1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả của dự án tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn bắc sơn hồng kỳ huyện sóc sơn hà nội giai đoạn 2008 2010

66 680 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả của dự án Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội giai đoạn 2008-2010
Trường học Đại học Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý phát triển
Thể loại Nghiên cứu đánh giá
Năm xuất bản 2008-2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 180,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rất hay bà bổ ích !

Trang 1

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vềviệc triển khai dự án “Cải thiện cuộc sống cho phụ nữ đơn thân”, Hội liênhiệp phụ nữ Thành phố Hà Nội đã tổ chức khảo sát phụ nữ đơn thân trên địabàn thành phố tháng 9 năm 2007 Kết quả: có 5325 phụ nữ đơn thân của12/14 quận huyện của Hà Nội Trong đó, huyện Sóc Sơn có số phụ nữ đơnthân cao nhất (2506 người), quận Ba Đình có số phụ nữ đơn thân ít nhất là 41người Hầu hết phụ nữ đơn thân gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Có 47%phụ nữ đơn thân (2503 người) có nhu cầu được vay vốn để phát triển kinh tế, cảithiện mức sống gia đình; 12,62% có nhu cầu được đào tạo nghề (672 người).Ngoài ra, có 27,81% phụ nữ (1481 người) có nhu cầu được trợ cấp khó khăn,miễn giảm học phí học của con, hoặc được khám chữa bệnh miễn phí.[12]

Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệpxây dựng và phát triển đất nước, đồng thời thấu hiểu được những thiệt thòi vàkhó khăn của người phụ nữ nghèo nhưng lại phải gánh vác tất cả những côngviệc mà không có phái mạnh bên mình và họ phải là trụ cột của gia đình.Được sự tài trợ của tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới, Trung tâm hỗ trợ pháttriển vì phụ nữ và trẻ em phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ huyện Sóc Sơn,Thành phố Hà Nội và huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện dự án

“Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã Nam Sơn, BắcSơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; và 2 xã Thăng Bình và Công Liêm,huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa” với tổng kinh phí là 3.149.088.000 VND.Thời gian thực hiện dự án là 3 năm, bắt đầu từ tháng 01 năm 2008 đếnngày 31/12/2010 Mục tiêu tổng thể của dự án là “Góp phần vào sự phát triểncông bằng và bền vững nhằm giảm nghèo cho các phụ nữ thiệt thòi tại Hà Nội

và Thanh Hóa” được cụ thể hóa thành hai mục tiêu cụ thể đó là Thúc đẩyPNNCH tham gia tích cực hơn vào các lĩnh vực quyền và ra quyết định trongnhững việc có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ; Cải thiện chất lượngcuộc sống của các PNNCH tại 5 xã dự án của huyện Sóc Sơn và Nông Cống

Dự án đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống vật chất, tinh thần và đặc biệt là

Trang 2

nhận thức của những hộ PNNCH Chính vì vậy, dự án mang ý nghĩa to lớn về

cả mặt kinh tế và xã hội, góp phần tạo cơ hội cho họ phát triển công bằng,giảm bớt những thiệt thòi, khó khăn của những phụ nữ nghèo làm trụ cột gia đình.Sóc Sơn là một huyện nghèo của thủ đô Hà Nội, với 9 xã có địa hình đồinúi, 70% dân số của Sóc Sơn làm nông nghiệp trong đó có 3 xã được hưởng

dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ" Các cán bộ

dự án đã tuyên truyền, động viên những người phụ nữ kém may mắn tham giasinh hoạt tại những CLB này để có thêm kiến thức về pháp luật và đờisống,có thêm những kiến thức về trồng trọt, chăn nuôi, giữ vệ sinh… Đồngthời, việc tham gia các CLB nhằm giúp họ có cơ hội hòa đồng, có niềm tin trởlại với cuộc sống Bên cạnh đó, dự án cũng cho họ vay một khoản vốn nhỏ đểphát triển chăn nuôi, trồng trọt, tăng thu nhập Kết thúc dự án này mức độtham gia của PNNCH vào các hoạt động của cộng đồng tăng lên, tỷ lệ hộnghèo giảm xuống, điều kiện sống của PNNCH ở các xã dự án được cải thiện.Đặc biệt sau khi kết thúc dự án 4 câu lạc bộ của 3 xã được cấp 1 số vốn đểgiúp duy trì hoạt động và sinh hoạt thường xuyên, đồng thời tăng cường thànhlập các nhóm sở thích để giúp đỡ nhau phát triển sản xuất và động viên, chia

sẻ cùng nhau vượt qua khó khăn trong cuộc sống Có thể nói dự án đã thực sựthổi luồng gió mới vào cuộc sống kém may mắn của những người phụ nữngoại thành Hà Nội Xuất phát từ thực tế trên và thấy được tầm quan trọngcủa dự án này, với cương vị là sinh viên thực tập tốt nghiệp em thực hiện đề

tài: " Đánh giá hiệu quả của dự án- Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ

nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã Nam Bắc Hồng Kỳ- huyện Sóc

Sơn-Hà Nội giai đoạn 2008-2010."

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá tác động của dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ

nữ nghèo chủ hộ" tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn - HàNội đến đời sống kinh tế xã hội của các hộ gia đình có phụ nữ nghèo chủ hộ

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu các hoạt động thực tế của dự án "Tạo cơ hội phát triển côngbằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ" tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện

Sóc Sơn - Hà Nội giai đoạn 2008-2010.

Trang 3

- Đánh giá thực tế tình hình sản xuất, đời sống của PNNCH tại 3 xã NamSơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn - Hà Nội.

- Đánh giá sự ảnh hưởng của dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng chophụ nữ nghèo chủ hộ" tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn -

Hà Nội giai đoạn 2008-2010.

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

- Giúp sinh viên có cơ hội tìm hiểu và tiếp cận thực tế thông qua việctiếp cận với các hoạt động thực tiễn của dự án

- Vận dụng những kiến thức đã được học tại trường và thực tiễn qua đó

có thêm kiến thức, đồng thời tích lũy kinh nghiệm thực tiễn phục vụ công tácsau này

1.4.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Thấy được quá trình triển khai, những khó khăn còn tồn tại và nhữnghiệu quả mà dự án đem lại cho người dân 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ,huyện Sóc Sơn - Hà Nội

Trang 4

Phần 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 Một số khái niệm

2.1.1 Khái niệm cơ hội

Cơ hội là một hoàn cảnh hoặc điều kiện thuận lợi mà ta cảm nhận đượcnhưng rồi lại chẳng mang đến cho ta giá trị hoặc lợi ích gì trừ khi ta biết cáchlãnh đạo bản thân và người khác để tạo ra giá trị từ hoàn cảnh hoặc điều kiệnthuận lợi đó[11]

2.1.2 Khái niệm phát triển

- Phát triển được hiểu là một xã hội đạt đến mức thỏa mãn các nhu cầu

mà xã hội ấy coi là thiết yếu Các nhu cầu ấy bao gồm: dinh dưỡng, giáo dục,sức khỏe, vệ sinh, cung cấp nước sạch[2]

- Phát triển là sự tăng lên cả mặt số lượng và chất lượng Hay nói cáchkhác phát triển được coi là sự tăng trưởng về kinh tế, sự tiến bộ về xã hội và

sự bền vững về môi trường[2]

- Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sốngcủa con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xãhội (Ranan Weitz, 1995)[1]

2.1.3 Khái niệm công bằng

Công bằng xã hội về phương diện kinh tế không có nghĩa là thành quảphát triển của xã hội được chia đồng đều cho mọi người.Công bằng trước hếtphải được hiểu là sự bình đẳng trong cơ hội (equal opportunity), cơ hội làmviệc, cơ hội đầu tư, nghĩa là bình đẳng trong việc tiếp cận những cơ hội màvới cố gắng và năng lực con người có thể đạt đến một mức sống cao hơn hiệnnay Nói khác đi, nếu mọi tầng lớp dân chúng đều có cơ hội tham gia quátrình phát triển và được hưởng thành quả tương ứng với sức lực, khả năng vàtrí tuệ của họ thì đó là sự phát triển trong công bằng[3]

2.1.4 Khái niệm phụ nữ nghèo chủ hộ

- Khái niệm phụ nữ: Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đãtrưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội[18]

- Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người haytoàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc

Trang 5

điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơthể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường[18].

- Khái niệm nghèo: Theo ESCAP (1993) : Nghèo là tình trạng của một

bộ phận không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của conngười, những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ pháttriển và phong tục tập quán của từng địa phương[16]

- Phụ nữ nghèo chủ hộ là những người phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn bịchồng bỏ hoặc chồng mất, hoặc vì một lý do nào khác mà họ không có mộtngười đàn ông bên mình Đó là những phụ nữ góa, ly dị hay ly thân, hoặc cócon mà không có chồng Những gia đình này thường là những gia đình dễ bịtổn thương trước những cú sốc về thiên tai, kinh tế[12]

2.2 Vai trò của phụ nữ

2.2.1 Vai trò vốn có của người phụ nữ

Con người là hoa của đất và người phụ nữ là hương hoa của cuộc đời.Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa nhân loại Nói như Hồ Chủ tịch “Muốngiải phóng giai cấp trước hết là giải phóng phụ nữ” Vai trò của người phụ nữluôn được xã hội coi trọng và ghi nhận Phụ nữ đóng vai trò rất quan trọngtrong xã hội, không chỉ giỏi công việc gia đình mà còn tích cực tham gia côngtác xã hội, gặt hái nhiều thành công trên các lĩnh vực Vai trò của người phụ

nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước càng được khẳngđịnh một cách rõ nét hơn Đó là những vai trò sản xuất, tái sản xuất và vai tròcộng đồng

2.2.1.1 Vai trò sản xuất

Lịch sử loài người từ trước đến nay đã ghi nhận phụ nữ bao giờ cũng cóvai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội Đối với xã hội, phụ nữ là mộtlực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người

Ở Việt Nam, Mặc dù chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho Giáo nhưng donhững điều kiện tự nhiên, đặc điểm về kinh tế và xã hội quy định nên vai tròphụ nữ luôn được đề cao Trước hết là một quốc gia nông nghiệp lúa nướccho phép phụ nữ tham gia vào mọi khâu trong quá trình sản xuất, các truyềnthuyết dân gian về “bà mẹ lúa” cùng với tín ngưỡng dân gian thờ nữ thần cònkhá phổ biến cho tới tận ngày nay đã phản ánh công lao của phụ nữ trong việc

Trang 6

phát minh ra nghề nông cũng như vai trò quan trọng của họ trong sản xuấtnông nghiệp Một đặc điểm khác là lịch sử phát triển của dân tộc Việt Namcũng là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm và làm thủy lợi đây là hai nhân tố

cơ bản tạo nên sự cố kết cộng đồng và là điều kiện thúc đẩy nhà nước hìnhthành sớm ở Việt Nam thì đó cũng chính là nguyên nhân làm cho phụ nữ ViệtNam phải gánh vác thêm nhiều trách nhiệm đối với gia đình và làng xóm Đó

là khi nam giới thường xuyên phải vắng nhà vì bị huy động đi phu làm thuỷlợi và đi lính bảo vệ tổ quốc thì phụ nữ phải đảm đang gánh vác mọi việc từlao động sản xuất ngoài đồng ruộng cho tới nuôi dạy con cái, chăm sóc cha

mẹ già…Không những thế, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ ViệtNam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc

và xây dựng đất nước Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn ngoạibang xâm lược, bà Trưng, bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quânthù Ngoài ra vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử còn thể hiện ở chỗViệt Nam là một nước nông nghiệp nhưng thu nhập từ nghề nông lại rất bấpbênh bởi thiên tai thường xuyên xảy ra Không những thế đất đai ít, dân sốngày càng tăng, thu nhập ít ỏi từ nghề nông không đủ cho người nông dântrang trải gánh nặng tô thuế và nuôi sống gia đình họ Vì vậy người nông dânbuộc phải làm thêm nhiều nghề phụ và phát triển buôn bán nhỏ để đảm bảocuộc sống Những công việc này phần lớn cũng do phụ nữ đảm nhiệm Phụ

nữ tham gia vào mọi hoạt động sản xuất cũng như hoạt động buôn bán trong

xã hội

Trong bài phát biểu tại buổi toạ đàm “Vai trò của Phụ Nữ Việt NamTrong Thế Kỷ XXI” do Quỹ Phát triển Phụ Nữ Liên Hợp Quốc UNIFEM vàHội phụ nữ Việt Nam tổ chức dưới sự hỗ trợ của các tổ chức Liên Hợp Quốctại Việt Nam, Chủ tịch Hội phụ Nữ Việt Nam Hà Thị Khiết đã tôn vinh ngườiphụ nữ Việt Nam: “Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp tíchcực của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Là một lực lượng lao động xã hộiđông đảo, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mìnhtrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thích ứng với sự hội nhập và phát triểntheo xu thế chung của nhân loại”

Trang 7

Có thể nói, vai trò của phụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc

và có những đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đấtnước[13]

2.2.1.2.Vai trò tái sản xuất

Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bảnthân con người để duy trì và phát triển xã hội góp phần sáng tạo nên nền vănhoá nhân loại và là lực lượng không thể thiếu trong đấu tranh giai cấp, đấutranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại

Trước hết phải nói rằng, phụ nữ có ảnh hưởng to lớn đến hạnh phúc và

sự ổn định của gia đình Đối với gia đình, phụ nữ là người chăm sóc và giáodục con cái chủ yếu, là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống và giữ vai trò trọngyếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình Bất kỳ ở thời đại nào, quốcgia nào, dân tộc nào sự ảnh hưởng của người phụ nữ cũng có sức lan tỏa rộnglớn và thẩm thấu vào từng tế bào của xã hội tạo nên nó, nuôi sống nó Họ làngười vợ hiền, luôn sẵn sàng chia sẻ ngọt bùi và những đắng cay cùng chồng

để giữ cho cuộc sống gia đình hạnh phúc Không chỉ giúp đỡ chồng trongcông việc gia đình, người vợ còn động viên, đưa ra những lời khuyên chânthành giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công sự nghiệp củachồng Phụ nữ còn là những người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự lànhững tấm gương cho con cái noi theo, là người mẹ luôn sẵn sàng hy sinh lợiích của bản thân với mong muốn con cái trưởng thành và thành đạt trong cuộcsống Họ là những người mẹ, người vợ luôn tiếp sức cho chồng con vượt quanhững khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích cho gia đình, xã hội Họ lànhững người mẹ, người thầy đầu tiên của con người, nuôi con khỏe, dạy conngoan, là hạt nhân xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn dân

cư Có một câu danh ngôn nổi tiếng đã nói: “Phụ nữ làm cho cách xử thế ởđời được trau chuốt và khiến người ta chuộng sự lễ độ Họ là thầy dạy chânchính về mĩ quan và là người khích lệ mọi hi sinh Hiếm có người đàn ôngnào yêu thương họ mà lại là người man rợ”.(G Legouve)

Người mẹ ngày nay còn là một người bạn lớn luôn ở bên con để hướngdẫn, động viên kịp thời Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể tìm thấy ở nhữngngười phụ nữ, người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sự cân bằng

Trang 8

bình yên trong cuộc sống Chính họ đã tiếp sức cho chúng ta vượt qua nhữngkhó khăn để sống một cuộc sống hữu ích Đúng như nhà thơ Victor Hugo đãtùng viết: “Bên cạnh ánh sáng lung linh của các vì sao còn có ánh sáng êm dịu

và huyền bí của tâm hồn người phụ nữ” [13]

2.2.1.3 Vai trò cộng đồng

Bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ còn tích cựctham gia các hoạt động xã hội Phụ nữ có mặt trong hầu hết các công việc vànắm giữ nhiều vị trí quan trọng Ngày càng nhiều người trở thành chính trịgia, các nhà khoa học nổi tiếng, những nhà quản lí năng động Trong nhiềulĩnh vực, sự có mặt của người phụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, côngnghiệp dịch vụ, may mặc Chị em đã có những đóng góp tích cực vào nghiêncứu, triển khai các đề tài khoa học, dự án, về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trongnông, lâm nghiệp, xây dựng thành công các mô hình sản xuất Chị em thamgia tích cực vào chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, kết hợp giữa chăn nuôi vớitrồng trọt, xây dựng các mô hình sản xuất hàng hóa Phụ nữ ngành giáo dụckhông ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thi đua “dạytốt, học tốt” góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục của.Trong buổi tiếp các trưởng đoàn dự cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ lầnthứ 11 (WLN) của diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương(APEC) diễn ra vào tháng 9 – 2006 tại Hà Nội, Chủ tịch nước Nguyễn MinhTriết khẳng định, Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhận thức rõ về vaitrò của phụ nữ trong phát triển và hội nhập quốc tế Chủ tịch nêu rõ: "Ở ViệtNam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng Trong cuộc đấu tranh giải phóng dântộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động Trong thời kỳ hòabình và xây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnh vực kinh

tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật Vai trò của phụ nữ hoàn toàn xứng đángvới tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân dành tặng: Anh hùng, bấtkhuất, trung hậu, đảm đang"

Với truyền thống đó, phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà”tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vàocác hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiềulĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây

Trang 9

dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệnạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân… Có thể nói, vai trò củaphụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những đóng gópquan trọng trong thành tựu của cách mạng Việt Nam[13].

2.2.2 Phụ nữ có vai trò quan trọng trong nông nghiệp

Bên cạnh những vai trò vốn có nói trên, phụ nữ Việt Nam còn đóng vaitrò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Tuynhiên, họ lại là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội Điều đóđược Tổ Chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc khẳng định và nhấn mạnh, phụ

nữ là thành phần đóng góp quan trọng và đáng kể vào nền kinh tế cũng như

an toàn thực phẩm, nhưng họ cũng là thành phần thiệt thòi và yếu thế hơnnam giới về mặt sở hữu đất canh tác cũng như những phương tiện sản xuất,chưa được tiếp cận đúng mức với những nguồn tài nguyên cần thiết để nângcao năng lực sản xuất của mình Đó là khoảng cách hoặc sự mất cân bằng giớitrong nông nghiệp, FAO kết luận

Những nguồn tài nguyên cần thiết được kể ra là đất canh tác, phân bón,thuốc trừ sâu, nguồn nước tưới, cơ giới tức máy cày, máy tưới, máy gặt, rồithì những thông tin về sự cải tiến, kỹ thuật hay phương pháp gieo trồng ứngdụng khoa học vào nông nghiệp, nguồn hỗ trợ tài chính cho sản xuất Tất cảnhững điều đó phụ nữ nông thôn không được biết đến nhiều, không đượcphục vụ nhiều như nam giới Đó là lời ông Hiroyuki Konuma, phó tổng giámđốc Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, cũng là người đại diện khu vựccủa tổ chức tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nói rằng tại một quốc gianông nghiệp như Việt Nam, số phụ nữ nông thôn nắm phần chủ động về tàisản tức được vay tiền để sản xuất trong nông nghiệp chỉ chiếm 24% so với33% phía nam giới Mặt khác, những phương tiện hỗ trợ để sản xuất và pháttriển đối với phụ nữ vùng nông thôn Việt Nam chỉ vào khoảng 7,5% so với33% phía nam giới

Ở Việt Nam phụ nữ trong nông nghiệp chịu thiệt thòi hơn so với đàn ông

về mọi mặt Phụ nữ Việt Nam sở hữu đất đai ít hơn nam giới, họ không được

sử dụng máy móc cơ giới trong nông nghiệp nhiều như đàn ông, họ khôngđược biết nhiều về các loại phân bón, không biết nhiều về lúa giống, không

Trang 10

được quyết định làm cách nào để nâng sản lượng, chính vì thế họ sản xuấtkém hơn đàn ông là vậy Bà Terry Raney, chuyên gia kinh tế của Tổ chứcNông lương Thế giới cũng quả quyết rằng dù không trầm trọng nhưng nếukhoảng cách giới tính trong nông nghiệp đó ở Việt Nam được san bằng thìphụ nữ có khả năng sản xuất không kém nam giới, góp phần trực tiếp và tíchcực trước hết vào sự an toàn lương thực cho chính người dân Việt Nam của

họ trước.”

Những điều này không chỉ là kêu gọi suông hay nói suông mà được,không thể ngồi chờ ngày một ngày hai chính sách và luật lệ sẽ thay đổi sẽ tạothuận lợi hơn cho phụ nữ, bà Terry Raney chia sẻ tiếp Theo bà người phụ nữphải nắm phần chủ động Có những nhóm phụ nữ làm nông, có những nônghội dành cho phụ nữ, qua đó chính người đàn bà khẳng định vai trò, khả năng

và chỗ đứng thực tế của mình trên đất đai, trên ruộng vườn mà chính họ đổ

mồ hôi một nắng hai sương tạo ra miếng ăn cũng như của cải cho gia đình vàđất nước của họ[15]

2.3 Một số dự án hỗ trợ phụ nữ nghèo

2.3.1 Dự án: " Hỗ trợ Phụ nữ nghèo lập nghiệp"

Dự án “Hỗ trợ phụ nữ nghèo lập nghiệp” là một trong những hoạt độngnhằm triển khai chương trình hợp tác dài hạn giữa quỹ Unilever Việt Nam vàHội liên hiệp phụ nữ Việt Nam để “Nâng cao quyền năng cho phụ nữ thôngqua phát triển kinh doanh và giáo dục sức khỏe”

Trong đó, tập đoàn Unilever Việt Nam thông qua quỹ Unilever ViệtNam và các nhãn hàng sẽ đặc biệt chú trọng tới việc cho vay vốn nhỏ chocác phụ nữ nghèo nhằm giúp tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho chị

em phụ nữ, đồng thời kết hợp tăng cường giáo dục cho chị em về sứckhỏe cá nhân và cộng đồng Dự án được bắt đầu khởi động từ ngày 29tháng 7 năm 2006 Sau thời gian thí điểm, dự án đang được triển khai thựchiện rộng khắp trên toàn quốc

Đối tượng hưởng lợi của dự án thí điểm “Hỗ trợ phụ nữ nghèo lậpnghiệp” là các hội viên phụ nữ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chưa có việclàm ổn định, có nhu cầu kinh doanh tạo thu nhập do Hội liên hiệp phụ nữ ViệtNam lựa chọn và giới thiệu

Trang 11

Theo hoạt động của dự án, các hội viên nữ sẽ được trang bị phương tiệnlàm việc miễn phí, được tham gia các khóa đào tạo phát triển kỹ năng kinhdoanh và tiếp thị để có thể tự mình bán hàng một cách hiệu quả Đồng thời,các hội viên sẽ được cung cấp thông tin về thị trường, hướng dẫn về khu vựcbán hàng và hỗ trợ kế hoạch làm việc giúp phát triển, mở rộng hoạt động kinhdoanh của mình

Các hội viên tham gia cũng sẽ được nhận một khoản thu nhập cố định đểgiúp cải thiện cuộc sống ngoài số lợi nhuận có thể thu được qua bán hàng [17]

2.3.2 Dự án: " Giảm nghèo và phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ dân tộc thiểu số huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn"

Dự án được thực hiện từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 2 năm 2007 Vớimục tiêu là xây dựng năng lực cho người dân và cán bộ địa phương để đạtđược mục tiêu giảm nghèo và tiến bộ vì phụ nữ dân tộc thiểu số dựa trên việc

sử dụng các nguồn lực tự nhiên một cách bền vững và các cơ hội của địaphương một cách hiệu quả

Dự án được triển khai dựa trên cách tiếp cận có sự tham gia (thực chất là

áp dụng quy chế dân chủ cơ sở vào thực tiễn) đã có ảnh hưởng tích cực tớicách làm việc của cán bộ tham gia ban quản lý dự án và và cán bộ phụ nữ xã,thôn Trên thực tế, quy chế dân chủ cơ sở đã được áp dụng thành công trong

dự án

Người dân địa phương đã tiếp cận tốt hơn với dịch vụ công như dịch vụthú y, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khuyến nông, đầu vào sản xuất nôngnghiệp Người dân đã hiểu biết hơn để có những yêu cầu đối với bên cungcấp dịch để có dịch vụ tốt hơn Ví dụ: một phụ nữ dân tộc Nùng khi đi khámbệnh phụ khoa đã yêu cầu trạm y tế xã Minh Khai cho chị biết về nguyênnhân gây bệnh của chị, chị muốn được biết rõ nguyên nhân do nấm, do vikhuẩn hay do trùng Roi chứ không phải kết luận chung chung Hiện tại dự

án đã được trang bị kính hiển vi soi tươi và một số thiết bị khác, cán bộ trạm y

tế hai xã đã được huyện cử đi học về cách sử dụng

Chính sách của Nhà nước cho người dân tộc thiểu số được người dânhiểu hơn thông qua việc sử dụng vốn quay vòng, ví dụ: Chính sách trợ cướcvận chuyển được tận dụng trong việc tổ chức mua vôi hoặc phân bón tập thể

Trang 12

Về vấn đề bảo vệ đất: thông qua hoạt động của các khuyến nông viêntình nguyện/tổ trưởng phụ nữ, người nông dân đã nhận ra mặt trái của phânhóa học, đã giảm hoặc không sử dụng phân hóa học nữa Việc đốt rừng đốtrẫy cũng giảm xuống

Cải thiện tiếp cận thị trường là điểm trọng tâm của dự án, với mục tiêu làxây dựng năng lực cho cán bộ huyện và xã, nông dân về kỹ năng phân tích vàphát triển thị trường, phần 1 của khóa tập huấn “Phân tích và phát triển thịtrường” đã được tổ chức Sau khóa tập huấn, một loạt các sản phẩm địaphương được liệt kê ra để tìm thị trường, một số sản phẩm mới từ các sảnphẩm của địa phương được lựa chọn là sản phẩm hàng hóa và một điều quantrọng là cách nghĩ dần được thay đổi, người dân thường ngồi một chỗ và chờđợi ai đó, chính phủ chẳng hạn tìm thị trường cho họ, nay dần dần họ hiểurằng phải tự mình đứng dậy và tìm thị trường cho sản phẩm của mình

Sản xuất nông nghiệp bền vững hơn và đất được bảo vệ tốt hơn khingười nông dân có xu hướng sử dụng phân vi sinh nhiều hơn phân hóa học Người nghèo tự tin hơn trong cộng đồng và có thu nhập từ mô hình

“Ngân hàng bò và dê” Đến nay người nghèo mạnh dạn hơn trong vấn đểđăng ký trồng thử nghiệm các cây lâm nghiệp

Thông qua các tổ chức cộng động, người phụ nữ được vay vốn với cáchvay và trả khác nhau phù hợp cho từng mục tiêu cụ thể Chẳng hạn mục tiêusản xuất, tự triển khai hoạt động mua phân bón, vôi Hình thức khác, chovay vốn tổ chức cùng mua hiện vật hoặc tiền mặt để xây nhà vệ sinh, chuồnggia súc, bồn nước, nền nhà, lều chứa phân… Hoặc vay vốn vay nhỏ ngắn hạn

để mua đường, men vi sinh để ủ phân vi sinh hoặc để mua phân hóa học,giống [6]

2.4 Dự án: "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ"

* Khái niệm: dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo

chủ hộ" là dự án phát triển mang ý nghĩa to lớn về cả mặt kinh tế và xã hội,góp phần tạo cơ hội cho họ phát triển công bằng, giảm bớt những thiệt thòi,khó khăn của những phụ nữ nghèo, làm trụ cột gia đình Tổ chức tài trợ: Bánh

mỳ cho Thế giới, Tổ chức điều hành: Trung tâm hỗ trợ phát triển vì phụ nữ vàtrẻ em, đối tác địa phương: Hội liên hiệp phụ nữ huyện Nông Cống và Sóc

Trang 13

Sơn, thời gian thực hiện là 36 tháng (1/2008 – 12/2010), tổng tài chính:3,149,088,000 đồng.

* Mục tiêu dài hạn: Góp phần vào sự phát triển công bằng và bền vững

nhằm giảm nghèo cho các phụ nữ thiệt thòi tại Hà Nội và Thanh Hóa

+ PNNCH tham gia tích cực hơn vào quá trình ra các quyết định có liênquan đến cuộc sống của họ

- Các kết quả để đạt mục tiêu cụ thể thứ hai

+ Hiệu quả của các hoạt động sinh kế của PNNCH được tăng lên;

+ Điều kiện sống của PNNCH được cải thiện[5]

Trang 14

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những hộ gia đình có phụ nữ nghèo là chủ hộ được hưởng lợi từ dự án

"Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ" tại huyện SócSơn - Hà Nội

- Các hoạt động của dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữnghèo chủ hộ tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội giai đoạn 2008-2010"

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Những thuận lợi và khó khăn của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ

về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Tình hình triển khai thực hiện dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằngcho phụ nữ nghèo chủ hộ" tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội giai đoạn 2008-2010

- Tác động từ dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèochủ hộ" tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội giai đoạn 2008-2010 đến đời sống kinh tếcủa PNNCH

- Tác động từ dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèochủ hộ" tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội giai đoạn 2008-2010 đến đời sống xã hộicủa PNNCH

- Tác động từ dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữnghèo chủ hộ" tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội giai đoạn 2008-2010 đến nhậnthức của PNNCH

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

3.3.1.1 Thông tin thứ cấp

- Thu thập các thông tin, số liệu thứ cấp được từ các bài báo, bài viết,sách, các báo cáo và các văn bản có liên quan đến dự án đã được công bố

Trang 15

- Thu thập số liệu tại chính quyền địa phương, thống kê của UBNDhuyện, xã từ các báo cáo, tạp chí, tổng hợp từ internet

3.3.1.2 Thông tin sơ cấp

- Phương pháp quan sát: là phương pháp qua quan sát trực tiếp hay giántiếp bằng các dụng cụ để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bànnghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: là phỏng vấn dựa trên danh mụccác câu hỏi cần đề cập đến Tuy nhiên thứ tự và cách đặt câu hỏi có thể tùythuộc vào ngữ cảnh hoặc đối tượng phỏng vấn

- Số liệu sơ cấp: Được tổng hợp và xử lý trên chương trình Excel

3.3.4.Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp phân tích, so sánh: Các số liệu được đánh giá, so sánh

qua các năm để thấy được thực trạng liên quan tới vấn đề nghiên cứu

Trang 16

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

 Phía Đông: Giáp xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn

 Phía Nam: Giáp xã Tân Minh và xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn

 Phía Tây: Giáp xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn

- Vị trí địa lý xã Bắc Sơn

Xã Bắc Sơn nằm về phía Bắc của huyện Sóc Sơn, cách trung tâm huyện

15 km Địa giới hành chính được xác định như sau:

 Phía Đông: Giáp xã Bắc Sơn, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

 Phía Tây: Giáp xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn

 Phía Nam: Giáp xã Nam Sơn và xã Hồng Kỳ huyện Sóc Sơn

 Phía Bắc: Giáp xã Vạn Phái, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

- Vị trí địa lý xã Nam Sơn.

Xã Nam Sơn nằm ở phía Bắc huyện Sóc Sơn cách trung tâm huyện SócSơn 14 km Địa giới hành chính xã được xác định giáp các xã trong huyện:+ Phía Đông: Giáp xã Hồng Kỳ và xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn

+ Phía Tây: Giáp xã Minh Trí và xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn

+ Phía Nam: Giáp xã Quang Tiến và xã Hiền Ninh, huyện Sóc Sơn.+ Phía Bắc: Giáp xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn

4.1.1.2 Tình hình sử dụng đất đai

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của

ngành nông nghiệp, là một trong những nguồn lực đóng vai trò quyết định

Trang 17

khả năng phát triển của nông nghiệp, nông thôn và nâng cao mức sống nôngdân Tình hình sử dụng đất đai của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ năm

2011 được thể hiện trong bảng 4.1 sau:

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn,

Tỷ lệ (%)

Hiện trạng (ha)

Tỷ lệ (%)

Hiện trạng (ha)

Tỷ lệ (%) Tổng diện tích tự nhiên 2935 100 3819,7

63,3 3

802,5 9

55,8 2

1 Đất sản xuất nông nghiệp 581,09 19,80 2048,7

3 53,63 501,79 34,90 1.1 Đất trồng cây hàng năm 515,87 17,58 837,83 21,9

3

501,7 9

34,9 0 1.2 Đất trồng cây lâu năm

II Đất phi nông nghiệp 777,37 26,49 1300,8

6 34,0 6 487,7 5 33,9 2

1

202,3 1

14,0 7

2 Đất chuyên dùng

385,87 13,15 763,54 19,99 182,5 12,69

3 Đất tôn giáo tín ngưỡng 0,64 0,02 - - 5,08 0,35

4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 5,32 0,18 6,02 0,16 12,13 0,84

Trang 18

5 Đất sông suối và mặt nước chuyên

-III Đất chưa sử dụng 377,76 12,87 100 2,62 147,5

6 10,2 6

(Nguồn:UBND xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, năm 2012)

Nam Sơn Bắc Sơn Hồng Kỳ

- 500.00

Xã Ha

Trang 19

Hình 4.1 Tình hình sử dụng đất của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ

năm 2011

Qua bảng số liệu 4.1 cho thấy, trong 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳthì xã Bắc Sơn có diện tích đất tự nhiên lớn nhất với 3.819,79 ha, xã Hồng Kỳ

có diện tích đất tự nhiên ít nhất, xã Nam Sơn có 2.935 ha Nhìn chung, cả ba

xã diện tích đất sản xuất nông, lâm nghiệp đều chiếm tỷ lệ lớn, cụ thể là ở xãNam Sơn có 60,6%; Bắc Sơn có 63,3%; Hồng Kỳ có 55,8% Trong đó ở xãNam Sơn diện tích đất trồng lúa chiếm 82,5% , Bắc Sơn có 36,2%, Hồng Kỳ

có 95,3% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp Con số trên cho thấy, câylúa vẫn là cây trồng chính trong nông nghiệp của ba xã Ngoài ra, tỷ lệ đấtdành cho phi nông nghiệp ở ba xã cũng có xu hướng tăng trong những nămgần đây và chiếm khoảng 26,5% tổng diện tích đất của xã Nam Sơn, 34,1%tổng diện tích đất của xã Bắc Sơn; 33,9% tổng diện tích đất của xã Hồng Kỳ.Tuy nhiên, diện tích đất chưa sử dụng và có khả năng sản xuất nông nghiệp ở

ba xã vẫn chiếm tỷ lệ lớn, chính vì vậy cần có sự đôn đốc của chính quyền địaphương để đưa vào sử dụng, trành lãng phí nguồn tài nguyên đất của địaphương Cụ thể là ở Nam Sơn có 377,76 ha chiếm 12,87% diện tích tự nhiêncủa xã, ở Bắc Sơn có 100 ha, chiếm 2,6%; ở Hồng Kỳ có 147,56 ha, chiếm10,3% diện tích tự nhiên của toàn xã

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Cơ cấu (%)

Giá trị (triệu đồng)

Cơ cấu (%)

Giá trị (triệu đồng)

Cơ cấu (%)

sản

48.840, 4

59,0 7

77.946,4

39.77

4 60,3Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 23.344, 28,2 13.640,6 14 15.36 23,3

Trang 20

6 3 2 9

Thương mại dịch vụ

10.499, 0

Tình hình sản xuất của xã Nam Sơn năm 2011 đã có bước phát triển tốt,

cơ cấu kinh tế hợp lý cùng với đẩy mạnh chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ theohướng nông- lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, tíchcực áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư cơ sở hạ tầng, tập trung lãnh đạo, chỉđạo Trong đó thu nhập về trồng trọt và chăn nuôi là chủ yếu, nhưng thu nhậpthấp, mức sống của người dân chưa cao Tổng giá trị thu được năm 2011 là82.684 triệu đồng Trong đó giá trị sản xuất nông lâm nghiệp đạt 48.840,4 triệuđồng, chiếm 59,07%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 23.344,6 triệu đồng,chiếm 28,23%; thương mại dịch vụ 10.499,00 triệu đồng, chiếm 12,7%

Đồng thời dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền xã Bắc Sơn, nềnkinh tế của nhân dân xã Bắc Sơn đã có những bước phát triển khá, đời sốngcủa nhân dân từng bước được cải thiện và nâng lên Tổng giá trị sản xuất của

xã năm 2011 đạt 97.433 triệu đồng Trong đó giá trị sản xuất nông lâm nghiệpđạt 77.946,4 triệu đồng, chiếm 80%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt13.640,62 triệu đồng, chiếm 14%; thương mại dịch vụ đạt 5.845,98 triệuđồng, chiếm 6%

Xã Hồng Kỳ cũng là xã có nền kinh tế sản xuất nông nghiệp là chủ yếuvới tổng giá trị sản xuất năm 2011 là 65.960 triệu đồng Trong đó nông lâmnghiệp thủy sản đạt 39.774 triệu đồng, chiếm 60,3%; công nghiệp xây dựngđạt 15.369 triệu đồng, chiếm 23,3%; thương mại dịch vụ đạt 10.817 triệuđồng, chiếm 16,4%

Nhìn chung, nền kinh tế của ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ vẫncòn gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớntrong cơ cấu kinh tế của xã Nông nghiệp kém phát triển, phụ thuộc nhiều vào

tự nhiên, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất mangtính tự cung tự cấp là chủ yếu

4.1.2.2 Tình hình dân cư và lao động

Cùng với đất đai, lao động là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng trongmọi quá trình sản xuất Vai trò này càng được thể hiện rõ hơn trong sản xuất

Trang 21

nông nghiệp, khi mà trình độ cơ giới hóa còn chưa theo kịp đòi hỏi của thực

tế sản xuất Dân số và lao động của ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳnăm 2011 được thể hiện trong bảng số liệu 4.2:

Bảng 4.3 Tình hình dân số, lao động của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn,

Hồng Kỳ năm 2011

TT Chỉ tiêu ĐVT Nam Sơn Xã Bắc sơn Xã Hồng Kỳ Xã

2 Dân số phân theo dân tộc

5 Lao động trong độ tuổi Người 5.359 8.507 6.104

+ Công nghiệp, tiểu thủ công

6 Trình độ lao động

(Nguồn: UBND ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ năm 2012)

Trang 22

Qua bảng số liệu 4.2 ta có thể thấy:

- Xã Nam Sơn có tổng dân số là 8838 người với 2130 hộ, và được phân

bố ở 6 thôn trong toàn xã Tổng số lao động trong độ tuổi là 5359 người trong

đó lao động nông nghiệp chiếm 70%, lao động công nghiệp và dịch vụ chiếm30% Tỷ lệ lao động có kiến thức phổ thông, tiểu học chiếm 30%, trung học

cơ sở chiếm 50%, trung học phổ thông chiếm 20.% Tỷ lệ lao động được đàotạo chuyên môn so với tổng số lao động là 35% Số lao động đi làm việcngoài địa phương chiếm 12% Nguồn nhân lực dồi dào chủ yếu lao độngbằng nghề nông nghiệp và lao động chân tay, số lao động làm nghề nôngnghiệp ít được đào tạo Trong khi đó số lao động trẻ, có trình độ văn hóatrung học phổ thông và được đào tạo học nghề ngày một tăng hơn phù hợpvới phát triển kinh tế - xã hội theo công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Xã Bắc Sơn có 3.512 hộ với 14.682 nhân khẩu, trong đó: Số lao độngtrong độ tuổi là 8.507 người, chiếm 58% dân số Bao gồm lao động sản xuấtnông nghiệp 7.084 người chiếm 83,3%; Lao động công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp 685 người chiếm 8,1%; Lao động dịch vụ thương mại 738 ngườichiếm 8,7% trong độ tuổi Số lao động qua đào tạo là 1.524 người chiếm tỷ lệ19% (chủ yếu qua đào tạo nghề ngắn hạn)

- Xã Hồng Kỳ có quy mô dân số là 2.740 hộ với 11.345 nhân khẩu,trong đó: Số lao động trong độ tuổi là 6.104 người chiếm chiếm 54% dân số

Số lao động qua đào tạo khoảng 1.282 người chiếm tỷ lệ 21% Lao động sảnxuất nông nghiệp 4.383 người chiếm 72%; Lao động công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp 821 người chiếm 13% trong độ tuổi Lao động dịch vụ thươngmại 900 người chiếm 15% trong độ tuổi

Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 3 xã đã nỗ lựcphấn đấu, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, cơcấu hạ tầng ngày càng được hoàn thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộiđược đảm bảo ổn định, Đảng bộ chính quyền xã đoàn kết Nam Sơn, Bắc Sơn

và Hồng Kỳ là 3 xã có tiềm năng phát triển kinh tế xã hội rất lớn, đó là đất đai

và lao động Tuy không có ngành nghề truyền thống nhưng có vị trí địa lýthuận lợi, đội ngũ lao động đông đảo, có kỹ năng canh tác tốt, có một số diệntích đất ở vùng đồi gò phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế trang trại Do đó

Trang 23

3 xã này có tiềm năng phát triển thành vùng sản xuất nông nghiệp sinh thái,trang trại trồng cây ăn quả kết hợp thả cá, chăn nuôi gia súc, gia cầm quy môvừa Tuy nhiên còn một số hạn chế như: Tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn còncao, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm chiếm tỷ lệ lớn, tỷ lệ lao động thiếuviệc làm cao.

4.2 Tình hình triển khai dự án tại địa bàn nghiên cứu

4.2.1 Số lượng PNNCH của huyện Sóc Sơn và của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ

Sóc Sơn là huyện ngoại thành Hà Nội, đời sống người dân còn nhiều khókhăn Trong đó, những phụ nữ nghèo làm chủ hộ là một trong những đốitượng thiệt thòi nhất trong xã hội Các chị không chỉ một mình đảm đươngmọi việc gia đình và xã hội mà còn phải đối mặt với các định kiến xã hội nặng

nề Sóc Sơn là huyện có số PNNCH đông nhất thành phố Hà Nội với số lượng

cụ thể được thể hiện qua bảng 4.4

Bảng 4.4 Số lượng PNNCH của huyện Sóc Sơn và 3 xã năm 2007

STT Đơn vị hành chính Số lượng PNNCH

(người)

Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Hội liên hiệp phụ nữ huyện Sóc Sơn)

Theo kết quả của cuộc khảo sát phụ nữ đơn thân của Hội liên hiệp phụ

nữ thành phố Hà Nội, trên địa bàn thành phố Hà Nội tháng 9 năm 2007 có

5325 phụ nữ đơn thân của 12/14 quận huyện Hà Nội Trong đó, huyện SócSơn có số phụ nữ đơn thân cao nhất (2506 người), chiếm 47% số phụ nữ đơnthân của Thành Phố Hà Nội Huyện Sóc Sơn là huyện nghèo của Thủ đô có

25 đơn vị hành chính xã, trong đó 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ có sốphụ nữ đơn thân là 298 người, chiếm 11,9% số phụ nữ đơn thân của Huyện,chiếm 5,6% tổng số phụ nữ đơn thân của Thành phố Hà Nội Theo kết quảthống kê trên, có thể thấy được rằng huyện Sóc Sơn là huyện có nhiều phụ nữthiệt thòi nhất và rất cần có các sự quan tâm, giúp đỡ, động viên và chia sẻ

Trang 24

thông qua các chương trình, dự án từ Chính phủ, các tổ chức trong nước vànước ngoài, đặc biệt là UBND 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ để giúp họvượt qua những khó khăn trong cuộc sống, thoát khỏi sự mặc cảm, tự ti Tạocho họ những cơ hội và giúp họ biết cách nắm bắt những cơ hội ấy để có thểphát triển chính bản thân họ, đồng thời phát triển cho chính gia đình củanhững phụ nữ thiệt thòi đó, những tế bào của xã hội

4.2.2 Tình hình triển khai thực hiện dự án

Theo kế hoạch của ban quản lý dự án thì số lượng PNNCH sẽ là 298người Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà một số người không thể tham giavào các CLB PNNCH như đi làm xa hoặc vì lý do gì đó Vì vậy, trong 3 nămhoạt động dự án ở 3 xã đã có 264 PNNCH tham gia và được hưởng lợi từ dự

án Số lượng cụ thể ở các xã được thể hiện trong bảng 4.4:

Bảng 4.5 Số PNNCH tham gia và được hưởng lợi của dự án tại 3 xã

Số PNNCH tham gia (người)

Số lượng câu lạc bộ (CLB)

Số lượng nhóm sở thích (nhóm)

- Xã Nam Sơn có 121 người, thành lập 2 CLB để tiện cho việc sinh hoạt

và liên lạc; xã Bắc Sơn có 80 người, thành lập 1 CLB; xã Hồng Kỳ có 63người, thành lập 1 CLB Mỗi CLB đều bầu ra ban chủ nhiệm CLB bao gồm 1chủ nhiệm CLB, 2 phó chủ nhiệm, 1 thủ quỹ và mỗi thôn bầu ra 1 chị tổtrưởng để có thể dễ dàng liên lạc, thông tin Ban chủ nhiệm CLB có nhiệm vụquản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các NST, tổ chức các buổi sinh hoạtCLB, quan tâm đến đời sống của các thành viên, thăm hỏi và giúp đỡ cácthành viên lúc đau ốm, bệnh tật

- Sau ba năm thực hiện dự án đã có tất cả 41 NST đã được thành lập,trong đó Nam Sơn có 19 NST, Bắc Sơn có 8 nhóm, Hồng Kỳ có 14 nhóm Dự

án hỗ trợ mỗi CLB 20.000.000 đồng để làm vốn ban đầu cho các NST Từng

Trang 25

CLB tự xây dựng quy chế sử dụng số tiền vốn này, theo đó mỗi NST đượcvay với lãi suất thấp số tiền 5.000.000 - 7.000.000 đồng trong vòng 1 năm đểthực hiện mô hình sinh kế, sau đó sẽ quay vòng cho nhóm khác Các hoạtđộng được chọn làm mô hình trình diễn ở các NST rất đa dạng bao gồm chănnuôi (nuôi bò, lợn thịt và/hoặc sinh sản, gà, vịt, cá) và trồng trọt (trồng bí caosản, lúa, ngô, cây giống) Hình thức hoạt động của các NST không giống nhautại hai địa phương Các thành viên trong từng NST cùng chung nhau làm môhình Các nhóm khác cũng hoạt động theo cách tương tự Mỗi NST thốngnhất cách làm chung nhưng chia về cho các hộ tự làm, nhóm trưởng là ngườichịu trách nhiệm theo dõi, lập sổ thu chi cho từng thành viên để hạch toánkinh tế Các chị đặt cho NST của mình những cái tên rất ý nghĩa như: nhóm

“Đồng lòng”, nhóm “Đoàn kết”, nhóm “Hy vọng”, nhóm “Mong đợi” Mặc

dù hình thức hoạt động khác nhau, nhưng nhìn chung các NST đã hoạt động

có hiệu quả Thời gian đầu khi mới đi vào hoạt động có một số nhóm bị thua

lỗ do gặp rủi ro trong sản xuất (dịch bệnh đối với vật nuôi và bão lụt đối vớicây trồng), nhưng các chị không bỏ cuộc mà vẫn kiên trì làm tiếp

Như vậy, tham gia hưởng lợi từ dự án đã mang lại lợi ích kinh tế cho cácPNNCH, đồng thời thông qua hoạt động NST mà chị em biết cách làm việcnhóm, biết cách hạch toán kinh tế và quản lý vốn minh bạch Đây là nơi đểcác PNNCH mạnh dạn áp dụng những kiến thức mới học hỏi được từ các lớp tậphuấn vào sản xuất để rút kinh nghiệm, cùng trao đổi bàn bạc để đạt được kết quảtốt nhất Khi gặp khó khăn các chị cùng nhau tìm cách khắc phục Chính vì thếtình đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm được tăng cường, chị em gắn bó vớinhau như người trong nhà, cùng chia sẻ mọi vui buồn trong cuộc sống Các ýtưởng sản xuất được thực hiện và thành công ngày càng làm cho các chị phấnkhởi, tự tin và quyết đoán hơn Kinh tế gia đình ngày một phát triển, nâng cao chấtlựơng đời sống về cả vật chất lẫn tinh thần cho các chị em

4.2.3 Các hoạt động hỗ trợ của dự án

4.2.3.1 Các hoạt động tập huấn của dự án

Trong kế hoạch hoạt động, dự án đưa ra rất nhiều hoạt động hỗ trợ đặcbiệt là các hoạt động tập huấn nhằm nâng cao sự hiểu biết về các vấn đề kinh

tế, xã hội cho PNNCH giúp họ hòa nhập với cuộc sống tự tin hơn

Trang 26

Bảng 4.6 Các hoạt động tập huấn của dự án trong ba năm 2008 -2010

Số người/

khóa

Lượt người tham gia

2 Phương pháp tham gia trong phát triển

Kỹ thuật mới về sản xuất nông nghiệp

(trồng lúa, bí đỏ năng suất cao, ngô, nuôi

gà, lợn, trâu bò sinh sản….)

11 Tập huấn Phương pháp sản xuất phân hữu

(Nguồn: Báo cáo đánh giá kết thúc dự án của DWC)

Trong ba năm thực hiện, dự án đã tổ chức tập huấn thường xuyên chonhững PNNCH trong các CLB về những chủ đề mà các chị em quan tâm vàyêu cầu Đó là những kiến thức cần thiết trong cuộc sống giúp chị em hiểuđược quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, vai trò và cơ hội của mình trong gia đình

và xã hội thông qua các khóa tập huấn về Cách tiếp cận dựa trên quyền,Phương pháp tham gia trong phát triển cộng đồng và pháp lệnh dân chủ cơ sở,Bình đẳng giới, Quyền trẻ em, Quyền phụ nữ, Luật chống bạo lực trong giađình, Luật đất đai Mỗi chủ đề có 4 khóa tập huấn cho 4 CLB, mỗi khóa có 25tham dự viên Vì vậy, mỗi chủ đề có 100 người được tham gia các buổi tập

Trang 27

huấn Sau khi được tham gia các buổi tập huấn về quyền, nghĩa vụ các thànhviên ai cũng hào hứng, phấn khởi vì các tham dự viên đã hiểu thêm nhiều kiếnthức mới về quyền, dân chủ Được biết thêm những thông tin bổ ích và cầnthiết trong cuộc sông, các chị PNNCH đã bớt mặc cảm và thấy mình tự tinhơn Các buổi nói chuyện chuyên đề hấp dẫn đã thu hút chị em tham gia sinhhoạt CLB đều đặn Thông qua đó nhận thức của họ về các vấn đề như chămsóc sức khoẻ, bình đẳng giới, cách giáo dục con cái, văn hoá ứng xử trong giađình và cộng đồng đã dần thay đổi theo hướng tích cực Từ chỗ rụt rè, mặccảm, tự ti, không dám tham gia vào các hoạt động cộng đồng trước khi dự ánbắt đầu, đến nay họ đã mạnh dạn, biết diễn đạt trôi chảy và rất tự tin

Ngoài ra, dự án còn tổ chức 04 khóa tập huấn về cách giữ gìn vệ sinh antoàn thực phẩm cho 4 CLB PNNCH ở 3 xã giúp những PNNCH quan tâm đếnchất lượng bữa ăn hàng ngày cho con em và gia đình, đồng thời giữ gìn vệsinh an toàn thực phẩm để đảm bảo sức khỏe, tránh bệnh tật từ việc ăn uốngmất vệ sinh Khóa tập huấn còn dạy các tham dự viên cách nấu các món ănngon,đơn giản nhưng chứa nhiều dinh dưỡng để cải thiện tình hình ăn uốngcủa các hộ PNNCH Hiểu biết về an toàn vệ sinh thực phẩm, về chế độ dinhdưỡng hợp lý đã giúp các PNNCH biết cách chăm sóc gia đình mình hợp lýhơn, biết cách phòng chống một số bệnh nguy hiểm như cúm A-H1N1, … có

ý thức giữ gìn môi trường sống sạch sẽ

Không chỉ quan tâm đến thay đổi nhận thức của PNNCH, dự án còn tiếnhành rất nhiều phương án để giúp các thành viên trong CLB biết cách tăng giasản xuất, phát triển kinh tế hộ gia đình Giúp họ hiểu về các biện pháp làm sao

để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, phòng tránh và chữa bệnh cho chúngkhi mắc bệnh thông qua các buổi tập huấn trao đổi về IPM (cách phòng dịchhại tổng hợp), kỹ thuật mới về sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, bí đỏ năngsuất cao, ngô, nuôi gà, lợn, trâu bò sinh sản….) Mỗi một chủ đề là một khóatập huấn ở một CLB với số lượng là 30 người/khóa Vì vậy, ở 4 CLB của 3 xã

đã có 120 lượt người được tham gia tập huấn IPM, 120 lượt người được tậphuấn về kỹ thuật mới về sản xuất nông nghiệp Trong các buổi sinh hoạt CLBPNNCH, chị em còn được phổ biến kiến thức và chia sẻ kinh nghiệm về một

số vấn đề kỹ thuật thường gặp trong sản xuất Người được mời đến phổ biến

Trang 28

kiến thức là những cán bộ khuyến nông tại địa phương hoặc thúc đẩy viên củacác dự án khác của DWC

Tập huấn sản xuất phân hữu cơ vi sinh cho 120 người, mỗi CLB được 30người tham gia tập huấn Sau khóa tập huấn các chị em đã hiểu rõ lợi ích củaphân hữu cơ vi sinh trong canh tác Tất cả chị em được tập huấn không chỉthành thạo cách làm phân vi sinh có sử dụng chế phẩm EMIC mà còn có thểhướng dẫn cho các chị em khác cùng làm Vì vậy, số người được biết đếncách ủ phân hữu cơ vi sinh được nhân lên nhanh chóng Bởi đây là loại phân

ủ với kỹ thuật ủ phân đơn giản, dễ thực hiện Chỉ cần một khoảng nhỏ trongvườn hoặc cạnh chuồng nuôi gia súc để dồn phân động vật, phân xanh và cácphế thải nông nghiệp thành đống rồi ủ cùng với men vi sinh Chi phí mua men

vi sinh là không đáng kể (25.000 VND/1 tấn nguyên liệu)

Ngoài ra, 120 thành viên của 4 CLB PNNCH còn được tham gia các lớptập huấn về cách quản lý kinh tế hộ gia đình, giúp PNNCH quản lý về cách tổchức sản xuất, cách phân phối sản phẩm, chi tiêu hợp lý để tăng thu nhập vàtránh chi tiêu lãng phí

4.2.3.2 Các hoạt động khác của dự án

Ngoài những hoạt động tập huấn trên, dự án còn có thêm những hoạtđộng như hỗ trợ về vật chất, tổ chức các chuyến đi tham quan giúp PNNCHđược mở rộng tầm nhìn hơn, được học hỏi từ thực tiễn nhiều hơn:

Bảng 4.7 Các hoạt động hỗ trợ khác của dự án trong ba năm 2008 -2010

Số người tham dự (người) Xã

Nam sơn

Xã Bắc Sơn

Xã Hồng

Trang 29

Sau khi tập huấn về cách ủ PHCSH, mỗi CLB được dự án hỗ trợ2.500.000 đồng để thực hành sản xuất PHCSH Chất lượng phân sau khi ủđược đánh giá rất tốt tại tất cả các hội thảo tổ chức ở 3 xã dự án Cho đến naytất cả thành viên của 4 CLB PNNCH đều biết cách ủ phân và sử dụng PHCVS

để bón cho cây trồng PHCVS đã đem lại nhiều lợi ích cho người nông dân.Với phương pháp ủ phân đơn giản, dễ thực hiện, nguồn nguyên liệu sẵn cónên tiến bộ kỹ thuật này nhanh chóng được 100% PNNCH của 4 CLB hưởngứng và áp dụng vào sản xuất Nhờ đó thu nhập của các hộ gia đình được tănglên do năng suất cây trồng tăng và chi phí sản xuất giảm Điều kiện vệ sinhmôi trường cũng được cải thiện do các chất phế thải được tận dụng để làmphân Có thể nhận thấy, việc hướng dẫn cho PNNCH áp dụng kỹ thuật ủ và sửdụng PHCVS đã đem lại kết quả ngoài mong đợi cho dự án Hoạt động này khôngnhững đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho các PNNCHtại 5 xã dự án mà còn có sức lan toả tới cả cộng đồng, góp phần đáng kể vào việcphát triển nông nghiệp bền vững và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Với phương châm "trăm nghe không bằng một thấy", dự án đã tổ chứcđược 3 chuyến tham quan đến Vĩnh Phúc, Thái Bình và Huế cho ban chủnhiệm và một số PNNCH là thành viên tích cực của các CLB với tổng sốngười được đi thăm quan là 60 người

+ Tại Vĩnh Phúc đoàn đã tham quan mô hình VAC, mô hình trồng bí caosản, mô hình trồng lúa lai theo phương pháp gieo xạ bằng máy, trồng cây su

su và trồng hoa

+ Tại Thái Bình đã được tham quan mô hình tự quản về vệ sinh môitrường và an ninh trật tự

+ Tại Huế đoàn đã đến tham quan mô hình nuôi gà qui mô lớn

Việc áp dụng những kinh nghiệm hay học được từ những chuyến thamquan đã giúp các PNNCH của 3 xã dự án thay đổi tư duy, dám đối mặt với rủi

ro có thể xảy ra khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng (chuyển từ trồng lúa sangtrồng bí ngô), thay đổi phương thức canh tác (chuyển từ trồng lúa thuần sangtrồng lúa lai) Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật (như tiêm phòng định kỳ cho giasúc, gia cầm đúng thời điểm, cho lợn ăn thóc mầm) đã hạn chế được dịchbệnh và tiết kiệm chi phí trong chăn nuôi Như vậy, những chuyến tham quan

Trang 30

mà DWC tổ chức cho các PNNCH của 4 CLB đã thực sự có tác dụng thúcđẩy sản xuất, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, từ đó góp phần nângcao thu nhập và cải thiện môi trường sống không chỉ cho các PNNCH mà còncho cả cộng đồng của 3 xã dự án

Ngoài ra, hoạt động xây nhà vệ sinh và giếng khoan được PNNCH đónnhận rất hoan hỉ vì đã đáp ứng kịp thời nhu cầu hết sức cấp thiết của PNNCH

mà do hoàn cảnh khó khăn nên hoạt động này chưa được PNNCH ưu tiên giảiquyết Sau 3 năm, ở 4 CLB đã có 52 nhà xí hợp vệ sinh, 35 giếng khoan lấynước sạch sinh hoạt đã được xây dựng và đi vào sử dụng Trong đó, các côngtrình này giúp cho môi trường sống của các chị được đảm bảo vệ sinh hơn,gọn gàng hơn, góp phần cải thiện môi trường sống và sức khỏe cho gia đình.Chương trình WIND được tập huấn cho 120 phụ nữ ở 2 CLB của xãNam Sơn Chương trình này nhằm tăng cường an toàn, sức khỏe và điều kiệnlao động của PNNCH Để theo dõi thường xuyên liên tục sự chuyển biến củatừng hộ gia đình khi tham gia chương trình WIND dự án đã đào tạo một độingũ thúc đẩy viên gồm 8 người Các thúc đẩy viên này hoạt động nhiệt tình,

đã đến từng gia đình vận động và kiên trì thuyết phục mọi người cùng tíchcực tham gia chưng trình

4.3 Những tác động của dự án đối với nhóm hộ có PNNCH tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ

4.3.1 Tác động của dự án đến đời sống kinh tế của nhóm hộ PNNCH 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ

4.3.1.1 Tác động của dự án đến tỷ lệ hộ nghèo của nhóm hộ PNNCH trước

và sau khi thực hiện dự án tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ

Có thể khẳng định rằng, nhờ có dự án Tạo cơ hội phát triển công bằngcho PNNCH được thực hiện trên địa bàn 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ mànhững nguời phụ nữ thiệt thòi, có hoàn cảnh khó khăn đã có điều kiện để pháttriển kinh tế và nâng cao thu nhập cho gia đình, từ đó vươn lên thoát nghèo

Trang 31

STT Giai đoạn Nă m

Số hộ nghèo của xã (hộ)

Tỉ lệ hộ nghèo xã(%

)

Số hộ nghèo có PNNC

H (hộ)

PNNCH trong số hộ nghèo

xã (%)

Số hộ nghèo của xã (hộ)

Tỉ lệ hộ nghèo xã(%

)

Số hộ nghèo có PNNC

H (hộ)

PNNC

H trong

số hộ nghèo

xã (%)

Số hộ nghèo của xã (hộ)

Tỉ lệ hộ nghèo xã(%

)

Số hộ nghèo có PNNC

H (hộ)

PNNC

H trong

số hộ nghèo

Trang 32

Hình 4 2 So sánh số hộ nghèo có PNNCH ở 3 xã trước và sau khi thực

Năm

Trang 33

năm 2007 xã Nam Sơn có 625 hộ nghèo, chiếm 30,8% tổng số hộ của xã,trong đó có 121 hộ nghèo là những hộ có PNNCH, chiếm 19,4% tổng số

hộ nghèo của xã; xã Bắc Sơn có 976 hộ nghèo chiếm 32,5% tổng số hộcủa xã, trong đó có 80 hộ nghèo là những hộ có PNNCH, chiếm 8,2%tổng số hộ nghèo của xã; Xã Hồng Kỳ có 435 hộ nghèo, chiếm 22,7%tổng số hộ của xã, trong đó có 63 hộ nghèo là hộ có PNNCH, chiếm14,5% tổng số hộ nghèo của xã

Tuy nhiên, từ khi có dự án Tạo cơ hội phát triển công bằng cho PNNCH

ở ba xã thì tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống rõ rệt, đặc biệt là nhóm hộ nghèo cóphụ nữ làm chủ hộ Sau 3 năm thực hiện dự án, 2 CLB PNNCH ở Nam Sơn

đã thoát nghèo được 55,4%; CLB PNNCH ở xã Bắc Sơn đã có 70% PNNCHvươn lên thoát nghèo; xã Hồng Kỳ sau 3 năm đã có 80,9% PNNCH khôngthuộc diện nghèo của xã Đến năm 2010 ở 4 CLB PNNCH đã giảm được65,9% và chỉ còn 90 hộ PNNCH thuộc diện nghèo Như vậy là trung bìnhmỗi năm giảm đuợc 21,9% Có thể nói đây là con số khẳng định sự thànhcông rõ rệt của dự án Dự án đã hỗ trợ và thúc đẩy những PNNCH từ vật chấtlẫn tinh thần và cả kiến thức để có thể tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế hộgia đình Dự án không chỉ giúp các hộ PNNCH thoát nghèo mà còn giúp họ

có khả năng đẩy mạnh sản xuất, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượngcuộc sống rõ rệt Số PNNCH chưa thoát nghèo vẫn đang cố gắng phát triểnkinh tế hộ gia đình để vươn lên thoát nghèo

4.3.1.2 Tác động của dự án đến việc tiếp cận vốn đầu tư của PNNCH tại ba xã

Vốn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế Hay nóicách khác vốn là đòn bẩy, là chìa khoá để giải quyết mọi khó khăn nhằm đápứng mọi nhu cầu cần thiết của nền kinh tế nói chung và sự phát triển kinh tếcủa PNNCH nói riêng Số lượng vốn dự án hỗ trợ cho PNNCH ở ba xã NamSơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ sau ba năm được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 4.9 Số lượng vốn PNNCH được tiếp cận từ khi có dự án

S

T Những đợt hỗ trợ vốn Số tiền/ người Xã Nam Sơn Xã Bắc Sơn Xã Hồng Kỳ

Ngày đăng: 16/05/2014, 22:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cù Ngọc Bắc, Bài giảng chiến lược và phát triển nông thôn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chiến lược và phát triển nông thôn
2. Phí Thị Hồng Minh, Bài giảng dân số và phát triển nông thôn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng dân số và phát triển nông thôn
3. Trần Văn Thọ, Vấn đề phát triển trong công bằng trong thời đại toàn cầu hóa, Đại học Waseda, Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển trong công bằng trong thời đại toàn cầu hóa
9. UBND xã Hồng Kỳ (2011), Đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010 - 2015.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010 - 2015
Tác giả: UBND xã Hồng Kỳ
Năm: 2011
5. Trung tâm Hỗ trợ Phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (2010), Tóm tắt dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; và 2 xã Thăng Bình và Công Liêm, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa&#34 Khác
6. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng cao (2007), Báo cáo dự án "Giảm nghèo và phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ dân tộc thiểu số huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn&#34 Khác
7. UBND xã Nam Sơn (2011), Đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010 - 2015 Khác
8. UBND xã Bắc Sơn (2011), Đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010 - 2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.. Tình hình sử dụng đất đai của  3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn,  Hồng Kỳ năm 2011 - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. Tình hình sử dụng đất đai của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ năm 2011 (Trang 17)
Hình 4.. Tình hình sử dụng đất của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ  năm 2011 - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Hình 4.. Tình hình sử dụng đất của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ năm 2011 (Trang 18)
Bảng 4.. Tình hình kinh tế của ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ năm  2011 - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. Tình hình kinh tế của ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ năm 2011 (Trang 19)
Bảng 4. Tình hình dân số, lao động của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn,  Hồng Kỳ năm 2011 - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4. Tình hình dân số, lao động của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ năm 2011 (Trang 20)
Bảng 4.. Các hoạt động tập huấn của dự án trong ba năm 2008 -2010 - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. Các hoạt động tập huấn của dự án trong ba năm 2008 -2010 (Trang 26)
Bảng 4.. Các hoạt động hỗ trợ khác của dự án trong ba năm 2008 -2010 - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. Các hoạt động hỗ trợ khác của dự án trong ba năm 2008 -2010 (Trang 28)
Bảng 4..So sánh tỷ lệ hộ nghèo trước và sau khi thực hiện dự án tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. So sánh tỷ lệ hộ nghèo trước và sau khi thực hiện dự án tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ (Trang 31)
Bảng 4.. Số lượng vốn PNNCH được tiếp cận từ khi có dự án - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. Số lượng vốn PNNCH được tiếp cận từ khi có dự án (Trang 33)
Bảng 4.. So sánh sự biến động về diện tích và năng suất một số giống cây  trồng của nhóm hộ PNNCH trước và sau khi thực hiện dự án tại 3 xã - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. So sánh sự biến động về diện tích và năng suất một số giống cây trồng của nhóm hộ PNNCH trước và sau khi thực hiện dự án tại 3 xã (Trang 35)
Bảng 4.. Tình hình thu nhập của nhóm hộ PNNCH trước và sau khi có  dự án - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. Tình hình thu nhập của nhóm hộ PNNCH trước và sau khi có dự án (Trang 39)
Bảng 4.. So sánh tình hình đầu tư về giáo dục của PNNCH 3 xã Nam Sơn,  Bắc Sơn, Hồng Kỳ - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. So sánh tình hình đầu tư về giáo dục của PNNCH 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ (Trang 40)
Bảng 4.. So sánh tình hình đầu tư về chăm sóc sức khỏe, y tế của PNNCH  3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ - Đánh giá hiệu quả của dự án  tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã nam sơn  bắc sơn  hồng kỳ  huyện sóc sơn  hà nội giai đoạn 2008 2010
Bảng 4.. So sánh tình hình đầu tư về chăm sóc sức khỏe, y tế của PNNCH 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w