1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương PPDH toán 1 ở tiểu học Đại học hải phòng

21 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm cấu trúc nội dung chương trình môn Toán ở Tiểu học
Trường học Đại Học Hải Phòng
Chuyên ngành Toán Tiểu học
Thể loại Đề cương PPDH toán 1 ở tiểu học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 55,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương PPDH toán 1 ở tiểu học Đại học hải phòng khoa Giáo Dục Tiểu HọcĐặc điểm cấu trúc nội dung chương trình môn Toán ở Tiểu học a) Nội dung chương trình toán ở tiểu học Môn Toán ở TH là môn học thống nhất về cơ sở khoa học và cấu trúc nội dung, không chia thành các ph.

Trang 1

1 Đặc điểm cấu trúc nội dung chương trình môn Toán ở Tiểu học.

a) Nội dung chương trình toán ở tiểu học:

- Môn Toán ở TH là môn học thống nhất về cơ sở khoa học và cấu trúc nộidung, không chia thành các phân môn mà chia làm 4 mạch kiến thức cốt

lõi: số học; đại lượng và đo đại lượng; hình học; yếu tố thống kê, giải toán Trong đó yếu tố thống kê bắt đầu xuất hiện trong chương trình Toán

lớp 3 Chương trình Toán được xây dựng theo quan điểm lồng ghép, tíchhợp Hạt nhân của toán học là số học, các mạch kiến thức khác được sắpxếp xen kẽ, bổ trợ nhau Trong đó số học là mạch kiến thức cơ bản, nó chiphối và quyết định việc lựa chọn những nội dung toán học khác để dạy ởmỗi lớp, mà không làm mờ nhạt đi đặc trưng của từng mạch kiến thức

- Riêng chương trình phát triển năng lực 2018 phần giải toán được tích hợp

vào 3 mạch trên, do đó chương trình 2018 gồm 3 mạch: Số và phép tính; Hình học và đo lường; Một số yếu tố thống kê và xác suất.

- ND Toán TH được xây dựng dựa trên quan điểm, tinh thần của toán caocấp, toán hiện đại phù hợp với từng giai đoạn nhận thức của HSTH Sựphối hợp hợp lý giữa 4 mạch kiến thức thể hiện tư tưởng coi trọng tínhthống nhất của toán học Việc hình thành khái niệm số tự nhiên theo tinhthần của lý thuyết tập hợp; việc coi trọng đúng mức đến dạy 1 số tính chấtquan trọng của phép cộng và phép trừ; việc làm nổi rõ dần 1 số tính chấtcủa dãy số tự nhiên; … đều có dụng ý quán triệt tư tưởng của Toán họchiện đại

- Các bài học được sắp xếp phù hợp với mỗi giai đoạn nhân thức củaHSTH Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán được hình thành chủ yếubằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố và pháttriển các nội dung trọng tâm của môn học để nắm chắc các nội dung đó.Tiếp tục vận dụng trong thực hành luyện tập để có cơ sở học tập các nộidung mới Qua quan điểm chi phối về thời gian dạy học môn Toán TH làthời gian thực hành luyện tập về tính, đo lường, giải toán Cũng do đặcđiểm nhậ thức HSTH nên SGK môn Toán được chia theo 2 giai đoạn mức

độ nhân thức: học tập cơ bản (lớp 1, 2, 3) và học tập chuyên sâu (lớp 4,5) Mỗi giai đoạn có sự khác biệt nhất định về dung lượng kiến thức vàPPDH nhằm phù hợp với điều kiện nhận thức, phát triển tư duy logic toánhọc của HSTH

Trang 2

2 Phân biệt phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học.

Khái niệm:

- Phương pháp dạy học (PPDH): Là những cách thức hành động của GV

và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp vớinhững nội dung và điều kiện cụ thể

- Hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH): là cách thức tổ chức, sắp xếp và

tiến hành các buổi học

- Kỹ thuật dạy học (KTDH): là những biện pháp, cách thức hoạt động của

GV và HS trong các tình huống/ hoạt động nhằm thựuc hiện giải quyết 1nhiệm vụ/nội dung cụ thể

So sánh PPDH và HTTCDH:

- PPDH và HTTCDH đôi khi không có sự tách biệt rõ ràng Song để phân biệt chúng có thể hiểu HTTCDH là PP tổ chức dạy học được hiểu theo nghĩa rộng, chúng ta ó thể nhận diện qua quan sát bên ngoài còn PPDH được nhận diện qua hoạt động của GV và HS, qua mục tiêu dạy học, phải trực tiếp tham gia vào môi trường mới có thể nhận diện được

- Ví dụ: Khi nhìn 1 lớp học từ bên ngoài ta chỉ có thể nhận ra lớp học đang

tổ chức theo hình thức cả lớp hay cá nhân nhưng phải tham gia dự giờ lớp học ấy chúng ta mới xác định được PPDH được sử dụng ở đây

So sánh PPDH và KTDH:

- Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH Sự phân biệt giữa KTDH và PPDH nhiều khi không rõ ràng Có thể hiểu rằng khi sử dụng PPDH cần có KTDH

- Ví dụ:

+ PP hợp tác có các KTDH như KT chia nhóm, khăn trải bàn, …

+ KT đặt câu hỏi có thể dùng cho nhiều PP như: PP vấn đáp, đàm thoại, thảo luận, …

Phương pháp dạy học Kỹ thuật dạy học Hình thức dạy học

1 Thảo luận nhóm / Tia chớp/

2 Sơ đồ tư duy

3 KWL / KWHL

- số lượng: HTDH cánhân, theo nhóm, theolớp

- Thời gian: HTDHtheo tiết, theo buổi

- Không gian: dạy

Trang 3

4 Học tập khám phá

5 Lớp học đảo ngược

4 Mảnh ghép

5 Khăn trải bàn

6 Đặt câu hỏi đối ứng

7 Hội thoại có hướng dẫn

8 Các thói quen tư duy

học trên lớp, ngoàilớp

- HTDH trực tiếp vàgián tiếp

- Mục tiêu: giờ họchình thành kiến thức/

kỹ năng/ ôn tập/ kỹnăng sống …

3 Phương pháp dạy học trực quan? VD.

a) Khái niệm: Là một PPDH, trong đó giáo viên tổ chức hướng dẫn cho học

sinh trực tiếp hoạt động trên các phương tiện, đồ dùng dạy học, từ đó giúp họcsinh hình thành kiến thức và kĩ năng cần thiết của môn Toán

b) Ý nghĩa: Giúp HS:

- Hiểu sâu các khái niệm, ghi nhớ kiến thức và vận dụng linh hoạt

- Nhờ đồ dùng trực quan mà hình ảnh được lưu giữ trong trí nhớ và dễ dàng

- Giáo viên chuẩn bị đồ dùng trực quan

- GV giới thiệu đặc điểm, cấu tạo, cách sử dụng của đồ dung trực quan Từ

đó nêu nhiệm vụ và định hướng quan sát cho học sinh

- GV cho HS hoạt động với đồ dùng trực quan và trình bày

Trang 4

+ HS ghi nhớ bài nhanh và lâu hơn (do được hình thành các biểu tượngtrong quan sát)

+ HS có thể dễ dàng áp dụng các kiến thức đã học vào làm bài tập hoặcthực tiễn một cách dễ dàng (các khái niệm, bản chất trừu tượng đều đãđược cụ thể hóa)

+ HS có hứng thú học tập và tập trung cao hơn

+ HS tăng được khả năng tư duy quan sát, suy luận ngôn ngữ và trí nhớ

+ Ở giai đoạn 2 (lớp 4,5): các phương tiện trực quan thường ở dạng sơ đồ,

mô hình có tính chất tượng trưng, trừu tượng và khái quát cao

 Các phương tiện trực quan phải tăng dần mức độ trừu tượng

- Khi sử dụng phương tiện (đồ dùng) trực quan:

+ Lựa chọn thời gian, thời điểm sử dụng sao cho hợp lý

+ Hướng dẫn hs cách quan sát, thu thập thông tin, rút ra kết luận, ghi chépnhững thông tin cần thiết

+ Cất ngay sau khi dùng xong để tránh sự phân tán chú ý của hs

+ Kết hợp sử dụng phương tiện và lời nói một cách hợp lý

Ví dụ: Giáo viên cho học sinh quan sát hình tròn, hình tam giác, hình

vuông, hình chữ nhật hoặc những đồ vật có dạng hình trên để rút ra đặcđiểm của mỗi hình

4 Phương pháp giảng giải minh họa? VD.

Trang 5

- Khái niệm: Là PPDH trong đó GV dùng lời để giải thích tài liệu sẵn có,

kết hợp với phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích, từ đó giúp

HS hiểu nội dung

- Đây là PP cần thiết trong quá trình dạy học toán ở Tiểu học do: nội dung

môn toán có những khái niệm rất trừu tượng với HSTH  HS khó có thể

tự tin để tìm thấy kiến thức  GV sử dụng PP này giúp HS hiểu kiến thức,hình thành khái niệm

- Phạm vi sử dụng: PP này được sử dụng chủ yếu khi hình thành kiến thức

mới – các khái niệm trừu tượng

- Ưu điểm: Truyền đạt được nhiều thông tin trong 1 đơn vị thời gian

- Nhược điểm: HS thụ động tiếp nhận kiến thức  mức độ tích cực của HS

khi tiếp thu kiến thức bị hạn chế  Với yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay,

pp này ít được sử dụng

- Yêu cầu:

+ Xác định rõ nhu cầu cần giảng giải và đối tượing cần được giảng giảiđối với mỗi đơn vị kiến thức

+ GV phải tìm cách giảng giải ngắn gọn dễ hiểu

+ Cần thực hiện biện pháp giúp HS tích cực trong khi nghe giảng giảiminh họa (GV đưa ra gợi ý để HS tự hướng đến kiến thức cần đạt được yêu cầu HS tóm lược kiến thức hoặc đưa ra mối liên hệ với những kiếnthức có liên quan)

- Ví dụ minh họa: khi dạy bài SO SÁNH HAI PHÂN SỐ lớp 4, GV sau khi

cho HS chia hai băng giấy thứ nhất thành 3 phần và tô màu 2 phần, bănggiấy thứ 2 thành 4 phần và tô màu 3 phần  yêu cầu HS so sánh độ dàicủa 2/3 và 3/4 băng giấy  để hình thành quy tắc so sánh 2 phân số, có thểgiảng giải như sau “để so sánh hai phân số khác mẫu ta có thể đưa giảiphân số đó về cùng mẫu số rồi so sánh tử số”  GV đặt câu hỏi mẫu sốchung của hai phân số 2/3 và 3/4 là bao nhiêu  HS tự hoàn thiện kiếnthức

5 PP thực hành – luyện tập:

- Khái niệm: Là PPDH mà trong đó GV tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện

các hoạt động thực hành, thông qua đó giải quyết những tình huống cụ thể

có liên quan tới các kiến thức và kỹ năng về môn Toán Từ đó hình thànhkiến thức, kỹ năng cần thiết cho HS Tiểu học

Trang 6

- Do đặc điểm nhận thức của HS và đặc điểm của các kiến thức Toán học,

nên hoạt động thực hành, luyện tập có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hình

thành kiến thức và kỹ năng toán học với HSTH Từ thực tiễn dạy học chothấy việc học tập môn toán của học sinh tiểu học sẽ không có kết quả nếuthiếu các hoạt động thực hành và luyện tập

- PP này thường được sử dụng trong các khâu luyện tập, củng cố đặc biệt

là trong các tiết luyện tập, luyện tập chung, ở cuối chương hoặc các tiếtluyện tập cuối năm trong SGK Toán Có thể khéo léo vậ dụng PP nàytrong 1 số tiết hình thành kiến thức mới

- Yêu cầu:

+ Xác định rõ mục tiêu, kiến thức, kĩ năng cơ bản của bài thực hành; Phân

bổ thời gian thích hợp Xác định nội dung nào cần ưu tiên

+ Dự kiến nhiệm vụ thực hành cho các đối tượng  mọi học sinh đềuđược thực hiện 1 cách tích cực và có đủ phương tiện thực hành

+ Khi thực hành, GV cần giám sát, kiểm tra và điều chỉnh những sai sót(nếu có); tránh làm thay hoặc làm hết việc của HS, tạo những tình huống

có dụng ý sư phạm để HS phát huy tính tích cực, tự giác

+ HS phải chuẩn bị kiến thức và phương tiện theo yêu cầu của GV, phảitham gia tích cực và chủ động trình bày, nêu thắc mắc hoặc những khókhăn gặp phải  giúp GV nắm bắt được tình hình học tập của lớp và giúp

đỡ kịp thời

- Ví dụ: Thực hành đo độ dài sau bằng Bảng đơn vị đo độ dài toán 3:

+ Chuẩn bị các loại thước đo cơ bản

+ Xđ các vật định đo: bút mực, quyển SGK Toán, mặt bàn,

+ Chia nhóm HS và phân công cụ thể tới từng cá nhân

+ GV gián sát các thao tác: đặt thước, xử lí số đo, sđọc số đo, ghi số đo,

báo cáo kết quả

+ Báo cáo kết quả, nêu cụ thể các đo các đồ vật theo yc

Trang 7

+ Nêu yêu cầu trò chơi

Bước 6: Hướng dẫn chơi

GV giới thiệu nội dung và luật chơi, cho HS chơi nháp nếu cần thiết

Người chơi phải trả lời 15 câu hỏi với cấp độ từ dễ đến khó, thời gian suy nghĩ không hạn chế Mỗi câu hỏi có một mức tiền thưởng, tăng dần theo thứ tự

Có ba mốc quan trọng là câu số 5, câu số 10 và câu số 15 (mốc "TRIỆU PHÚ") Khi vượt qua các mốc này, họ chắc chắn có được số tiền thưởng tương ứng của các câu hỏi đó

Kể từ câu số 10 trở đi, mỗi khi người chơi trả lời đúng một câu hỏi, người dẫn chương trình sẽ ký một tấm séc cho người chơi có trị giá giải thưởng tương đương với câu hỏi mà người chơi trả lời đúng

Người chơi có quyền chơi tiếp hoặc dừng cuộc chơi Nếu dừng cuộc chơi, họ sẽ

ra về với số tiền tương ứng với câu hỏi đã trả lời đúng gần nhất Nếu chơi tiếp mà trả lời sai, cuộc chơi khép lại và người chơi nhận số tiền thưởng tương ứng với mốc quan trọng gần nhất Nếu trả lời sai khi chưa qua câu số

5, người chơi sẽ không nhận được tiền thưởng Nếu trả lời đúng tất cả các câu hỏi, người chơi sẽ trở thành "TRIỆU PHÚ", nhận được giải thưởng tươngứng với câu cuối cùng

Bước 7: Thực hiện chơi

Cho học sinh chơi theo luật chơi đã giao, GV theo dõi quá trình hành động, thực hiện luật chơi của học sinh

Theo dõi tiến độ và điều chỉnh thời gian

7 Dạy học giải quyết vấn đề

Trang 8

2.1 Xây dựng tình huống

- GV đưa ra các tình huống xuất phát từ thực tiễn, tình huống này chứađựng vấn đề toán học

- Ví dụ: Khi dạy xong bài “Giây, thế kỉ” Toán 4, GV đưa ra bài toán “Đại lễ

1000 năm Thăng Long – Hà Nội được tổ chức vào năm 2010 Hỏi ThăngLong được chọn làm kinh đô của nước ta từ thế kỉ nào?” Bài toán đưa ratình huống gắn với sự kiện thực tế, muốn giải quyết được trước hết phảibiết được Thăng Long được chọn làm kinh đô của nước ta từ năm nào, từ

đó xác định thế kỉ dựa vào kiến thức thực tế Có thể tạo một loạt các tìnhhuống như vậy để lồng ghép giáo dục kiến thức lịch sử cho HS

2.2 Tạo tình huống có vấn đề từ các kiến thức đã biết bằng cách biển đổi hoặc “dấu đi” một yếu tố (yếu tố của phép tính, một số chữ số khuyết trong khi thực hiện thuật toán, một vài nét khuyết của hình vẽ…) và yêu cầu học sinh tìm lại yếu tố đó:

- Sau khi hình thành kiến thức toán học, nếu GV chỉ đưa ra bài tập vậ dụngtrực tiếp kiến thức thì nó không chưa đựng vấn đề GV có thể tạo ra cáctình huống có vấn đề bằng cách tạo bài tập phức tạp hơn, việc giải quyếtgồm 2, 3 bước, trong đó có bước áp dụng trực tiếp kiến thức đơn giản đãhọc

2.3 Yêu cầu học sinh sử dụng phương pháp tương tự để phát hiện kiến thức mới

- Ví dụ: Cho HS dựa vào cách xây dựng bảng nhân 2,3,4,5 đã học ở lớp 2

2.5 Tổ chức tình huống có vấn đề yêu cầu hoạt động khái quát hóa

- GV đưa ra đối tượng cụ thể, yêu cầu HS quan sát, phân tích và tìm cáckhái quát hóa bằng cách nêu được những nét chung của đối tượng đó,hoặc xác định mối quan hệ giữa các đối tượng cụ thể, từ đó rút ra quy luậtchung về các mối quan hệ đó

Trang 9

- Ví dụ: Dạy về chu vi hinh chữ nhật (toán 3): yêu cầu HS áp dụng kiếnthức đã học tính chu vi hình chữ nhật sau đó khái quát thành công thứcdựa vào kiến thức chuyển tổng thành tích.

2.6 Tổ chức tình huống có vấn đề yêu cầu hoạt động đặc biệt hóa

- Ví dụ: Sau khi xây dựng công thức tính diện tích hình chữ nhật, GV liên

hệ tới vấn đề “Tìm công thức tính diện tích hình vuông cạnh a”

2.7 Xây dựng tình huống có vấn đề liên quan đến trí tưởng tượng không gian của học sinh

- Ví dụ: Trong bài hình lập phương, có hình vẽ hình lập phương lớn được tạo bởi các khối lậph phương nhỏ nhưng khuất 1 phần Yêu cầu HS tưởng tượng yếu tố khất của khối vật thể và đếm số khối lập phương nhỏ tạo nênkhối lập phương lớn

2.8 Tổ chức hoạt động trên các đồ vật thật, trên các mô hình để rút ra một tri thức toán học (tính chất, công thức…)

- Ví dụ: Để dạy bài chu vi hình tròn, cho HS lấy thước dây ướm vòng quanh đo các hình tròn cho vẵn để biết được chu vi Sau đó cho HS tìm mối quan hệ giữa đường kính và chu vi hình tròn  Rút ra công thức tính chu vi hình tròn

3 Quy trình dạy học giải quyết vấn đề:

Theo dự án Việt-Bỉ, quy trình dạy học giải quyết vấn đề gồm các bước sau:

- Bước 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:

+ Tạo tình huống có vấn đề

+ Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh

+ Phát biểu vấn đề cần giải quyết

- Bước 2: Giải quyết vấn đề đặt ra:

+ Đề xuất các giả thuyết

+ Lập kế hoạch giải quyết

+ Thực hiện kế hoạch

- Bước 3: Kết luận:

+ Thảo luận kết quả và đánh giá

+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đưa ra

+ Phát biểu kết luận

+ Đề xuất vấn đề mới

Trang 10

• Ví dụ: Khi dạy bài tính giá trị biểu thức có dấu ngoặc, GV yêu cầu HS tính giá trị biểu thức HS nhậ xét phải tính phép nhân trước rồi thực hiện phép cộng sau Sau đó GV đưa ra tình huống mới: “Hãy tìm cách thêm kí hiệu để thực hiện phép cộng trước HS buộc phải suy nghĩ, từng em nghĩ cách thêm kí hiệu của riêng minhd Sau đó các bạn cùng nhau trình bày và

đi đến kết quả thống nhất cách kí hiệu (Tới đây GV cho HS nêu quy tắc tính giá trị biểu thức có chứa dấu ngoặc

4 Mức độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học toán ở tiểu học

Lập kế hoạch

Giải quyết vấn đề Kết luận

Mứ

c 1

Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, đồng thời GV

giải quyết vấn đề HS là người quan sát và tiếp nhận kết luận do GV

thực hiện Đây là mức thấp nhất và thường áp dụng với HS nhỏ tuổi

Ví dụ: Khi dạy về phép cộng có nhớ số có hai chữ số với số có hai

chữ số lớp 2 như sau:

Đặt tính rồi tính:

- Giáo viên yêu cầu HS đọc đề bài sau đó GV nhắc lại đề bài đồng

thời nêu ra cách làm: Khi thực hiện đặt tính rồi tính ta làm như sau:

Mức 2: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề và giải quyết vấn

đề Sau đó GV và HS cùng rút ra kết luận,mức độ tham gia của HS

cao hơn mức độ HS cao hơn mức 1, HS quan sát rút ra kết luận với

Ngày đăng: 05/05/2023, 17:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w