1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

PHÂN TÍCH và ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH xóa đói GIẢM NGHÈO ở VIỆT NAM

16 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích và Đánh giá Chính sách Xóa đói Giảm nghèo ở Việt Nam
Người hướng dẫn PTS. Lê Như Quỳnh
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Chính sách và Phát triển xã hội
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 53,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM CS Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân tộc thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn (số 1022009QD TTg) (Thời điểm có hiệu lực 1120. Chính sách kinh tế xã hội

Trang 1

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM

CS: Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân tộc thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn (số

102/2009/QD-TTg)

(Thời điểm có hiệu lực: 1/1/2010

Thời điểm hết hiệu lực: 1/1/2019)

LỜI MỞ ĐẦU

Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với những mức

độ khác nhau và trở thành một thách thức lới đối với sự phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, từng dân tộc và từng địa phương

Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn Với trình độ dân trí, canh tác còn hạn chế nên năng suất lao động chưa cao, thu nhập của nông dân còn thấp, tình trạng đói nghèo vẫn diễn ra trên rộng khắp các khu vực

Vấn đề đói nghèo trong nhiều năm qua đã được Đảng và Nhà Nước ta hết sức quan tâm

đã ban hành nhiều chính sách và biện pháp để giải quyết vấn đề đói nghèo nhắm mục đích hỗ trợ để người nghèo thoát khỏi kiếp nghèo Đây vừa là mục tiêu vừa là nhiệm vụ chính trị - xã hội mà Đảng và Nhà nước đã quan tâm Việc thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo trong những năm qua đã có nhiều nỗ lực, cố gắng khách phục khó khăn và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội nói chung, công tác xoá đói giảm nghèo nói riêng Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ hộ đói nghèo vẫn còn cao

Có thể nói, tình trạng đói nghèo ở Việt Nam đang là một vấn đề cần được quan tâm giải quyết Chẳng hạn, sự thiếu tính đồng bộ, thống nhất cả về nhận thức và hành động; công tác triển khai thực hiện và đánh giá và giám sát thực thi chính sách còn yếu Vì vậy, việc phân tích và đánh giá chính sách xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam để phát hiện, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn trong giai đoạn hiện nay Với tâm huyết và trách nhiệm, nhóm em đã quyết định chọn đề tài

“Phân tích và đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo ở việt nam”.

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình phân tích và thực hiện đề tài này, nhóm em xin chân thành gửi lời cảm

ơn tới cô Lê Như Quỳnh, người đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong đề tài này và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm em trong thời gian thực hiện

Mặc dù nhóm em đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện đề tài, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót và rất mong nhận được những đóng góp tận tình của cô và các bạn

CHƯƠNG I - PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TRỰC TIẾP CHO NGƯỜI DÂN TỘC THUỘC HỘ NGHÈO Ở VÙNG KHÓ KHĂN

1.1 Khái quát về chính sách xóa đói giảm nghèo

1.1.1 Quan điểm về nghèo và xóa đói giảm nghèo

1.1.1.1 Quan điểm về nghèo

Theo báo cáo năm 1998 do UNDP ( Chương trình phát triển liên hiệp quốc) công

bố một bản báo cáo nhan đề “ Khắc phục sự nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo

Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết, tham gia vào các quyết định công cộng và được nuôi dưỡng tạm đủ; Sự nghèo khổ tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu; Sự nghèo khổ cực độ: Nghèo khổ khốn cùng tức là không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu; Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sự không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phí lương thực chủ yếu những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc nước khác Theo báo cáo tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 – 1993 tại Bang kok ,Thái Lan và các quốc gia khác trong khu vực đã thống nhất và cho rằng: “ Nghèo là một bộ phận dân

cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”

Theo nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng có quan niệm: “Con người được coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng, để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ

Trang 3

rệt dưới mức thu nhập cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực”

Theo báo cáo tại hội Nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển kinh tế xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đưa ra một số định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: “ Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la (1 USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền này được coi như đủ mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”

Theo nhóm nghiên cứu của UNDP ( Chương trình phát triển liên hiệp quốc), UNFPA (Quỹ dân số lien hiệp quốc), UNICEF (Quỹ nhi đồng liên Hiệp quốc) trong công trình “ Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam -1995” đã đưa ra định nghĩa” Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”

Theo “ Báo cáo về tình hình phát triển thế giới- Tấn công đói nghèo năm 2000”

WB (Ngân hàng thế giới) thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói nghèo: “ Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập và tiêu dùng mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về y tế” Báo cáo còn mở rộng đến sự đói nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương dễ gặp rủi ro của người nghèo Báo cáo nêu bật “ Nghèo có nghĩa là không có nhà cửa quần áo, ốm đau không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường” Báo cáo cũng chỉ ra “ Người nghèo đặc biệt là dễ bị tổn thương trước những biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó”

Tuy nhiên, có nhiều quan niệm khác nhau về đói nghèo nhưng nhìn chung các quan niệm đó đều được phản ánh trên các khía cạnh: Không có hoặc ít được thụ hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu của cuộc sống con người, mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư địa phương: thiếu hoặc không có cơ hội lựa chọn

để tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng Để đánh giá rõ hơn mức độ nghèo, người

ta chia ra nghèo thành 2 loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Nghèo tuyệt đối: “Đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được một lương thực thực phẩm tương đương 2100 – 2300 kcalo/ người/ ngày Mức nghèo tuyệt đối là thước đo dễ lượng hóa để mô tả tình trạng đói nghèo”

Nghèo tương đối: “ Nghèo ở mức độ tương đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những nghèo tương đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các

Trang 4

thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta”

Quan điểm đói nghèo của Việt Nam là thừa nhận chung về đói nghèo do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 -1993 tại Bangkok Thái Lan, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cáo và cho rằng: “ Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán địa phương” Trên quan niệm về đói và nghèo, Việt Nam đưa ra các khái niệm tương xứng đó là đói, nghèo, hộ đói và hộ nghèo, xã nghèo, vùng nghèo

Quan điểm về đói: “Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống

Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/ người/ tháng.”

Quan điểm về nghèo:” Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”

Quan điểm về hộ đói: “ Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở rách nát ( nếu theo thu nhập thì các hộ này chỉ có thu nhập bình quân đầu người của loại hộ này quy ra gạo dưới 25kg/ tháng ở thành thị, 20 kg/tháng ở nông thôn đồng bằng và trung du, dưới 15 kg/tháng ở nông thôn miền núi).”

Quan điểm về hộ nghèo: “ Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”

Quan điểm về xã nghèo: “ Xã nghèo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo, không có hoặc có ít nhất những cơ sở hạ tầng thiết yếu, trình độ dân trí theo tỷ lệ mù chữ cao” Quan điểm về vùng nghèo: “ Vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một số xã liền kề nhau hoặc một vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khan hiểm trở, giao thông không thuận lợi, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không đủ điều kiện phát triển sản xuất đảm bảo cuộc sống và là vùng có số hộ nghèo và xã nghèo cao”

Quan điểm về tái nghèo: Bên cạnh nghèo hiện nay ở Việt Nam còn dùng nhiều đến thuật ngữ tái nghèo để chỉ những hộ đã thoát được nghèo trong quá trình phát triển

Trang 5

nhưng sau đó do nhiều lý do khách quan (tang chuẩn nghèo…) và lý do chủ quan ( làm

ăn thất bát…) lại rơi vào tình trạng nghèo

Tóm lại: Quan điểm nghèo có thể thống nhất về mặt định tính song không thể thống nhất về mặt lượng Bởi vì mỗi quốc gia khác nhau thì mức sống của người dân cũng khác nhau hoặc ngay trong một quốc gia mức sống giữa các vùng mieenfcungx có

sự khác nhau Hơn nữa mặt định lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động của sự phát triển KT- XH của quốc gia đó

1.1.1.2 Xóa đói giảm nghèo

Đói nghèo mặc dù là hai thuật ngữ khác nhau nhưng gắn chặt với nhau Đói, nghèo đều gắn chặt với mức sống thấp về vật chất và tinh thần, đều phản ánh tình trạng nghèo nhưng đói phản ánh tình trạng găy gắt hơn nghèo Đói có thể xóa được trong quá trình phát triển vì đói là đói nhu cầu vật chất cơ bản nhất của con người, khi nhu cầu vật chất cơ bản nhất của con người được đáp ứng thì cái đói sẽ mất đi hay sẽ được xóa Ngược lại đối với nghèo, nhất là nghèo tương đối không thể xóa được mà chỉ có thể giảm trong quá trình phát triển Lý do không thể xóa nghèo được bởi vì trong quá trình phát triển luôn có một bộ phận dân cư do lý do này lý do khác mà có mức sống cao hơn hoặc một nhóm dân cư khác làm cho nhóm dân cư sau luôn ở vị trí thấp hơn hay nghèo hơn

Vì thế, không thể xóa đói nghèo mà chỉ có thể xóa đói giảm nghèo Đói chỉ đặt ra đối với các nước chưa phát triển, nhất là trong giai đoạn đầu phát triển khi mà lương thực, thực phẩm không đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người Đối với các nước phát triển, tình trạng đói hầu như đã kết thúc và vì thế không được đề cập mà chỉ đề cập đến nghèo

Đói nghèo diễn ra trên tất cả châu lục với những mức độ khác nhau Đặc biệt ở những nước đang phát triển, sự đói nghèo của dân cư đang là một vấn đề nhức nhối cấp bách phải tháo gỡ nhưng cũng vô cùng khó khan trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo Sự nghèo đói ai cũng thấy và không nước nào thiếu những chương trình hoặc những chính sách để thực hiện việc xóa đói giảm nghèo Có rất nhiều tổ chức của Liên Hiệp Quốc và của cộng đồng quốc tế thực hiện sứ mệnh vẻ vang này trong phạm vi hành tinh Việc tổ chức những chiến dịch lớn với hàng vạn tấn lương thực, hàng triệu USD để cứu giúp những người hoạn nạn ở các nước Châu Phi, Châu Á…Sự giúp đỡ về vật chất

và tinh thần là rất đáng kể

Tuy nhiên, thực tế cho thấy dù đây là công việc toàn cầu quan tâm nhưng các nước đói vẫn hoàn đói, nghèo vẫn hoàn nghèo Sự giúp đỡ của cộng đồng đối với một bộ phận dân

cư khốn khó cũng chỉ như muối bỏ biển, chưa đủ độ, chưa triệt để Vấn đề xóa đói giảm

Trang 6

nghèo luôn gắn bó và chịu ảnh hưởng của quan hệ giai cấp và các chế độ xã hội khác nhau Hiện tượng bị tha hóa và tự tha hóa con người dưới chế độ tư bản chủ nghĩa luôn là một lực cản đối với công việc xóa đóigiảm nghèo Chính xã hội mà mục tiêu duy nhất và cuối cùng là lợi nhuận là tiền bạc đã làm phân hóa xã hội đẩy nhiều người vào cảnh nghèo nàn khốn khó Khoảng cách chênh lệch mức sống giữa sự xa xỉ với sự bần hàn càng bị nặng nề hơn bởi chính sự vô trách nhiệm của các nước phát triển các nước phương Tây của giai cấp những người giàu có Thái độ “sống chết mặc bay” vẫn phổ biến trong hành vi cư xử ở xã hội của những kẻ say lợi nhuận

Vì vậy, quan điểm cũng như hành động của các nước phương Tây trong việc giải quyết nghèo đói trên thế giới hiện nay chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, chỉ có thể giảm cơn đau khốn khó, hoặc cùng lắm đó là việc làm mang tính chất nhân đạo mà thôi

1.1.2 Nội dung của chính sách xóa đói giảm nghèo

1.1.2.1 Khái niệm về chính sách xóa đói giảm nghèo

Chính sách là một phạm trù quan trọng trong quản lý, là một trong những công cụ quản

lý được sử dụng phổ biến và linh hoạt trong quản lý hoạt động kinh tế- xã hội, sản xuất kinh doanh, được hiểu theo nghĩa chung nhất là những biện pháp nhất định được người quản lý sử dụng nhằm tác động vào các đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đề ra Theo từ điển Bách khoa Việt Nam năm 1995 thì chính sách là “những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ” Có một số quan điểm khác cho rằng:

Chính sách được hiểu là tổng thể các tư tưởng, quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của hệ thống theo định hướng mục tiêu tổng thể

Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

Chính sách là những quyết sách và những biện pháp cụ thể mà nhà nước dựa vào những định hướng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước và thực trạng kinh tế

-xã hội đề ra và thực thi nhằm hỗ trợ, khuyến khích các chủ thể trên thị trường hành động theo hướng đạt đến mục tiêu của các đơn vị, các tổ chức, các cấp quản lý và các mục tiêu

ở cấp quốc gia

Như vậy, từ những quan điểm trên nếu không có chính sách hoặc có chính sách nhưng không phù hợp hay không được thực thi có hiệu quả thì mọi đường lối, chủ trương, chiến lược và mục tiêu trong quản lý đều khó có thể thực hiện được Vậy chính sách là một

Trang 7

điều kiện cơ bản để biến tư duy hay ý đồ trong quản lý thành hiện thực và là công cụ để nhà nước thực hiện vai trò quản lý kinh tế- xã hội của mình

Xuất phát từ những quan điểm về chính sách trên thì: “Chính sách xóa đóa giảm nghèo có thể được hiểu là những quyết định, quy định của nhà nước được cụ thể hóa trong các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể chế, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xóa đói giảm nghèo”

1.1.2.2 Một số nội dung của chính sách xóa đói giảm nghèo

- Chính sách xóa đói giảm nghèo hỗ trợ vốn cho các hộ nghèo trong quá trình sản xuất tạo ra thu nhập góp phần cải thiện cuộc sống Thu nhập được tạo ra một phần sẽ được tích lũy để dùng trong các trường hợp có biến cố xảy ra Làm giảm thiểu rủi ro và giảm thiểu nguy cơ bị tổn thương Mức sống được cải thiện sẽ giúp họ có nhiều cơ hội trong học tập và chăm sóc sức khỏe khi ốm đau vv

- Chính sách xóa đói giảm nghèo hỗ trợ việc tổ chức dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động như: Tổ chức triển khai đào tạo nghề cho lao động nông thôn và người nghèo được hỗ trợ tập huấn đào tạo; Hỗ trợ người nghèo có cơ hội việc làm mới, tăng thu nhập góp phần vươn lên thoát nghèo

- Chính phủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để giúp người nghèo có cơ hội tiếp cận với thị trường thuận lợi hơn, tiếp cận với dịch vụ giáo dục và y tế tốt hơn điều đó đồng nghĩa cơ hội việc làm và thu nhập gia tăng Khi đó khả năng chống chọi với biến cố trong cuộc sống và sản xuất kinh doanh tốt hơn góp phần giảm thiểu nguy cơ rủi ro

- Chính phủ có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để giải quyết việc làm cho người lao động để xóa đói giảm nghèo

- Chính phủ lập chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo tạo việc làm, dự án đầu tư phát triển kinh tế- xã hội; lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác, phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc để xóa đói giảm nghèo Hàng năm Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về xóa đói giảm nghèo

- Chính phủ hỗ trợ người nghèo tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ giáo dục và y tế để họ đủ

về sức khỏe và trí lực tham gia vào lực lượng lao động để giảm nghèo

1.1.3 Vai trò của chính sách xóa đói giảm nghèo

Trang 8

Thứ nhất, chính sách xóa đói giảm nghèo thể hiện quan vai trò lãnh đạo của Đảng, quản

lý của Nhà nước trong việc khuyến khích làm giàu, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo Tập trung triển khai đồng bộ các chương trình xoá đói, giảm nghèo nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; bảo đảm tính bền vững kể cả trước mắt và lâu dài trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Thứ hai, chính sách xóa đói giảm nghèo có vai trò hạn chế phân hoá giàu nghèo Việc Việt Nam trở thành các nước có thu nhập trung bình đang đặt ra những thách thức mới, nguồn hỗ trợ của thế giới cho nước nghèo sẽ không còn, “bẫy trung bình” sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và khả năng xoá đói, giảm nghèo của đất nước Do đó, nguồn lực để chi cho việc xoá đói, giảm nghèo sẽ chủ yếu phụ thuộc vào nội lực, từ sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của đất nước Việc phát huy nội lực, tranh thủ, phát huy tối

đa các nguồn lực của từng cá nhân và của cộng đồng là vô cùng quan trọng cần được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo trong điều kiện mới

Thứ ba, có chủ trương, biện pháp tích cực, đúng đắn, công khai, minh bạch để giải quyết vấn đề đói nghèo Điểm khác biệt là đói nghèo ở nông thôn thường nhận được

sự chia sẽ của người thân, gia đình, dòng họ, cộng đồng làng xóm Còn ở đô thị, do đặc điểm đời sống đô thị nên việc nhận dạng, đánh giá về đói nghèo rất phức tạp; hơn nữa khoảng cách giàu nghèo ở đô thị lại rất lớn, do đó việc thực hiện các biện pháp trợ giúp

có nhiều khó khăn, bài toán giàu - nghèo ở đô thị sẽ khó giải hơn Đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi

ro trong đời sống

Thứ tư, chính sách xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn vừa qua đã góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Chính sách xóa đói giảm nghèo

đã tác động trực tiếp tới người nghèo giúp họ cải thiện được một bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, tạo việc làm và tăng thu nhập và một

số nhu cầu xã hội thiết yếu của người nghèo cơ bản được đáp ứng như: nhà ở, sinh hoạt, khám chữa bệnh, học tập Đồng thời chính sách xóa đói giảm nghèo đã giúp người nghèo có được cơ hội tự vươn lên tạo thu nhập để phát triển thoát nghèo có thể giải quyết nhu cầu thiết yếu của mình

Để xoá đói, giảm nghèo bền vững, hạn chế phân hoá giàu nghèo, ngoài sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước còn phải có sự tham gia của cả cộng đồng, trong đó có

sự chia xẻ, đóng góp của người giàu và sự vươn lên của chính người nghèo, hộ gia đình

Trang 9

nghèo Trong điều kiện hiện nay, làm tốt công tác xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo là góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

1.2 Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân tộc thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn

1.2.1 Mục tiêu chính sách

1.2.1.1 Hỗ trợ đời sống của người dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế

- xã hội ở vùng khó khăn;

1.2.1.2 Hỗ trợ người dân nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và từng bước tiếp cận với sản xuất hàng hóa, thông qua hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng cao.

- Nguyên tắc hỗ trợ: đúng đối tượng, kịp thời; công khai, dân chủ, khách quan và có hiệu quả thiết thực

1.2.2 Đối tượng hỗ trợ

Đối tượng hỗ trợ là người dân thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Nhà nước thuộc vùng khó khăn quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn

Có thể kể đến một số tỉnh điển hình còn nhiều vùng khó khăn (trên 100 xã nghèo) như:

Hà Giang, Cao Bằng, Sơn La, Bắc Cạn, Lào Cai, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Yên Bái, Hòa Bình, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Gia Lai, Đắc Lắk, Lâm Đồng, Thanh Hóa Trong đó, tỉnh Thanh Hóa là tỉnh có nhiều vùng khó khăn nhất (217 xã)

1.2.3 Phương thức, hình thức hỗ trợ

1.2.3.1 Phương thức hỗ trợ

Hỗ trợ trực tiếp

1.2.3.2 Hình thức hỗ trợ

Hỗ trợ bằng tiền hoặc hiện vật

Hỗ trợ bằng tiền mặt theo định mức quy định tại Điều 5 Quyết định này để các đối tượng thụ hưởng chính sách chủ động mua sắm nguyên liệu, vật tư phục vụ sản xuất và đời sống phù hợp với thực tế của từng hộ;

Hỗ trợ bằng hiện vật cho sản xuất và đời sống của các hộ nghèo; có thể lựa chọn trong danh mục sau: giống cây trồng; giống vật nuôi; thuốc thú y; muối iốt

Trang 10

1.2.4 Định mức kinh phí hỗ trợ

- Đối với người dân thuộc hộ nghèo ở xã khu vực II, xã biên giới, xã bãi ngang, hải đảo vùng khó khăn là 80.000 đồng/người/năm

- Đối với người dân thuộc hộ nghèo ở xã khu vực III vùng khó khăn là 100.000 đồng/người/năm

1.2.5 Nguồn kinh phí

- Kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn được cân đối trong chi thường xuyên của ngân sách địa phương

- Riêng năm 2010 thuộc thời kỳ ổn định ngân sách địa phương 2007-2010, vì vậy số kinh phí tăng thêm so với kinh phí thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước cân đối trong ngân sách địa phương trước đây được ngân sách trung ương cấp bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương

1.2.6 Thời gian thực hiện chính sách hỗ trợ

Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn quy định tại Quyết định này thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2010

CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TRỰC TIẾP CHO NGƯỜI DÂN TỘC THUỘC HỘ NGHÈO Ở VÙNG KHÓ KHĂN

2.1 Thành tựu

Trong suốt hơn 75 năm qua, đặc biệt là sau hơn 35 năm đổi mới, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm phát triển kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh

xã hội Việt Nam là một trong những điểm sáng của thế giới về xóa đói, giảm nghèo Trong giai đoạn 2016 - 2020, tỷ lệ hộ nghèo nước ta đã giảm từ 9,88% năm 2015 xuống còn dưới 3%, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên về đích sớm trong thực hiện Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về giảm nghèo 100% số xã có đường ô-tô đến trung tâm, 80% số thôn có điện, trên 50% số xã có trạm y

tế đạt chuẩn quốc gia, 100% đồng bào dân tộc thiểu số và người nghèo có bảo hiểm y tế miễn phí

Ngày đăng: 05/05/2023, 09:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w