1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ XÃ HỘI? LIÊN HỆ VIỆT NAM

45 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Vai Trò Của Tài Chính Công Đối Với Nền Kinh Tế - Xã Hội? Liên Hệ Việt Nam
Tác giả Nhóm: 1
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Minh Hạnh
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
Thể loại bài thảo luận học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 864,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ  BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN TÀI CHÍNH CÔNG ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ XÃ HỘI? LIÊN HỆ VIỆ.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

- -

BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN TÀI CHÍNH CÔNG

CÔNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ -XÃ HỘI? LIÊN HỆ VIỆC PHÁT HUY CÁC VAI TRÒ ĐÓ TẠI THÀNH

PHỐ HCM

Nhóm: 1

Lớp: 2304EFIN3021 Giảng viên: Nguyễn Thị Minh Hạnh

Hà Nội, 2023

Trang 2

2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

Phần 1 Những vấn đề lý thuyết 4

1.1 Khái niệm tài chính công 4

1.2 Vai trò của tài chính công đối với nền kinh tế - xã hội 4

1.2.1 Là công cụ đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc duy trì sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước 4

1.2.2 Là công cụ quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội 6

1.2.2.1 Định hướng đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp 6

1.2.2.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo ngành nghề, lĩnh vực và vùng lãnh thổ 7

1.2.2.3 Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững 7

1.2.2.4 Điều tiết thị trường và bình ổn giá cả 9

Phần 2 Liên hệ thực tiễn 11

2.1 Giới thiệu/ Tổng quan Thành phố Hồ Chí Minh 11

2.2 Vai trò của tài chính công đối với nền kinh tế - xã hội tại TP Hồ Chí Minh 17

2.2.1 Đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc duy trì sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước 17

2.2.2 Là công cụ quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội 23

2.2.2.1 Định hướng đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh doanh 23

2.2.2.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo ngành nghề, lĩnh vực và vùng lãnh thổ tại TP HCM 26

2.2.2.3 Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững 35

2.2.2.4 Điều tiết thị trường và bình ổn giá cả 37

KẾT LUẬN 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 3

3

MỞ ĐẦU

Tài chính công là một phần quan trọng trong hệ thống kinh tế - xã hội của một quốc gia Vai trò của tài chính công đóng góp rất lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế hội nhập và phát triển hiện nay Tại Thành phố Hồ Chí Minh, các nỗ lực để phát huy các vai trò của tài chính công đang được đẩy mạnh, nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và hấp dẫn cho các nhà đầu tư, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Từ đó, việc phân tích vai trò của tài chính công trong nền kinh tế - xã hội và cách thức phát huy các vai trò

đó tại Thành phố Hồ Chí Minh là một vấn đề cấp thiết Trong bài viết này, nhóm 1 phân tích chi tiết về vai trò của tài chính công và các giải pháp để phát triển tài chính công tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

4

NỘI DUNG

Phần 1 Những vấn đề lý thuyết

1.1 Khái niệm tài chính công

Tài chính công là tổng hợp tất cả các hoạt động thu chi được sử dụng bằng tiền

do nhà nước tiến hành Tài chính công phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập cũng như sử dụng các quỹ công

Các hoạt động tài chính công bao gồm việc lập và thực hiện ngân sách nhà nước, quản lý các khoản thu thuế, phân phối các nguồn lực tài chính công cộng, đầu tư

và chi trả các khoản chi phí của nhà nước

Mục tiêu của tài chính công là đảm bảo ngân sách nhà nước được thực hiện hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người dân và đóng góp tích cực trong sự phát triển kinh

tế và xã hội của đất nước

Tài chính công cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định kinh tế

và tài chính của đất nước Việc quản lý tài chính công hiệu quả giúp đảm bảo sự ổn định về mặt tài chính, giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự tin tưởng của nhà đầu tư

1.2 Vai trò của tài chính công đối với nền kinh tế - xã hội

1.2.1 Là công cụ đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc duy trì sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước

Đây là vai trò truyền thống của tài chính công Khi nhà nước ra đời, để tồn tại

và hoạt động đòi hỏi phải có nguồn tài chính để đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu Trong thời đại ngày nay, hoạt động của nhà nước ngày càng đa dạng, phong phú, do vậy nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cũng không ngừng tăng lên cả về quy mô và phạm

vi Do đó, nhà nước sử dụng công cụ tài chính là tài chính công để thực hiện huy động, tập trung các nguồn lực tài chính quốc gia nhằm duy trì hoạt động của nhà nước trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng Trong đó, nhà nước huy động, tập trung các nguồn lực tài chính công vào ngân sách nhà nước là chủ yếu, bên cạnh đó còn tập trung vào các quỹ ngoài ngân sách nhà nước (như Quỹ dự trữ quốc gia, Quỹ phòng chống ma túy, Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam, Quỹ bảo hiểm

Trang 5

5

xã hội, ) Sau đó, Nhà nước tiến hành phân phối và sử dụng nhằm duy trì hoạt động

có hiệu quả của bộ máy Nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế-xã hội

đề ra

Vai trò này của tài chính công được thể hiện trên ba đặc điểm Một là, tài chính công là công cụ đắc lực của Nhà nước để khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu mà Nhà nước đã dự tính cho từng thời kỳ phát triển Các nguồn lực tài chính này được Nhà nước huy động từ trong nội bộ nền kinh tế quốc dân và từ nước ngoài, từ mọi lĩnh vực hoạt động và mọi thành phần kinh tế, dưới nhiều hình thức huy động khác nhau như thuế, phí, lệ phí, công trái, trong đó thuế là công cụ chủ yếu Những khoản huy động này mang tính hoàn trả và không hoàn trả, bắt buộc và tự nguyện, trong đó tính bắt buộc và không hoàn trả là nét đặc trưng Chẳng hạn như tại Việt Nam, tính bắt buộc được thể hiện bởi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan như các Luật, Nghị định, Thông tư, Nghị quyết, như Luật quản lý thuế 2019, Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế Giá trị Gia tăng, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế Nhà thầu, Thuế xuất nhập khẩu, Tính không hoàn trả được thể hiện ở chỗ khi các pháp nhân và thể nhân thực hiện nghĩa vụ tài chính theo luật định thì Nhà nước không thực hiện hoàn lại trực tiếp cho người nộp mà thực hiện gián tiếp thông qua việc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công Đồng thời đối với các khoản chi tiêu công khi Nhà nước cấp phát cho các chủ thể công quyền sử dụng thì các chủ thể này không phải hoàn trả lại cho Nhà nước, ví dụ như việc tặng học bổng khuyến khích học tập cho các em nhỏ vùng cao, việc nuôi dưỡng con em của các chiến sĩ hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ đến hết năm 18 tuổi,

Hai là, tài chính công phân phối các nguồn lực tài chính đã tập trung trong các quỹ công cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước theo những quan hệ tỷ lệ hợp lý nhằm: vừa bảo đảm duy trì sự tồn tại và tăng cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước, vừa đảm bảo thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước đối với các lĩnh vực khác Chẳng hạn như, Nhà nước muốn thúc đẩy hoạt động đầu tư tại một khu vực nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, nâng cao phúc lợi xã hội tại khu vực

đó, thì sẽ thực hiện chi nhiều hơn, nhất là đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông, tạo

Trang 6

đó, khi phát hiện những bất cập, Nhà nước sẽ đưa ra những biện pháp điều chỉnh nhằm phát huy hiệu quả nhất nguồn tài chính công, tránh sự lãng phí trong quá trình phân phối sử dụng

1.2.2 Là công cụ quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế -

xã hội

1.2.2.1 Định hướng đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp

Cung cấp thông tin và phân tích kinh tế: Tài chính công cung cấp thông tin và

phân tích kinh tế để giúp các doanh nghiệp hiểu rõ và đưa ra quyết định đúng đắn về đầu tư và phát triển kinh doanh

Thiết lập chính sách tài chính: Tài chính công thiết lập chính sách tài chính

nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư và phát triển kinh doanh, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp

Quản lý tài chính công: Tài chính công quản lý và giám sát các nguồn tài chính

công, bao gồm cả ngân sách nhà nước và các quỹ hỗ trợ, để đảm bảo sự phân bổ hợp

lý và có hiệu quả cho các doanh nghiệp

Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp: Tài chính công cung cấp hỗ trợ tài

chính cho các doanh nghiệp, bao gồm các khoản vay và các chương trình hỗ trợ khác,

để giúp các doanh nghiệp có thể đầu tư và phát triển kinh doanh một cách bền vững

Tóm lại, tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng đầu tư và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, qua đó giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước

Trang 7

7

1.2.2.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo ngành nghề, lĩnh vực

và vùng lãnh thổ

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ

và chất lượng các mối quan hệ kinh tế ngành, vùng và thành phần kinh tế nhằm đạt tới một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, tạo thế và lực mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế

- xã hội Vai trò này được phát huy nhờ vào việc vận dụng chức năng phân phối của tài chính công trong hoạt động thực tiễn thông qua công cụ thuế và chi ngân sách nhà nước Bằng việc thiết lập hệ thống thuế hợp lý bao gồm thuế Trực thu và thuế gián thu, Quy định các loại thuế suất mức thuế suất các chế độ ưu đãi miễn giảm thuế chính sách thuế có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành nghề Chính phủ

sử dụng doanh thu và chi tiêu trong, phân bổ ngân sách để đẩy mạnh nâng cao cơ sở vật chất cũng như hàng hóa , dịch vụ công tại các vùng nông thôn, vùng còn khó khăn Ngoài việc mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân tại nông thôn, từ đó còn đẩy mạnh phát triển môi trường đầu tư, kinh tế, xóa khoảng cách giữa đô thị và nông thôn Tạo điều kiện cho cả nông nghiệp và công nghiệp ngành phát triển Từ đây việc chuyển dịch cơ cấu theo ngành nghề lĩnh vực cũng dần diễn ra, thay thế các ngành nông lâm ngư nghiệp là các ngành công nghiệp dịch vụ Đồng thời, diễn ra sự chuyển dịch tỷ trọng các ngành kinh tế xét theo từng lĩnh vực, vùng, lãnh thổ, hình thành các vùng động lực phát triển kinh tế, vùng chuyên canh, vùng trọng điểm kinh tế phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế và nguồn lực của mỗi quốc gia

1.2.2.3 Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững

Tài chính công có vai trò quan trọng trong đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định

và bền vững của một nền kinh tế-xã hội Các yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo tốc

độ tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững bao gồm vốn, chi ngân sách lao động và năng suất lao động,

➢ Vốn là yếu tố quan trọng trong quá trình đầu tư và phát triển kinh tế Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong cung cấp vốn cho các hoạt động sản xuất, đầu tư và phát triển Tài chính công có thể thu thập tiền từ thuế và sử dụng chúng để đầu tư vào các dự án kinh tế quan trọng, như hạ tầng, giáo dục và y tế Nếu tài chính công không

Trang 8

8

đủ tiền để đầu tư vào các dự án này, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể bị chậm lại,

và điều này có thể ảnh hưởng đến việc cải thiện đời sống và tăng trưởng kinh tế

➢ Chi ngân sách lao động là khoản chi tiêu của tài chính công để hỗ trợ cho những người lao động trong nền kinh tế Tài chính công có thể sử dụng chi ngân sách lao động để cung cấp các khoản trợ cấp, trợ giúp cho người lao động, đào tạo nghề, và nâng cao năng lực lao động Tài chính công cũng có thể đầu tư vào các chương trình giảm nghèo, giúp người dân tìm được việc làm và tạo điều kiện để họ có thể tiêu thụ

và sản xuất các sản phẩm và dịch vụ Nếu tài chính công không đầu tư đúng cách vào chi ngân sách lao động, thì năng suất lao động có thể giảm và tốc độ tăng trưởng kinh

tế sẽ bị chậm lại

➢ Tài chính công có thể hỗ trợ việc tăng năng suất lao động bằng cách đầu tư vào giáo dục, đào tạo và nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ Việc tăng năng suất lao động sẽ giúp tăng hiệu quả sản xuất, giảm chi phí sản xuất, tăng cường cạnh tranh

và tăng trưởng kinh tế

Tài chính công là một phần quan trọng trong hệ thống kinh tế của một quốc gia Tài chính công cung cấp nguồn tài chính cho chính phủ để đầu tư vào các dự án cơ sở

hạ tầng, giáo dục, y tế, quốc phòng, công nghiệp và các lĩnh vực khác Chính phủ có thể sử dụng chính sách tài chính công để tác động đến nền kinh tế và đảm bảo rằng tốc

độ tăng trưởng kinh tế đạt được là ổn định và bền vững trong thời gian dài

Cụ thể, chính phủ có thể sử dụng các công cụ tài chính công để điều tiết nhu cầu chi tiêu và thu nhập trong nền kinh tế Chính sách chi tiêu của chính phủ có thể được sử dụng để tăng chi tiêu công cộng và kích thích nền kinh tế khi nó đang trong giai đoạn suy thoái, trong khi chính sách thuế có thể được sử dụng để điều tiết ngân sách và đảm bảo rằng ngân sách đủ để thực hiện các dự án quan trọng

Tóm lại, tài chính công đóng vai trò quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô của nền kinh tế Tài chính công có thể sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô như chính sách tiền tệ, chính sách thuế và chi ngân sách để tác động đến chi tiêu, đầu tư và hoạt động sản xuất của các cá nhân và doanh nghiệp, từ đó tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế

Trang 9

9

1.2.2.4 Điều tiết thị trường và bình ổn giá cả

Hoạt động điều tiết thị trường và bình ổn giá cả của Nhà nước là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sử dụng các biện pháp cần thiết để “cân bằng” giá cả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, của người tiêu dùng và lợi ích của Nhà nước

Khi Luật Giá 2012 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2013 thay thế cho Pháp lệnh Giá 2002 thì nhà nước sẽ không còn thực hiện việc áp đặt giá đối với các mặt hàng trên thị trường mà sẽ để cho doanh nghiệp tự định đoạt Tuy nhiên, nhà nước vẫn

có những hoạt động nhất định điều tiết giá nhằm mục đích đảm bảo nền kinh tế phát triển một cách toàn diện

➢ Điều tiết thị trường

Điều tiết thị trường được đánh giá trên nhiều tiêu chí như: Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và bền vững; duy trì việc sử dụng lao động ở tỷ lệ cao; thực hiện được cân đối cán cân thanh toán quốc tế; hạn chế sự tăng giá đột ngột, đồng loạt và kéo dài tức là cầm giữ được lạm phát ở mức vừa phải…

Để góp phần giữ vững sự ổn định của nền kinh tế, các biện pháp của TCC được

sử dụng nhằm đảm bảo yêu cầu của các tiêu chí kể trên Trong hệ thống các biện pháp của TCC, có thể nhận thấy các biện pháp được sử dụng thường xuyên như:

➢ Tạo lập các quỹ dự trữ về hàng hoá và tài chính nhằm đề phòng và ứng phó với những biến động của thị trường

➢ Tạo lập quỹ bình ổn giá

➢ Tạo lập và sử dụng quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm…

Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, để khống chế và đẩy lùi lạm phát, các biện pháp của TCC thường được sử dụng như:

➢ Cắt giảm chi tiêu Ngân sách, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư

Trang 10

Bình ổn giá cả là một trong những yếu tố quan trọng trong nền kinh tế xã hội, vì

nó ảnh hưởng đến mức độ tin cậy của tiền tệ và tác động đến sự ổn định của các hoạt động kinh tế Tài chính công có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm bình ổn giá cả của nền kinh tế xã hội thông qua các biện pháp như:

➢ Chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ của tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát và bảo đảm sự ổn định của giá cả Tài chính công có thể

sử dụng các biện pháp tiền tệ để tăng cường sự kiểm soát giá cả, bao gồm tăng lãi suất, giảm số lượng tiền trong nền kinh tế và tăng cường quản lý tín dụng

➢ Chính sách tài khóa: Chính sách tài khóa của tài chính công cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm bình ổn giá cả Tài chính công có thể sử dụng các biện pháp tài khóa để kiềm chế lạm phát bằng cách giảm chi tiêu của chính phủ, tăng thuế hoặc cắt giảm các chương trình chi tiêu không cần thiết

➢ Chính sách kinh tế: Tài chính công cũng có thể sử dụng các chính sách kinh tế để bảo đảm bình ổn giá cả, bao gồm việc tăng cường hoạt động cạnh tranh trên thị trường, tăng cường quản lý giá cả và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

➢ Điều tiết quyền lực: Tài chính công cũng có thể sử dụng quyền lực của mình để điều tiết các thị trường tài chính và giá cả Ví dụ, tài chính công có thể áp đặt các quy định về giá cả để đảm bảo rằng giá cả được đưa ra trên thị trường là hợp lý và bình ổn

Tóm lại, tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm bình ổn giá

cả của nền kinh tế xã hội Bằng cách sử dụng các chính sách tài chính và các công cụ khác như điều chỉnh lãi suất, kiểm soát tín dụng và định giá tiền tệ, tài chính công có thể ảnh hưởng đến sự lạm phát và tăng trưởng kinh tế Nếu tài chính công quản lý tốt,

nó có thể giúp đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế

Trang 11

TP Hồ Chí Minh có tổng diện tích tự nhiên 2.095,2 km² và được phân chia thành 24 quận, huyện; với 322 phường, xã, thị trấn Khu vực nội thành gồm 19 quận: 1,3,4,5,6,8,10,11, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú (nội thành cũ)

và các quận 2,9,7,12, Thủ Đức, và Bình Tân (nội thành mở rộng); với diện tích 493,96km² và bao gồm 254 phường Khu vực ngoại thành gồm 5 huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ, với diện tích 1.601,28km², bao gồm 58 xã và 5 thị trấn

➢ Tổng quan hành chính và chính quyền

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam Về mặt hành chính, thành phố được chia thành 16 quận, 1 thành phố và 5 huyện; trong đó có 312 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 249 phường, 58

xã và 5 thị trấn

Vào năm 1995, hệ thống quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh có 976 địa chỉ, trong đó 47 thuộc trung ương, 73 thuộc thành phố, 549 thuộc các quận, huyện và 307 thuộc cấp phường xã Các tổ chức đoàn thể, chính trị bao gồm cấp trung ương và thành phố có 291 địa chỉ, các đơn vị sự nghiệp có 2.719

địa chỉ Đảng bộ và chính quyền

Chính quyền thành phố bao gồm Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân và Tòa

án Nhân dân

Trang 12

➢ Tổng quan tình hình xã hội

Dân cư

Theo kết quả điều tra dân số sơ bộ vào năm 2021 thì dân số thành phố là 9.166.800 người (chiếm 9,3% dân số Việt Nam), mật độ dân số trung bình 4.375 người/km² (cao nhất cả nước) Tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký

hộ khẩu thì dân số thực tế của thành phố này năm 2018 là gần 14 triệu người

• Hệ thống đào tạo phát triển

Về cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng (ĐH & CĐ) trên địa bàn TP Hồ Chí Minh tính đến năm 2014 có 69 trường và phân hiệu, chiếm tỷ lệ 20% tổng số các trường ĐH và CĐ trong cả nước với loại hình tổ chức khá đa dạng; trong đó 41 trường

ĐH và CĐ công lập với đủ các ngành, 5 trường ĐH & CĐ bán công và số còn lại là trường ĐH và CĐ dân lập Số lượng các ngành học của các trường ngày càng được củng cố mang đậm nét truyền thống của từng trường với tổng số gần 80 ngành đào tạo

Trang 13

• Hoạt động khoa học và công nghệ (KH-CN) ngày càng nâng cao

Thành phố có tiềm lực lớn về hoạt động KH-CN, trên địa bàn có 130 đơn vị hoạt động KH-CN Trong đó, 87% số đơn vị và 10% số lao động thuộc địa phương quản lý Điều này cho thấy hoạt động KH-CN không chỉ phục vụ trên địa bàn Thành phố mà còn phục vụ cho nhiều tỉnh thành phía Nam cũng như cả nước và đây cũng là khó khăn lớn nhất cho công tác quản lý KH-CN, nhất là việc khai thác sử dụng đội ngũ lao động KH-CN

Nhìn chung, hoạt động KH-CN trên các lĩnh vực nghiên cứu khá phong phú, đa dạng, chủ yếu nghiên cứu ứng dụng và đang hướng vào các trọng tâm công nghệ chế biến tài nguyên như: khoáng sản, dầu khí, hợp chất tự nhiên; nghiên cứu vật liệu mới (vật liệu kim loại, vật liệu polyme, vật liệu silicat … Đây là cơ sở và tiền đề cho sự ra đời các khu công nghệ - kỹ thuật cao trên địa bàn Thành phố và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong tương lai Các viện, phân viện và trung tâm nghiên cứu của các

bộ, ngành và Thành phố, đã và đang nghiên cứu giải quyết những yêu cầu bức xúc của

kỹ thuật-công nghệ sản xuất và quản lý kinh tế của các ngành trên địa bàn thành phố

và vùng lãnh thổ ở phía Nam – Tây nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long

• Cơ sở hạ tầng

Đường bộ

Những năm gần đây, hạ tầng đường bộ của thành phố đã có nhiều đổi thay ngoạn mục Hiện nay, thành phố được kết nối với các vùng qua hai đường cao tốc chính: Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây và Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương Ngoài ra, các tuyến Quốc lộ và Xa lộ cửa ngõ cũng đã được đầu tư mở rộng đáng kể, như tuyến Đại lộ Nguyễn Văn Linh

Trang 14

14

(Nam Sài Gòn), Xa lộ Hà Nội (đi Biên Hòa) và Đại lộ Đông – Tây cùng Hầm Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn Thành phố cũng đầu tư nhiều cầu lớn để tăng cường giảm tải lưu lượng xe cộ ra ngoại thành, tiêu biểu là Cầu Phú Mỹ, Cầu Sài Gòn 2 và Cầu Thủ Thiêm

Thành phố có 239 cây cầu nhưng phần lớn chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng của đường nên gây khó khăn cho các phương tiện giao thông Thành phố có 2 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở các cửa ngõ ra vào: Miền Đông, Miền Tây cùng vài bến xe phụ trợ ở Quận 8, An Sương và Ngã Tư Ga

Đường sắt

Giao thông đường sắt của thành phố gồm tuyến nội ô và khu vực phụ cận do Xí nghiệp Liên hiệp đường sắt 3 quản lý, tuyến Bắc - Nam và một vài đoạn đường chuyên dụng, hiện hầu như đã ngưng khai thác Trong thành phố có hai nhà ga chính: Sóng Thần và Sài Gòn Bên cạnh đó còn có một số nhà ga nhỏ như Dĩ An, Thủ Đức, Bình Triệu, Gò Vấp Do mạng lưới đường sắt không được nối trực tiếp với các cảng, cơ sở

đã cũ kỹ nên giao thông đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh không phát triển, chỉ chiếm khoảng 6% khối lượng hàng hóa và 0,6% khối lượng hành khách

Đường thủy

Thành phố hiện có tuyến đường thủy chở hành khách liên tỉnh là tuyến tàu cánh ngầm nối Cảng Nhà Rồng với Cảng Cầu Đá, Thành phố Vũng Tàu Ngoài ra còn có khoảng 50 bến đò, phà phục vụ giao thông hành khách, trong đó lớn nhất là Phà Cát Lái nối thành phố Thủ Đức với huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai

Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có 4 cảng biển chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè, Tân Cảng cùng các cảng sông Bình Đông, Tân Thuận, Tôn Thất Thuyết, Bình Lợi, Bình Phước Cảng Sài Gòn là một trong những cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm 25% trong tổng khối lượng hàng hóa thông qua các cảng biển cả nước

Đường hàng không

Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất nằm trên địa bàn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố chỉ 7 km Đây là sân bay nhộn nhịp nhất và có

Trang 15

15

lưu lượng vận chuyển cao nhất cả nước, là cửa ngõ hàng không quốc tế lớn của khu vực Đông Nam Á, với hơn 41 triệu lượt khách đi và đến năm 2019 Hiện có 43 hãng hàng không quốc tế mở đường bay đến sân bay này

Giao thông công cộng

Để giải quyết vấn đề giao thông đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh đang đầu tư cho hệ thống giao thông công cộng Cùng mạng lưới xe buýt, dự án tàu điện ngầm Thành phố Hồ Chí Minh cũng được đang tiến hành Theo quy hoạch được duyệt vào năm 2013, thành phố sẽ có 8 tuyến đường sắt đô thị, tổng chiều dài hơn 160 km Dự kiến đến đầu năm 2024, tuyến metro đầu tiên (tuyến metro số một Bến Thành - Suối Tiên) khởi công tháng 3 năm 2007 sẽ đi vào hoạt động sau hơn 17 năm xây dựng Bên cạnh đó, dự án các tuyến buýt đường sông Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã được lên

kế hoạch và vận hành

Song hành với việc phát triển mạng lưới giao thông, các lĩnh vực: bưu chính viễn thông-công nghệ thông tin, hệ thống cấp điện, cấp nước, y tế của Thành phố cũng ngày càng phát triển đồng bộ

Bưu chính viễn thông-công nghệ thông tin: TP Hồ Chí Minh là trung tâm

bưu chính-viễn thông lớn nhất Việt Nam Hiện nay, tổng số thuê bao điện thoại trên toàn Thành phố ước đạt hơn 16,22 triệu thuê bao Trong số đó có 1,168 triệu thuê bao điện thoại cố định, số còn lại là điện thoại di động, đạt tỷ lệ bình quân 180 máy/100 dân Doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông và internet của các doanh nghiệp trên địa bàn ước đạt 26.922 tỷ đồng

Cấp điện: Do những nỗ lực đầu tư cải tạo và mở rộng mạng lưới điện không

ngừng nên lượng điện cung cấp cho Thành phố tăng bình quân 10,6%/năm Hiện nay, mạng lưới điện của TP Hồ Chí Minh đã có thể cung cấp đủ nhu cầu điện cho gần 100% dân số nội thành và trên 90% dân số ngoại thành

Cấp nước: Hiện nay, hệ thống cấp nước của TP Hồ Chí Minh chỉ mới cung cấp

nước sạch cho 86,5% dân số Thành phố Hiện nay, Thành phố đang tập trung triển khai 5 dự án về cấp nước cũng như tiếp tục triển khai các dự án đầu tư xây dựng nguồn

Trang 16

16

nước, nhằm nâng công suất cung cấp nước sạch của nhân dân lên 1,2 triệu m³/ngày đêm

Y tế: Hệ thống y tế của TP Hồ Chí Minh ngày càng phát triển, không chỉ đảm

bảo chăm sóc sức khỏe cho người dân Thành phố mà còn tiếp nhận chữa trị cho khoảng 60% bệnh nhân đến từ các tuyến tỉnh Trong đó, mạng lưới y tế cơ sở tại TP

Hồ Chí Minh không ngừng được nâng cấp, đầu tư mới về mọi mặt, đặc biệt là trang thiết bị và nhân sự Nhiều trung tâm y tế quận, huyện đã được trang bị các máy móc kỹ thuật cao, các trạm y tế ở các phường, xã cũng được đầu tư các trang thiết bị theo danh mục của Bộ Y tế ban hành đến năm 2010 đạt chuẩn quốc gia về trang thiết bị tại trạm

y tế phường, xã Cùng với hệ thống y tế công lập, trong những năm gần đây hệ thống y

tế tư nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh phát triển mạnh, góp phần làm giảm áp lực tại các bệnh viện công lập lớn

➢ Tổng quan tình hình kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách của cả Việt Nam Năm 2020, thành phố có GRDP theo giá hiện hành ước là 1.372 ngàn tỷ đồng, theo giá so sánh 2010 đạt 991.424 tỷ đồng (số liệu địa phương cung cấp, Tổng cục Thống kê sẽ công bố GRDP đánh giá lại), tăng 1,39% so với năm 2019, đóng góp trên 22% GDP và 27% tổng thu ngân sách cả nước GRDP bình quân đầu người ước năm 2020 là 6.328 USD/người, xếp thứ 4 trong số các tỉnh thành cả nước, nhưng so với năm 2019 là giảm Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 sơ bộ là 6,758 triệu VND/tháng, cao thứ hai cả nước sau Bình Dương

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đi đầu trong nền kinh tế Việt Nam Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,5% tổng sản phẩm GDP, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 37,9% dự án nước ngoài Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2012, GRDP đạt 404.720 tỷ đồng, tăng khoảng 8,7% Năm 2021, GRDP đã đạt mức 1.298.791 tỉ đồng (tương ứng 56,47 tỉ USD), trong đó khu vực thương mại dịch vụ đạt khoảng 63,4%, khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 22,4%, khu vực nông-lâm-thủy sản chỉ chiếm 0,6% GRDP bình quân đầu người năm

2021 đạt 142,6 triệu đồng (tương đương 6.173 USD) Thu ngân sách năm 2012 ước

Trang 17

17

đạt 215.975 tỉ đồng, đến năm 2021 đã tăng lên là 383.703 tỉ đồng Trong đó, thu nội địa năm 2021 đạt 253.281 tỷ đồng, vượt 2% dự toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 116.400 tỉ đồng, vượt 7% dự toán

Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch

vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2% Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực công nghệ cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn

Năm 2021, GRDP Thành phố Hồ Chí Minh sụt giảm chưa từng có trong lịch sử

do đại dịch COVID-19, với mức 6,78% Mọi thành phần của GRDP đều tăng âm, cao nhất là ngành dịch vụ với -54,93% Các ngành thông tin - truyền thông, tài chính - ngân hàng - bảo hiểm, giáo dục, y tế thì có mức tăng trưởng dương, nhất là ngành tài chính với 8,16% Sau khi nới lỏng giãn cách vào cuối năm 2021, thành phố lên kế hoạch phục hồi và phát triển kinh tế cho năm 2022 Trong 8 tháng, nền kinh tế thành phố phục hồi gần như hoàn toàn

2.2 Vai trò của tài chính công đối với nền kinh tế - xã hội tại TP Hồ Chí Minh

2.2.1 Đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc duy trì sự tồn tại và hoạt động

có hiệu quả của bộ máy nhà nước

Vai trò này của tài chính công tại Thành phố Hồ Chí Minh được thể hiện rõ thông qua ba đặc điểm sau:

Một là, tài chính công là công cụ đắc lực để khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu mà Nhà nước đã dự tính cho từng thời kỳ phát triển Trong đó, thuế là nguồn thu chủ yếu của

Ngân sách Nhà nước Để thực hiện tốt việc khai thác, động viên và tập trung được các nguồn lực tài chính, bộ máy Nhà nước quản lý tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều

Trang 18

18

văn bản quy phạm pháp luật nhằm hướng dẫn, giải đáp thắc mắc của các thể nhân và pháp nhân về vấn đề thuế, nộp thuế, đặc biệt là Cục thuế Thành Phố Hồ Chí Minh, như Hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2022, Mới đây nhất là “5 điều lưu

ý về Thuế đầu năm 2023” được đăng trên trang của Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm cung cấp các thông tin thay đổi từ Thuế suất GTGT, Ký hiệu lập hóa đơn, Phí và lệ phí, Thời hạn nộp thuế GTGT và TNDN, Quyết toán thuế, trong đó lưu ý về việc bắt đầu từ 1/1/2023, mức giảm thuế suất thuế GTGT theo NĐ 15/2022/NĐ-CP hết hiệu lực…

Cùng với đó, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, áp dụng công nghệ thông tin trong việc kê khai và nộp thuế đã và đang được Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện có hiệu quả, nhằm mục đích nâng cao tính tiện lợi, giảm thiểu tình trạng trốn thuế Đồng thời, Cục thuế thành phố cũng thực hiện nhiều chương trình khuyến khích người dân, tổ chức doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, như Chương trình “Hóa đơn may mắn” theo từng quý với tổng giá trị giải thưởng mỗi quý lên đến 155 triệu đồng; Các doanh nghiệp kê khai thuế lớn sẽ được hưởng ưu đãi như khách hàng VIP; Thực hiện tuyên dương và trao tặng giấy khen của Bộ Tài Chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh cho các doanh nghiệp có số thuế quan lớn, hoàn thành tốt nghĩa vụ Từ đó, Nhà nước có thể tập trung được nguồn tài chính nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu chi tiêu

Bên cạnh thuế là nguồn thu chính, thu ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh còn đến từ các nguồn thu khác như: Thu từ xuất nhập khẩu, Thu từ dầu thô, Khu vực Nhà nước, Khu vực Tư nhân, Khu vực FDI và các nguồn thu khác

Theo Báo Chính phủ, thu ngân sách Nhà nước năm 2022 của Thành phố Hồ Chí Minh đạt 457.510 tỷ đồng lớn hơn 18,4% so với dự toán, tăng 14,8% so với cùng

kỳ năm 2021 Về chi ngân sách địa phương sau khi đã trừ tạm ứng, đạt 90.209 tỷ đồng, đạt 90,5% dự toán Thu nội địa từ tiền sử dụng đất: năm 2022, tính đến hết ngày 28/12, thu nội địa từ tiền sử dụng đất là 317.578 tỷ đồng, đạt 126,49% dự toán (251.068 tỷ đồng), tăng 23,76% so với cùng kỳ năm 2021 (đạt 256.610 tỷ đồng) Trong đó, chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm 2022, Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh đã thu ngân sách được 225.003 tỷ đồng, đạt 83,31% dự toán năm, tăng 25,95% so với cùng kỳ năm

Trang 19

19

2021 (Theo Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh) Cùng với đó, tổng chi ngân sách địa phương là 80.023,584 tỷ đồng, đạt 82,5% dự toán Trong đó, chi đầu tư phát triển là 25.325,301 tỷ đồng; chi thường xuyên là 51.569,189 tỷ đồng, đạt 107,6% dự toán

Hình 2.2 Thu - chi ngân sách tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022

Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ

Hai là phân phối các nguồn lực tài chính đã tập trung cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Năm 2022, tính đến hết ngày 28/12, TP HCM chi đầu tư phát

triển là 29,474 tỷ đồng và chi thường xuyên là 40.217 tỷ đồng, đạt 82,6% dự toán (48.663,293 tỷ đồng) Tính đến hết năm 2022, chi đầu tư phát triển là 25.325,301 tỷ đồng; chi thường xuyên là 51.569,189 tỷ đồng, đạt 107,6% dự toán Theo đó, chi thường xuyên được phân phối cho các đơn vị sự nghiệp của bộ máy nhà nước bao gồm chi cho các sự nghiệp y tế, giáo dục, kinh tế và quản lý hành chính, cụ thể như chi trả tiền lương cho các cán bộ công nhân viên tại Thành ủy, UBND các quận, huyện, Các

sở, ban, ngành, các cơ sở trường học, bệnh viện công, Thứ hai là cung cấp các dịch

vụ công, chuyển dần từ dịch vụ công truyền thống sang dịch vụ công trực tuyến trên

Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm các dịch vụ công đối với Công dân (như Cấp bản sao trích lục hộ tịch, Đăng ký thành lập hộ kinh doanh, ), đối với Doanh nghiệp (Tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng, Nhóm thủ tục liên thông đăng ký hộ kinh doanh và đăng ký thuế, ), Các dịch vụ công thiết yếu (Thông báo lưu trú, Khai báo tạm vắng, tạm trú, )

Trang 20

20

Về chi đầu tư phát triển, cụ thể là đầu tư công: Trong năm 2022, Thành phố

đã giao và phân bổ chi tiết số kế hoạch vốn là 37.463,673 tỷ đồng, bao gồm vốn ngân sách trung ương là 2.479,640 tỷ đồng và vốn ngân sách địa phương là 34.984,033 tỷ đồng Đến hết niên độ Kế hoạch đầu tư công năm 2022 (ngày 31/01/2023), Thành phố

dự kiến giải ngân vốn là 28.753,707 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 76,7% tổng số vốn giao

Về chi cho hoạt động an sinh xã hội:

Theo Báo Chính phủ, năm 2022, Thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết việc làm cho 315.612 lượt người, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2021, bằng 105,3% kế hoạch đề ra; số chỗ việc làm mới được tạo ra là 141.312 chỗ, tăng 0.23% so với cùng

kỳ, đạt 100,9% kế hoạch; Lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp và số người nhận hưởng trợ cấp thất nghiệp lần lượt là 139.555 lao động và 135.772 lao động

Về Công tác giảm nghèo bền vững cũng được UBND thành phố chú trọng: Theo báo cáo tình hình kinh tế-xã hội năm 2021, Thành phố đã thực hiện chăm lo tết Nguyên đán chi 9.527 hộ nghèo với số tiền 11,908 tỷ đồng và 9.615 hộ cận nghèo với

số tiền 9,615 tỷ đồng; Hỗ trợ sửa chữa 17 căn nhà tình nghĩa, với số tiền 690,045 triệu đồng, hỗ trợ 100 căn nhà tình thương với số tiền 5,488 tỷ đồng; Sửa chữa chống dột

113 căn nhà với số tiền 4,002 tỷ đồng cho hộ nghèo, hộ cận nghèo thành phố Theo Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội 2022, thành phố đã thực hiện triển khai thực hiện các chính sách an sinh xã hội, giải pháp hỗ trợ giảm nghèo cho từng người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ vượt chuẩn cận nghèo trong Chương trình Giảm nghèo bền vững thành phố đạt hiệu quả cao, hoàn thành mục tiêu giảm nghèo năm 2022 với số tiền cấp cho 121.348 thẻ hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ vượt chuẩn cận nghèo là 92.571 tỷ đồng Kết quả theo báo cáo của các quận, huyện và thành phố Thủ Đức như sau: trong năm 2022, toàn thành phố thực hiện giảm 16.151 hộ nghèo (kéo giảm 0.64%, đạt 184,2% kế hoạch năm) và giảm 9.723 hộ cận nghèo (kéo giảm 0,38%, đạt 188,07% kế hoạch năm)

Năm 2022, Thành phố đã thực hiện trợ cấp xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP cho 135.729 người, với số tiền là 147,222 tỷ đồng; Tiếp nhận ban đầu 1.116 trường hợp xin ăn, sinh sống nơi công cộng, không có nơi cư trú ổn định và 109

Trang 21

Đặc biệt, trong những giai đoạn khó khăn, các gói hỗ trợ từ Thành phố đã góp phần không nhỏ cho việc đảm bảo đời sống của người dân Theo đó, Thành phố thực hiện ban hành các chính sách, các gói hỗ trợ cho người lao động, giải quyết kịp thời nhu cầu của người lao động Chẳng hạn như trong thời điểm dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, Thành phố đã thực hiện ba gói hỗ trợ đợt 1, đợt 2 và đợt 3 trong năm

2021 như sau:

• Gói hỗ trợ đợt 1: Khi thành phố thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 15/CT-TTg, Thành phố đã ban hành Nghị quyết số 09/2021/NQ-HĐND ngày 25/6/2021 của Hội đồng nhân dân Thành phố, với đối tượng hỗ trợ là người lao động không có giao kết hợp đồng lao động (lao động tự do) bị mất việc do ảnh hưởng của dịch bệnh

• Gói hỗ trợ đợt 2: Khi thành phố thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg, Thành phố ban hành Công văn 2627/UBND-VX ngày 6/8/2021 và Công văn 2799/UBND-VX ngày 21/8/2021 của UBND thành phố để hỗ trợ cho các đối tượng là lao động tự do bị mất việc do ảnh hưởng của dịch bệnh, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ lao động có hoàn cảnh khó khăn

• Gói hỗ trợ đợt 3: Khi thành phố thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg tăng cường, hỗ trợ cho các đối tượng Đợt 1, Đợt 2 và người hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng

Qua các gói hỗ trợ trên, người dân có một khoản hỗ trợ để trang trải cuộc sống, vượt qua thời kỳ khó khăn chung của cả nước Đồng thời, Thành phố cũng tiến hành lập ba đoàn kiểm tra các gói hỗ trợ này, đảm bảo quyền lợi cho người dân

Trang 22

Ba là tài chính công là công cụ kiểm tra, giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của quản lý Nhà nước và phát triển kinh tế-xã hội Về

việc quản lý thu chi tại Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện dưới sự quản lý, kiểm tra, giám sát của Sở Tài Chính Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Bộ Tài Chính Việc quản lý ngân sách nhà nước, thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố đã được quy định rõ tại Quyết định số 20/2018/QĐ-UBND ngày 30/6/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu rõ chức năng và nhiệm vụ của Sở Tài Chính Thành phố Hồ Chí Minh trong việc quản lý tài chính đối với đất đai, quản lý vốn đầu tư phát triển, quản lý quỹ dự trữ tài chính của thành phố theo quy định của pháp luật, Cùng với đó, thực hiện kiểm tra, giám sát việc quản lý

và sử dụng ngân sách ở các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách; tiến hành thẩm định quyết toán thu chi ngân sách nhà nước phát sinh trên địa bàn các quận, huyện Đồng thời, hướng dẫn và tổ chức thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong

sử dụng ngân sách, tài chính công theo quy định của pháp luật

Trong công tác đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải ngân vốn đầu tư công và hoàn thành Kế hoạch đầu tư công năm 2022, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Chương trình hành động về thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2022 tại Quyết

Ngày đăng: 05/05/2023, 16:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Cải thiện hạ tầng giao thông, “chìa khóa” để phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ (2022), Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An. Link nguồn:https://khdt.nghean.gov.vn/tin-tuc-tong-hop/cai-thien-ha-tang-giao-thong-chia-khoa-de-phat-trien-kinh-te-vung-dong-nam-bo-534771 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện hạ tầng giao thông, “chìa khóa” để phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An
Năm: 2022
[2] Tài chính Việt Nam 10 năm đổi mới (2015), Bộ Tài Chính. Link nguồn: https://mof.gov.vn/webcenter/portal/btcvn/pages_r/l/tin-bo-tai-chinh?dDocName=BTC045490&dID=170830 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính Việt Nam 10 năm đổi mới
Tác giả: Bộ Tài Chính
Nhà XB: Bộ Tài Chính
Năm: 2015
[7] Role of Public Finance in Economic Development, Data Flair. Link nguồn: https://data-flair.training/blogs/public-finance-in-market-economy/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Role of Public Finance in Economic Development
Tác giả: Data Flair
[3] Phan Thị Cẩm Giang (2018), Phân tích kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000-2015, Tạp chí Công Thương. Link nguồn:https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phan-tich-ket-qua-chuyen-dich-co-cau-kinh-te-thanh-pho-ho-chi-minh-giai-doan-2000--2015-52094.htm Link
[4] Ban Mai (2021), Thành phố Hồ Chí Minh sẵn sàng với tâm thế mới để phát triển, Tạp chí điện tử VnEconomy. Link nguồn: https://vneconomy.vn/thanh-pho-ho-chi-minh-san-sang-voi-tam-the-moi-de-phat-trien.htm Link
[5] Vương Đức Hoàng Quân (2016), Chuyển dịch cơ caaus kinh tế TP. Hồ Chí Minh tầm nhìn đến năm 2025, Tạp chí Tài chính. Link nguồn:https://tapchitaichinh.vn/chuyen-dich-co-cau-kinh-te-tp-ho-chi-minh-tam-nhin-den-nam-2025.html Link
[6] Minh Tiến (2022), Địa phương có quy mô GRDP lớn nhất đóng góp bao nhiêu vào GDP cả nước trong 10 năm qua?, Trang thông tin điện tử tổng hợp Cafef. Link nguồn:https://cafef.vn/dia-phuong-co-quy-mo-grdp-lon-nhat-dong-gop-bao-nhieu-vao-gdp-ca-nuoc-trong-10-nam-qua- Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w