Untitled ( lOMoARcPSD|25196495 ) MỞ ĐẦU 2 TRIỂN KHAI NỘI DUNG 2 Khả năng hoạt động và sự thành công trong công việc 2 Khái niệm hoạt động 2 Các loại hoạt động 3 Vai trò của hoạt động đối với sự phát t.
Trang 2I MỞ ĐẦU 2
II TRIỂN KHAI NỘI DUNG 2
1 Khả năng hoạt động và sự thành công trong công việc 2
1.1 Khái niệm hoạt động 2
1.2 Các loại hoạt động 3
1.3 Vai trò của hoạt động đối với sự phát triển tâm lí 3 1.4 Khả năng hoạt động đối với sự thành công trong công việc .3 1.4.1 Tồn tại trước, thành công sau 3
1.4.2 Hoạt động – Hình thức bộc lộ nhân cách, tâm lí của con người 5 1.4.3 Hoạt động, phát triển, thành công 6
2 Giao tiếp hiệu quả và sự thành công trong công việc 8 2.1 Khái niệm giao tiếp, kỹ năng giao tiếp 8
2.2 Chức năng của giao tiếp 9
2.3 Vai trò của giao tiếp đối với sự phát triển tâm lý 9 2.4 Giao tiếp hiệu quả và sự thành công trong công việc10 2.4.1 Giao tiếp hiệu quả có khả năng tạo dựng các mối quan hệ 10 2.4.2 Giao tiếp hiệu quả giúp con người dễ dàng thuyết phục và đàm phán 12
2.4.3 Giao tiếp để nhận thức và đánh giá chính mình 14
1 III KẾT LUẬN 16
Trang 4mà bản thân ước mơ bằng chính thực lực của mình và được côngnhận.
Để đạt được thành công trong công việc, con người cần rất nhiều yếu
tố khác nhau Song yếu tố quan trọng nhất chính là hoạt động và giaotiếp hiệu quả
Đặt vấn đề:
Ngay từ nhỏ, mỗi chúng ta đều được nghe lời dạy của cha ông đượccha mẹ truyền lại: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”
Điều đó đã chứng tỏ sự giao tiếp và hoạt động là rất cần thiết để một
cá nhân đạt được thành công trong công việc Bài tiểu luận này sẽdựa trên các kiến thức lý luận của tâm lý học để làm rõ luận điểmtrên
1 Khả năng hoạt động và sự thành công trong công việc
1.1 Khái niệm hoạt động
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng luôn vận động Bằng vận động vàthông qua vận động mà sự vật, hiện tượng tồn tại và thể hiện đặc tínhcủa nó Bởi vậy, vận động là thuộc tính vốn có,
Trang 5là phương thức tồn tại của sự vật và hiện tượng Ở con người,thuộc tính đó, phương thức đó chính là hoạt động.
Dưới góc độ tâm lí học, xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sốngcủa con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đanxen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của conngười trong thế giới Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữacon người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thếgiới và cả về phía con người
1.2 Các loại hoạt động
- Hoạt động biến đổi
- Hoạt động nhận thức
- Hoạt động định hướng giá trị
- Hoạt động giao lưu (giao tiếp)
1.3 Vai trò của hoạt động đối với sự phát triển tâm lí
- Hoạt động là nhân tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển tâm
Trang 61.4 Khả năng hoạt động đối với sự thành công trong
công việc
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác độngvào đối tượng, tạo ra sản phẩm nhằm thoả mãn những nhu cầu (trựctiếp/gián tiếp) của bản thân và xã hội Hoạt động có thể diễn ra ở cảmặt tích cực và tiêu cực, ví dụ như ăn trộm là hoạt động tiêu cực, sảnxuất ra những sản phẩm có ích phục vụ cho đời sống là hoạt động tíchcực Hoạt động mà chúng ra đang xét đến ở đây phải là hoạt động tíchcực, hoạt động hiệu quả Hiệu quả theo tiếng Anh là “Efficiency”được xem là đánh giá qua kết quả thực hiện của hoạt động ở hiện tại
so với kế hoạch dự kiến trước đó Là khả năng sản xuất ra sản lượnghàng hóa và dịch vụ mong muốn hay kết quả được tạo ra đúng theo
kỳ vọng, để lại ấn tượng sâu sắc, sinh động
1.4.1 Tồn tại trước, thành công sau
Dưới góc độ tâm lí học, xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sốngcủa con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đanxen vào nhau, vì vậy nếu không hoạt động thì cuộc sống của conngười sẽ không tồn tại Hoạt động là phương thức tồn tại của conngười Trước khi thành công thì con người phải tồn tại, phải hoạtđộng đã
Đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động chính là tính đối tượng Hoạtđộng bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng Đối tượng của hoạtđộng là cái mà chủ thể tác động vào nhằm thay đổi hoặc chiếm lĩnh
Nó có thể là sự vật, hiện tượng, khái niệm, con người hoặc các mốiquan hệ có khả năng thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, thúcđẩy con người hoạt động Vì thế, đối
Trang 7tượng hoạt động là hiện thân của động cơ hoạt động Ví dụ như đốitượng của hoạt động học tập là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,… chúng cókhả năng thỏa mãn nhu cầu học tập của con người nên trở thành động
cơ thúc đẩy con người hoạt động
Có một câu chuyện kể rằng: Có một người vận chuyển hàng cần chởmột lượng hàng nhất định và thường xuyên nên đã tìm 2 con ngựa đểgiúp mình thực hiện công việc này
Người vận chuyển chia hàng làm đôi, mỗi con chở một nửa Ban đầu
cả hai con đều làm việc chăm chỉ Nhưng càng ngày, một con thìchăm chỉ và đi nhanh, một con trở nên lười biếng vừa đi vừa nhởnnhơ gặm cỏ Người chuyển hàng thấy vậy đã mang toàn bộ số hàngtrên lưng con ngựa chậm chạp chất lên lưng con ngựa đi nhanh
Con ngựa lười thấy vậy càng khoái chí và nghĩ mỉa mai con ngựanhanh: "Khà khà! Càng nỗ lực, càng siêng năng thì càng cực nhọc,như ta đây có khỏe hơn không?"
Nhưng thật không may, người vận chuyển thấy một con cũng có thểkham nỗi khối lượng công việc và nghĩ: "Tại sao mình lại phải nuôithêm một con lười biếng vô tích sự kia?"
Thế là người vận chuyển đã bán con ngựa lười biếng cho người tagiết thịt
Câu chuyện về con ngựa lười biếng và con ngựa chăm chỉ đãchứng minh cho quan điểm “Hoạt động là phương thức tồn tại củacon người.” Chỉ có hoạt động mới sản sinh ra của cải vật chất nuôisống con người, giúp con người có được nhu yếu
Trang 8phẩm để tự lo cho bản thân và không trở thành kẻ ăn bám bị xã hộiđào thải.
1.4.2 Hoạt động – Hình thức bộc lộ nhân cách, tâm lí của con
người
Một trong số những đặc điểm của hoạt động là hoạt động bao giờcũng có chủ thể Chủ thể là con người có ý thức tác động vào kháchthể - đối tượng của hoạt động Như vậy, hàm chứa trong hoạt động
là tính chủ thể mà đặc điểm nổi bật nhất của nó là tính tự giác vàtính tích cực Có nghĩa là mỗi cá nhân thể hiện mức độ tích cực hoạtđộng, tích cực giao lưu khác nhau trong cuộc sống dẫn đến tâm lícủa người này khác với tâm lí của người khác Thông qua quá trìnhđối tượng hóa (xuất tâm), ta có thể biết được tâm lí của người khác.Quá trình đối tượng hoá (còn gọi là “xuất tâm”) là quá trình mà tâm
lí của con người (của chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hoátrong quá trình làm ra sản phẩm Như vậy, chúng ta mới có thể tìmhiểu được tâm lí con người thông qua hoạt động của họ
Nếu một tác giả luôn vui vẻ, say mê với công việc viết tiểu thuyết thìnhững tác phẩm của họ sẽ tinh tế hơn, chỉn chu hơn và có giá trị hơn
so với những tác phẩm của người bị ép buộc phải viết để phục vụ chomột mục đích mà họ không đặt ra
Chính quá trình tác động này đã làm bộc lộ nhân cách của con người.Thông qua việc quan sát sản phẩm, những nhà tuyển dụng có thểđánh giá tính cách, tâm lí của các ứng cử viên Nếu là người có nhữngtình cảm tốt, thái độ tốt (tức là khả năng hoạt động hiệu quả), họ sẽđược đánh giá cao, từ đó có cơ hội làm
7
Trang 9việc và phát triển bản thân, dần dần dẫn tới thành công Ngược lại,nếu là người tiêu cực, có thái độ không tốt khi làm sản phẩm (khiêncưỡng, xem thường) thì sẽ bị “loại”, như vậy cũng đồng nghĩa vớiviệc con đường dẫn tới thành công của họ sẽ bị thu hẹp lại.
Như vậy, thông qua những luận điểm trên, chúng ta có thể khẳngđịnh: Khả năng hoạt động hiệu quả là một thuộc tính tâm lí cần thiết
để mỗi cá nhân đạt được thành công trong công việc Chỉ khi hoạtđộng con người ta mới tồn tại Và chỉ khi hoạt động hiệu quả thì conngười mới phát triển và đạt được thành công
1.4.3 Hoạt động, phát triển, thành công
Không chỉ duy trì sự sống, hoạt động hiệu quả còn có khả năng khiếncon người phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn
Theo quan điểm tâm lí học, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lạigiữa con người và thế giới để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và
cả về phía con người Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn rađồng thời, bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau là quá trình đốitượng hóa (xuất tâm) và quá trình chủ thể hóa (nhập tâm) Ở đâychúng ta sẽ bàn đến quá trình chủ thể hóa
Quá trình chủ thể hóa là quá trình con người chuyển nội dungkhách thể (những quy luật, bản chất, đặc điểm,… của khách thể)vào bản thân mình, tạo nên tâm lí, ý thức, nhân cách của bản thân.Đây được cho là quá trình lĩnh hội thế giới, là quá trình nhập tâm.8
Trang 10Ví dụ như người nông dân thông qua công việc làm nông nhiều năm,
họ đã đúc kết được những kinh nghiệm về việc chọn giống, dự báothời tiết, chỉ cần nhìn là có thể đưa ra kết luận:
“Cơn đằng Đông vừa trông vừa trông vừa chạy
Cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi.”
Như vậy trong quá trình hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm vềphía thế giới, vừa tạo ra tâm lí, ý thức của mình Hay nói cách khác,tâm lí, ý thức, nhân cách, kinh nghiệm đều được hình thành và pháttriển trong hoạt động
Ngoài ra, hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích Mục đích là biểutượng về sản phẩm hoạt động có khả năng thoả mãn nhu cầu nào đócủa chủ thể, nó điều khiển, điều chỉnh hoạt động
Tính mục đích gắn liền với tính đối tượng Đối tượng của hoạt động
là cái mà chủ thể tác động vào nhằm thay đổi hoặc chiếm lĩnh Nó cóthể là sự vật, hiện tượng, khái niệm, con người hoặc mối quan hệ cókhả năng thoả mãn nhu cầu nào đó của con người, thúc đẩy con ngườihoạt động Vì thế, đối tượng hoạt động là hiện thân của động cơ hoạtđộng
Chỉ có hoạt động mới khiến chúng ta biết công việc mình đang làmcần những kỹ năng gì, những tri thức gì để trang bị cho bản thân.Chính mục đích và đối tượng sẽ chỉ đạo hoạt động của con người,khiến con người phải có những hành động để thực hiện hoạt động ấy
Ví dụ như sau khoảng thời gian làm quen với công việc, chúng ta sẽnhận ra những hạn chế trong cách thức làm việc của mình để khắcphục, đồng thời có nhu cầu làm công việc ấy nhanh hơn mà vẫn đạtđược hiệu quả cao, đó là mục
9
Trang 11đích Để phục vụ mục đích này, chúng ta phải tìm hiểu phương phápkhác tối ưu hơn.
Một ví dụ khác, khi muốn biến điện năng thành ánh sáng, ThomasEdison đã phải làm rất nhiều thí nghiệm Thông qua quá trình nghiêncứu những thành tựu, hạn chế của những bậc tiền nhân, thông quaviệc cố gắng khắc phục và sáng tạo không ngừng nghỉ, ông đã chế tạo
ra dây tóc bóng đèn được làm bằng sợi cotton đã hóa than, có thểchiếu sáng 14 giờ và ứng dụng tốt trong điều kiện thực tế Phát minhnày đã vượt xa dây đốt bằng chì của nhà phát minh Joseph Swan năm
1860 Điều này đã đem lại ánh sáng và giúp nhân loại phát triển hơn,văn minh hơn Đây chính là sự phát triển Theo quan điểm Triết học,phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật.Sau khi sự phát triển đã đạt đến một trình độ nhất định, chúng ta sẽ
có được thành công Như đã trình bày ở trên, thành công là kết quảtích cực mà con người hướng tới Thành công này là thành tựu cóđược sau quá trình hoạt động không ngừng nghỉ Tùy vào từng lĩnhvực mà sự hoạt động này có cách biểu hiện khác nhau (hoạt độngthực tiễn, hoạt động lý luận) và tạo ra những sự thành công khácnhau (thành công trong việc tạo ra sản phẩm vật chất, thành côngtrong việc tạo ra sản phẩm tinh thần)
Tiếp tục với ví dụ trên, sau khi có được bóng đèn sợi đốt, con ngườilại không ngừng nghiên cứu và phát minh Qua rất nhiều năm, đếnngày hôm nay, chúng ta đã thành công trong việc tạo ra ánh sáng:những bóng đèn tuýp, đèn LED, đèn compact có
10
Trang 12thể chiếu sáng hàng tháng, hàng năm mà không chỉ dừng lại ở 14 giờnhư phát minh trước đó Đây là sự thành công của cả nhân loại trongtiến trình tìm ra ánh sáng nhân tạo.
Như vậy, hoạt động luôn gắn liền với mục đích Để đạt được một mụcđích, con người phải hành động, thông qua hành động sẽ dẫn tới sựphát triển, chính sự phát triển đã làm nên thành công
Thông qua những luận điểm trên, chúng ta có thể khẳng định: Khả năng hoạt động hiệu quả là một thuộc tính tâm lý cần thiết để mỗi cá nhân đạt được thành công trong công việc Chỉ khi hoạt động con người ta mới tồn tại Và chỉ khi hoạt động hiệu quả thì con người mới phát triển và đạt được thành công.
2 Giao tiếp hiệu quả và sự thành công trong công việc
2.1 Khái niệm giao tiếp, kỹ năng giao tiếp:
Giao tiếp: Theo giáo trình Tâm lý học của Tạ Quang Uẩn, giao tiếp
là mối quan hệ giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúctâm lí giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau
về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qualại với nhau Nói cách khác, giao tiếp là quá trình xác lập và vận hànhcác quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữachủ thể này với chủ thể khác
Như vậy, thông qua các lý lẽ và dẫn chứng trên, ta khẳng định: Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng mềm cực kỳ quan trọng trong thời đại ngày nay, đó là một tập hợp những quy tắc, nghệ thuật, cách ứng xử, đối đáp được đúc rút qua kinh
Trang 13nghiệm thực tế hằng ngày giúp mọi người giao tiếp hiệu quả, thuyết phục.
2.2 Chức năng của giao tiếp
- Chức năng thông tin: Qua giao tiếp, con người trao đổi,
truyền đạt tri thức, kinh nghiệm với nhau
- Chức năng cảm xúc: Giao tiếp tạo ra nhưng ấn tượng, những cảmxúc mới giữa các chủ thể
- Chức năng nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn nhau: Trong giaotiếp, con người bộc lộ quan điểm, tư tưởng, thái độ,… thói quen củamình Do đó các chủ thể có thể nhận thức được về nhau, làm cơ sởđánh giá lẫn nhau Trên cơ sở so sánh và ý thức về sự đánh giá củangười khác, con người có thể tự đánh giá được về bản thân
- Chức năng điều chỉnh hành vi: Trên cơ sở nhận thức, đánh giá lẫnnhau và tự đánh giá được bản thân; trong giao tiếp, mỗi chủ thể cókhả năng tự điều chỉnh hành vi của mình và tác động đến động cơ,mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của chủ thể khác
- Chức năng phối hợp hoạt động: Nhờ có quá trình giao tiếp, conngười có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết nhiệm vụnào đó nhằm đạt được mục tiêu chung Đây là một chức năng giaotiếp phục vụ các nhu cầu chung của xã hội hay một nhóm người
2.3 Vai trò của giao tiếp đối với sự phát triển tâm lý
12
Trang 14Bằng hoạt động và giao tiếp, con người với tư cách là chủ thể sẽ lĩnhhội kinh nghiệm xã hội lịch sử, biến nó thành tâm lí, nhân cách Vìvậy, tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp.
2.4 Giao tiếp hiệu quả và sự thành công trong công
việc
Cũng như hoạt động, giao tiếp được coi như là một trong những kháiniệm cơ bản nhất của tâm lí học Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽvới nhau, không thể tách rời Nếu hoạt động là hình thức con ngườitác động lên sự vật, hiện tượng (hiện thực khách quan) thì giao tiếpchính là hình thức con người tác động lên chính con người
2.4.1 Giao tiếp hiệu quả có khả năng tạo dựng các mối quan
hệ
Cách đây hàng triệu năm, khi tổ tiên loài người chúng ta vẫn là loàivượn, họ đã có nhu cầu giao tiếp, họ nhận thức được mình có điềucần nói và cần phải nói, vì vậy mà trước cả khi hệ thống tín hiệu thứhai – ngôn ngữ được ra đời, họ đã giao tiếp với nhau bằng nhữngngôn ngữ hình thể
Nếu một con người không được giao tiếp với người khác trongkhoảng thời gian dài, họ sẽ dần mất đi khả năng tương tác vớingười khác
Cuộc đời của Marcos Rodriguez Pantoja chính là dẫn chứng cho luậnđiểm này Marcos sinh ra tại thành phố Cordoba, miền Nam Tây BanNha vào năm 1946, tuy nhiên đến năm 6 tuổi cậu đã tách khỏi xã hộiloài người và chung sống với loài sói Bầy sói đã
13