Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân phường 11 (1930-2010) phần 1 gồm các nội dung chính như sau: Lược sử phường 11, Quận 10: địa lý tự nhiên, con người và truyền thống yêu nước; đảng viên và nhân dân vùng đất phường 11 trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc (1930 – 1975). Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN
PHƯỜNG 11(1930 - 2010)
a « c
Trang 2Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ
PHƯỜNG 11
(1930 - 2010)
Trang 3BAN CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN
- Đ/c Vũ Anh Khoa UVTV Quận ủy, Bí thư Đảng ủy Trưởng Ban
- Đ/c Trần Thị Nhung QUV, nguyên Bí thư Đảng ủy nguyên Trưởng Ban
- Đ/c Lâm Ngọc Phượng Phó Bí thư Thường trực Phó Ban
- Đ/c Phạm Văn Tuấn Phó Bí thư, Chủ tịch UBND Phó Ban
- Đ/c Huỳnh Thị Thanh Đảng ủy viên, Phó Chủ tịch UBND Thành viên
- Đ/c Đỗ Thành Công Đảng ủy viên, Chủ tịch UB.MTTQ Thành viên
- Đ/c Trần Hoài Phong Đảng ủy viên, Trưởng Công an Thành viên
- Đ/c Lưu Hoàng Quân Đảng ủy viên, Phường đội trưởng Thành viên
- Đ/c Trương Xuân Thu Đảng ủy viên, TT Khối Dân vận Thành viên
- Đ/c Phí Đình Bách Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành viên
*
BAN BIÊN SOẠN
- Đ/c Đào Văn Chương Phó Giám đốc Trung tâm
Bảo tồn di tích thành phố Hồ Chí Minh
- Đ/c Đoàn Lê Phong Cán bộ hưu trí Quận 10, nguyên Phó Giám đốc
Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh
«
Trang 4Bản đồ hành chính P
Bằng công nhận “Phường Văn hóa” năm 2007 – 2009
Lễ đón nhận phường đạt chuẩn văn hóa giai đoạn 2007 – 2009
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
«
Thực hiện Chỉ thị 15/CT-TW ngày 28/8/2002 của Ban Bí
thư Trung ương Đảng khóa IX về tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; chỉ đạo của Ban Thường vụ Quận ủy quận 10 về biên soạn Lịch sử truyền thống địa phương, Đảng ủy phường
11 quận 10 đã lãnh đạo tổ chức sưu tầm và biên soạn “Lịch sử
truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân phường 11 qua các thời kỳ giai đoạn 1930 – 2010” nhằm ghi dấu quá trình
hình thành, truyền thống cách mạng của vùng đất phường 11
và khắc ghi những cống hiến, hy sinh xương máu, đóng góp vô cùng vẻ vang của đảng viên, cán bộ và nhân dân phường trong
45 năm kiên cường đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập dân tộc và 35 năm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trên cơ sở những tư liệu: Sơ thảo Lịch sử truyền thống
chống Mỹ cứu nước của Đảng bộ và nhân dân Quận 10 (1954 – 1975); Truyền thống cách mạng của nhân dân phường 14 (tiền thân phường 11 hiện nay) – Quận 10; một số tư liệu của chi bộ,
Đảng bộ phường; hồi ức của các nhân chứng lịch sử, các cụ cao niên, các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí đã và đang giữ các chức vụ chủ chốt của phường qua các nhiệm kỳ, Đảng ủy phường đã tổ chức tập hợp và biên soạn quyển sách này
Trang 6Trong quá trình tổ chức biên soạn, Đảng ủy phường đã
nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Ban Thường vụ Quận ủy,
sự giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm của Ban Tuyên giáo, Ban Tổ
chức, Văn phòng Quận ủy, các đồng chí lãnh đạo của phường
qua các thời kỳ, các bậc lão thành, cán bộ hưu trí, trí thức, cao
niên và nhân dân trong và ngoài phường
Trong quá trình biên tập, dù đã hết sức cố gắng, song chắc
chắn sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót; chủ yếu
do quá trình giải thể, sáp nhập phường các tài liệu bị thất lạc và
xác minh các sự kiện rất khó khăn Đảng ủy phường; rất mong
tiếp tục nhận được thêm nhiều ý kiến góp ý xây dựng và cung
cấp những tư liệu, sự kiện liên quan, đến khi có điều kiện sẽ tập
hợp, chỉnh lý, tái bản để lịch sử truyền thống cách mạng của
Đảng bộ và nhân dân phường được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn
Với niềm tự hào to lớn và sự tin tưởng vững chắc vào sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo lý tưởng của Đảng
và Bác Hồ kính yêu, Ban Chấp hành Đảng bộ phường trân trọng
giới thiệu LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CỦA
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN PHƯỜNG 11 (1930 – 2010) đến
bạn đọc, cán bộ đảng viên, nhân dân trong phường nói riêng
và cả nước nói chung Xin chân thành cám ơn tất cả các đồng
chí, các cơ quan và nhân dân trong phường đã giúp đỡ để hoàn
thành công trình nghiên cứu lịch sử có ý nghĩa quan trọng này
Trang 7I/ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
Vị trí địa lý
Phường 11, quận 10 hiện nay phía Bắc giáp phường
12, quận 10; phía Đông giáp phường 4, quận 3; phía Tây giáp phường 10, quận 10; phía Nam giáp phường 1, 3, 4, quận 3 Ranh giới của phường được giới hạn bởi 4 tuyến đường chính: Đường Ba Tháng Hai, đường Trần Minh Quyền, đường Điện Biên Phủ và đường Nguyễn Thượng Hiền Diện tích tự nhiên là 223.000m2 (chiếm 3,93% diện tích tự nhiên quận 10)
Khí hậu
Phường 11 là một bộ phận của quận 10, Thành phố
Hồ Chí Minh thuộc khí hậu nhiệt đới, gió mùa cận xích đạo với hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa
từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch Mùa nắng từ tháng 10 đến tháng 4 dương lịch năm sau Sự chênh lệch về nhiệt
độ giữa mùa nắng và mùa mưa, giữa ban ngày và ban đêm cách nhau không lớn Nhiệt độ trung bình trong vùng
là 27oC, nóng nhất lên tới 39oC – 40oC, thấp nhất xuống khoảng 20oC
Địa hình – Địa chất
Sau nhiều lần vun bồi cho vùng đất trũng, sình lầy, địa hình phường 11 ngày nay tương đối bằng phẳng, không bị chia cắt bởi sông ngòi và kênh rạch Chiều dài nhất của phường từ đầu đường Trần Minh Quyền – đường
Ba Tháng Hai đến đường Nguyễn Thượng Hiền là 1,1 km,
Trang 8chiều ngang hẹp nhất của phường là đoạn đường Trần
Minh Quyền dài 200m, địa hình phường là một dải đất
hẹp án ngữ một phần phía Đông Nam và Đông Bắc của
Quận 10, qua đường Điện Biên Phủ và Nguyễn Thượng
Hiền là đã sang đơn vị hành chính Quận 3
Địa hình – địa chất phường vừa mang những đặc
điểm chung của quận nhà, vừa có những sắc thái riêng
Vẫn trong một phường, nhưng tính chất thổ nhưỡng có
khác Từ đường Cao Thắng đến Nguyễn Thượng Hiền là
vùng đất cao ráo, dân cư đến cư ngụ sớm hơn Từ đường
Cao Thắng đến đường Trần Minh Quyền là vùng đất
trũng mới được san lấp, trước đó chỉ có vài căn nhà sàn
cất trên mặt đất sình lầy và những cái chòi cất trên bãi lầy
của bàu sen, ao rau muống,… Người dân sống lâu năm
ở hẻm 528 đường Điện Biên Phủ, chợ Hai Mươi bây giờ
còn nhớ, hồi đó, có những cây cầu bắc qua trũng nước
để người dân đi lại Nay nhà cửa khang trang, hiện đại
Phường 11 không còn những cảnh quan xưa, cũng không
có những dinh thự, công trình kiến trúc cổ
Lược sử hình thành, địa danh phường 11 – quận 10
Địa danh và đơn vị hành chính phường 11 – quận
10 ngày nay được chính thức xác lập từ ngày 14 tháng
02 năm 1987 (theo Quyết định số 33-QĐ/HĐBT của Hội
đồng Bộ trưởng ngày 14 tháng 02 năm 1987)
Về lịch sử, sau khi chúa Nguyễn xác lập quyền quản
lý vùng đất phía Nam, cho đến năm 1836 vùng đất phường
11 ngày nay nằm trong xã Chí Hòa thuộc tỉnh Gia Định
Nơi đây liên quan đến địa danh “Mả ngụy – Cánh
đồng mồ mả”, sau cuộc binh biến của Lê Văn Khôi thất bại,
có tới gần 2.000 người bị giết và chôn chung vào những hố nơi vùng đất hoang
Mô Súng và Đồng Tập Trận: Mô Súng thuộc Ngã Sáu, là ranh giới hành chính giữa quận 10 và quận 3 – nơi
có vị trí cao để đặt súng Đồng Tập Trận khi xưa là dải đất
dài (ngày nay gồm cả khu vực phường 11, phường 12, quận
10, cả khuôn viên đất Bộ Tư lệnh Thành phố và Học viện Hành chính).
Đến cuối thế kỷ 19, nơi đây còn những bàu nước trồng sen, lác đác vài căn nhà sàn cất trên mặt nước Chung quanh bàu sen, có nơi trồng lúa, rau màu và nhiều
mồ mả Đến những năm 1945, nơi đây vẫn còn là vùng đất thấp ao tù, nước đọng, có những cây cầu bắc qua trũng nước để đi lại, nên có tên Xóm Cầu, trong khu vực này còn có Xóm Giếng, là nơi duy nhất trong vùng có giếng nước ngọt phục vụ cư dân và một khu vực sinh hoạt tín ngưỡng tại miếu Thành Hoàng1 mà nhân dân gọi là Xóm Chùa Có xóm làng tất có chợ, khu vực phường 11 có chợ Hai Mươi hình thành từ năm 1938 và tồn tại đến ngày nay.Ngày 30 tháng 5 năm 1954 đến năm 1959, Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập thay cho địa phương Sài Gòn – Chợ Lớn Thời gian này vùng đất phường 11 nằm trong khu vực Bàn Cờ, Chợ Đũi, Ngã Bảy thuộc quận 3
1 Tương truyền Miếu Thành Hoàng là nơi người dân địa phương lập để thờ những oan hồn là tàn binh đã bị giết của Lê Văn Khôi.
Trang 9Năm 1960, vùng đất phường 11 ngày nay nằm trong
địa bàn phường Phan Thanh Giản thuộc quận 3
Năm 1969, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra Sắc
lệnh số 73-SL/NV ngày 01 tháng 7 năm 1969 thành lập
hai quận mới ở Đô Thành là quận 10 và quận 11, trên cơ
sở một số phường của quận 3, quận 5 và quận 6 Quận 10
gồm 5 phường: Phường Minh Mạng, phường Nguyễn Tri
Phương, phường Nhật Tảo, phường Chí Hòa và phường
Phan Thanh Giản (phường 11 và phường 10 ngày nay đều
thuộc phường Phan Thanh Giản).
Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, tháng 6 năm
1975, phường Phan Thanh Giản được mang tên một địa
danh rực rỡ chiến công: Phường Điện Biên Phủ với 7
khóm Tháng 6 năm 1976, thực hiện sự chỉ đạo của Thành
phố, quận 10 từ 5 phường được chia thành 24 phường và
các phường mang tên theo số thứ tự từ 1 đến 25; phường
Điện Biên Phủ có sự điều chỉnh và thay đổi: Khóm 1, 2 lập
thành phường 12; khóm 3, 4 lập thành phường 13; khóm
5, 6, 7 lập thành phường 14
Ngày 14 tháng 2 năm 1987, thực hiện Quyết định số
33-QĐ/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về “Điều chỉnh
địa giới hành chính”, phường 14 được đổi tên là phường
11 gồm 6 khu phố và ổn định về hành chính, địa giới cho
đến nay và là một trong 15 đơn vị hành chính của quận 10
Trước năm 1954, phường 11 thuộc Hộ 4 Vùng đất này từ đầu đường Lý Thái Tổ đến Ngã Sáu xuống đường Nguyễn Thị Minh Khai, qua đường Hai Bà Trưng đến Cầu Kiệu rồi vòng qua đường Lý Chính Thắng trở về Ngã Sáu Đường Ba Tháng Hai khi ấy là đường đất đỏ, trời mưa, triều cường nước ngập (vùng đất này có liên quan đến hệ thống kênh Nhiêu Lộc)
Cư dân nơi đây chủ yếu là người lao động nghèo, sống bằng nghề thợ mộc, thợ hồ, thợ thủ công, phu khuân vác chợ và bến xe, chạy xe thô sơ ba gác, xích lô, cũng không ít người mua gánh, bán bưng, trồng rau… Theo thời gian, nhiều người nghèo khó từ nơi khác đến, họ cất nhà chòi trên bãi lầy, cỏ dại và ao sen, ao rau muống ở khoảng đất trống giữa phường đến đường Ba Tháng Hai Khoảng năm 1940, một số bà con ở đường Hồng Thập Tự
(nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) bị đuổi khỏi nhà,
khỏi đất, do đời sống cơ cực, không có tiền thuê mướn tiếp tục dời đến đây sinh sống
Từ 1954, cũng như một số địa bàn trong Thành phố, khu vực phường 11 được bổ sung một nguồn dân di cư đáng kể Đặc biệt, từ những năm 1960 trở đi, do cuộc
Trang 10chiến tranh ngày càng ác liệt, với chính sách kìm kẹp, gom
dân vào các ấp chiến lược của chế độ cũ, một bộ phận dân
cư ở vùng ven, vùng chiến sự lần lượt về đây lánh nạn
và định cư lâu dài Người dân sống lâu năm tại phường
cho biết, mãi đến năm 1960, những ao sen, đất trũng mới
được san lấp bằng đất rác, đất đỏ
Từ đường Cao Thắng đến đường Nguyễn Thượng
Hiền, chính quyền Sài Gòn xây dựng một doanh trại
Quân Tiếp vụ và xây dựng khu nhà ở của sĩ quan trên
đường Nguyễn Thượng Hiền và kéo theo khu gia binh
trong các con hẻm giữa đường Phan Thanh Giản và
đường Trần Quốc Toản Nơi đây có Thủy đài gần đường
Nguyễn Thượng Hiền và có vòi nước công cộng để người
dân hứng nước gánh về nhà sử dụng Tuy gần khu Quân
Tiếp vụ, nhưng các xóm khu gia binh, dân cư đời sống
khó khăn, sống dựa vào lương binh lính và buôn bán các
mặt hàng lấy ra từ Quân Tiếp vụ
Quá trình “Đô thị hóa” tăng dần từ khi nhà ở dọc các
đường Pétrus Ký, Phan Thanh Giản và Trần Quốc Toản
tăng lên2 Trong những năm giặc Mỹ chiếm đóng, những
căn nhà bề thế được dành riêng cho bọn lính Mỹ, Thái
Lan, Đại Hàn và những kẻ tài phiệt Còn sâu vào trong các
hẻm, đằng sau những tòa nhà cao tầng là xóm nhà chen
chúc của người dân lao động trong ngõ hẻm chật hẹp Do
vậy, nếu nhìn vào bề ngoài mặt tiền đường Phan Thanh
Giản và đường Trần Quốc Toản xưa, chỉ thấy những cửa
hiệu, quán ăn, những dãy phố sát nhau cùng những căn nhà bề thế dành riêng cho người ngoại quốc và những người giàu có Những kẻ có quyền, có tiền đã giành hết những vị trí thuận lợi Muốn hiểu con người phường 11, phải đi vào chiều sâu, đi vào cuộc sống của người dân lao động trong những hẻm phố Đất này, do bước chân những người lao động nghèo đến lập nghiệp đầu tiên nhưng chính người nghèo lại bị dồn vào phía sau Đi đôi với sự phát triển đô thị bấy giờ là sự tăng lên của tình trạng bất công, phân hóa giàu nghèo Nơi đây, như một tấm gương phản chiếu những mâu thuẫn của xã hội miền Nam trong thời kỳ Mỹ ngụy
Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, dân số vùng đất nhỏ hẹp nay là phường 11 đã lên đến 33.000 và 4.088 nóc gia3 Nhìn chung, cư dân sinh sống trên địa bàn phường
11 từ nhiều vùng khác nhau của cả nước về đây định cư, cần cù lao động, giàu lòng yêu nước, nhân ái, biết đoàn kết tương trợ lẫn nhau lúc tắt lửa, tối đèn, khi hoạn nạn đều
có nhau
III/ PHƯỜNG 11 NGÀY NAY
Đất lành chim đậu, hơn 35 năm sau ngày thống nhất đất nước, cùng với sự phát triển về kinh tế – văn hóa của quận, phường, người dân đến sinh sống nơi đây ngày một đông, cảnh quan, phố phường đã có nhiều thay đổi Tiến
2 Xem bảng phụ lục tên đường xưa và nay. 3 Báo cáo tổng kết năm 1975 số 178/BC ngày 10 tháng 12 năm 1975 của Quận ủy Quận 10.
Trang 11trình phát triển lịch sử của phường 11 chính là từ công
cuộc xây dựng, lao động cần cù, chăm chỉ của nhân dân
phường Đảng bộ và nhân dân trong phường đã cùng
nhau nỗ lực vượt mọi khó khăn, từng bước phát triển
kinh tế, xây dựng hạ tầng cơ sở làm cho cảnh quan phố
phường ngày một khang trang Chính quyền vững mạnh,
an ninh ổn định, đời sống vật chất, văn hóa, giáo dục, y tế
của nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt
Theo số liệu thống kê năm 2012, phường 11 có
10.893 nhân khẩu; trong đó, 4.876 nam và 6.017 nữ; với
khoảng 2.580 hộ Số người trong độ tuổi lao động trên
6.923 người, chiếm gần 62,8% dân số; tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên bình quân hàng năm là 0,19%
Về thành phần dân tộc
Cư dân sinh sống trên địa bàn phường có 90% là người
Kinh (10.338 người), người Hoa chiếm tỷ lệ 5,1% (527
người), còn lại là người Chăm (gần 100 người) và các dân
tộc khác Các dân tộc sinh sống trên địa bàn phường luôn
mang truyền thống đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau
Về tôn giáo
Địa bàn phường hiện nay có 06 cơ sở tín ngưỡng, tôn
giáo: Chùa Giác Minh, chùa Khánh Anh, chùa Long Hoa,
chùa Phước Hải, Hội thánh Tin Lành, miếu Thành Hoàng
Bổn Cảnh Trong phường có 3.792 người theo đạo Phật,
957 người theo đạo Công giáo, một số ít người theo đạo
Tin Lành, đạo Cao Đài Phần lớn nhân dân trong phường
duy trì khá phổ biến tín ngưỡng dân gian, lễ nghi dân tộc
như thờ cúng tổ tiên Hàng năm, những ngày lễ lớn của các tôn giáo, tín ngưỡng đặc sắc mang tính văn hóa của nhân dân phường như Phật Đản, Vu Lan báo hiếu, ngày mồng một, ngày rằm, lễ Kỳ Yên, Giáng sinh, cầu mong quốc thái dân an, nhà nhà sống ấm no, hạnh phúc đều được tổ chức
Về sự nghiệp giáo dục
Phường có ba trường công lập: Một trường Mầm Non, một trường tiểu học, một trường Chuyên Biệt; có bốn trường dân lập: ba trường dạy ngoại ngữ, một trường Nghiệp vụ du lịch; một chi nhánh trường Đại học Kinh tế hoạt động trên địa bàn
Phường đã thực hiện tốt công tác giáo dục, đảm bảo 100% trẻ 6 tuổi được vào lớp 1, nhiều năm liền được công nhận đạt tiêu chí phổ cập cấp 1, 2, 3 Công tác khuyến học được duy trì với việc xây dựng “Quỹ Bảo trợ học sinh nghèo”, chăm lo 100% chi phí học tập cho các cháu gia đình nghèo học tại trường tiểu học Điện Biên và học sinh giỏi trong phường Học sinh cấp trung học được chăm
lo bằng các học bổng “Nguyễn Hữu Thọ” của Mặt trận
Tổ quốc, “Nguyễn Thị Minh Khai” của Hội Phụ nữ; “Lê Văn Tám” của Đoàn Thanh niên; “Nguyễn Đức Cảnh” của Công đoàn; bình quân trên 50 học bổng/năm Phường tổ chức khen thưởng học sinh giỏi các cấp bình quân là 330 em/năm
Về sự nghiệp y tế
Phường có một trạm Y tế và các phòng khám tư
Trang 12nhân Phường đã tổ chức thực hiện tốt các chương trình
Y tế quốc gia về chăm sóc sức khỏe nhân dân, tiêm chủng
mở rộng, tiêm ngừa vacxin phòng chống dịch bệnh ở trẻ
em, quản lý tốt các đối tượng bệnh xã hội, bệnh mãn tính,
kịp thời dập tắt các điểm phát sinh dịch bệnh như sốt xuất
huyết, cúm A/H1N1 Các cơ quan chức năng phối hợp rà
soát kiểm tra thực hiện các điều kiện vệ sinh an toàn thực
phẩm, vệ sinh môi trường; thường xuyên tổ chức truyền
thông, khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho diện chính
sách, người cao tuổi, bình quân trên 400 lượt người/năm
Về sự nghiệp văn hóa
Nhà Văn hóa phường hình thành từ năm 1984, theo
phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm với tổng
kinh phí là 229.300 đồng; sau đó, được xây dựng mới năm
2000 từ ngân sách Thiết chế Nhà Văn hóa có tầm quan
trọng đặc biệt đối với đời sống văn hóa, hội họp của nhân
dân; do vậy, được sự ủng hộ của các cơ quan, ban ngành,
doanh nghiệp, nhân dân trên địa bàn phường Hoạt động
văn hóa, thể dục thể thao đa dạng, phong phú Năm 2010,
phường được Thành phố công nhận là “Phường Văn hóa”
giai đoạn (2007 – 2009)
Các địa chỉ đỏ
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược, địa bàn phường có 9 địa chỉ đỏ: ba
địa chỉ nuôi giấu cán bộ hoạt động cách mạng; hai cơ sở hội
họp của sinh viên, học sinh; một nơi in tài liệu của phong
trào sinh viên học sinh; một nơi tiếp tế thuốc men và nuôi
giấu cán bộ, một cơ sở Phật giáo và một hầm cất giấu vũ khí bí mật để phục vụ chiến đấu Mậu Thân năm 19684.Tại phường có 4 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 117 gia đình liệt sĩ cư ngụ Từ sau năm 1975 đến nay, phường chăm lo tốt các diện chính sách và ghi ơn những cán bộ chiến sĩ đã hy sinh xương máu vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Hệ thống chính trị của phường
Về tổ chức Đảng: Đảng bộ phường hiện có 221 đảng
viên sinh hoạt tại 13 chi bộ: 6 Chi bộ khu phố, 1 Chi bộ
Cơ quan, 1 Chi bộ Công an, 1 Chi bộ Quân sự, 3 Chi bộ trường học và 1 Chi bộ Hợp tác xã Phường có 79 đảng viên được trao Huy hiệu 30 – 60 năm tuổi Đảng, có 301 đảng viên đương chức đang sinh hoạt tại địa phương theo Quy định số 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị
Về chính quyền: Ủy ban nhân dân phường có 33 cán
bộ nhân viên Ban Chỉ huy Công an phường có 15 cán bộ chiến sĩ thường trực Ban Chỉ huy Quân sự phường có 13 cán bộ chiến sĩ thường trực Tại 6 khu phố có 6 Ban Điều hành với 18 thành viên, có Ban Điều hành 51 tổ dân phố với 102 thành viên và 06 Ban vận động Khu dân cư văn hóa
- Mặt trận Tổ quốc phường có 31 thành viên, 6 Ban Công tác Mặt trận khu phố
4 Quyết định xếp hạng Di tích quốc gia số 1288-VH/QĐ ngày 16 tháng 11 năm1988 của Bộ Văn hóa - Thông tin.
Trang 13- Hội Liên hiệp Thanh niên phường có 239 hội viên;
16 Chi hội, CLB, đội nhóm
- Đoàn Thanh niên Cộng sản phường có 102 đoàn
viên, với 11 chi đoàn: 6 chi đoàn khu phố, 1 chi đoàn Công
an, 1 chi đoàn Dân quân tự vệ, 2 chi đoàn trường học, 1
chi đoàn cơ quan
- Hội Liên hiệp Phụ nữ phường có 722 hội viên, với
6 chi hội và 51 tổ hội
- Hội Cựu chiến binh phường có 139 hội viên, với
06 chi hội
- Hội Người cao tuổi phường có 962 hội viên
- Hội Chữ thập đỏ phường có 504 hội viên
- Nghiệp đoàn Tiểu thủ công nghiệp phường có 45
thành viên
- Thanh tra nhân dân có 9 thành viên
Gắn với lịch sử hình thành và phát triển hơn 300
năm của Sài Gòn – Gia Định xưa, nay là Thành phố Hồ
Chí Minh, có thể khẳng định: Công lao khai phá, xây
dựng và giữ gìn vùng đất nay là phường 11 thuộc về nhân
dân lao động yêu nước Những thành quả ngày nay đều
gắn liền với sự nỗ lực vượt bậc của nhiều thế hệ đồng bào
cư trú, lao động tại phường Cùng với Thành phố, nhân
dân phường 11 đã trải qua những chặng đường lịch sử
cách mạng đầy cam go, thử thách nhưng rất hào hùng và
(1930 - 1975)
Trang 14Lịch sử những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã
ghi nhận: Khi thực dân Pháp nổ súng chiếm thành Gia Định tháng 2 năm 1859, cùng với nhân dân Sài Gịn – Gia Định, những người dân nơi vùng đất nay là phường 11 thuộc quận 10 đã sát cánh cùng quân lính triều đình chiến đấu chống giặc ngoại xâm, gây nhiều khĩ khăn
và làm chậm bước bước tiến của quân xâm lược
Lợi dụng sự bạc nhược của triều đình nhà Nguyễn, với ưu thế về vũ khí, đạn dược, thực dân Pháp lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đơng, rồi tiếp theo ba tỉnh miền Tây; nhưng những người dân nơi đây khơng cam chịu làm nơ
lệ, tiếp tục tham gia và ủng hộ các phong trào chống Pháp của các sĩ phu yêu nước như: Khởi nghĩa của cha con Trương Định – Trương Quyền (1859 – 1870); phong trào Hội kín của tổ chức Thiên Địa Hội do Phan Xích Long lãnh
CHƯƠNG I
NHÂN DÂN VÙNG ĐẤT PHƯỜNG 11 TỪ KHI CÓ ĐẢNG ĐẾN KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1930 - 1954)
Trang 15đạo (1913 – 1916); đặc biệt là các hoạt động diễn thuyết và
tuyên truyền trên báo “Chuông rè” của tổ chức Thanh niên
Cao vọng Đảng do Nguyễn An Ninh tổ chức (1925 – 1926)
truyền bá tư tưởng Cộng sản vào tầng lớp trí thức, học sinh
nhằm “khôi phục và phát triển phong trào yêu nước ở Nam
kỳ”, góp phần “chọn lọc, đào tạo, giới thiệu những người
yêu nước” để Đảng Cộng sản Việt Nam kết nạp sau này5
Những năm 20 đầu thế kỷ XX, xung quanh địa bàn
phường hiện nay đã có nhiều nhà máy đi vào hoạt động
như: nhà máy xay đá (gần sân vận động Thống Nhất, nay
thuộc phường 6, quận 10), nhà máy Thuốc lá Côfát (góc
Nguyễn Tri Phương – Hùng Vương), nhà máy Rượu bia
(đường Nguyễn Chí Thanh phường 6, quận 10), đồn điền
cao su và trại chăn nuôi trâu bò của Nhà chung (phường
14, quận 10),… tất yếu kéo theo sự ra đời của giai cấp công
nhân Trong số những công nhân tại các nhà máy, đồn
điền, trại chăn nuôi này có những người là công nhân,
nhiều người có người thân, gia đình ở các xóm nghèo Ngã
Bảy, Xóm Chùa, Xóm Cầu, Xóm Hai Mươi (phường 11
ngày nay) cùng có chung cảnh ngộ bị thực dân Pháp và
tay sai bóc lột sức lao động Đây là một trong những điều
kiện để tổ chức Công hội bí mật – một tổ chức yêu nước
của người công nhân Tôn Đức Thắng ở Sài Gòn – Chợ
Lớn và Gia Định phát huy ảnh hưởng theo khuynh hướng
Cộng sản6
Từ khi thực dân Pháp chiếm đóng Sài Gòn, người dân sinh sống tại vùng đất phường 11 thời kỳ đó đã liên tục đứng lên tham gia các phong trào chống Pháp của nhân dân thành phố Song, do thiếu sự lãnh đạo của một chính đảng nên các phong trào đều thất bại Tuy chưa giành thắng lợi, nhưng các phong trào trên đã khẳng định tinh thần yêu nước không chịu khuất phục quân xâm lược của người dân vùng đất phường 11 lúc bây giờ Đây chính
là điều kiện thuận lợi để chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá và gieo những mầm cách mạng, chuẩn bị cho việc thành lập các tổ chức Cộng sản về sau
I/ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN VÙNG ĐẤT PHƯỜNG 11 TỪ KHI CÓ ĐẢNG ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1930 – 1945)
Năm 1911, từ thành phố Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước, sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin và ảnh hưởng của thắng lợi Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917.Cuối năm 1924, được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, với cương vị phụ trách Cục Phương Nam trong Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản; tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên7 để tập hợp, huấn luyện những người yêu nước, giáo dục họ theo xu hướng Cộng sản, rồi
5 Nam bộ, Đất và Người – HKH LS TP.HCM – trang 1886
6 Trước năm 1922 Công hội có trụ sở tại đường Mayer, nay là đường Võ Thị Sáu 7 Còn gọi là Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội
Trang 16đưa về nước hoạt động, gầy dựng cơ sở, chuẩn bị tiến tới
thành lập một Đảng Cộng sản ở Việt Nam
Trước đòi hỏi bức xúc của tình hình, từ tháng 6 năm
1929 đến tháng 1 năm 1930, ở Việt Nam đã có ba tổ chức
Cộng sản được thành lập và được hợp nhất thành Đảng
Cộng sản Việt Nam ngày 03 tháng 02 năm 1930 tại Hương
Cảng (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn
Ái Quốc
Sau Hội nghị thành lập Đảng, đồng chí Châu Văn
Liêm và đồng chí Nguyễn Thiệu là đại biểu của An Nam
Cộng sản Đảng được phân công về Nam kỳ để thống nhất
các tổ chức Đảng
Tại Sài Gòn – Chợ Lớn, đồng chí Châu Văn Liêm và
đồng chí Nguyễn Thiệu đã cùng với các đồng chí trong
Ban lâm thời của An Nam Cộng sản Đảng và đồng chí
Ngô Gia Tự đại diện cho Đông Dương Cộng sản Đảng tại
Nam kỳ bàn việc hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Nam
Kỳ Cuộc họp được tổ chức tại một xóm lao động ở Khánh
Hội và Ban lâm thời cấp ủy (Xứ ủy) của Đảng Cộng sản
Việt Nam ở Nam kỳ được thành lập do đồng chí Ngô Gia
Tự làm Bí thư, trụ sở của Xứ ủy đặt tại đường Kitchenes
(nay là góc đường Nguyễn Thái Học và Phạm Ngũ Lão,
Quận 1)
Được sự chỉ đạo của Xứ ủy, việc hợp nhất các tổ
chức Cộng sản và thành lập các chi bộ mới của Đảng bộ
Sài Gòn – Chợ Lớn được thực hiện trong tháng 3 năm
1930 Ban Chấp ủy lâm thời của Đảng bộ Sài Gòn – Chợ
Lớn được chỉ định có 5 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn Lợi (Hữu Dũng) là Bí thư Kể từ đây, cùng với quần chúng nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn, nhân dân vùng đất
Hộ 4 (phường 11) đã có sự lãnh đạo của Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt lịch
sử trọng đại của cách mạng Việt Nam, là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước tại Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX Nguyễn Ái Quốc là người
có công đầu tiếp thu, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam; Người sáng lập ra Đảng, vạch ra cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng – một cương lĩnh về cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm nhuần tính dân tộc
và tính nhân văn
Năm 1931, Xứ ủy giao nhiệm vụ cho Tổng Công hội
tổ chức míttinh kỷ niệm ngày khởi nghĩa Yên Bái vào ngày
08 tháng 02 năm 1931 tại địa điểm gần sân banh đường Mayer (nay là đường Võ Thị Sáu) Để bảo vệ cán bộ diễn thuyết, Lý Tự Trọng đã bắn gục cò Legra, anh bị bắt và bị chúng thi hành án tử hình sau đó Sau sự kiện này, bọn Pháp và tay sai tăng cường lùng sục, tìm bắt các đồng chí trong lãnh đạo Trung ương, Xứ ủy và Thành ủy Phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống, tuy nhiên nhiều cơ
sở cách mạng vẫn được giữ vững, là chỗ dựa tin cậy của Đảng để xây dựng phong trào
Trang 17Do là vùng đất trũng, hoang vắng, dân thưa thớt,
chưa thuận lợi cho việc tập trung hội họp, đặt văn phòng
nên từ khi Đảng ra đời đến năm 1933 – 1934, vùng đất
nay là Phường 11 chưa có tổ chức cơ sở Đảng Tuy nhiên,
mang tính chất là vùng đệm giữa Sài Gòn và Chợ Lớn,
Xóm Ngã Bảy là nơi đi lại, dừng chân để tuyên truyền, vận
động, xây dựng cơ sở cách mạng của lãnh đạo Xứ ủy như
Trương Văn Bang (1933), Trần Văn Giàu (1934)
Đến năm 1935, một sự kiện được ghi vào trang sử
truyền thống của Hộ 4 nói chung và vùng đất Phường 11
nói riêng, đó là sự kiện Chi bộ Hộ 4 được thành lập do
đồng chí Đoàn Công Hớn (Ba Có) là Bí thư Từ đây, thông
qua cơ sở nòng cốt, các tổ chức đoàn thể, phong trào cách
mạng vùng đất Phường 11 đã có sự lãnh đạo trực tiếp từ
Chi bộ Hộ 4
Năm 1936, cùng với sự lãnh đạo của chi bộ Đảng ở
Hộ 4, vùng Ngã Bảy, Gò Soài (ngã tư Nguyễn Duy Dương
– Bà Hạt) có thêm chi bộ ghép của đồng chí Võ Thị Thìn;
chi bộ có cơ sở tại khu vực vườn Bà Lớn – Ngã Bảy, khu
Bàn Cờ, hãng thuốc lá Côfát; đây là tổ chức cơ sở Đảng
đường phố đầu tiên hoạt động ở Hộ 10 và một phần Hộ
4 Cả hai chi bộ đã chỉ đạo lập các hội Ái Hữu, hội Tương
tế để tập hợp quần chúng trong các hội: thợ may, thợ cắt
tóc, thợ mộc,… để phát triển hội viên trong các chợ, xóm
lao động; tuyên truyền để hội viên nhận rõ lòng căm thù
giặc ngoại xâm, tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam,
đường lối cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo
Năm 1936, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, thành phố Sài Gòn nổi lên phong trào Đông Dương Đại hội bằng việc thành lập các Ủy ban Hành động rộng khắp trong các
xí nghiệp, công sở, các tổ chức ngành nghề Tại Hộ 4, Ủy ban Hành động đã tập hợp các tầng lớp nhân dân, cử đại diện đi dự Đông Dương Đại hội Nhận thấy phong trào phát triển không có lợi cho sự cai trị, bọn thực dân Pháp
đã ra lệnh cấm nhân dân tụ họp, bắt một số thành viên thuộc các Ủy ban Hành động, tiến hành sa thải viên chức, công nhân nếu tham gia các Ủy ban Hành động Song, phong trào đã lên cao, chúng không thể nào dập tắt được Chúng phải chuyển sang biện pháp xoa dịu bằng việc ban hành nghị định ngày 11 tháng 10 năm 1936 quy định thời gian lao động của người làm thuê không quá 10 giờ/ngày, được nghỉ ngày chủ nhật, được nghỉ 10 ngày phép/năm, cấm bắt đàn bà, trẻ em làm việc ban đêm
Ngày 01 tháng 01 năm 1937, khi Godart thuộc Đảng cấp tiến, phái viên Chính phủ Pháp được cử sang điều tra tình hình Đông Dương; Đảng ta đã chủ trương đưa quần chúng xuống đường biểu dương lực lượng với khẩu hiệu “Toàn xá tù chính trị, bỏ thuế thân, tự do nghiệp đoàn, tự do ngôn luận” Nhân dân các khu vực Ngã Bảy, Xóm Giếng, chợ Hai Mươi thuộc Hộ 4 đã tham gia cuộc xuống đường của hàng chục ngàn người dân thành phố kéo ra bến cảng Sài Gòn để gặp Godart đưa yêu sách Cuộc “tiếp đón” Godart của chính quyền thuộc địa Pháp
đã biến thành cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng nhân dân
Trang 18Qua cuộc vận động dân chủ Đông Dương, Đảng bộ
thành phố đã đẩy mạnh các hoạt động nửa hợp pháp, hợp
pháp; nửa công khai, công khai kết hợp với hoạt động bí
mật và đưa ra nhiều hình thức tổ chức, phương pháp hoạt
động thích hợp, đáp ứng được tình hình thực tiễn và nhu
cầu nguyện vọng của người dân Trong thắng lợi chung
đó có sự góp sức, tham gia của người dân tại địa bàn nay
là Phường 11
Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai
bùng nổ Một năm sau Phát xít Nhật kéo quân vào chiếm
Đông Dương Thực dân Pháp đầu hàng Nhật đã tác động
lớn đến tình hình cách mạng Việt Nam
Tháng 11 năm 1939, Hội nghị Trung ương Đảng lần
6 họp tại xã Tân Thới Nhất, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia
Định đã chỉ đạo chuyển hướng chiến lược hoạt động cách
mạng, thay đổi phương pháp cách mạng và thành lập “Mặt
trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương”
Tháng 7 năm 1940, tại xã Tân Hưng, huyện Châu
Thành, tỉnh Mỹ Tho; Xứ ủy họp Hội nghị thống nhất chủ
trương khởi nghĩa, đề ra những nhiệm vụ cần thực hiện
trước mắt là: kiện toàn cơ quan lãnh đạo của Đảng ở các
cấp, đẩy mạnh phát triển các đoàn thể quần chúng trong
Mặt trận phản đế, tổ chức các đội du kích, chuẩn bị vũ khí
và luyện tập quân sự, đẩy mạnh công tác vận động binh
sĩ địch
Theo chỉ đạo của Xứ ủy, đêm 22 rạng ngày 23 tháng
11 năm 1940, toàn Nam Kỳ đã đồng loạt nổỉ dậy khởi
nghĩa với khí thế mạnh mẽ, phá tan bộ máy kìm kẹp tại nhiều nơi của giặc Pháp và tay sai
Tại Hộ 4, các cơ sở cách mạng cùng với nhân dân vùng Ngã Bảy, Bàn Cờ sẽ phối hợp với lực lượng ta từ Phú Thọ Hòa, Tân Sơn Nhì, Hộ 6 đến giờ qui định sẽ chiếm thành Ô-Ma nhưng kế hoạch không thành vì lệnh khởi nghĩa đã bị lộ, số binh lính người Việt được ta vận động làm nội ứng bị chúng quản thúc, thu vũ khí Các mũi khác đưa lực lượng vào thành phố nhưng không thấy súng lệnh
nổ theo kế hoạch đã cho lực lượng rút lui, cuộc khởi nghĩa
ở nội thành không nổ ra Do khởi nghĩa chưa đúng thời
cơ, lại bị lộ nên nhiều đồng chí lãnh đạo của Trung ương, Thành ủy bị bắt, bị giết như đồng chí Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến,… các cơ sở
bị tổn thất khá nặng Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn (Thái Nguyên), Đô Lương (Nghệ An), khởi nghĩa ở Nam Kỳ
đã làm bọn thống trị và tay sai rúng động, hoảng loạn, là pháo lệnh báo hiệu khởi nghĩa toàn quốc sẽ nổ ra
Sau khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp tăng cường khủng bố, đàn áp dã man đối với những người Cộng sản, rất nhiều đảng viên bị Pháp bắt, tra tấn, xử bắn, bị đày đi
tù biệt giam tại các nhà tù thực dân Pháp tại Tà Lài, Bà Rá, Côn Đảo Từ 1941 đến đầu năm 1945, Đảng bộ thành phố gặp rất nhiều trở ngại khó khăn, các đảng viên còn lại phải rút vào hoạt động bí mật tiếp tục xây dựng cơ sở trong quần chúng nhân dân
Giữa lúc cách mạng cả nước gặp khó khăn, tháng 02 năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc sau 30 năm bôn ba
Trang 19tìm đường cứu nước đã trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo
cách mạng Sau Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5 năm
1941, Mặt trận Việt Minh ra đời, các Hội Cứu quốc được
thành lập, phong trào và tổ chức Việt Minh lan rộng trong
cả nước Tại Hộ 4, tổ chức Đảng dần hồi phục, các cơ sở
cách mạng được củng cố, các Hội Cứu quốc được thành
lập đã vận động nhân dân tham gia Mặt trận Việt Minh để
đánh Tây, đuổi Nhật
Ngày 09 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp,
tạo nên sự khủng hoảng chính trị sâu sắc; đây là thời cơ có
lợi nhưng cũng đầy thách thức của cách mạng Việt Nam
Tháng 5 năm 1945, Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn
được lập lại và tổ chức thành hai khu: Khu Sài Gòn và khu
Chợ Lớn Đảng bộ nhanh chóng nối liên lạc với các chi
bộ cơ sở để củng cố tổ chức Nhằm tập hợp quần chúng,
phát triển lực lượng; tháng 5 năm 1945, tổ chức Thanh
niên Tiền phong được thành lập, đứng đầu là Bác sĩ Phạm
Ngọc Thạch Phong trào phát triển nhanh hơn dự kiến,
không chỉ thu hút thanh niên mà còn có đông đảo các
tầng lớp nhân dân tham gia như Phụ nữ Tiền phong, Phụ
lão Tiền phong, Thiếu niên Tiền phong,… Để lãnh đạo
phong trào đi đúng hướng, Xứ ủy và Thành ủy bố trí đảng
viên, cán bộ cốt cán nắm những vị trí then chốt trong tổ
chức Thanh niên Tiền phong
Với tính quần chúng rộng rãi, hình thức linh hoạt;
chỉ sau hai tháng thành lập cùng sự hoạt động tích cực
của các cán bộ, đảng viên, công đoàn viên, lực lượng
Thanh niên Tiền phong tại thành phố đã phát triển lên tới 200.000 người và lan nhanh ra khắp Nam Bộ
Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Hộ 4, khu vực Ngã Bảy đội Thanh niên tiền phong do anh Đào Văn Quí, Trần Kiểm, Vũ Vương phụ trách được trang bị vài khẩu súng, mác, gậy, dây thừng,… nhưng tinh thần luyện tập rất hăng hái, sẵn sàng nhận nhiệm vụ Ở các khu Xóm Giếng, chợ Hai Mươi, một số quần chúng tham gia Thanh niên tiền phong khu Bàn Cờ, Vườn Chuối do đồng chí Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Minh Toàn phụ trách đã thực hiện các nhiệm vụ rải truyền đơn, luyện tập quân sự, học cứu thương, tổ chức quyên góp tiền, lương thực thực phẩm.Ngày 15 tháng 8 năm 1945, được tin Nhật đầu hàng Đồng minh, Hội nghị Trung ương Đảng lần 8 và Đại hội Quốc dân do Nguyễn Ái Quốc chủ trì ở Tân Trào đã quyết định khởi nghĩa giành chính quyền Một không khí tiền khởi nghĩa đã lan rộng khắp thành thị và nông thôn trong
cả nước
Ở Sài Gòn – Gia Định, Xứ ủy và Thành ủy đã tổ chức nhiều hội nghị để phân tích đánh giá tình hình và bàn kế hoạch chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa
Ngày 19 tháng 8 năm 1945, tại vườn Bờ-Rô (sau
1954 là Công viên Tao Đàn, nay là Công viên Văn hóa
thành phố) Thanh niên tiền phong đã tập trung míttinh;
biểu dương lực lượng và tuyên thệ trung thành với Tổ quốc; sau đó diễu hành trên nhiều đường phố, ca vang những lời ca “Thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi”
Trang 20và hô vang các khẩu hiệu: “Hoan hô Việt Minh” Trong
cuộc biểu dương lực lượng này có một số thanh niên từ
các xóm nhỏ khu vực Ngã Bảy, Xóm Hai Mươi của Hộ 4
Cũng trong ngày 19 tháng 8 năm 1945, tin khởi
nghĩa tại Hà Nội thành công đã tiếp thêm sức mạnh và sự
quyết tâm giành chính quyền của lãnh đạo và quần chúng
nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định
Ngày 20 tháng 5 năm 1945, Mặt trận Việt Minh
thành phố ra công khai, Thanh niên Tiền phong tuyên
bố đứng vào hàng ngũ Việt Minh Sáng 23 tháng 8 năm
1945, tin khởi nghĩa thắng lợi ở Tân An (Long An), Phát
xít Nhật không có phản ứng, Xứ ủy quyết định lấy đêm 24
sẽ khởi nghĩa ở Sài Gòn và sáng 25 sẽ tổ chức biểu tình vũ
trang biểu dương lực lượng của quần chúng nhân dân Sài
Gòn – Chợ Lớn – Gia Định cùng các tỉnh lân cận
Trong những ngày này, không khí khởi nghĩa đã lan
tỏa, thôi thúc đến từng gia đình, từng người Trên địa bàn
phường lúc bấy giờ, Chi bộ Hộ 4 đã giao nhiệm vụ cho các
đội Thanh niên Tiền phong sẵn sàng chờ lệnh
Tối 24 tháng 5 năm 1945, giờ hành động đã đến;
tại Hộ 4, đồng chí Nguyễn Văn Đốp, đồng chí Nguyễn
Văn Vàng chỉ huy Thanh niên tiền phong cùng nhân dân
nổi dậy, treo cờ, rải truyền đơn, chiếm bót cảnh sát khu
vực Giếng Nước tại đường Testard (nay là đường Võ Văn
Tần), sau đó lần lượt chiếm và treo cờ tại các trụ sở Cùng
lúc, tại khu vực Ngã Bảy Chuồng Bò, đội Thanh niên tiền
phong của đồng chí Đoàn Văn Quý, Trần Kiểm,Vũ Vương
lập chướng ngại vật trên đường Lý Thái Tổ, phục kích tốp lính Pháp đi tuần tại Ngã Bảy, đồng thời cử đội viên phối hợp với đội Thanh niên tiền phong của đồng chí Mười Thìn Hộ 10 tấn công địch ở bót Máy Đá, treo cờ ở Ngã Bảy, hỗ trợ công nhân nổi dậy tiếp quản nhà máy rượu – bia Chính quyền cách mạng lâm thời vùng Ngã Bảy được thành lập, đồng chí Đoàn Văn Quý làm Chủ tịch
Sáng 25 tháng 8 năm 1945, người dân ở các xóm nhỏ Ngã Bảy, Xóm Giếng, chợ Hai Mươi thuộc Hộ 4 đã cùng hơn 1 triệu người dân thành phố và các tỉnh lân cận kéo về dinh Đốc Lý (nay là Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) dự míttinh, diễu hành mừng khởi nghĩa thành công.Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định nói chung và nhân dân Hộ 4 nói riêng (Phường 11) giành được là nhờ đường lối đúng đắn của Đảng, được Trung ương, Xứ ủy, Thành ủy chỉ đạo trực tiếp, kịp thời Quần chúng nhân dân được rèn luyện, thử thách và có sự chuẩn bị tốt nên thời cơ đến, được lệnh
là hưởng ứng nổi dậy đồng loạt để giành chính quyền
Đó là kết quả của quá trình 15 năm vận động xây dựng
và phát triển lực lượng đi từ không đến có, từ số ít đến số đông, vượt qua thăng trầm, không ngại hy sinh đổ máu mới có được thắng lợi
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân vùng Hộ 4 (Phường 11) từ phận mất nước làm nô lệ trở thành người dân có chủ quyền quốc gia, được thế giới công nhận Từ đây nhân dân vùng bước sang giai đoạn mới: kháng chiến để bảo vệ nền độc lập của nước nhà