Bài viết phân tích sơ bộ về thị trường tái bảo hiểm Việt Nam, nêu lên những thực trạng, tồn tại, qua đó kiến nghị một số giải pháp với các cơ quan quản lý và các DNBH/tái bảo hiểm trong nước.
Trang 1MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHO THỊ TRƯỜNG TÁI BẢO HIỂM VIỆT NAM
Hoàng Tú Anh
Trưởng ban Kinh doanh Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm PVI (PVI Re)
Tóm tắt
Việt Nam là điểm đến của nhiều nhà đầu tư nước ngoài nhờ vào tốc độ tăng trưởng GDP khá cao Trong 5 năm gần đây, tăng trưởng phí bảo hiểm phi nhân thọ đều vượt mức tăng trưởng GDP với biên độ đáng kể Theo số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ năm 2020 đạt 55.807 tỷ đồng, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2019 Trong đó, tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm được các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhân thọ giữ lại chiếm khoảng 68%, đồng nghĩa với việc phần rủi ro các doanh nghiệp này tự chịu; 32% còn lại các DNBH nhượng lại cho các nhà tái bảo hiểm để san sẻ bớt rủi ro Điều này hình thành nên một thị trường thứ cấp phía sau, đó là thị trường tái bảo hiểm
Đà tăng trưởng khá khả quan của nền kinh tế cùng với sự linh hoạt của các DNBH trong việc đánh giá rủi ro đã thúc đẩy thị trường tái bảo hiểm Việt Nam thời gian gần đây trở nên sôi động Quy mô thị trường tái bảo hiểm Việt Nam năm 2020 đạt mức 20.000 nghìn
tỷ đồng, tăng 7,5% so với năm 2019 Các nhà tái bảo hiểm nước ngoài nắm giữ 83%, phần còn lại thuộc về Tổng Công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam – VINARE (thành lập năm 1994) và Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm PVI – PVI Re (thành lập năm 2011) Tuy vậy,
có một thực tế là thị phần của các nhà tái bảo hiểm nội địa vẫn luôn “lép vế” so với các doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, cho dù có sự cải thiện Thị trường Việt Nam vẫn đang thu xếp tái bảo hiểm theo các phương pháp truyền thống, chủ yếu là tái bảo hiểm tỷ lệ Các hình thức hợp đồng chịu rủi ro chung (Pool), tái bảo hiểm tài chính hoặc chuyển giao rủi ro thay thế (ART) không phổ biến và chưa xuất hiện nhiều tại thị trường Việt Nam Với sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nói chung và tái bảo hiểm nói riêng, các doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước còn rất nhiều dư địa để mở rộng và phát triển cũng như nâng cao thị phần
Trước tình hình đó, các doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước cần nâng cao vị thế, năng lực của mình qua việc đẩy mạnh tăng vốn, nâng mức xếp hạng tín nhiệm, cơ cấu tổ chức quản lý theo chuẩn quốc tế, xây dựng chương trình quản trị rủi ro doanh nghiệp chặt chẽ, đa dạng hóa danh mục rủi ro… Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý, bộ, ngành là yếu tố quan trọng góp phần giúp các doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước nâng cao cơ hội cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, đẩy mạnh phát triển thị trường bảo
Trang 2hiểm/tái bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam và ngày càng chuyên môn hóa cao và chuyên nghiệp hơn
Bài viết phân tích sơ bộ về thị trường tái bảo hiểm Việt Nam, nêu lên những thực trạng, tồn tại, qua đó kiến nghị một số giải pháp với các cơ quan quản lý và các DNBH/tái bảo hiểm trong nước
Từ khóa: Tái bảo hiểm, thị trường tái bảo hiểm
1 Tổng quan thị trường tái bảo hiểm Việt Nam
1.1 Quy mô thị trường
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam hiện vẫn còn nhiều tiềm năng để mở rộng phát triển Năm 2020, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 55.807 tỷ đồng, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2019 Các động lực chính thúc đẩy tăng trưởng phí bảo hiểm phi nhân thọ trong những năm gần đây là sự tăng trưởng GDP và hoạt động công nghiệp, thương mại liên quan; sự ra đời của các quy định bảo hiểm bắt buộc mới cùng với sự mở rộng của các quy định bảo hiểm bắt buộc hiện hành; cùng với đó là sự gia tăng của tầng lớp trung lưu – những người có khả năng và sẵn sàng mua bảo hiểm cho tài sản của họ Với đà tăng trưởng khá khả quan của nền kinh tế cùng với sự linh hoạt của các DNBH trong việc đánh giá rủi ro đã thúc đẩy thị trường tái bảo hiểm Việt Nam thời gian gần đây trở nên sôi động
Tại Việt Nam, tốc độ tăng trưởng phí nhượng tái đạt khoảng 15%/năm Giai đoạn 2020
- 2024, nhu cầu về tái bảo hiểm trên thế giới cũng như tại Việt Nam tiếp tục tăng Theo đó, mức phí tái bảo hiểm duy trì được tốc độ tăng trưởng 2 con số
Hình 1 Phí nhượng tái thị trường Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020
Đơn vị: nghìn tỷ đồng
Trang 3Hoạt động tái bảo hiểm phát triển sẽ mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp ở Việt Nam có thể tham gia vào quá trình tái bảo hiểm với các doanh nghiệp có nhiều năm kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm đến từ châu Âu Đặc biệt, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) sẽ mở ra một dòng đầu tư lớn có chất lượng từ các quốc gia phát triển, nơi có nhiều DNBH sẽ phải chia sẻ với các doanh nghiệp Việt Nam, nơi khách hàng của họ đến Việt Nam đầu tư sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
1.2 Thị phần doanh thu
Trên thị trường Việt Nam, hiện có hai doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước là Tổng Công
ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam – VINARE và Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm PVI – PVI Re
VINARE được thành lập năm 1994 và cổ phần hóa và niêm yết trên thị trường chứng khoán năm 2006 Cổ đông chính của VINARE là Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) Swiss Re là cổ đông lớn thứ hai và là đối tác chiến lược của VINARE
PVI Re – công ty con của PVI Holdings, trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, được thành lập năm 2011 PVI Re tăng vốn điều lệ lên 668 tỷ đồng thông qua cổ phần hóa vào tháng 10/2013 Đây là một mốc quan trọng trong hoạt động kinh doanh, đưa PVI Re trở thành Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm PVI
Bảng 1 Doanh thu phí năm 2020 của VINARE và PVI Re
DOANH THU PHÍ NĂM 2020
Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Theo Báo cáo của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, nguồn doanh thu chính của VINARE
và PVI Re chủ yếu là từ nguồn trong nước Nguồn doanh thu nước ngoài của VINARE và PVI Re năm 2020 lần lượt là 17% và 8%
Trên thực tế, ngoài hai doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước, các nhà tái bảo hiểm nước ngoài và các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được cấp phép trong nước cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lực tái bảo hiểm cho thị trường Việt Nam Các doanh nghiệp này với năng lực tái bảo hiểm lớn, kinh nghiệm lâu năm trên thị trường và nguồn lực công nghệ hiện đang cạnh tranh mạnh mẽ với các doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước
Trang 4Hình 2 Cơ cấu thị trường tái bảo hiểm Việt Nam
Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, bên cạnh việc tập trung tối đa vào những lợi thế vốn
có như: sự hiểu biết thị trường trong nước, sự nhanh nhạy trước những thay đổi của chính sách, khả năng cung cấp cho khách hàng những sản phẩm tái bảo hiểm hiệu quả, phù hợp với đặc trưng của thị trường…, các doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước cần khắc phục hai điểm yếu cố hữu về quy mô vốn và phương thức giao dịch
Việc kiểm soát tốt dịch bệnh COVID-19 cùng với kinh tế vĩ mô ổn định đang giúp Việt Nam trở thành một trong những điểm đến của làn sóng dịch chuyển đầu tư từ nước ngoài Theo đó, lĩnh vực tái bảo hiểm được cho là có cơ hội đón dòng vốn đầu tư nước ngoài mới, đặc biệt là từ các doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản Đây cũng là cơ hội cho VINARE
và PVI Re trong việc thu xếp tái bảo hiểm các dịch vụ về tài sản, kỹ thuật, hàng hải… với nhóm khách hàng này
1.3 Thu xếp tái bảo hiểm
Thị trường Việt Nam nhìn chung vẫn đang thu xếp tái bảo hiểm theo các phương pháp truyền thống; hiện chưa có động thái lớn nào trong việc thu xếp tái bảo hiểm phi tỷ lệ thay thế tái bảo hiểm tỷ lệ, một số DNBH lớn đang thu xếp các chương trình tái bảo hiểm vượt mức bồi thường (Excess of loss), đặc biệt là đối với bảo hiểm hàng hóa Tuy nhiên, các hợp đồng tái bảo hiểm tỷ lệ vẫn chiếm ưu thế trong hầu hết các nghiệp vụ, ngoại trừ bảo hiểm xe
cơ giới
Trang 5Trước kia, thông lệ thị trường thường hạn chế đồng bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm thường sẽ cấp đơn 100% và thu xếp tái bảo hiểm trên cơ sở tái bảo hiểm tạm thời Tuy nhiên, hình thức đồng bảo hiểm đã trở nên phổ biến hơn, đặc biệt là đối với rủi ro trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản và xây dựng lắp đặt Xu hướng này cũng gia tăng khi người được bảo hiểm ngày càng có xu thế yêu cầu chương trình bảo hiểm cho hoạt động kinh doanh của họ phải được chia sẻ giữa các doanh nghiệp bảo hiểm Thông thường, các nhà tái bảo hiểm trong nước và nước ngoài áp dụng giới hạn khoảng 50% năng lực hợp đồng tái bảo hiểm cố định đối với các rủi ro được đồng bảo hiểm nhằm hạn chế và kiểm soát mức độ tích tụ rủi ro
Tổng hạn mức trách nhiệm cho một sự kiện tổn thất được áp dụng trong hầu hết các hợp đồng tái bảo hiểm tỷ lệ nghiệp vụ tài sản và xây dựng
Bảo hiểm xe cơ giới thường được giữ lại và bảo vệ bởi các hợp đồng vượt mức bồi thường
Trong khi tất cả các giao dịch bảo hiểm trực tiếp tại Việt Nam phải được thanh toán bằng Việt Nam đồng, hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm – nơi mà phần lớn dịch vụ được thu xếp ra nước ngoài – sẽ được quy định và giao dịch bằng USD (về hạn mức tái bảo hiểm, phí, bồi thường…)
Theo Báo cáo của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, hiện không có hợp đồng chịu rủi ro chung (Pool) được xây dựng tại Việt Nam
Hiện tại, tái bảo hiểm tài chính hoặc chuyển giao rủi ro thay thế (ART) không phổ biến và chưa xuất hiện nhiều nhu cầu quan tâm tại thị trường Việt Nam, mặc dù các thỏa thuận đó có thể áp dụng trong trường hợp các doanh nghiệp nước ngoài được phép hoạt động trên thị trường
2 Thực trạng thị trường tái bảo hiểm Việt Nam
2.1 Tỷ trọng tái bảo hiểm trong nước thấp
Theo Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, trong trường hợp người được bảo hiểm không có các chỉ định về doanh nghiệp tái bảo hiểm, không có điều khoản nào cấm DNBH trong nước thu xếp tái bảo hiểm trên 90% tùy theo mức độ rủi ro
Mặc dù Thông tư số 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 73/2016/NĐ-CP cũng quy định việc nhượng tái bảo hiểm không được phân biệt đối xử giữa các DNBH, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm nước ngoài, thị phần của các doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước vẫn luôn
“lép vế” so với các doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, cho dù có sự cải thiện qua các năm gần đây Năm 2020, thị phần của hai nhà tái bảo hiểm VINARE và PVI Re đã tăng lên
Trang 6nhưng vẫn chỉ gần đạt 20% (VINARE 10% và PVI Re 7%) Điều này dẫn đến tình trạng phụ thuộc nhiều vào các nhà tái bảo hiểm nước ngoài, làm lệch cán cân lưu chuyển ngoại tệ
Thực tế tình trạng này không chỉ xuất hiện tại thị trường Việt Nam mà còn diễn ra tại hầu hết các thị trường bảo hiểm đang phát triển trên thế giới
Lý do thị phần của các nhà tái bảo hiểm trong nước còn khiêm tốn là do:
- Hai công ty tái bảo hiểm PVI Re và VINARE đều tập trung vào mảng bảo hiểm thương mại vốn chỉ chiếm khoảng 40% doanh thu thị trường bảo hiểm gốc, trong khi 60% còn lại là các sản phấm bán lẻ (nghiệp vụ con người, xe cơ giới, sức khỏe) – vốn thuộc mức giữ lại của DNBH gốc và nếu có thu xếp tái bảo hiểm thì cũng chỉ dành cho một số thị trường quốc tế (ví dụ như nghiệp vụ xe cơ giới) Dù vậy, lợi nhuận từ nghiệp vụ này thường mỏng, thậm chí thua lỗ do có tỷ lệ tổn thất cao, chi phí khai thác lớn
- Ngoài ra, do thị trường tái bảo hiểm Việt Nam chỉ có hai nhà tái bảo hiểm trong nước, lại không có lợi thế về vốn nên việc thu xếp tái bảo hiểm phụ thuộc nhiều vào các nhà tái bảo hiểm nước ngoài, đặc biệt trong các rủi ro có trách nhiệm bảo hiểm lớn, vượt quá khả năng giữ lại của các DNBH/tái bảo hiểm trong nước, nhất là các nghiệp vụ đặc thù như: hàng không, dầu khí; các yêu cầu cao về xếp hạng tín nhiệm (rating) của khách hàng bảo hiểm gốc…
2.2 Mức giữ lại của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước còn thấp
Mức giữ lại của các DNBH trong nước còn thấp dẫn đến nhu cầu thu xếp tái bảo hiểm nước ngoài cho các rủi ro có mức trách nhiệm lớn tăng lên
Bảng 2 Tỷ lệ giữ lại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam
giai đoạn 2015 - 2019 (%)
2015
Năm
2016
Năm
2017
Năm
2018
Năm
2019
Toàn thị trường phi nhân thọ 72,72 73,53 72,31 67,61 68,00
Trang 7Bảng 2 cho thấy chuyển động trong việc tính toán mức giữ lại trong một số nghiệp vụ qua các năm, trong đó nghiệp vụ có tỷ lệ giữ lại thấp nhất và ít biến động nhất là nghiệp vụ tài sản với tỷ lệ tái bình quân là 70%
Nghị định số 73/2016/NĐ-CP với mục đích cải thiện mức giữ lại trung bình của thị trường bảo hiểm trong nước nhằm giảm sự phụ thuộc vào các nhà tái bảo hiểm nước ngoài, giảm khối lượng lưu chuyển ngoại tệ và cải thiện tốc độ giải quyết các khiếu nại liên quan đến tái bảo hiểm, quy định rằng:
- Mức trách nhiệm tối đa cho mỗi rủi ro hoặc tổn thất đơn lẻ mà DNBH được cấp phép trong nước có thể giữ lại được giới hạn bằng 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
- Trường hợp DNBH, chi nhánh nước ngoài nhượng tái bảo hiểm theo chỉ định của người được bảo hiểm, tỷ lệ tái bảo hiểm chỉ định tối đa là 90% mức trách nhiệm bảo hiểm
Quy định về tỷ lệ tái bảo hiểm tối đa được phép chấm dứt tình trạng tái bảo hiểm chỉ định trên thị trường khi một tổ chức lớn hoặc công ty đa quốc gia chỉ định tái bảo hiểm vượt quá 90% vào các thị trường tái bảo hiểm theo yêu cầu của họ, bao gồm các công ty tài chính
lệ thuộc Trong trường hợp người được bảo hiểm không có các chỉ định về doanh nghiệp tái bảo hiểm, không có điều khoản nào cấm DNBH trong nước thu xếp tái bảo hiểm trên 90% tùy theo mức độ rủi ro
Điều 42 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP quy định DNBH, chi nhánh nước ngoài có thể nhận tái bảo hiểm trách nhiệm mà DNBH khác đã nhận bảo hiểm Khi nhận tái bảo hiểm, DNBH, chi nhánh nước ngoài phải đánh giá rủi ro để bảo đảm phù hợp với khả năng thanh toán của DNBH, chi nhánh nước ngoài và không được nhận tái bảo hiểm đối với chính những rủi ro đã nhượng tái bảo hiểm
2.3 Năng lực của các doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước
2.3.1 Quy mô vốn
Nghị định số 73/2016/NĐ-CP quy định mức vốn pháp định của doanh nghiệp tái bảo hiểm:
- Kinh doanh tái bảo hiểm phi nhân thọ hoặc cả hai loại hình tái bảo hiểm phi nhân thọ
và tái bảo hiểm sức khỏe: 400 tỷ đồng Việt Nam;
- Kinh doanh tái bảo hiểm nhân thọ hoặc cả hai loại hình tái bảo hiểm nhân thọ và tái bảo hiểm sức khỏe: 700 tỷ đồng Việt Nam;
- Kinh doanh cả 3 loại hình tái bảo hiểm nhân thọ, tái bảo hiểm phi nhân thọ và tái bảo hiểm sức khỏe: 1.100 tỷ đồng Việt Nam
Trên thế giới, thị trường ngách đặc thù này đang là sân chơi của các tập đoàn tài chính lâu đời và có quy mô lên đến hàng trăm tỷ đô la Mỹ như: Swiss Re, Munich Re… Trong đó, không thể không nhắc tới tập đoàn có doanh thu lớn thứ hai nước Mỹ là Berkshire Hathaway
Trang 8của tỷ phú, huyền thoại đầu tư Warren Buffett Hiện nay, so với các nhà tái bảo hiểm nước ngoài trên thị trường, quy mô vốn của các công ty tái bảo hiểm trong nước còn rất khiêm tốn
- Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm PVI (PVI Re) thành lập năm 2011 với vốn điều
lệ 460 tỷ đồng và năm 2018 hoàn thành tăng vốn lên 728 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu Cuối năm 2021, PVI Re đã hoàn thành xin ý kiến cổ đông bằng văn bản và đã được thông qua phương án tăng vốn điều lệ lên 1.044 tỷ đồng,
- Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE) hoàn tất đợt phát hành cổ phiếu thưởng trong năm 2021, tăng vốn điều lệ từ 1.310,7 tỷ đồng lên 1.507,3
tỷ đồng và đặt kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng vào năm 2024
Nếu muốn nâng cao năng lực tài chính, cải thiện thị phần nhận tái bảo hiểm thì các doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải tăng được vốn điều lệ Đây cũng là “điều kiện cần” để các doanh nghiệp tái bảo hiểm trong nước được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc
tế nâng mức xếp hạng tín nhiệm, tiếp cận với thị trường thế giới
2.3.2 Xếp hạng tín nhiệm
Thị trường bảo hiểm Việt ngày càng lớn mạnh và hội nhập sâu rộng, theo đó, nhu cầu được xếp hạng tín nhiệm đang tăng lên trong các nhà bảo hiểm, bởi được xếp hạng tín nhiệm
sẽ là cơ hội để doanh nghiệp hoàn thiện hơn nữa về năng lực tài chính, quản lý rủi ro, năng lực quản trị Đây cũng là “tấm giấy thông hành” không thể thiếu nếu DNBH Việt Nam muốn tham gia sân chơi quốc tế Tuy nhiên việc tiếp cận với thị trường tái bảo hiểm quốc tế vẫn còn nhiều hạn chế do rào cản về xếp hạng tín nhiệm Hiện tại, cả VINARE và PVI Re đều đang được xếp hạng ở mức B++, trong khi các thị trường lớn đều yêu cầu mức A- (cao hơn B++ một bậc)
Xếp hạng tín nhiệm của các công ty tái bảo hiểm của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng một phần bởi chỉ số Xếp hạng tín nhiệm quốc gia Giai đoạn 2013 - 2021, xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam luôn nằm trong nhóm có xu hướng tốt lên Cụ thể là tăng từ B2 lên Ba3 theo đánh giá của Moody’s, từ BB- lên BB theo đánh giá của S&P và từ B+ lên BB theo đánh giá của Fitch Tuy nhiên, mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực
Trang 9Bảng 3 Bảng xếp hạng quốc gia năm 2021 một số quốc gia châu Á
Nguồn: Trading Economics
Trong phương pháp xếp hạng tín nhiệm của A.M Best, rủi ro quốc gia là một trong các yếu tố được cân nhắc khi đánh giá một công ty Rủi ro quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập phạm vi xếp hạng cho những đánh giá cơ sở của công ty Mức độ xem xét đối với rủi ro quốc gia (nghĩa là tác động tiềm tàng đối với các đánh giá về bảng cân đối kế toán, hiệu quả hoạt động và hồ sơ kinh doanh) được xác định riêng cho từng đơn vị xếp hạng dựa trên sức mạnh tài chính, vị thế thị trường và khả năng giảm thiểu hoặc quản lý rủi ro của đơn vị đó đối với rủi ro quốc gia Các công ty kinh doanh hoặc có tài sản ở các quốc gia có rủi ro cao hơn phải chịu các điều kiện bên ngoài biến động hơn Ở những nước này, một vị thế vốn mạnh ban đầu có thể suy giảm nhanh hơn; do đó, xếp hạng ban đầu của một DNBH với lượng vốn dồi dào hoạt động ở một quốc gia có rủi ro cao sẽ thấp hơn so với DNBH có lượng vốn tương tự ở một quốc gia có rủi ro thấp
2.4 Nguồn nhân lực bảo hiểm/tái bảo hiểm còn thiếu về số lượng và chất lượng
Số lượng nhân sự cho ngành Bảo hiểm tăng lên đáng kể, hiện đạt khoảng hơn 1 triệu người, nhưng chất lượng nhân sự còn khiêm tốn Do thiếu hụt nhân lực có trình độ chuyên môn nên nhiều DNBH/tái bảo hiểm hiện đang tuyển dụng nhân sự từ các chuyên ngành khác
và đào tạo ngắn hạn kiến thức về bảo hiểm Điều đó tiềm ẩn rủi ro cho chính doanh nghiệp và
Trang 10cho cả thị trường nếu việc đào tạo trình độ chuyên môn trong doanh nghiệp không được chú trọng Việc đào tạo không bài bản có thể khiến nhân sự không có hoặc chưa đủ kiến thức để đưa ra các giải pháp tháo gỡ khi gặp phải những vấn đề chưa được hướng dẫn; chưa kể tới nhiều trường hợp chưa hiểu rõ chế độ quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm hoặc nghiệp vụ bảo hiểm nên có thể gây hậu quả nghiêm trọng trong quá trình tác nghiệp
Pháp luật bảo hiểm hiện hành có yêu cầu chứng chỉ đào tạo đối với chức danh quản trị, điều hành như: Chủ tịch, Tổng Giám đốc, chuyên gia tính toán, kế toán trưởng và trưởng
bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ, nhưng chưa quy định chi tiết về khung năng lực của các
vị trí Điều 30 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP có quy định về tiêu chuẩn đối với người đứng đầu các bộ phận nghiệp vụ như sau:
đào tạo về tái bảo hiểm do các cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp trong và ngoài nước cấp;
chuyên môn dự kiến đảm nhiệm;
Do không có quy định tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ đối với các vị trí chức danh tại các bộ phận nghiệp vụ và trực tiếp phục vụ khách hàng nên nguồn nhân lực bảo hiểm/tái bảo hiểm chưa được chuẩn hóa, không phù hợp với thông lệ quốc tế Đặc biệt, đối với ngành tái bảo hiểm, khi phần lớn các giao dịch tái bảo hiểm là thực hiện với thị trường tái bảo hiểm nước ngoài có nhiều năm kinh nghiệm, việc thiếu kiến thức chuyên môn sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu xếp tái bảo hiểm, kết quả đàm phán hợp đồng có nhiều điểm bất lợi cho doanh nghiệp
Thêm vào đó, việc không có khung tiêu chuẩn, chưa có định hướng chiến lược rõ ràng
và mang tính ổn định, thống nhất trong việc đào tạo nguồn nhân lực trong nội bộ một số doanh nghiệp phần nào ảnh hưởng đến định hướng phát triển chuyên môn nghề nghiệp của cán bộ, nhân viên và tính chuyên nghiệp của thị trường
Ngoài ra, hiện nay, trên cả nước có khá ít cơ sở đào tạo cử nhân về ngành Bảo hiểm,
số lượng sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu doanh nghiệp Nhiều cơ sở giáo dục đã đưa chuyên ngành Bảo hiểm vào chương trình giảng dạy, tuy nhiên, do chỉ tiêu quá
ít nên không đủ đáp ứng số lượng cán bộ được đào tạo đúng chuyên ngành cung ứng cho thị trường