi trên thị trường thương mại điện tửnhư hiện nay Thực trạng xâm phạm quyên lợi người tiêu dùng vân phô biến ở nhiềucấp độ và ngày càng diễn biển phức tạp Cơ chế, biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêudùng chưa đủ mạnh, kịp thời, làm chồ dựa tin cậy cho người tiêu dùng đấu tranh bảo vệquyền lợi của mình Do đó, tác giả hướng đến nghiên cứu, phân tích về bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng và tập trung vào đối tượng người tiêu dùng trong giao dịch mua sắmtrực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa, để góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền
Trang 11lợi người tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay
3 Mục đích, đôi tượng và phạm vi nghiên cứu của đê tài a) về mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng đến 03 mục tiêu chính, cụ thểnhư sau:
Thứ nhât: Nghiên cứu các vân đê, những nội dung lý luận chung vê bảo vệquyên lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua săm trực tuyên theo hợp đông giao kết từxa;
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tronggiao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa tại Việt Nam;
Thứ ba: Góp phân đê xuât, kiên nghị một sô vân đê nhăm hoàn thiện pháp luậtbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay, nâng cao hiệu quả bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từxa
Mục đích nghiên cứu đề tài hướng đến làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng phápluật điều chinh vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, cụ thể là bảo vệ người tiêu dùng trướchành vi vi phạm theo họp đồng giao kết từ xa trong giao dịch mua sắm trực tuyến để từ
đó đưa ra những bất cập của các quy định hiện hành Bên cạnh đó,
Trang 12luận văn cũng sẽ so sánh, đôi chiêu những quy định của pháp luật Liên minh Châu Âu
có liên quan nhằm rút ra hướng quy định mới, phù hợp cho Việt Nam
Đế đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:
- Nghiên cứu các vân đê vê người tiêu dùng, vê hoạt động bào vệ người tiêu
dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa;
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định về hành vi vi phạm hợp
đồng giao kết từ xa; thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao
dịch mua săm trực tuyên hiện nay;
- Nghiên cứu, đề ra một số khuyến nghị nhàm hoàn thiện co chể bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa,
b) về đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo họp đồng giao kết từ xa,những quan điểm về bảo vệ người tiêu dùng của một số nước tiên tiến trên thế giới cóliên quan đến giao dịch mua sắm trực tuyến Đặc biệt, đề tài hướng đến người tiêu dùng
là những người trực tiếp mua và sử dụng hàng hóa thông qua các kênh giao dịch muasắm trực tuyến, cụ thể cả bên mua và bên bán đều sử dụng internet hoặc điện thoại đểtrao đổi thông tin, tiến hành các phương thức giao dịch
c) về phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành liên quanđến Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ luật dân sự, và một số văn bàn liênquan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch mua sắm trực tuyếnthông qua họp đồng giao kết từ xa, đặc biệt là họp đồng giao kết từ xa bằng phương tiệnđiện tử - đặc trưng trong giao dịch mua sắm trực tuyến Đồ tài không tập trung nghiêncứu sâu đên các loại hợp đông thương mại điện tử Đông thời, nghiên cứu thực trạng
Trang 13xâm phạm và mức độ bảo vệ người tiêu dùng trong thực tiễn tại Việt Nam và các quyđịnh có liên quan theo pháp luật Liên minh Châu Âu nhằm đề xuất định hướng hoànthiện.
4 Phuong pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài không thể tách rời khỏi nguyên lý chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Triết học Mác-Lê Nin, cụ thể luận văn sử dụngcác phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật thông qua các vụ việc
trong thực tế cuộc sống tại Việt Nam; giữa các quy định của pháp luật Việt Nam vớipháp luật của một số nước trên thế giới về quy định bảo vệ quyền lợi NTD và các kháiniệm có liên quan đến bảo vệ NTD trong giao dịch mua sắm trực tuyến; từ đó giải quyếtcác vấn đề như tính thông nhất trong các quy định pháp luật hiện hành, tính phù hợp củapháp luật nước ta với pháp luật Liên minh Châu Âu;
- Phương pháp phân tích luật viết, luận văn sẽ làm rõ các quy định của pháp luật
và phân tích các tài liệu tham khảo được công bố chính thức trong nước và nước ngoài;
- Phương pháp tổng hợp các quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng đế đề
xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch mua sắmtrực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa
Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm hiểu, sưu tầm, thống kế các số liệu thực tế và đánhgiá, phân tích những số liệu liên quan nhằm có cái nhìn khách quan về thực trạng côngtác giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến
Trang 145 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- về iý luận: Luận văn sẽ đi vào phân tích và đánh giá các quy định pháp luật
liên quan đến đề tài theo quy định của pháp luật Việt Nam; học hởi kinh nghiệm phápluật của Liên minh Châu Âu; phân tích và tìm hiểu những vấn đề thiếu sót của pháp luậttrong việc giải quyết các vụ việc có liên quan đến hành vi xâm phạm quyền lợi ngườitiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến Kết quả cúa nghiên cứu sẽ là cơ sở lýluận cho việc đưa ra những kiến nghị nhằm đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, cơ chếbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng nói riêng trong giao dịchmua sắm trực tuyến
- về thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng vi phạm quyền lợi người tiêu
dùng và việc áp dụng pháp luật liên quan đến quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam
và thế giới Luận văn chỉ ra những bất cập của quy định pháp luật hiện hành trước yêucầu thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu hữu ích đối với học viên, sinh viênchuyên ngành luật, luật kinh tế
6 Bố cục đề tài
Luận văn được chia thành 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận.Trong đó, phần nội dung bao gồm 02 chương:
Chương 1: Một số lý luận chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao
dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa
Chưong 2: Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm
trực tuyến theo họp đồng giao kết từ xa tại Việt Nam
Trang 15CHUÔNG 1: MỘT SÓ LÝ LUẬN CHUNG VÈ BẢO VỆ QUYÈN LỢI NGƯỜI TIÊU DUNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẤM TRỤC TUYEN
THEO HỢP ĐÒNG GIAO KÉT TÙ XA 1.1 Khái quát chung về người tiêu dùng và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng (NTD) luôn là một lực lượng đôngđảo, quan trọng, là động lực góp phần phát triền của quá trình sản xuất, kinh doanh, thúcđấy tăng trưởng kinh tế - xã hội của mồi quốc gia Với nhu cầu và thị hiếu của mình,NTD đã có tác động vô cùng to lớn đối với quá trình dẫn dắt, vận hành của thị trường,đặc biệt là trong giao dịch mua sắm trực tuyến hiện nay
1.1.1 Khái niệm ngưòi tiêu dùng
Trong khoa học pháp lý, “người tiêu dùng ” là chủ thế của quan hệ pháp luật khi
lĩnh vực pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ra đời Còn trong kinh tế học, thuật ngữ
“người tiêu dùng” được sử dụng để chỉ những chủ thề tiêu thụ cua cải được tạo ra bởi
nền kinh tế7 Tại Việt Nam, khái niệm “người tiêu dùng” lần đầu tiên được ghi nhận
chính thức tại Điều 1, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 Theo đó,
“Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” Cho đến năm 2010, khi Luật BVQLNTD được
ban hành, thay thế cho Pháp lệnh nói trên thì khái niệm này lại tiếp tục được ghi nhận tạiKhoản 1, Điều 3 của Luật này và nội dung không có sự thay đồi Như vậy, theo quyđịnh cùa Luật BVQLNTD năm 2010 thì NTD bao gồm các đối tượng không chí là cánhân tiêu dùng riêng lẻ mà còn là các tồ chức (như doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhànước, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội, đoàn thể ) tiến hành mua, sử dụng hànghóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó8
Theo quan niệm của Liên minh Châu Au (EU) vê khái niệm “người tiêu dùng”
thì tại Chi thị số 2011/83/EC9 ngày 25 tháng 20 năm 2011 có quy định: “Người tiêu dùng có nghĩa là bất kỳ thê nhân nào (tức là cá nhân) tham gia các hợp đồng được điều
7 Giáo trình Luật báo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Đại học Luật Hà Nội (2014), Nhà xuất bàn Công an nhân dân,
Trang 16chinh bởi Chi thị này , vì mục đích ngoài thương mại, không liên quan đến hoạt động kinh doanh, thủ công hoặc nghề nghiệp của mình” Quan điểm này của Liên minh Châu
Âu tương đối đồng nhất với quan điểm cua nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó cóĐức, Nhật Bản, Trung Quốc, Bên cạnh đó, Điều 13, Bộ luật dân sự của Đức năm 2002
định nghĩa: “Người tiêu dùng là bất cứ tự nhiên nhân nào tham gia giao dịch không thuộc phạm vi hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc nghề nghiệp của người này” Và Điều 2-1, Luật về Hợp đồng tiêu dùng của Nhật Bản năm 2000 định nghĩa: “Người tiêu dùng theo quy định của luật này là cá nhản nhưng không bao gồm trường hợp cá nhân tham gia quan hệ hợp đồng với mục đích kinh doanh ”.
Có thề thấy, các quốc gia nói trên đều có chung một cách tiếp cận đó là coi NTDbao gồm cá nhân, chứ không bao gồm các tổ chức Quan điểm này xuất phát từ mụcđích cúa việc bảo vệ NTD với tư cách là bên yếu thế trong quan hệ với bên cung ứnghàng hóa, dịch vụ do sự mất cân xứng về khả năng tiếp cận thông tin cũng như điều kiệnkinh tế của một cá nhân so với một tố chức hoạt động kinh doanh chuyên nghiệp
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia thường nhận diện NTD dựa trên việc đánh giá
03 tiêu chí, đó là: (i) NTD là cá nhân (nhưng cũng có thể gồm cả tổ chức); (ii) Đốitượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ; (iii) Việc tham gia vào quan hệ không nhằmmục đích kinh doanh Xét trên tiêu chí này, NTD là người mua hàng hóa, dịch vụ nhằmmục đích phục vụ sinh hoạt cho cá nhân, hộ gia đình chứ không sử dụng hàng hóa, dịch
vụ vào mục đích cung cấp lại để tìm kiếm lợi nhuận Quan hệ tiêu dùng được xác lậpdựa trên cơ sở hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ hoặc trên cơ sở sử dụng hàng hóa,dịch vụ Như vậy, quan niệm của pháp luật Việt Nam về NTD khá đồng nhất với quanniệm hiện nay của các nước trên thế giới
1.1.2 Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng 1.1.2.1 Sơ lược về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam
Kể từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thịtrường, kinh tế - xã hội của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, vai tròcủa NTD ngày càng được nâng cao Qua đó, công tác bảo vệ quyền lợi NTD đã đượcxác định và quy định bởi pháp luật
Trang 17Ớ Việt Nam, giai đoạn trước năm 1986 hầu như chưa có một văn bản pháp lýnào liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Sau năm 1986, các quy định về bảo vệquyền lợi NTD ở thời kỳ này nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau10 Vàcũng trong giai đoạn này, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp ViệtNam năm 1992 quy định vấn đề bảo vệ NTD tại Điều 28, Hiến pháp 1992 quy định:
“Nhà nước có chính sách bảo vệ quyền lợi của người sán xuất và quyền lợi của người tiêu dùng
Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 chính là bước đi đầu tiên trong việcbảo vệ quyền lợi NTD ở nước ta Sự ra đời của Pháp lệnh này mang lại ý nghĩa hết sứcquan trọng, bởi lẽ, nó là văn bản pháp lý mang tính tổng hợp đầu tiên, quy định đầy đùquyền, trách nhiệm cùa NTD; trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền; tráchnhiệm của các doanh nghiệp, các tố chức xã hội đối với quyền lợi NTD Trong bối cảnhnền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Pháp lệnh bảo vệquyền lợi NTD đã chưa thế tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ trong việc bảo vệ quyền lợicủa NTD Chính vì vậy, ngày 17/11/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12; bổ sung nhiều quy định quan trọng nhưbảo vệ thông tin NTD, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyêt tật gây
ra, hợp đông giao kêt với NTD, điêu kiện giao dịch chung So với các nước trong khuvực, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ban hành văn bản pháp luật đề điềuchính vấn đề bảo vệ NTD với Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng được ban hành năm
1999 và Luật BVỌLNTD được ban hành năm 2010
Luật BVQLNTD được Quốc hội khóa 12 thông qua tại kỳ họp thứ 8, ngày 17tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 Sự ra đời củaLuật BVQLNTD không chỉ đánh dấu một giai đoạn phát triển mới mà còn có ý nghĩaquan trọng trong việc xây dựng nền tảng hoạt động và tạo động lực thúc đấy thực thihiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam
10 Pháp lệnh đo lường ngày 06/7/1990, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 140/HBT ngày 25/04/1991 quy định về kiếm tra, xử lý việc sản xuất, buôn hàng giả, Bộ luật dân sự năm 1995, Luật Thương mại ngày 10/5/1997 Nghị định số 57/CP ngày 31/5/1997 của Chính phu quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa,
Trang 181.1.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền lọi nguôi tiêu dùng
Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi NTD là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong các hoạtđộng bảo vệ NTD Theo quy định của Luật BVQLNTD năm 2010, việc bảo vệ quyềnlợi NTD được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội” Trong mối quan hệ giữa NTD và tố chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ thì NTD thông thường sẽ ở thế yếu hon, thiếu thông tin, ítchuyên nghiệp hơn, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của Nhà nước vào quan
hệ này đế đám báo quyền và lợi ích hợp pháp của NTD (bên yếu thế) Một xã hội côngbằng, văn minh thì mọi người cần phải được bình đắng, đặc biệt là những người yếu thếnhư NTD cần được bảo vệ quyền lợi, được ghi nhận trong Luật BVQLNTD và được thihành trong thực tế Để làm được điều này, không chỉ một cá nhân hay một tố chức thựchiện, mà cần có sự phối họp của Nhà nước và toàn xã hội Đây là nguyên tắc cơ bảnđược ghi nhận tại Khoản 1, Điều 4, Luật BVỌLNTD năm 2010, nhằm khẳng định tráchnhiệm bảo vệ NTD là trách nhiệm không cúa riêng ai Với thực trạng xâm phạm quyềnlợi NTD ngày càng tinh vi như hiện nay, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng,kêu gọi mọi thành
Trang 19phân trong xã hội phải ý thức được trách nhiệm của mình đôi với hoạt động bảo vệquyền lợi NTD.
Thứ hai, nguyên tắc “Quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật” Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại Khoản 2, Điều 4,
Luật BVQLNTD năm 2010, theo đó, quyền là những gì pháp luật quy định cho NTDđược hướng và thực hiện, không ai được tước đoạt hay xâm phạm những quyền và lợiích họp pháp đó11, bất cứ hành vi xâm phạm, gây thiệt hại cho NTD đều phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật nhằm đảm bảo công bằng xã hội Tuy nhiên, với sự phát triển cúa
xã hội hiện nay cùng với thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD vẫn còn diễn ra thì trênthực tế các quyền này của NTD vẫn chưa được bảo vệ triệt để
Thứ ba, nguyên tắc “Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng phải được thực hiện kịp thời, công bằng, minh bạch, đúng pháp luật” Nguyên tắc này được ghi nhận tại
Khoản 3, Điều 4, Luật BVỌLNTD năm 2010 Khi có hành vi xâm phạm quyền lợiNTD, cơ quan Nhà nước, tổ chức có thẩm quyền phải kịp thời có phương án xử lý nhanhchóng, hiệu quả nhằm chẩm dứt hành vi xâm phạm, hạn chế tối đa thiệt hại cho NTD.Khi tiến hành hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, các công tác thực hiện phải đảm bảocông bằng, minh bạch và tuân theo quy định của pháp luật như: về trình tự thú tục, xácđịnh hành vi vi phạm, biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm nhằm tránh hiện tượng
áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, không công bằng, gây bất lợi cho NTD Để nguyêntắc trên được thực thi một cách có hiệu quả, thì trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổchức có thẩm quyền bảo vệ NTD là rất quan trọng Vì chỉ có những chủ thể có thẩmquyền mới được yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh chấm dứt hành vi để giải quyết vụviệc
Thứ tư, nguyên tắc “Hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không được xăm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lọi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức, cả nhân khác” 12 Mọi cá nhân, tổ chức khi thực
hiện bất kỳ hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi NTD nào thì phải tuân theo nguyên tắcchung là không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của
11 Điều 8, Luật Bào vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
12Khoản 4, Điêu 4, Luật Bảo vệ quyên lợi người tiêu dùng năm 2010.
Trang 20tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức, cá nhân khác Nguyên tắc nàynhằm nâng cao trách nhiệm của đơn vị sản xuất, kinh doanh đối với NTD nhưng vẫnđàm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các chú thề này.
1.1.2.3 Các quyền CO’ bản của người tiêu dùng
Nhìn chung, quyền lợi của NTD ở các quốc gia đều có sự tương tự nhau và hầuhết đều dựa theo quy định của Liên Hợp Quốc Theo Nghị quyết số 39/248 ngày 09
tháng 04 năm 1985 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua “Bản hướng dẫn bảo vệ Người tiêu dùng", theo đó, NTD có 08 quyền cơ bản như sau: (1) Quyền được thóa mãn
các nhu cầu cơ bản; (2) Quyền được an toàn; (3) Quyền được lựa chọn; (4) Quyền đượcthông tin; (5) Quyền được giáo dục tiêu dùng; (6) Quyền được giải quyết và bồi thườngthiệt hại; (7) Quyền được đại diện; (8) Quyền được hưởng một môi trường lành mạnh.Theo quy định của Liên Hợp Quốc thì NTD được đảm bảo tất cả các quyền lợi cơ bántrên một cách chính đáng
Căn cứ vào 08 quyền cơ bản của NTD theo quy định của Liên Hợp Quốc và trên
cơ sở tình hình kinh tế - xã hội của nước ta, quyền lợi của NTD Việt Nam đã được thếchế hóa tại Điều 8, Luật BVQLNTD năm 2010 hiện hành, bao gồm 08 nhóm quyền cơbản Trong 08 nhóm quyền cơ bản của NTD Việt Nam, tác giả xin được lược bỏ việc đivào phân tích chi tiết mà chi đề cập sâu hơn đến những quyền lợi mà NTD thường bịxâm phạm trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo hợp đồng giao kết từ xa, đó là:
Thứ nhất, “Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp ” ỉ3 Quyền được an toàn này của NTD đã được
quy định tại Luật BVQLNTD năm 2010, đây là sự cam kết của các tổ chức, cá nhânkinh doanh hàng hóa, dịch vụ với NTD khi giao dịch hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụđúng như thỏa thuận, hướng dẫn sử dụng Quyền được an toàn không chỉ liên quan đếnnhững sản phẩm, hàng hóa mà còn liên quan đến các dịch vụ và quá trình sản xuất.Quyền được an toàn của NTD được quy định nhằm bảo vệ NTD trước những hành vicung cấp hàng hóa, dịch vụ không an toàn, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tàisản và các quyền lợi hợp pháp khác của NTD Tuy nhiên, để quyền an toàn được thực
Trang 21hiện hiệu quả, Nhà nước cần công bố những tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về an toàn vànhững tiêu chuấn bắt buộc áp dụng về thông tin cho những sản phẩm có khả năng gâynguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng của NTD13 14; bên cạnh việc chủ động nâng caonhận thức về quyền lợi của NTD, thì cơ quan Nhà nước, các ngành chức năng, các địaphương cần tăng cường các giải pháp nhàm xây dựng môi trường giao kết lành mạnh,phù hợp trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Thứ hai, “Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng ” 15 Quyền
được thông tin cùa NTD là một quyền mang tính chất tự nhiên, thiết yếu của NTD trongnền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong giao dịch mua sắm trực tuyến đang rất phổ biếnhiện nay Quyền được thông tin của NTD được tạo bởi các quyền cấu thành sau: quyềnđược tiếp nhận thông tin; quyền tìm kiếm thông tin; quyền phổ biến, chia sẻ thông tin16
Để quyền được cung cấp thông tin hiệu quả, Nhà nước cần tăng cường công tác tuyêntruyền về quyền được cung cấp thông tin của NTD, tăng cường công tác tư vân, hô trợNTD trong việc năm băt thông tin; phát huy việc ứng dụng công nghệ thông tin trongcông tác tuyên truyền, phố biến pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD,
Thứ ba, “Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đủng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tố chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết” xl và “Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khới kiện để báo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”™ Trong trường hợp, NTD bị xâm hại đến quyền lợi
của mình, thì NTD có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bồithường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng theo những công bố, quảng cáo trước
13 Khoản 1, Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
14Nguyền Bảo Ngọc (2016), ‘Bảo vệ người tiêu dung đôi với hành vi quàng cáo nham cạnh tranh không lành
mạnh theo pháp luật Việt Nam ”, Luận văn Thạc sì, Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM).
15 Khoản 2, Điều 8, Luật BVỌLNTD năm 2010.
16 Trân Quôc Việt (2017), "Quyên được thông tin cùa người tiêu dừng và việc hào đám thực thi hiện nay”, Tạp
chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 2, 26-28.
Trang 22đó Do đó, sự đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật là tiền
đề quan trọng trong việc nâng cao sự hiều biết và nâng cao khả năng tự bảo vệ mình cúaNTD
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm về giao dịch mua sắm trục tuyến
Để hiếu rõ khái niệm “giao dịch mua sắm trực tuyến ”, chúng ta sẽ tìm hiểu các khái niệm liên quan gồm: “giao dịch ” và “mua sắm trực tuyến ” Thứ nhất, khái niệm
“giao dịch” được dẫn chiếu khái niệm từ Điều 116, BLDS năm 2015 thì: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đôi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Thứ hai, “mua sắm trực tuyến ” là một dạng hoạt
động thương mại điện tử17 18 19, cho phép NTD trực tiếp mua hàng hóa, dịch vụ từ ngườibán thông qua internet và các phương tiện điện tử khác Hiện nay, NTD có thề mua sắmtrực tuyến bằng nhiều loại máy tính và thiết bị khác nhau, bao gồm: máy tính đế bàn,máy tính xách tay, điện thoại thông minh,
Do đó, giao dịch mua săm trực tuyên là hành vi mua, bán hàng hóa, dịch vụthông qua internet và các phương tiện điện tử khác Ví dụ: NTD mua sắm trực tuyếntrên website của đơn vị kinh doanh điện thoại bằng cách thực hiện các giao dịch theohướng dẫn thông qua thiết bị máy tính kết nối internet, khi đó, NTD sẽ có thể tìm kiếmsản phẩm, đặt hàng và chọn hình thức nhận hàng, phương thức thanh toán về sản phấmđiện thoại mà mình muốn mua
Mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống đều là hình thức cho phép NTD(bên mua) có thể mua hàng từ tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (bên bán).Tuy nhiên, giữa hai hình thức này có nhiều điềm khác nhau, như: Mua sắm truyền thống
sẽ tiêu tốn nhiều thời gian của NTD hơn so với mua sắm trực tuyến, bởi vì, trong muasắm truyền thống, NTD phải tốn nhiều thời gian trong việc xem xét, lựa chon sản phẩm,hàng hóa muốn mua hay chỉ đơn giản là để xem và so sánh giá Trong khi đó, đối vớimua sắm trực tuyến thì NTD sẽ dễ dàng tìm kiếm sản phẩm thông qua phương tiện điện
17 Khoản 6, Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
18 Khoản 7, Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
19Khoản 1, Điều 3, Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Hoạt động thương mại điện tư là việc tiến hành một
phân hoặc toàn hộ quy trình cùa hoạt động thương mại hãng phương tiện điện từ có kết nôi với mạng Internet, mạng viên thông dì động hoặc các mạng mờ khác
Trang 23tử, lựa chọn, cập nhật nhanh những ưu đãi hấp dẫn và xác nhận mua hàng hóa đó chỉ vớinhững thao tác nhanh chóng Bên cạnh đó, thì việc mua sắm trực tuyến sẽ không làm tốnthời gian di chuyển của NTD đến địa điểm bán để mua sắm, NTD có thể mua sắm liêntục, không giới hạn về thời gian và không gian, NTD có thế mua sắm vào bất kỳ thờigian nào hay đang ở đâu, chi cần sử dụng phương tiện điện tử để xác lập giao lịch muasắm trực tuyến Một điều khác biệt giữa hai hình thức này, đó là tính rúi ro: Đối với muasắm truyền thống, NTD có thề nhìn tận mắt, chạm trực tiếp vào sản phẩm, nhận được sự
tư vấn từ bên bán, thậm chí có thể dùng thử, xem xét sản phẩm trước khi mua; trong khi
đó, điều này là không thể khi NTD mua sắm trực tuyến Do đó, tính rủi ro trong muasắm trực tuyến có thể kể đến về sự thanh toán, quảng cáo gian đối, Tuy nhiên, trongtrường hợp NTD thanh toán qua ví điện tử hoặc thẻ ngân hàng trước khi nhận hàng đãngày càng phổ biến như hiện nay thì tính rủi ro cũng sẽ cao hơn Thật vậy, cả hai hìnhthức mua sắm truyền thổng và mua sắm trực tuyến đều có những mặt thuận lợi cũng nhưhạn chế đối với NTD, tuy nhiên không thề phủ nhận sự quan
Trang 24tâm và lựa chọn hình thức mua săm trực tuyên ngày càng tăng cao của NTD hiện nay.
1.2 Khái quát chung về hợp đồng giao kết từ xa
Trong hon một thập kỷ gần đây, sự phát triển của công nghệ thông tin, nhất làmạng internet toàn cầu đã đem lại cho chúng ta phương thức giao dịch mới như phươngthức giao dịch thông qua mạng internet hoặc thông qua điện thoại, với những ưu điểmnhư: chi phí rẻ, tốc độ nhanh, chuyển tải đa dạng thông tin, không phụ thuộc vào khoảngcách địa lý đã làm cho phương thức này ngày càng trở nên phổ biến, được nhiều tổchức, cá nhân kinh doanh áp dụng và NTD quan tâm, sử dụng Qua đó, đã dần hìnhthành và xuất hiện một hình thức hợp đồng là hợp đồng giao kết từ xa
1.2.1 Khái niệm họp đồng giao kết từ xa
Hợp đồng được luật pháp thừa nhận là công cụ pháp lý để ghi nhận quyền và
nghĩa vụ cùa các bên tham gia Theo quy định tại Điều 385, BLDS năm 2015 thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đôi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân dự” Do đó, hợp đồng là sự thỏa thuận và cam kết giữa các bên nhằm tiến
hành một công việc, một hoạt động hay một hành vi nhất định nhằm đem lại quyền vàlợi ích nhất định cho các bên tham gia
Ờ Việt Nam hiện nay, vấn đề về hợp đồng giao kết từ xa được quy định tại Nghịđịnh 99/2011/NĐ-CP, theo đó, khái niệm họp đồng giao kết từ xa được quy định như
sau: “Hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng được ký kết giữa người tiêu dùng và tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại 20
Họp đồng giao kết từ xa (HĐGKTX) là sự thỏa thuận (tự nguyện, thiện chí) giữacác bên, thông qua các phương tiện điện tử hoặc điện thoại để xác lập hợp đồng.HĐGKTX là hợp đồng được ký kết từ xa giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh màcác bên không phải gặp nhau ký họp đông trực tiêp như họp đông truyên thống.HĐGKTX có thể bao gồm hai loại họp đồng là HĐGKTX mang tính chất họp đồng dân
sự và HĐGKTX mang tính chất họp đồng thương mại Bởi vì, HĐGKTX có một bên làNTD không vì mục đích lợi nhuận và một bên là tổ chức, cá nhân kinh doanh nhằm mụcđích sinh lời về cơ bản, HĐGKTX cũng giống họp đồng thương mại truyền thống về
20 Khoán 1 Điều 3 Nghị định 99/2011/NĐ-CP.
Trang 25chức năng, nội dung và giá trị pháp lý, do đó, HĐGKTX phải tuân thủ các nguyên tắc cơbản của họp đồng dân sự nói chung được quy định trong BLDS Nhằm phù hợp với loạihình mua sắm trực tuyến hiện nay và các quy định pháp luật liên quan, luận văn sẽ phântích HĐGKTX dưới góc độ hợp đồng dân sự (họp đồng tiêu dùng), về bán chất,HĐGKTX cũng là loại họp đồng giao kết với NTD là bên yếu thế, trong đó NTD sẽ gặpnhiều hạn chế, bất lợi về năng lực đàm phán, bất cân xứng về thông tin họp đồng.
Điểm khác biệt nổi bật cúa HĐGKTX là hình thức thể hiện, phương thức ký kết
và thực hiện HĐGK.TX Đó là, các bên giao kết họp đồng không phải gặp nhau trực tiếp
để giao dịch (giao kết từ xa), mà chủ yếu sẽ thông qua phương tiện điện tử21 hoặc quađiện thoại để tiến hành các công đoạn của quá trình mua bán hàng hóa như giới thiệu,tiếp thị sản phấm, đàm phán, thỏa thuận về các điều kiện mua bán, cũng như cùng nhauthực hiện các giao dịch có liên quan khác về hàng hóa, dịch vụ cần mua bán giữa NTD
và tổ chức, cá nhân kinh doanh
1.2.2 Những đặc trưng của họp đồng giao kết từ xa
HĐGKTX là thuật ngữ dùng để chỉ loại họp đồng với phương thức giao dịch từ
xa Phân biệt với các hợp đồng được các bên giao dịch trực tiếp: về bản chất, hợp đồngnày có nội dung cùa hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông thường vàtuân theo quy định điều chính của quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cụ thể
đó Tuy nhiên, vì họp đồng có sử dụng phương tiện điện tử hoặc điện thoai nênHĐGKTX có sư điều chỉnh cu thể và đăc thù hơn HĐGKTX về cơ bản có hai đặc trưngquan trọng là: (i) Hợp đông được giao kêt từ xa; (ii) Được giao kêt bằng phương tiệnđiện tử hoặc điện thoại
1.2.2.1 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 3, Nghị định 99/2011/NĐ-CP thì HĐGKTX được kýkết giữa NTD và tố chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Do đó, chủ thề củaHĐGKTX bao gồm: NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Trong quan hệ HĐGKTX thì các chủ thể này được chia làm 2 nhóm, gồm: bênmua, bên bán tham gia vào hoạt động mua sắm trực tuyến
21Điều 3, Luật Kế toán năm 2015 quy định: “Phương tiện điện từ là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ
điện, điện từ, kỹ thuật sô, từ tính, truyên dàn không dãy, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.
Trang 26a) Bên mua: NTD (bao gồm: cá nhân, tổ chức không tham gia vào giao dịch với
mục đích thương mại; mà mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinhhoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó);
b) Bên bán: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ22
1.2.2.2 Đối tuựng, hình thức họp đồng, phương tiện giao kết họp đồng a) Đối tượng của hợp đồng:
Trong HĐGKTX thì đổi tượng của giao dịch là những hàng hóa và dịch vụ đượcphép lưu thông và đáp ứng được các nhu cầu của NTD
b) Hình thức họp đồng:
Liên quan đến hình thức của hợp đồng được giao kết với NTD thì tại Khoản 1,
Điều 14, Luật BVQLNTD năm 2010 có quy định: “Hình thức họp đồng giao kết với người tiêu dùng được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự” HĐGKTX là
hợp đồng được giao kết với NTD, do đó, hình thức của HĐGKTX có thế được lập bằngvăn bản hoặc bằng lời nói Như vậy, về cơ bản thì hình thức cúa họp đồng do các bênthỏa thuận và được thề hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể23 Điềunày cũng được hiểu là HĐGKTX bằng điện thoại thì họp đồng được hình thành với hìnhthức giao kết bằng lời nói
Hiện nay, HĐGKTX được thể hiện chủ yếu là các họp đồng được thiết lập dướidạng thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trừ dựa trên công nghệ điện, điện từ, kỳthuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự
c) Phương tiện giao kết hợp đồng:
Theo định nghĩa HĐGKTX tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định 99/2011/NĐ-CP thìHĐGKTX được chia thành hai loại, đó là: loại hợp đồng giao kết bằng phương tiện điện
tử24 và họp đồng giao kết bàng lời nói thông qua điện thoại Do đó, tương ứng với cách
22 Khoản 2, Điều 3, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định: “Tô chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ là tô chức, cá nhãn thực hiện một, một so hoặc tât cá các công đoạn của quá trình đâu tư, từ sàn xuất đên tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gôm: a) Thương nhân theo quy đinh của Luật thương mại; h) Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phái đãng ký’ kinh doanh
23Khoản 1, Điều 199, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: ‘'Giao dịch dân sự được thê hiện bằng lời nói, báng văn
bán hoặc băng hành vi cụ thê ”.
24Khoản 7, Điêu 3 Luật kế toán 2015 quy định: “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công
nghệ điện, điện tử, kỹ thuật sô, từ tính, truyền dàn không dãy, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự
Trang 27phân loại này thì có hai phương thức giao kết phổ biến hiện nay là giao kết thông quawebsite thương mại điện tử,., hoặc giao kết bằng cách gọi điện trực tiếp đến tổ chức, cánhân kinh doanh để mua hàng, yêu cầu cung ứng dịch vụ về phương tiện giao kết họpđồng thì quy định của pháp luật Việt Nam liệt kê bao gồm hai phương tiện giao kết là:phương tiện điện tử và điện thoại.
1.2.2.3 Trình tự giao kết họp đồng
Các bên giao kết hợp đồng không phải gặp nhau trực tiếp để giao dịch mà thôngqua phương tiện điện tử (email, trang thông tin điện tử bán hàng - website, ) hoặc quađiện thoại đế tiến hành các công đoạn của quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ như: giớithiệu, tiếp thị sản phẩm, đàm phán, thỏa thuận các điều kiện mua bán, cũng như thựchiện các giao dịch có liên quan khác về hàng hóa, dịch vụ giữa NTD và tổ chức, cá nhânkinh doanh
Vê trình tự giao kêt HĐGKTX cũng bao gôm hai bước cơ bản là: đê nghị giaokết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng Đe nghị giao kết và chấp nhận giao kếthợp đồng trong HĐGKTX sẽ được thực hiện bằng thông điệp dừ liệu thông qua phươngtiện điện tử kết nối internet hoặc thông qua gọi điện thoại trực tiếp
• Đề nghị giao kết họp đồng:
Đề nghị giao kết họp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu
sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên được đề nghị được xác định cụthể25 Tại Điều 12, Nghị định 52/2013/NĐ-CP có quy định: “Một thông báo bằng chứng
từ điện tử về đề nghị giao kết họp đồng mà không có bên nhận cụ thê thì chỉ là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng Thông báo đó chưa được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ tại thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận
Theo đó, đề nghị giao kết họp đồng phải xác định rõ bên đề nghị và bên được đềnghị một cách cụ thể Trường họp khi NTD vào website thương mại điện tử và nhậnđược lời mời từ tổ chức, cá nhân kinh doanh thì chưa phải là một đề nghị giao kết hợpđồng mà chỉ được xem là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng Bởi vì lời mời đó
25 Khoản 1, Điều 386, Bộ luật dân sự năm 2015.
Trang 28không nhằm hướng đến một NTD cụ thế mà là lời mời hướng đến cho tất cả NTD vàowebsite thương mại điện tử đó Việc cung cấp những thông tin về hàng hóa, dịch vụ trênwebsite thương mại điện tử chỉ mang tính chất tham khảo, quảng cáo nhằm thúc đẩynhững giao dịch mua sắm trực tuyến.
Đe nghị giao kết họp đồng chỉ có thể được xem xét chấp nhận khi nó đượcchuyển tới bên được đề nghị Theo Khoản 2, Điều 338, BLDS năm 2015 có quy định vềtrường họp thời điểm đề nghị giao kết họp đồng có hiệu lực được xem là bên được đề
nghị đã nhận được đề nghị giao kết họp đồng: “Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị đối với trường hợp mua sắm trực tuyến và chứng từ
điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trựctuyên được coi là đê nghị giao kêt họp đông của khách hàng đối với hàng hóa hoặc dịch
vụ26 Đối với quy định về thời điềm gửi một chứng từ điện tử thì: “Thời điếm gửi một chứng từ điện tủ 27 là thời điểm chứng từ điện tử đó rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo Trong trường hợp chứng
từ điện tử không rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiêm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo, thời điểm gửi là thời điếm nhận được chứng từ điện tủ 28 ”.
Bên cạnh đó, tại Khoản 12, Điều 3, Nghị định 52/2013/NĐ-CP có quy định:
“Chức năng đặt hàng trực tuyến là một chức năng được cài đặt trên website thương mại điện tử hoặc trên thiết bị đầu cuối của khách hàng và kết nối với website thương mại điện tử để cho phép khách hàng khởi đầu quá trình giao kết hợp đồng theo những điều khoản được công bổ trên website đó, bao gồm cả việc giao kết hợp đồng với hệ thống thông tin tự động ”, Do đó, khi NTD thực hiện thao tác đặt hàng, thì đây được coi
là một đề nghị giao kết hợp đồng và được thể hiện là một loại chứng từ điện tử Websitethương mại điện tử sẽ phải cho phép NTD rà soát, bố sung, sửa đồi và xác nhận nộidung giao dịch trước khi giao kết hợp đồng Ví dụ: NTD muốn mua điện thoại trênwebsite https://www.thegioididong.com thì NTD sẽ thực hiện các bước như sau: vàowebsite của bên bán; tìm kiếm sản phẩm điện thoại phù hợp với nhu cầu của mình bao
26 Điều 17, Nghị định 52/2013/NĐ-CP.
27Khoản 3, Điều 3, Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Chứng từ điện từ trong giao dịch thương mại (dưới đây
gọi tát là chứng từ diện từ) là hợp đông, đê nghị, thông báo, xác nhận hoặc các tài liệu khác ớ dạng thông điệp dừ liệu do các bên dưa ra liên quan tới việc giao kêt hay thực hiện hợp đồng”.
28 Khoản 1, Điếu 10, Nghị định 52/2013/NĐ-CP.
Trang 29gồm tham khảo, tra cứu thông tin, xem các thông tin liên quan đến sản phẩm (mô tả, giá,chế độ bảo hành, chính sách hồ trợ, ), đọc kỹ các điều khoản trước khi mua hàng trựctuyến của bên bán; dựa trên những thông tin do bên bán cung cấp, NTD lựa chọn sảnphẩm, nhấn nút chọn sản phẩm, nhấn chọn mua/đặt hàng; nhập thông tin và xác nhậnđơn hàng, đây được xem là lời đề nghị giao kết hợp đồng của NTD.
Trường hợp tô chức, cá nhân kinh doanh có công bô thời hạn trả lời đê nghị giaokết hợp đồng thì nếu hết thời hạn này mà NTD vần không nhận được trả lời thì đề nghịgiao kết hợp đồng của NTD chấm dứt hiệu lực Việc trả lời chấp nhận sau thời hạn nàyđược coi là một đề nghị giao kết hợp đồng khác từ phía tổ chức, cá nhân kinh doanh.Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh không công bố rõ thời hạn trả lời đề nghị giaokết hợp đồng, nếu trong vòng 12 (mười hai) giờ kế từ khi gửi đề nghị giao kết hợp đồng,NTD không nhận được trả lời đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồngcủa NTD được coi là chấm dứt hiệu lực Quy định về thời hạn trả lời đề nghị giao kếthợp đồng của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong vòng 12 (mười hai) giờ theo Nghị định52/2013/NĐ-CP đã được tăng thêm thời gian so với thời hạn 08 (tám) giờ theo Thông tư09/2008/TT-BCT29 trước đây
• Chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng:
Trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng thì khi nhận được đề nghị giao kết hợpđồng, bên được đề nghị giao kết có quyền chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hoặckhông chấp nhận lời đề nghị đó Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là biểu thị sựđồng ý của bên được đề nghị đối với đề nghị giao kết hợp đồng, do đó, chấp nhận đềnghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 393, BLDS năm 2015 quy định: “Chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị’’ Do đó, “chấp nhận toàn bộ” đồng nghĩa với việc là trường hợp
chấp nhận một phần sẽ không được coi là chấp nhận giao kết và một biểu thị đồng ý với
đề nghị giao kết hợp đồng nhưng có kèm theo các sửa đổi, bồ sung so với đề nghị giao
29 Thông tư 09/2008/TT-BCT Hướng dần Nghị định Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết
%
hợp đông trên website thương mại điện tử.
Trang 30kết họp đồng thì không được xem là chấp nhận mà là một đề nghị mới.
Đối với HĐGKTX bằng phương tiện điện tứ thì việc trả lời chấp nhận hoặckhông chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng sẽ phải được thực hiện dưới hình thức phùhợp đê thông tin có thê lưu trữ, in và hiên thị được tại hệ thông thông tin của kháchhàng30” Trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX thì việc chấp nhận phảiđược thực hiện với tính chất là NTD chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị
• Thòi điểm giao kết họp đồng:
Trong HĐGKTX, theo BLDS năm 2015 thì thời điểm giao kết hợp đồng đượctính là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết31; trường hợp các bên
có thỏa thuận “im lặng” là sự trả lời chấp nhận giao kết họp đồng trong một thời hạn, thìthời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó Do đó, thực tế thìphần lớn trong giao dịch mua sắm trực tuyến hiện nay, thời điểm giao kết họp đồng làthời điểm mà NTD nhận được trả lời của tồ chức, cá nhân kinh doanh chấp nhận lời đềnghị giao kết hợp đồng Ví dụ: NTD đã nhấn nút chọn mua/đặt hàng sản phẩm điệnthoại trên website thương mại điện tử của bên bán thì thời điếm mà NTD nhận được trảlời cua bên bán như: email/tin nhắn xác nhận đơn hàng của bên bán, chấp nhận lời đềnghị giao kết họp đồng của NTD thì đó được xem là thời điểm giao kết họp đồng
Đối với việc giao kết hợp đồng qua điện thoại, thời điểm giao kết hợp đồng bằnglời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng32 Như vậy, nếuNTD đề nghị giao kết họp đồng qua điện thoại và bên bán (tổ chức, cá nhân) trả lời đềnghị ngay thì chấp nhận đề nghị cúa bên bán đã có hiệu lực Tuy nhiên, thực tế thì do haibên không gặp gỡ trực tiếp và có thể trao đối qua điện thoại bằng lời nói trong thời gianngắn là có thể hoàn tất quá trình thỏa thuận, giao kết hợp đồng nên thời điểm bên đềnghị nhận được câu trả lời (bên được đề nghị trả lời chấp nhận hay không chấp nhận lời
đề nghị) và thời điểm các bên đã thóa thuận về nội dung họp đồng thường sẽ trùng nhau
Do đó, hiện tại HĐGKTX bằng điện thoại vẫn còn chưa rõ về thời điếm giao kết họp
30 Khoán 1, Điều 19, Nghị định 52/2013/NĐ-CP.
31Khoản 1, Điều 400, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: "Họp đồng được giao két vào thòi điếm bên đề nghị nhận
được chãp nhận giao kết
32 Khoản 3, Điều 400, Bộ luật dân sự năm 2015 quỵ định: "Thời điếm giao kết họp đồng bằng ỉòi nói là thòi điếm
các bên đà thỏa thuận vê nội dung của hợp đồng”.
Trang 31đồng được xác định là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời châp nhận giao kêt haythời điêm các bên đã thỏa thuận vê nội dung hợp đồng (thời điểm giao kết hợp đồngbằng lời nói).
1.3 Sự cần thiết bảo vệ quyền lọi người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo họp đồng giao kết từ xa
Sự thành công của HĐGKTX phụ thuộc vào việc xây dựng một môi trường giaodịch thu hút cũng như an toàn đối với các bên tham gia Điều này đặc biệt đúng khi nóitới khía cạnh bảo vệ NTD Một yếu tố quan trọng đế tạo môi trường cho lòng tin và sựtín nhiệm trong giao kết HĐGKTX là phải bảo vệ được NTD Với đặc trưng của giaodịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX thì các bên tham gia giao kết bằng phương tiệnđiện tử hoặc điện thoại thì không nhất thiết gặp mặt nhau Và thông thường, NTD sẽkhông nắm rõ các thông tin về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp như bên bán nên dẫnđến khả năng chịu rủi ro sẽ cao hơn, do đó cần có những quy định pháp luật bảo vệNTD
HĐGKTX đặc trưng cho các giao dịch được thiết lập từ xa, đặc biệt là với quytrình “tự động hóa” hiện nay được thiết lập sẵn trên các website thương mại điện tử,website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, đặt hàng qua mạng xã hội, Do đó,HĐGKTX giúp NTD tiết kiệm thời gian mua sắm; giảm được phần nào chi phí muahàng, cung ứng dịch vụ; tiết kiệm chi phí tài chính để đi lại, đàm phán, Bên cạnh đó,HĐGKTX còn giúp cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tiết kiệm đượcthời gian, hạn chế các chi phí tài chính như: chi phí đi lại, chi phí thuê cửa hàng, thuênhân viên và các chi phí khác; hình thức giao kết họp đồng hiện đại, thu hút NTD trongnước và quốc tế; đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳhội nhập thế giới Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, NTD luôn ở thế yếu so với tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Thế yếu này bắt nguồn từ chính phương thứcgiao kết họp đồng, phải sử dụng biện pháp liên lạc từ xa thông qua phương tiện điện tửhoặc điện thoại, NTD có thể thiếu thông tin về tình hình thực tế hay pháp luật điều chỉnhquan hệ hợp đồng này Ví dụ như mua quần áo thông qua một website thương mại điện
tử bán hàng, mạng xã hội hay sàn thương mại điện tử, NTD không thê kiêm tra màu săc,
Trang 32kích cỡ hay chât liệu quân áo như khi mua trực tiếp ở một cửa hàng thời trang, vì vậy,
có thể sẽ có rủi ro khi giao kết họp đồng này, sự đồng ý cùa NTD sẽ không rõ ràng nhưkhi ký kết họp đồng với sự hiện diện của các bên Khi các HĐGKTX, hợp đồng điện tử
đa phần dưới dạng là họp đồng mẫu, thì vị thế của NTD trong giao dịch mua sắm trựctuyến lại càng yếu thế vì họ không thể thỏa thuận, thương lượng33
Trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX, sẽ không tránh khỏi có sựbất bình đẳng giữa các bên, tình trạng bất cân xứng giữa NTD và tổ chức cá nhân kinhdoanh về thông tin của hàng hóa, dịch vụ; khả năng thương lượng; quy trình; phươngthức giao kết kết; Đối với NTD thì không phải ai cũng có thể hiểu rõ và biết đượcnhững quyền lợi của mình, do đó , NTD dễ dàng gặp phải những rủi ro, đặc biệt là khiphát sinh tranh chấp về chất lượng hàng hóa, dịch vụ như: giao hàng không đúng nhưquáng cáo; hàng kém chất lượng; hàng giả;., thì NTD dễ gặp nhiều khó khăn hon trongviệc thu thập minh chứng đề bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của mình Vì vậy, cần thiếtphải có sự can thiệp của pháp luật bảo vệ quyền lợi của NTD - bên thế yếu trong quan
hệ giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX
1.4 Một số quy định của Liên minh Châu Âu về họp đồng giao kết từ xa
Liên minh Châu Âu (tiếng Anh là “European Union” - viết tắt “EU”) đã trởthành một trong những đổi tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vựcnhư hợp tác phát triến, thương mại và đầu tư, hỗ trợ tích cực cho quá trình phát triển vàhội nhập quốc tế của Việt Nam Đặc biệt là trong bối cảnh Hiệp định Thương mại Tự doEU-Việt Nam (EVFTA) đang triển khai, đem lại thuận lợi cho việc mở rộng các cơ hộiđầu tư và thương mại, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ cúa thị trường thương mạiđiện tử tại Việt Nam Một số quy định cúa pháp luật Liên minh Châu Âu và pháp luậtViệt Nam có những nét tương đồng về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD, đặc biệt là tronggiao dịch mua sắm trực truyến theo HĐGKTX
Liên minh Châu Au đặc biệt quan tâm đên vân đê bảo vệ quyên lợi của NTD,chú trọng đến việc điều chinh quan hệ hợp đồng giao kết giữa thương nhân (bên bán,bên cung cứng dịch vụ) và NTD như HĐGKTX (tiếng Anh là “Distance Contract”)
33 Trần Văn Biên (2010), “Báo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện từ qua Internet”, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20 (181) - http://lapphap.vn/
Trang 33Có nhiều quy định tại EU ảnh hưởng đến lĩnh vực mua sắm trực tuyến nhằm bào
vệ quyền lợi NTD Theo đó, các đặc trưng cúa HĐGKTX trong giao dịch mua sắm trựctuyến tại EU được thể hiện trong các văn bản mang tính quy phạm của Hội đồng Châu
Âu Ngày 13/6/2014, Chỉ thị 2011/83/EC về quyền lợi người tiêu dùng (CRD) thay thếChì thị 97/7/EC về bảo vệ người tiêu dùng Chí thị mới này sẽ hợp nhất 04 chi thị đượcban hành trước đây thành một luật chuẩn duy nhất34
Theo quy định tại Điều 2.(7), Chi thị 2011/83 đã đưa ra khái niệm HĐGKTX khá
đầy đủ như sau: “Hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng được ký kết giữa thương nhân và người tiêu dùng theo một chương trình cung cấp dịch vụ hoặc bán hàng từ xa có tổ chức
mà không có sự hiện diện thực tế đồng thời của thương nhãn và người tiêu dùng, với việc sử dụng độc quyền một hoặc nhiều phương tiện liên lạc từ xa lên đến và bao gồm
cả thời gian mà họp đồng được giao kết” Theo cách tiếp cận cúa EU, HĐGKTX có các
đặc trưng cơ bản như: (i) Được giao kết từ xa; (ii) Sử dụng một hoặc một số phương tiệnliên lạc từ xa trong quá trình giao kết hợp đồng (chẳng hạn như đặt hàng qua thư,internet, điện thoại hoặc fax)
Bên cạnh đó, theo EƯ thì việc xác định HĐGKTX còn phụ thuộc vào địa điểm
mà NTD thương thảo và ra quyết định giao kết, bao gồm cả các sắp xếp được cung cấpbởi bên thứ ba được sử dụng bởi thương nhân và không bao gồm trường họp đặt chỗ cúaNTD nhằm yêu cầu cung cấp dịch vụ Định nghĩa đó cũng đề cập đến các tình huống,trong đó NTD đến thăm cơ sở kinh doanh chỉ với mục đích thu thập thông tin về hànghóa hoặc dịch vụ và sau đó đàm phán và ký kết họp đồng từ xa Tuy nhiên, trường hợpmột hợp đông được thương lượng tại cơ sở kinh doanh của thương nhân và cuối cùngđược ký kết bằng phương tiện liên lạc từ xa hoặc hợp đồng được bắt đầu bằng phươngtiện liên lạc từ xa nhưng cuối cùng được ký kết tại cơ sở kinh doanh cúa thương nhân thi
sẽ không được coi là HĐGKTX
về định nghĩa HĐGKTX theo Chi thị 2011/83/EC của EU và Nghị định 99/2011/NĐ-CP thì cơ bản giống nhau, đều công nhận HĐGKTX là một hợp đồng dân sự (họp
34 Chi thị 2011/83 / EƯ của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng ngày 25 tháng 10 năm 2011 về quyền của
người tiêu dùng, sửa đối Chi thị của Hội đồng 93/13 / EEC và Chi thị 1999/44 / EC của Nghị viện Châu Âu và cùa Hội đồng và bãi bỏ Chỉ thị 85 của Hội đồng / 577 / EEC và Chí thị 97/7 / EC của Nghị viện Châu Âu và Vãn bàn của Hội đồng có liên quan đến EEA, từ < https://eur-lex.europa.eu/legal- content/EN/TXT/?uri=ceiex%3 A32011 L0083>.
Trang 34đồng tiêu dùng) và có thể giao kết thông qua nhiều phương tiện như phương tiện điện tử
và điện thoại Tuy nhiên, Nghị định 99/2011/NĐ-CP chỉ quy định yếu tố phương tiệngiao kết chứ chưa làm rõ được đặc tính về khoảng cách địa lý
a) Đối tượng của họp đồng:
Quy định tại Chỉ thị 2011/83/EC của EU thì đối tượng của HĐGKTX bao gồmhàng hóa và dịch vụ Bên cạnh đó, Chỉ thị còn đề cập đến đối tượng giao dịch là các nộidung số
Theo đó, “HỘỈ dung số ”35 là dừ liệu được sản xuất và cung cấp dưới dạng kỹ
thuật số Và “nội dung kỹ thuật số” được hiểu là dữ liệu được sản xuất và cung cấp ở
dạng kỹ thuật số, chẳng hạn như chương trình máy tính, ứng dụng, trò chơi, nhạc, videohoặc văn bản, bất kề dữ liệu đó được truy cập thông qua hình thức tải xuống hay pháttrực tuyến, từ một phương tiện hữu hình hay thông qua bất kỳ phương tiện nào khác.Nếu nội dung kỳ thuật số được cung cấp trên một phương tiện hữu hình, chẳng hạn như
CD hoặc DVD, thì nội dung đó được coi là hàng hóa theo Chỉ thị 2011/83/EC Có thểthấy, nội dung số là đối tượng giao dịch đặc biệt, bởi sự chuyển giao, cũng như chúng sẽđược cung cấp cho NTD một cách rất nhanh chóng (không biên giới), dẫn đến khó khăntrong việc xác định luật áp dụng, quyền và nghĩa vụ các bên và cơ chế giải quyết khi cótranh chấp
Hiện nay, pháp luật Việt Nam cũng có định nghĩa vê sản phâm nội dung sô tại
Khoản 8, Điều 3, Thông tư 59/2015/TT-BTC như sau: “Sản phẩm nội dung sổ là các văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh được thê hiện dưới dạng số, được lưu giữ, truyền đưa trên môi trường mạng” Tuy nhiên, quy định này còn mang tính chất chung chung, đặc biệt là khái niệm “môi trường mạng 36 ” vẫn chưa rõ ràng Hiện nay, nội dung số tồn
tại nhiều trong môi trường điện tử hoặc các trung gian chứa như CD, DVD,
b) Phuong thức giao kết:
Mặc dù Chỉ thị 2011/83/EC không đưa ra thêm bất kỳ định nghĩa nào để phânbiệt các phương thức giao kết trong HĐGKTX, tuy nhiên có thể hiểu HĐGKTX bằng
35 Điều 2.(11), Chi thị 2011/83/EC.
36Điều 4, Luật Công nghệ thông tin 2006 quy định: "Môi trường mạng ỉà mỏi trường trong đó thông tin được cung
cáp, truyền đưa, thu thập, xử ỉý, lưu trữ và trao đôi thông qua cơ sở hạ tâng thòng tin
Trang 35phương tiện liên lạc từ xa bao gồm phương tiện điện tử là các thiết bị điện tử chẳng hạnnhư đặt hàng qua thư, internet, điện thoại hoặc fax.
Khi đó, HĐGKTX được giao kết bằng các phương tiện, thiết bị điện tử còn cầnphải được tạo lập bởi các ngôn ngữ, phương thức và chương trình chạy tương thích vớithiết bị điện tử Theo EU, yếu tố phương tiện là chưa đủ mà còn phải căn cứ vào cáchthức mà các bên sử dụng phương tiện để giao kết hợp đồng37
Căn cứ vào Điều 3, Chỉ thị 2011/83/EC thì chỉ thị này không áp dụng cho giaodịch từ xa sử dụng phương tiện trung gian là máy điện thoại công cộng, máy bán hàng tựđộng hoặc hoạt động thương mại sử dụng công nghệ tự động hóa Bên cạnh đó, Chỉ thịnày cũng không áp dụng cho hợp đồng được giao kết mua hoặc chuyển nhượng bất độngsản hoặc các quyền đối với bất động sản; và Chỉ thị cũng không áp dụng đối với các hợpđồng cho các dịch vụ tài chính; hợp đồng đối với việc cung cấp thực phẩm, đồ uốnghoặc các hàng hóa khác phục vụ nhu cầu tiêu dùng hiện tại của hộ gia đình và đượcthương nhân cung câp và thường xuyên giao hàng đến nhà, nơi ở hoặc nơi làm việc củaNTD
c) Các bên trong HĐGKTX theo EU:
Các bên trong HĐGKTX theo EU là: i) Bên bán là thương nhân; ii) Bên mua làNTD, bao gồm cá nhân, tổ chức, giao kết hợp đồng không với mục đích thương mại(hay còn gọi là khách hàng) và iii) Bên thứ ba là trung gian thông tin
Trong quan hệ hợp đồng, EU cũng đề cao nguyên tắc tự do thỏa thuận của cácbên Để đảm bảo quyền lợi cho NTD, EU đã có quy định đặc biệt dành cho các bên bántrong HĐGKTX, đó là bên bán có nghĩa vụ cung cấp các thông tin trước khi tiến tới giaokết hợp đồng, theo đó, đối với HĐGKTX thì trước khi NTD bị ràng buộc bởi hợp đồngnày thì thương nhân (bên bán) phải cung cấp cho NTD những thông tin được quy địnhtại Điều 6, Chi thị 2011/83/EC một cách đầy đú, rõ ràng hoặc cung cấp các thông tin đócho NTD theo cách phù hợp với phương tiện giao tiếp từ xa được sử dụng bằng ngônngừ đơn giản, dễ hiểu Trong trường hợp, HĐGKTX được xác lập qua điện thoại, thì khibắt đầu cuộc trò chuyện với NTD, thương nhân sẽ tiết lộ danh tính và trao đối về mục
37Võ thị Thanh Linh, Đoàn Thanh Hải (2019), "Một số khía cạnh pháp lý của họp đồng giao kết từ ca bằng
phương tiện điện tử - Góc nhìn pháp luật Châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ", Tham luận Hội Thào
quốc tế “Trách nhiệm dân sự và hợp đồng: Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu”, 291- 302.
Trang 36đích thương mại của cuộc gọi.
Theo EU, trong giao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX còn có một chủ thềđóng vai trò quan trọng không kém đó là bên thứ ba là bên tạo môi trường kỳ thuật, cơ
sở hạ tầng cho các giao dịch mua sắm trực tuyến; không thế phù nhận vai trò rất cầnthiết của bên thứ ba là đơn vị các nhà cung cấp dịch vụ mạng và là trung gian thông tinnhư đơn vị truyền thông quảng cáo về hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinhdoanh tới NTD Thật vậy, bên thứ ba không tham gia trực tiếp vào quá trình đàm phán,giao kết hợp đồng mà tham gia với tư cách hồ trợ cho việc thực hiện họp đồng và đảmbảo tính hiệu quả cũng như giá trị pháp lý của hợp đồng
Trang 37d) Hình thức họp đồng:
HĐGKTX là loại hợp đồng đặc biệt, đòi hỏi phải sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễđọc, dễ hiếu cho NTD, do đó, EU cũng đặc biệt quan tâm và quy định khá cụ thể vềngôn ngừ thể hiện trong họp đồng Bởi vì, trong giao dịch mua sắm trực tuyến,HĐGKTX sẽ phải thể hiện khá nhiều thông tin do thương nhân cung cấp trong khônggian giới hạn; ví dụ như các thông tin có ánh hưởng một cách trực tiếp đến việc NTDđưa ra quyết định giao kết họp đồng, cũng như những nút lệnh, xác nhận thì cần phảiđược thể hiện một cách nổi bật, dễ thấy nhằm giúp NTD tránh việc bỏ sót hoặc khôngđọc được thông tin
Trang 38Kêt luận Chương 1
Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế trở thành xu thế chungcủa tất cả các quốc gia để phát triển, liên kết mạng lưới NTD qua các mạng xã hội trựctuyến và thị trường thương mại điện tử đã trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn Do đó, giaodịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX là nhu cầu tất yếu bởi những ưu điểm vượt trội
so với các hợp đồng thương mại được giao kết bằng phương thức truyền thống, giúpNTD tiết kiệm thời gian, nhanh chóng, tiện lợi, không bị giới hạn bởi thời gian và khônggian địa lý,., mang lại những lợi ích cho các chủ thể tham gia
Pháp luật Việt Nam đã có quy định về HĐGKTX, có những sự điều chình kịpthời đối với những vấn đề liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng này Tuy nhiên,các quy định về đối tượng, hình thức giao kết, quyền và nghĩa vụ giữa các bên tronggiao dịch mua sắm trực tuyến theo HĐGKTX còn tồn tại nhiều vấn đề pháp lý Bêncạnh những ưu điểm thì HĐGKTX trong mua sắm trực tuyến cũng tiềm ẩn rủi ro đối vớiNTD Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin thì giao dịch mua sắm trực tuyếnngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, kéo theo đó là quyền lợi NTD cũng dễ bị thuhẹp và hạn chế hơn Do đó, việc nghiên cứu và phân tích tình trạng trên là điều cầnthiết, cũng như tìm hiểu vấn đề liên quan theo quy định của pháp luật Liên minh Châu
Âu để có những kiến nghị phù hợp nhàm bảo vệ quyền lợi NTD tại nước ta