MỞ ĐẦU Với mục đích giúp sinh viên bước đầu tiếp cận với hệ thống kinh tế chính trịcác cấp, từ trung ương đến cơ sở, với công tác nghiên cứu và giảng dạy kinh tế chính trị ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chính trị, các viện, học viện; gắn lý thuyết với thực tiễn kinh tế chính trị nhằm hoàn thiện kiến thức kinh tế kinh tế chính trị của sinh viên và đáp ứng đòi hỏi công việc sau khi ra trường. Đây là khoảng thời gian cần thiết và quý báu để sinh viên tích lũy kinh nghiệm, cũng là để tạo điều kiện cho mỗi sinh viên được tiếp tục học hỏi, tìm hiểu thêm kiến thức, nâng cao nhận thức lý luận và thực hành chuyên môn. Nhận thức rõ được mục đích và vai trò của đợt thực tập này, em đã chọn khoa kinh tế chính trị– Học viện Báo chí và Tuyên truyền làm cơ sở thực tập để bước đầu làm quen với công việc thực tế tại cơ quan; hiểu và nắm được cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Khoa mình; đồng thời rút ra được những kĩ năng, phương pháp làm việc của một cán bộ, công chức Nhà nước nhằm phục vụ cho công việc trong tương lai.
Trang 1MỞ ĐẦU
Với mục đích giúp sinh viên bước đầu tiếp cận với hệ thống kinh tếchính trịcác cấp, từ trung ương đến cơ sở, với công tác nghiên cứu và giảngdạy kinh tế chính trị ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chính trị, cácviện, học viện; gắn lý thuyết với thực tiễn kinh tế chính trị nhằm hoàn thiệnkiến thức kinh tế kinh tế chính trị của sinh viên và đáp ứng đòi hỏi công việcsau khi ra trường
Đây là khoảng thời gian cần thiết và quý báu để sinh viên tích lũy kinhnghiệm, cũng là để tạo điều kiện cho mỗi sinh viên được tiếp tục học hỏi, tìmhiểu thêm kiến thức, nâng cao nhận thức lý luận và thực hành chuyên môn
Nhận thức rõ được mục đích và vai trò của đợt thực tập này, em đã
chọn khoa kinh tế chính trị– Học viện Báo chí và Tuyên truyền làm cơ sở
thực tập để bước đầu làm quen với công việc thực tế tại cơ quan; hiểu và nắmđược cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Khoa mình; đồng thời rút rađược những kĩ năng, phương pháp làm việc của một cán bộ, công chức Nhànước nhằm phục vụ cho công việc trong tương lai
Trang 2CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ
TUYÊN TRUYỀN 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Học viện Báo chí và Tuyên truyền (thuộc Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh) được thành lập ngày 16-01-1962 theo Nghị quyết số 36NQ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, trên
cơ sở hợp nhất 3 trường Trường Nguyễn Ái Quốc II, Trường Tuyên huấn vàTrường Đại học Nhân dân, Ngày 16 tháng 01 hàng năm là ngày kỷ niệmthành lập Trường
Từ khi thành lập đến nay, trường lần lượt có các tên:
- Trường Tuyên giáo Trung ương (1962- 1969)
- Trường Tuyên huấn Trung ương (1970- 1983)
- Trường Tuyên huấn Trung ương I (1984 -2/1990) trên cơ sở hợp nhấtTrường Tuyên huấn Trung ương với Trường Nguyễn Ái Quốc V
- Trường Đại học Tuyên giáo (1990 - 3/1993)
- Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (4/1993 đến 6/2005)
- Học viện Báo chí và Tuyên truyền (6/2005 đến nay)
Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã trải qua chặng đường lịch sử vẻvang 59 năm xây dựng và trưởng thành
Trong suốt 59 năm qua, tuy mang những tên gọi khác nhau cho phùhợp với yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn cách mạng Song Họcviện luôn là mái trường của Đảng Từ năm 1990 đến nay vừa là trường đại
Trang 3học trong hệ thống giáo dục quốc dân vừa là bộ phận hữu cơ cấu thành Họcviện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Học viện Báo chí và Tuyên truyền là một trường của Đảng với nhiệm
vụ đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, cán bộ làm công tác tuyêngiáo, công tác xây dựng Đảng; đào tạo đại học, sau đại học chuyên ngành báochí, tuyên truyền và một số ngành khoa học xã hội và nhân văn khác; là cơ sởnghiên cứu khoa học về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ chíMinh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực tưtưởng - văn hóa, báo chí - truyền thông nhằm nâng cao chất lượng đào tạo,bồi dưỡng cán bộ và góp phần vào việc hoạch định đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Hiện tại Học viện đang tổ chức đào tạo 42 chương trình trình độ đạihọc (trong đó có 36 chương trình đào tạo đại trà, 05 chương trình chất lượngcao, 01 chương trình liên kết quốc tế); 20 chương trình đào tạo thạc sĩ và 06chương trình đào tạo nghiên cứu sinh Hàng năm Học viện tuyển sinh gần
1800 sinh viên chính quy tập trung và gần 2000 sinh viên chính quy khôngtập trung Năm 2018, quy mô đào tạo các hệ của Nhà trường: Đại học chínhquy tập trung: 5.913 sinh viên; đại học văn bằng 2: 267 sinh viên; đại học vừalàm vừa học: 3.056 sinh viên; cao học: 978 học viên và 90 nghiên cứu sinh
Tổ chức bộ máy của Nhà trường có 29 đơn vị trực thuộc Ban Giám đốcgồm: 19 đơn vị giảng dạy, nghiên cứu (17 Khoa, 1 Trung tâm Thông tin khoahọc, 01 Tạp chí) và 10 đơn vị chức năng (6 Ban, 1 Văn phòng, 2 Phòng và 1Trung tâm)
Hiện nay, Học viện có 413 cán bộ, viên chức, người lao động, trong đó
242 cán bộ là giảng viên Đội ngũ cán bộ giảng dạy có 01 giáo sư, 40 phógiáo sư, 82 tiến sĩ, 226 thạc sĩ, 42 cử nhân, 22 khác Ngoài ra, Nhà trườngcũng mời nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, các chuyên gia đầu ngành về lý
Trang 4luận kinh tế chính trịvà báo chí, truyền thông tham gia giảng dạy, hướng dẫnviết luận án và luận văn, tham gia Hội đồng chấm luận án tiến sĩ, luận văn caohọc.
Hoạt động chuyên môn của Nhà trường so với thời kỳ đầu đã có bướcphát triển mạnh mẽ Các chuyên ngành được mở rộng và đào tạo liên tục theoniên khoá Công tác nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò to lớn tronghoạt động chung, góp phần bổ sung và đổi mới nội dung và phương phápgiảng dạy Các trang bị, thiết bị kỹ thuật hiện đại được đầu tư nhằm phục vụkịp thời cho các chuyên ngành đào tạo đặc thù Nhà trường mở rộng các hoạtđộng hợp tác với các đối tác nước ngoài, bắt đầu tham gia các dự án Quốc tế
Hệ thống chương trình, giáo trình thường xuyên được đổi mới, cập nhật Chấtlượng đào tạo nâng cao, đáp ứng kịp thời nhu cầu cán bộ của Đảng và Nhànuớc
Trong suốt chặng đường 59 năm qua, bằng lao động khoa học nghiêmtúc và sáng tạo, các thế hệ cán bộ, giảng viên của Học viện đã khắc phục khókhăn, vượt qua thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứngđáng với lòng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Với những thành tích to lớn đó, Học viện được Đảng và Nhà nước traotặng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương độc lập hạng nhì (1992),Huân chương Độc lập hạng nhất (2001), Huân chương Hồ Chí Minh (2007)
1.2 Cơ cấu tổ chức của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trang 51.3 Chức năng và nhiệm vụ
a) Chức năng
Học viện Báo chí và Tuyên truyền là đơn vị trực thuộc Học viện Chínhtrị quốc gia Hồ Chí Minh, là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luậnchính trị, cán bộ làm công tác tuyên giáo, công tác xây dựng Đảng; đào tạođại học, sau đại học chuyên ngành báo chí, tuyên truyền và một số ngànhkhoa học xã - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, báo chí - truyền thôngnhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và góp phần vào việchoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước
Trang 6b) Nhiệm vụ và quyền hạn
* Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
- Đào tạo và đào tạo sau đại học các chuyên ngành báo chí, tuyêntruyền và một số ngành khoa học xã hội và nhân văn khác theo quy định củaĐảng, Nhà nước và phân công, phân cấp của Giám đốc Học viện Chính trịquốc gia Hồ Chí Minh;
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đương chức và quy hoạch các chức danh làtrưởng, phó trưởng phòng và tương đương trở lên của các cơ quan thông tấn,báo chí, truyền thông, xuất bản ở các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương vàtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, phó trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh ủy,thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; trưởng, phó trưởng Ban Tuyên giáocấp huyện và tương đương;
- Đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận kinh tế chính trị cho các trườngchính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; trung tâm bồi dưỡng kinh tếchính trị của các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; các trường đào tạo, bồidưỡng kinh tế chính trị của các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và cáctrường đại học, cao đẳng của hệ thống giáo dục quốc dân theo duy định, phâncông, phân cấp;
- Bồi dưỡng kiến thức mới và kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ làm côngtác tuyên giáo, báo chí, truyền thông, xuất bản và một số ngành khoa học xãhội nhân văn khác
* Nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu xây dựng bổ sung chương trình, nội dung, tổ chức biênsoạn giáo trình, tài liệu phục vụ dạy và học; đổi mới nội dung, phương phápgiảng dạy các chuyên ngành đào tạo, bồi dưỡng của Học viện;
Trang 7- Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối, chủ trương của Đảng, chính sác, pháp luật của Nhà nước, khoa họckinh tế chính trị và một số ngành khoa học xã hội nhân văn khác theo quyđịnh, phân công, phân cấp; tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về lĩnh vựccông tác tư tưởng - văn hóa, công tác đảng, báo chí, truyền thông.
* Hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoahọc với các cơ sở đào tạo và khoa học của các nước, các tổ chức trên thế giới
* Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế và cán bộ, công chức, viên chức,người lao động; thực hiện chế độ chính sách, đào tạo, bồi dưỡng, thi đua,khen thưởng và kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao độngcủa Học viện theo thẩm quyền được phân công, phân cấp; thực hiện phòng vàchống tham nhũng, tiêu cực, lãnh phí trong đơn vị theo quy định của phápluật
* Quản lý tài chính, tài sản; quyết định và chịu trách nhiệm về các dự
án đầu tư thuộc thẩm quyền theo quy định
* Xuất bản và phát hành Tạp chí Lý luận Kinh tế chính trị và Truyềnthông, trang thông điện tử, các ấn phẩm khoa học, tài liệu phục vụ cho hoạtđộng đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học của Học viện Báo chí vàTuyên truyền theo quy định của Đảng, Nhà nước và của Học viện
* Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Giám đốc Học viện giao
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU KHOA KINH TẾ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN 2.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Khoa Kinh tế chính trị Học viện Báo chí và Tuyên truyền được thànhlập trên cơ sở hợp nhất ba khoa: khoa Kinh tế chính trị của trường Nguyễn ÁiQuốc V, khoa Kinh tế chính trị và khoa Quản lý kinh tế của trường Tuyên
Trang 8huấn Trung ương I (hai khoa của trường Tuyên huấn Trung ương I đều đượcthành lập ngày 16-1-1962 theo Nghị quyết số 36 / NQ - TW của Ban Bí thưTrung ương Đảng) Đến nay, Khoa đã trải qua trên nửa thế kỷ phấn đấu vàphát triển
Quá trình ra đời và trưởng thành của Khoa Kinh tế gắn liền với sự rađời và phát triển của nhà trường qua từng thời kỳ
Trên 55 năm qua, Khoa đã đào tạo được 37 khóa học, tổng số hơn 4700sinh viên ( trong đó có hơn 200 sinh viên Lào ), 307 thạc sĩ, tham gia giảngdạy cho hơn 1000 lớp bồi dưỡng và tại chức kinh tế tại các địa phương vớitổng số khoảng 45.500 học viên Đến nay, nhiều cán bộ, giảng viên, học viên,sinh viên của Khoa đã trở thành cán bộ chủ chốt, đảm nhiệm nhiều cương vịquan trọng ở các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương và cáctrường Chính trị trên cả nước
Bên cạnh Kinh tế Chính trị và Quản lý Kinh tế, bắt đầu từ năm 2017,Khoa tuyển sinh khóa đầu tiên chương trình cử nhân chất lượng cao chuyênngành Kinh tế và Quản lý Đặt mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo lên hàngđầu để đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực chất lượng cao,Khoa thường xuyên cập nhật và đổi mới chương trình giảng dạy, mở rộng hợp
Trang 9tác với các chuyên gia trong và ngoài nước, đồng thời áp dụng những phươngpháp tích cực và hiện đại vào giảng dạy Tập thể cán bộ, giảng viên của Khoaqua các thế hệ luôn nỗ lực và phấn đấu để tạo ra một môi trường sư phạmlành mạnh, thân thiện, không chỉ trang bị cho sinh viên những kiến thứcchuyên sâu, kỹ năng làm việc chuyên nghiệp mà còn khuyến khích sinh viênphát huy sự năng động, khả năng tư duy sáng tạo, sự kiên trì theo đuổi mơước trở thành những giảng viên lý luận chính trị, những nhà kinh tế và cán bộquản lý kinh tế giỏi của đất nước.
2.2 CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
Các chương trình đào tạo của Khoa Kinh tế chính trị được xây dựngdựa trên nhu cầu của xã hội, sự kế thừa và phát huy thế mạnh sẵn có củaKhoa, kết hợp với việc tham khảo các chương trình đào tạo của các trường đạihọc có uy tín và sự tư vấn của các chuyên gia cao cấp đang hoạt động tronglĩnh vực kinh tế để đảm bảo tính khoa học, đáp ứng nhu cầu thực tế của thịtrường lao động và mang tính hội nhập
2.2.1 Đào tạo cử nhân
Hiện nay, Khoa Kinh tế chính trị có 2 chương trình đào tạo cử nhânngành Kinh tế Chính trị và ngành Kinh tế ( gồm 2 chuyên ngành là Quản lýKinh tế Kinh tế và Quản lý ) theo hình thức tín chỉ
Ngành Kinh tế Chính i được thiết kế nhằm đào tạo giảng viên h nănggiảng dạy về kinh tế chính trị và các môn học khác về kinh tế, các cán bộ,chuyên viên có năng lực tham mưu tư vấn trong việc xây dựng hoạch, tổ chứcthực hiện và quản lý các hoạt động kinh tế, có khả năng độc lập nghiên sinhviên có kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về Kinh tế và Quản lý, đặc biệt cácvấn đề liên quan đến phân tích và đánh giá chính sách bằng các công cụ địnhlượng hình thành tư duy và phát triển khả năng nghiên cứu độc lập các vấn đề
Trang 10lý luận và thực tiễn về kinh tế và quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của các cơquan quản lý Nhà nước về kinh tế và các tổ chức, doanh nghiệp
Với chuyên ngành Kinh tế và Quản lý hệ chất lượng cao, 30 % mônhọc được giảng dạy bằng tiếng Anh, mục tiêu giúp sinh viên có khả năng khảnăng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp với các đồng nghiệp nước ngoài vềchuyên môn và những vấn đề kinh tế xã hội liên quan đến các chính sách kinh
tế và các vấn đề về chính sách Theo đ, sinh viên có thể bộc lộ quan điểm củamình tại các diễn đàn khu vực và quốc tế về những vấn đề chung trong mảngchính sách kinh tế Sinh viên thuộc hệ đào tạo này có nhiều cơ hội được họctập với các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế trong và ngoài nước, đồng thời
có cơ hội tham gia các khóa học ngắn liên kết với các trường đại học nướcngoài
2.2.2 Đào tạo sau đại học
Đối với chương trình sau đại học, Khoa Kinh tế chính trị hiện tập trungđào tạo Thạc sĩ ngành Kinh tế Chính trị, hướng tới mục tiêu cung cấp cho họcviên những kiến thức lý luận và thực tiễn chuyên sâu trong lĩnh vực kinh tếchính trị hiện đại Sau khi tốt nghiệp, học viên có khả năng và kỹ năng giảngdạy, nghiên cứu, làm việc trong các tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội, trong
hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, tại các viện nghiên cứu, cáctrường Đại học, Cao đằng; các trường chính trị tỉnh, thành phố; các trườngđào tạo cán bộ của Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể ở Trung ương và địa phươn, trởthành các chuyên gia tư vấn, phản biện, hoạch định và thực thi chính sáchkinh tế, các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực kinh tế
2.3 CƠ HỘI NGHỀ NGHIỆP
Theo thống kê năm 2017, sinh viên Khoa Kinh tế chính trị sau khi tốtnghiệp ra trường 85 % có việc làm trong vòng 12 tháng Cơ hội việc làm khá
đa dạng như:
Trang 11• Giảng viên kinh tế và các môn khoa học lý luận chính trị
• Chuyên viên kinh tế làm công tác nghiên cứu, tham mưu, tư vấn ở cácviện nghiên cứu, hoặc các cơ quan kinh tế - xã hội từ Trung ương đến địaphương
• Phóng viên, biên tập viên về lĩnh vực kinh tế trong các cơ quan báochí, truyền thông • Chuyên viên trong các lĩnh vực kinh tế ở các doanhnghiệp, các tổ chức phi Chính phủ ( NGOs ) trong nước và quốc tế
• Tự thành lập và điều hành start - up của riêng mình
2.4 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC TIÊU BIỂU
Về công tác nghiên cứu khoa học, Khoa luôn chú trọng và nỗ lực làmnghiên cứu để phục vụ công tác giảng dạy Tính đến nay, Khoa đã thực hiện
và hoàn thành:
- 156 đề tài khoa học ( trong đó có 1 đề tài cấp Nhà nước, 18 đề tài cấp
Bộ và nhiều đề tài cấp cơ sở được nghiệm thu và đánh giá xuất sắc )
- Biên soạn và xuất bản 25 giáo trình chuyên ngành và nhiều tài liệuphục vụ cho việc giảng dạy và học tập
- Tham gia viết hơn 250 bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí khoahọc chuyên ngành có uy tín trong và ngoài nước
Bên cạnh đó, giảng viên của Khoa cũng luôn khuyến khích và truyềncảm hứng để sinh viên say mê nghiên cứu khoa học Nhiều đề tài nghiên cứukhoa học của sinh viên Khoa đạt chất lượng tốt, có ý nghĩa thực tiễn cao vàđược nhận giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học của Bộ Giáo dục vàĐào tạo
Hội thảo khoa học:
Với mục tiêu xây dựng Khoa trở thành một trong những Khoa hàng đầu
về nghiên cứu khoa học và ứng dụng, Ban Chủ nhiệm Khoa luôn quan tâm tổ
Trang 12chức các hội thảo khoa học tập trung vào những vấn đề thời sự trong lĩnh vựckinh tế và quản lý với sự tham gia của các nhà khoa học, các nhà quản lý, cácchuyên gia kinh tế trong và ngoài nước Các hội thảo khoa học không chỉ gópphần quan trọng trong việc cung cấp thông tin, tư vấn, phản biện các chínhsách kinh tế - xã hội của các địa phương và cả nước mà còn góp phần vàoviệc điều chinh chương trình đào tạo cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy
và nghiên cứu tại Khoa
Các hội thảo khoa học gần đây do Khoa tổ chức kết hợp với các chuyên gia kinh tế Hàn Quốc - thuộc tổ chức KOICA:
- Hội thảo về " Bí quyết sự phát triển kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc ",
giàu nghèo tại Hàn Quốc ", 2015
- Hội thảo về " Thực trạng nợ công của Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam ", 2015
- Hội thảo về " Thực trạng phát triển chậm lại của kinh tế Trung Quốchiện nay và ảnh hưởng của nó đến các mục tiêu của Abenomics và nền kinh tếNhật Bản ", 2015
- Hội thảo về " Tác động của phát triển kinh tế đến môi trường và công bằng xã hội ở Trung Quốc ", 2015
- Hội thảo về " Mô hình phát triển kinh tế Hàn Quốc và áp dụng trong bối cảnh Việt Nam ", 2016
Trang 13- Hội thảo về " Vốn xã hội - Tiếp cận mới đối với chính sách công ", 2016 Hội thảo khoa học " Vận dụng nghị quyết TW5 khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vào nghiên cứu , giảng dạy lý luận chính trị ở các trường Đại học " với sự tham gia của nhiều nhà khoa học
trong và ngoài Học viện, 2017
2.5 ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIẢNG VIÊN
Hiện nay, Khoa có tổng số 20 cán bộ và giảng viên cơ hữu, trong đó có
9 tiến sĩ, 6 nghiên cứu sinh, 5 thạc sĩ