MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, già hóa dân số là một vấn đề toàn cầu đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, xu hướng mang tính lâu dài và không thể bị đảo ngược. Số lượng NCT tăng, kéo theo nhiều vấn đề đặt ra để thích ứng với giai đoạn già hóa dân số, đó là công tác chăm sóc sức khỏe và hệ thống an sinh xã hội đối với NCT. Thực tế cho thấy NCT Hiện nay, chúng ta đang đứng trước thực trạng cơ cấu dân số biến đổi nhanh chóng, từ giai đoạn “cơ cấu dân số trẻ” sang giai đoạn “già hóa dân số”. Sự chuyển đổi này đưa đến nhiều thời cơ hội thuận lợi, nhưng đồng thời đặt ra những thách thức đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và đối với công tác DS KHHGĐ nói riêng trong thời gian tới. Theo báo cáo Dân số lao động và việc làm tử Tổng cục Thống kê năm 2020, Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, hiện nay, tuổi thọ trung bình của người dân đã đạt mức 73,7 năm tuổi thọ của nam giới là 71,0 tuổi, của nữ giới là 76,3 tuổi, tăng 8,5 lần so với năm 1989 đến nay. Ngoài ra, nhóm “dân số vàng” đang độ tuổi lao động trong 510 năm tới sẽ “ đẩy lên” thành NCT khiến số NCT ở nước ta tăng nhanh hơn, điều này đồng nghĩa với việc NCT sẽ chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số. Theo số liệu báo cáo của Hội Người cao tuổi tại Xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất, tổng số toàn huyện có 2.879 NCT được chúc thọ, mừng thọ, trong đó có 217 cụ 90 tuổi, 150 cụ 95 tuổi, 19 cụ tròn 100 tuổi và 49 cụ trên 100 tuổi. Tại địa phương, UBND huyện Thạch Thất ban hành Kế hoạch thực hiện “Đề án Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017 – 2025”, nhằm đáp ứng nhu cầu của người già cũng như từng bước nâng cao chất lượng dân số. Mặt khác, tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Truyền thông, vận động nâng cao nhận thức của lãnh đạo Đảng, chính quyền, ban, ngành, người cao tuổi từ huyện đến các xã, thôn. Thực trạng cho thấy, khoảng 70% NCT làm nông nghiệp và chăn nuôi, trong số đó là 70% không có tích lũy vật chất, phụ thuôc vào con cháu là chủ yếu và 30% là sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội. Vì vậy, địa phương cần hoàn thiện những biện pháp đúng đắn nhằm tạo cuộc sống ổn định cho NCT, giúp họ hưởng trọn vẹn tuổi già. Ở góc độ xã hội, NCT là những người đã đóng góp công sức, nỗ lực rất nhiều cho xã hội khi tuổi đời còn trẻ. Và giờ đây, khi họ đã bước sang tuổi xế chiều, sức khỏe hạn chế, họ xứng đáng được nhận sự quan tâm của cộng đồng xã hội. Do đó, vấn đề chăm sóc sức khỏe và phòng tránh bệnh tật ở độ tuổi ngoài 60 cực kỳ quan trọng trong xu hướng già hóa dân số hiện nay. Nhận thấy, trước tình hình dân số tại xã Tiến Xuân nói riêng và trên cả nước nói chung, cần phải triển khai tích cực các hoạt động trong công tác chăm sóc, quan tâm sức khỏe đối với NCT từ các cấp chính quyền, kết hợp cùng ban ngành, đoàn thể tại địa phương. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại địa bàn xã Tiến Xuân, Huyện Thạch Thất, Hà Nội” để tìm hiểu công tác chăm sóc sức khỏe NCT tại xã, từ đó đề xuất những kiến nghị giúp NCT có thể cải thiện sức khỏe thể chất lẫn tinh thần trong thời gian tới. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trang 1TIỂU LUẬNMÔN: XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 8
1.2 Các lý thuyết áp dụng trong đề tài 10
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÁ TIẾN XUÂN HUYỆN THẠCH THẤT HIỆN NAY 13
2.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu (Xã Tiến Xuân, Huyện Thạch Thất, Hà Nội) 13
2.2 Đặc điểm NCT 13
2.3 Thực trạng NCT chăm sóc sức khỏe 14
CHƯƠNG 3 BẤT BÌNH ĐẲNG GIỮA ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN TRONG TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 25
3.1 Công tác chăm sóc sức khỏe trên cả nước 25
3.2 Phân tích và so sánh các yếu tố liên quan đến công tác chăm sóc sức khỏe NCT giữa khu vực nông thôn và đô thị 25
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 3DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Lý do NCT cho rằng chăm sóc sức khỏe là cần thiết (%) 14Biểu đồ 2.2 Đánh giá của NCT về tình trạng sức khỏe thể chất tại 15địa bàn khảo sát (%) 15Biểu đồ 2.3 Đánh giá của NCT về tình trạng sức khỏe tinh thần tại địa bàn khảo
sát (%) 16Biểu đồ 1.1.6 Cách khám chữa bệnh của NCT tại địa bàn khảo sát (%) 17Biểu đồ 2.5 Phương pháp NCT chăm sóc sức khỏe tại địa bàn khảo sát (%) 18Biểu đồ 2.11 Số lượng hoạt động NCT tham gia khám, chữa bệnh tại địa phương
(%) 19Bảng 2.8 Tương quan giữa người chăm sóc sức khỏe chính cho NCT và NCT tự
đánh giá sức khỏe thể chất của mình 20Biểu đồ 2.8 Mức độ hài lòng của NCT với sự chăm sóc từ gia đình tại địa bàn
khảo sát (%) 20Biểu đồ 2.6 Khó khăn của NCT khi khám, chữa bệnh tại địa bàn khảo sát trong
mùa Covid (%) 21Biểu đồ 2.7 Khó khăn khi khám chữa bệnh tại địa phương (%) 22Biểu đồ 2.9 Tỷ lệ tham gia BHYT của NCT tại địa phương (%) 23Biểu đồ 2.10 Trình độ học vấn ảnh hưởng đến sự tham gia BHYT của NCT (%) 24Bảng 3 Trình độ học vấn và nơi điều trị lâu nhất theo khu vực đô thị (%) 27Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ người có thói quen điều trị tại nhà, điều trị bệnh với thầy lang,
thầy mo và hiệu thuốc ở khu vực thành thị (%) 28
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, già hóa dân số là một vấn đề toàn cầu đang được nhiều quốc giatrên thế giới quan tâm, xu hướng mang tính lâu dài và không thể bị đảo ngược Sốlượng NCT tăng, kéo theo nhiều vấn đề đặt ra để thích ứng với giai đoạn già hóadân số, đó là công tác chăm sóc sức khỏe và hệ thống an sinh xã hội đối với NCT.Thực tế cho thấy NCT
Hiện nay, chúng ta đang đứng trước thực trạng cơ cấu dân số biến đổinhanh chóng, từ giai đoạn “cơ cấu dân số trẻ” sang giai đoạn “già hóa dân số” Sựchuyển đổi này đưa đến nhiều thời cơ hội thuận lợi, nhưng đồng thời đặt ra nhữngthách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với công tác DS-KHHGĐ nói riêng trong thời gian tới Theo báo cáo Dân số lao động và việc làm
tử Tổng cục Thống kê năm 2020, Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của đấtnước, hiện nay, tuổi thọ trung bình của người dân đã đạt mức 73,7 năm tuổi thọcủa nam giới là 71,0 tuổi, của nữ giới là 76,3 tuổi, tăng 8,5 lần so với năm 1989đến nay Ngoài ra, nhóm “dân số vàng” đang độ tuổi lao động trong 5-10 năm tới
sẽ “ đẩy lên” thành NCT khiến số NCT ở nước ta tăng nhanh hơn, điều này đồngnghĩa với việc NCT sẽ chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số
Theo số liệu báo cáo của Hội Người cao tuổi tại Xã Tiến Xuân, huyện ThạchThất, tổng số toàn huyện có 2.879 NCT được chúc thọ, mừng thọ, trong đó có 217
cụ 90 tuổi, 150 cụ 95 tuổi, 19 cụ tròn 100 tuổi và 49 cụ trên 100 tuổi Tại địaphương, UBND huyện Thạch Thất ban hành Kế hoạch thực hiện “Đề án Chăm sócsức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017 – 2025”, nhằm đáp ứng nhu cầu của ngườigià cũng như từng bước nâng cao chất lượng dân số Mặt khác, tiếp tục đẩy mạnhcông tác truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi về chăm sóc sức khỏe người caotuổi Truyền thông, vận động nâng cao nhận thức của lãnh đạo Đảng, chính quyền,
Trang 6Thực trạng cho thấy, khoảng 70% NCT làm nông nghiệp và chăn nuôi, trong
số đó là 70% không có tích lũy vật chất, phụ thuôc vào con cháu là chủ yếu và30% là sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội Vì vậy, địa phương cần hoàn thiệnnhững biện pháp đúng đắn nhằm tạo cuộc sống ổn định cho NCT, giúp họ hưởngtrọn vẹn tuổi già Ở góc độ xã hội, NCT là những người đã đóng góp công sức, nỗlực rất nhiều cho xã hội khi tuổi đời còn trẻ Và giờ đây, khi họ đã bước sang tuổi
xế chiều, sức khỏe hạn chế, họ xứng đáng được nhận sự quan tâm của cộng đồng
xã hội Do đó, vấn đề chăm sóc sức khỏe và phòng tránh bệnh tật ở độ tuổi ngoài
60 cực kỳ quan trọng trong xu hướng già hóa dân số hiện nay Nhận thấy, trướctình hình dân số tại xã Tiến Xuân nói riêng và trên cả nước nói chung, cần phảitriển khai tích cực các hoạt động trong công tác chăm sóc, quan tâm sức khỏe đốivới NCT từ các cấp chính quyền, kết hợp cùng ban ngành, đoàn thể tại địa phương
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại địa bàn xã Tiến Xuân, Huyện Thạch Thất, Hà Nội” để tìm hiểu công tác chăm sóc sức khỏe NCT tại xã, từ đó
đề xuất những kiến nghị giúp NCT có thể cải thiện sức khỏe thể chất lẫn tinh thầntrong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trước hiện tượng già hóa dân số mang tính toàn cầu, là thách thức lớn cho
sự phát triển KT-XH và an sinh xã hội Các nghiên cứu dân số NCT đã được tiếnhành từ những năm 50 của thế kỷ XX tại các quốc gia phát triển đã chuyển sanggiai đoạn già hóa dân số Nhiều viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội đã nghiêncứu NCT trên nhiều phương diện, đặc biệt là về nhân phẩm, những đặc điểm tâmsinh lý và sinh lý lứa tuổi Thời gian đó chủ yếu là các tài liệu, bài viết và các côngtrình nghiên cứu về NCT nói riêng
Trang 7Nghiên cứu về nhân phẩm NCT Stratton và Tadd (2005) đã đề cập đến nhâncách người cao tuổi, tập trung tìm hiểu nhìn nhận và hiểu biết của xã hội về vấn đềnhân cách của NCT ở một số nước như Anh, Ireland, Tây Ban Nha, Pháp, Slovakia
và Thụy Sỹ Xã hội đang mất dần đi những giá trị truyền thống khi nhìn nhận vềngười cao tuổi Xã hội cho rằng NCT không khác gì trẻ con, họ là nhóm người dưthừa, làm liên lụy những người trẻ Trong gia đình, việc chăm sóc người cao tuổi làcông việc rất khó khăn, có thể dẫn đến căng thẳng, có thể tạo nên áp lực về kinh tế
và sức khỏe.Tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe, nhân viên ở những trung tâm,nhà dưỡng lão và chăm sóc NCT thường ít được đào tạo bài bản và họ thường đối
xử với NCT như đối xử với trẻ em Chính những điều này đã ảnh hưởng đến nhânphẩm người cao tuổi
Tadd và Bayer (2006) cũng đã đưa ra khái niệm về nhân phẩm, nghiên cứu
về vấn đề nhân phẩm người cao tuổi trong hoạt động chăm sóc sức khỏe người caotuổi ở một số nước châu Âu Tác giả đưa ra những gợi ý về các khía cạnh nhânphẩm nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách cho phù hợp với mong đợi củangười cao tuổi và xã hội Theo đó, các trung tâm chăm sóc người cao tuổi cần quantâm nhiều hơn đến vấn đề giao tiếp, sự riêng tư, sự khác biệt cá nhân và cảm giác
dễ tổn thương ở người cao tuổi Vấn đề nhân phẩm ở người cao tuổi cần đượcchuyển hóa thành các khóa đào tạo bài bản dành cho những người hoạt động tronglĩnh vực chăm sóc người cao tuổi
Cùng với chủ đề nghiên cứu trên, không chỉ dừng lại ở việc Nhà nước nên
và không nên làm gì cho người cao tuổi, Agich (2010) cũng đã tiếp cận người caotuổi từ góc độ nhân phẩm Qua nghiên cứu, tác giả cho thấy vấn đề đảm bảo vềnhân phẩm cho NCT trong các chính sách NCT không được đảm bảo và chưa đượchiểu một cách đúng đắn phù hợp Tác giả cho rằng, chính sách đối với NCT cầnphải quan tâm đến nhân phẩm của đối tượng này Nghiên cứu về những đặc điểmtâm sinh lý NCT Nổi bật với công trình nghiên cứu của nhà tâm lý học Mỹ Ann
Trang 8thuyết chính về sự lão hóa và nghiên cứu tâm lý của người về hưu, đó là: Thuyếtkhủng hoảng, đứt đoạn: cho rằng lao động là điều kiện cơ bản của sự hòa nhập xãhội và nghỉ hưu sớm là mất sự hòa nhập đó Thuyết liên tục: cho rằng việc ngừnglàm việc không nhất thiết dẫn đến sự khủng hoảng tâm lý Lao động không phảiluôn dễ chịu và có tác dụng tốt đối với sức khỏe và trạng thái hài lòng với cuộcsống Thuyết kiểm soát và thích nghi tiếp cận tâm lý- xã hội về tuổi già: cho rằngđối với NCT, việc kiểm soát sự lão hóa được coi là một trong những yếu tố thíchnghi quan trọng Việc “thành công” trải qua tuổi già, theo nghĩa đảm bảo rằngmình sống tốt và có ích, dựa vào phần lớn khả năng mà cá nhân kiểm soát được xãhội quanh mình và ý thức mà họ có về xã hội đó.
Nhiều tác phẩm, bài viết trên các tạp chí nổi tiếng như: Năm 1998, trong tạpchí: “Tâm lý và tuổi già” ba tác giả Neal Krause, Kersay Liang, Shengzu Gu đãnghiên cứu về vấn đề “Sự căng thẳng tài chính, sự hỗ trợ nhận được và các triệuchứng trầm cảm ở Trung Quốc”; nhà tâm lý học người Đức Martin Pinquar với tạpchí: “Tác động của trạng thái, mạng lưới và năng lực kinh tế - xã hội đối với sựphồn thịch khách quan trong cuộc sống của người già” (2000); nhà tâm lý họcngười Nga D.I.A Raigorodski với sách “Tâm lý học người cao tuổi” (2004) Nhưvậy, có thể nói rằng nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về chăm sóc sức khỏe NCT nóichung trên thế giới còn ít, những tâm tư nguyện vọng của NCT còn ít được quantâm nghiên cứu Tuy nhiên các công trình của một số tác giả nói trên cúng cónhững đóng góp là đưa ra được những kiểu hình, chất lượng sống của người caotuổi, đề cao phúc lợi xã hội để giúp cho NCT sống khỏe, sống vui, sống có ích chogia đình và xã hội
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn dề chăm sóc sức khỏe cho NCT luôn là một nghiên cứu được các nhàkhoa học quan tâm Những nghiên cứu của họ làm rõ về thưc trạng công tác chăm
Trang 9sóc sức khỏe NCT trong cộng đồng, cũng như trong mỗi hộ gia đình, đều có vai tròquan trọng như nhau
Trong nghiên cứu “Xã hội học nghiên cứu về nhóm tuổi, những vấn đề cơ
bản”, PGS.TS Phạm Hương Trà, phân tích một số khía cạnh về NCT:đặc điểm
NCT, thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT, chính sách an sinh xã hội đối với NCT.Đặc biệt, tác giả có nhấn mạnh những tính nổi bật, như là sức khỏe thể chất vàtinh thần giảm sút, sự tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội cũng giảm dần, sứclực và độ nhanh nhạy hoạt bát không còn được như trước nữa
Trong “Chiến lược sống của người cao tuổi trước những biến đổi của gia
đình nông thôn hiện nay” của Bế Quỳnh Nga đăng trên tạp chí xã hội học số 1 (89)
năm 2005 cũng chỉ ra rằng “Con cháu và người thân gia đình và họ hàng là những
yếu tố tạo nên mạng lưới sơ cấp cho NCT, những yếu tố quan trọng đầu tiên người già phải nghĩ đến khi sắp xếp cuộc sống của mình” Một nghiên cứu cho biết NCT
đồng bằng sông Hồng phần lớn sống với con cái 73,75% Khoảng 7% sống độcthân, tỷ lệ này khá cao ở nông thôn, phụ nữ và các cụ trên 70 tuổi Khoảng 57%sống trong hộ gia đình ba thế hệ (Bùi Thế Cường, 1999) Hơn nữa, NCT sốngchung hoặc sống riêng đều được con cái hỗ trợ về tiền bạc, lao động
Nghiên cứu “Thực trạng sức khỏe và đời sống người cao tuổi ở Hải Dương
Quảng Bình và Đắk Lắk” TS Nguyễn Thế Huệ - GĐ Trung tâm nghiên cứu Dân
số và Phát triển, Viện Khoa học Xã hội VN đăng trên Tạp chí DS & PT, số10/2004, Website Tổng cục DS - KHHGĐ (năm 2004) cũng đã làm rõ được tìnhtrạng sức khỏe của NCT, và những vấn đề cần lưu tâm Điều tra tại 3 tỉnh cho thấy
mô hình gia đình của NCT phổ biến là hai vợ chồng cao tuổi sống cùng con cháu(chiếm 45,5 %), hai vợ chồng cao tuổi sống với nhau (chiếm 31,3%), một cụ caotuổi sống với con cháu (chiếm 16 %) Tình trạng NCT sống cô đơn không nơinương tựa chiếm tỷ lệ nhỏ (6,3%) Lương hưu là một khoản thu nhập quan trọngcủa NCT, chiếm 36,5% Tuy nhiên, tỷ lệ NCT có lương hưu ở khu vực nông thôn
Trang 10còn thấp so với khu vực thành thị, 23,2% so với 49,7% Ngoài ra các khoản trợ cấpmất sức, trợ cấp xã hội ở khu vực nông thôn cũng thấp hơn Nghiên cứu mới chỉ
mô tả thực trạng sức khỏe và đời sống vật chất của NCT mà chưa tập trung chỉ ravai trò của gia đình trong việc chăm sóc sức khỏe cũng như đời sống vật chất vàtinh thần cho họ
Như vậy, có thể thấy rằng có rất nhiều nghiên cứu về sức khỏe, đời sống củaNCT Các công trình đó tiếp cận về mặt đời sống văn hóa xã hội xoay quanh NCT
từ rất nhiều góc độ khác nhau, từ tiêu cực cho đến tích cực Tuy nhiên, các nghiêncứu mới chỉ phân tích, mô tả chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu một cách toàn diện vềcông tác chăm sóc sức khỏe NCT
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu với mục đích làm sáng tỏ thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT trong các hộ gia đình tại xã Tiến Xuân huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các đặc điểm nhân khẩu xã hội và đời sống cơ bản của NCT để chỉ ra những vấn đề cấp thiết nhật của chăm sóc sức khỏe NCT trong thực tiễn
- Tìm hiểu về thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT trong các hộ gia đình ở xã Tiến Xuân hiện nay
- Tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng tới việc chăm sóc sức khỏe NCT hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp hỗ trợ công tác chăm sóc sức khỏe NCT
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi hay còn gọi là phương pháp định lượng
là phương pháp nghiên cứu chính mà chúng tôi thực hiện
Cách thức chọn mẫu: Cụ thể đề tài sẽ khảo sát thu thập thông tin từ NCT có
độ tuổi từ 60 tuổi trở lên tại xã Tiến Xuân Mẫu dự kiến: 300 bảng hỏi Trên thực tếthu về 278 bảng hỏi
5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Là sự lặp đi lặp lại của các cuộc đối thoại theo thời gian, gồm có bảng hỏimẫu nhất định và dùng bộ câu hỏi này dùng lặp đi lặp lại với nhiều đối tượng thuộcdiện nghiên cứu của dự án Bằng phương pháp PVS, các thông tin thu được có chấtlượng cao, tính chân thực và độ tin cậy của thông tin có thể kiểm nghiệm đượctrong quá trình phỏng vấn Trong đề tài này, mỗi điều tra viên sẽ tiến hành PVSvới 2 đối tượng thuộc địa bàn nghiên cứu
5.3 Phương pháp quan sát
Quan sát là loại tri giác có chủ định nhằm xác định các đặc điểm của đốitượng qua những biểu hiện như: hành động, cử chỉ, cách nói năng … Phương
Trang 12pháp quan sát cho phép điều tra viên thu thập được các tài liệu cụ thể, khách quantrong các điều kiện tự nhiên của con người
5.4 Phương pháp phân tích tài liệu
Khi nghiên cứu lý luận , chúng tôi tiến hành thu thập các tài liệu lý luận , cáckết quả nghiên cứu thực tiễn (sách, luận án, bài báo, tạp chí, công trình nghiên cứutrong và ngoài nước, ) về các vấn đề liên quan đến đề tài Các tư liệu trên đượcnghiên cứu, phân tích, tổng hợp , hệ thống hóa để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
5.5 Phương pháp thống kê toán học
Chúng tôi sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0 để xử lý cácthông tin định lượng Cụ thể như sau:
- Độ tin cậy của thang đo: Chúng tôi tính độ tin cậy bên trong của từng tiểuthang đo và của thang đo theo hệ số Cronbach’s Alpha
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục biểu đồ, danh mục bảng và kết luận, đề tàinghiên cứu bao gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2 Thực trạng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại xã Tiến Xuân huyệnThạch Thất hiện nay
Chương 3 Bất bình đẳng giữa đô thị và nông thôn trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 131.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm “Người cao tuổi”
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi Trước đây người ta
thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay kháiniệm người cao tuổi ngày càng được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuykhông khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, người cao tuổi là thuật ngữmang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng
Về mặt pháp luật: Hiện nay ở Việt Nam, theo quy định chung người cao
tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên Pháp lệnh về người cao tuổi của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội ngày 28/04/2000 quy định: Người cao tuổi theo quy định củaPháp lệnh này là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổitrở lên
Riêng về người già, chỉ có Bộ luật hình sự đề cập tới nhưng lại không hề
giải thích khái niệm Theo đó, Bộ luật hình sự quy định tình tiết “người phạm tội
là người già” là một tình tiết giảm nhẹ ( khoản 1 Điều 46), tình tiết “phạm tội đối với người già” là một tình tiết tăng nặng (điểm h khoản 1 Điều 48) Tuy nhiên, như
thế nào là người già thì Bộ luật hình sự lại không giải thích Chính vì vậy, để vận
dụng pháp luật hình sự thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành hướng dẫngiải thích khái niệm này Theo Nghị quyết số 01/2006 của Hội đồng Thẩm phánTòa án nhân dân tối cao, người già là người từ 70 tuổi trở lên
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) những người có độ tuổi từ 60 tuổi trởlên thì được gọi là Người cao tuổi Tuy nhiên, WHO khẳng định chưa có một kháiniêm nào trên thế giới đồng nhất, bởi lẽ với độ tuổi ấy ở các quốc gia khác, họchưa chấp nhận là phù hợp với hoàn cảnh thực tế đất nước
1.1.2 Sức khỏe
Theo quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giới: "Sức khỏe là tình trạng hoàn
Trang 14toàn khỏe mạnh về thể chất,tinh thần và xã hội và không đơn thuần là tình trạng không có bệnh tật hoặc không đau ốm”- WHO (1946) Tuy nhiên khái niệm này
được cho rằng mang tính lý tưởng và như vậy tỷ lệ người đạt được trạng thái hoàntoàn như vậy là không nhiều
Khái niệm sức khỏe thường được phân ra làm 2 loại: sức khỏe thể chất vàsức khỏe tinh thần
Sức khỏe thể chất: đó là tình trạng đạt được một cơ thể khoẻ mạnh , dothường xuyên có hoạt động vận động, thể dục, có chế độ dinh dưỡng tốt và nghỉngơi hợp lý Tại những quốc gia mà các thành viên được hưởng chế độ dinh dưỡnghợp lý, được cải thiện thường xuyên, có sự chăm sóc tốt và chất lượng cuộc sống
10 ổn định, chiều cao và cân nặng thường sẽ tăng Đôi khi, sức khoẻ thể chất còn
có thể được đánh giá thông qua chỉ số cơ thể BMI (body mass index)
Sức khỏe tinh thần: Đây là khái niệm có liên quan đến năng lực nhận thức
và tình cảm, hạnh phúc của cá nhân Theo tổ chức y tế thế giới, sức khỏe tinh thần
là trạng thái khỏe mạnh giúp cá nhân nhận thức được các khả năng của họ, có khảnăng đối mặt với những áp lực thông thường, có khả năng làm việc hiệu quả và cókhả năng đóng góp cho cộng đồng của họ”
1.1.3 Chăm sóc sức khỏe:
Chăm sóc sức khỏe cho NCT là phòng, chống sự già hoá quá sớm, đề phòng
và chữa trị các bệnh tuổi già bằng nhiều biện pháp khác nhau qua đó nhằm cảithiện tình trạng sức khỏe (về cả thể xác lẫn tinh thần), giảm thiểu các bệnh mãntính, tàn phế và tử vong khi bước vào tuổi già Các nhu cầu chăm sóc của NCTgồm chăm sóc sức khỏe tâm thần, tâm lý, phục hồi về thính lực và thị lực, chămsóc vệ sinh răng miệng, định hưởng đầy đủ, hợp lý và an toàn, phục hồi chức năng,nhà ở , môi trường sống và phòng, chống giảm các yếu tố nguy cơ Nhu cầu chămsóc sức khỏe là những yêu cầu cấp thiết của NCT không chỉ phụ thuộc vào ý muốnchủ quan mà còn phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng, mức độ bệnh, khoảng cách
và khả năng tiếp cận với các cơ sở chăm sóc sức khỏe của từng người
Trang 151.2 Các lý thuyết áp dụng trong đề tài
1.2.1 Lý thuyết vai trò bệnh Talcott Parsons
Lý thuyết chính đầu tiên trong xã hội học phân tích vai trò của sức khỏe vàbệnh tật trong đời sống xã hội là được đưa ra bởi nhà lý thuyết chức năng TalcottParsons (1951) trong cuốn sách ‘Hệ thống xã hội’ của ông Parsons không đồng ývới sự thống trị của mô hình y tế về sức khỏe trong việc xác định bệnh tật, tuynhiên lập luận rằng ốm không chỉ là một tình trạng sinh học, mà còn là một vai trò
xã hội (với một bộ tiêu chuẩn và các giá trị được gán cho vai trò) Parsons coi bệnhtật là một dạng hành vi lệch lạc trong xã hội, lý do là những người bị bệnh khôngthể hoàn thành các vai trò xã hội bình thường của họ và do đó đi chệch khỏi tiêuchuẩn đồng thuận
Hiện nay, NCT đối diện với gánh nặng "bệnh tật kép", thường mắc các bệnhmạn tính, bình quân mỗi NCT có ba bệnh, có chi phí điều trị lớn Hiện Việt Nam là
1 trong 10 nước có tỷ lệ già hóa dân số nhanh đã tạo những áp lực rất lớn trongviệc ban hành và thực thi những chính sách liên quan, nhất là trong việc chăm sócsức khỏe để người cao tuổi sống khỏe và sống tốt Tỷ lệ người cao tuổi tham giabảo hiểm y tế là khoảng 96% trên tổng số người cao tuổi Mặc dù tốc độ già hóadân số gia tăng nhưng khả năng cung cấp dịch vụ y tế cho người cao tuổi ở ViệtNam còn hạn chế, thiếu bác sĩ lão khoa, điều dưỡng lão khoa, thiếu nhân lực chămsóc người cao tuổi Điều này đòi hỏi những chính sách chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ
từ Đảng, Nhà nước đối với NCT
1.2.2 Lý thuyết lựa chọn duy lý của George Homans
Thuyết lựa chọn duy lý cho rằng con người luôn hành động có chủ đích, cósuy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết
Trang 16Thuyết lựa chọn duy lý coi con người là chủ thể quyết định một cách hợp lýtrong điều kiện khan hiếm nguồn lực trên cơ sở xem xét, đánh giá lợi ích kinh tếcủa từng cách lựa chọn Thuyết đòi hỏi phân tích hành động lựa chọn cá nhântrong mối liên hệ của cả tổng thể xã hội của nó, bao gồm các cá nhân khác với nhucầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và sản phẩm đầu ra của từng lựachọn cùng các đặc điểm khác nhau Do tác động của nhiều yếu tố mà hành vi của
cá nhân có thể tạo ra sản phẩm phi lý, không như mong đợi của tập thể
G.Homans chỉ ra 3 đặc trưng cơ bản của hành vi xã hội: (1)Hiện thực hóahành vi thực hiện trên thực tế chứ không phải trong ý niệm; (2) Hành vi đó phảikhen thưởng hay bị trừng phạt từ phía người khác; (3) người khác ở đây là nguồncủng cố trực tiếp đối với hành vi chứ không phải nhân vật trung gian của cấu trúc
xã hội nào đó
Áp dụng lý thuyết, giải thích hành vi khám chữa bệnh của NCT Khi đó,NCT là chr thể đưa ra quyết định một cách hợp lý trong điều kiện khan hiếmnguồn lực trên cơ sở xem xét, sau đó đánh giá lợi ích kinh tế của từng cách lựachọn Ví dụ như, NCT sẽ lựa chọn hình thức rèn luyện sức khỏe bản thân, có thểtập thể dục thể thao hoặc sử dụng thuốc bổ, NCT sẽ lựa chọn đi một mình, đi với
ai, địa điểm ở đâu Sau đó, sẽ dựa trên nguồn lực có sẵn, phân tích và xem xét,phương pháp tiết kiệm chi phí và mang lại hiệu quả cao nhất
1.2.3 Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Lý thuyết của Maslow giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầucủa con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như
nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Ông quan niệmrằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trìcuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi
trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người
Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận).
Trang 17Nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự
trọng và được người khác tôn trọng
Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách
phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năngcủa một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó
Việc áp dụng lý thuyết Nhu cầu của Maslow vào nghiên cứu Thực trạngchăm sóc sức khỏe người cao tuổi là vô cùng hợp lý Vì sau nhu cầu về sinh lýgồm các nhu cầu về ăn, mặc, ở, tình dục thì nhu cầu tiếp theo mà Maslow đề cập ởtháp nhu cầu này chính là sự an toàn Khi cuộc sống ngày càng bận rộn, thu nhậpđược nâng cao đời sống cũng vì thế mà đã cải thiện đáng kể Điều này hoàn toànhợp lý bởi nhu cầu sinh lý giúp con người có thể sống sót được, thì tiếp theo họcần một điều gì đó để đảm bảo duy trì và giúp họ an tâm hơn để phát triển.Chưa kểđến, trung bình mỗi NCT hiện nay mang trong mình đến 3 loại bệnh Vì vậy vấn
đề chăm sóc sức khỏe ở NCT cần được chú trọng hơn
1.2.4 Lý thuyết hành động xã hội
Theo Weber, hành động xã hội là hành động chủ thể gắn với một ý nghĩachủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác, vì vậy đượcđịnh hướng đến người khác, trong đường lối và quá trình của nó
M.Weber phân biệt 4 loại hành động xã hội
Hành động duy lý công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc,tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất
Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hànhđộng (mục đích tự thân) Thực chất hành động này, nhắm vào những mục đích phi
lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ, phương tiện duy lý
Trang 18Hành động cảm tính (xúc cảm): là hành động do trạng thái xúc cảm hoặctình cảm bộc phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, phân tích mối quan hệ công
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÁ TIẾN XUÂN HUYỆN THẠCH THẤT HIỆN NAY
2.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu (Xã Tiến Xuân, Huyện Thạch Thất, Hà Nội)
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xã có diện tích 34,58 km², năm 1999 mật độ dân số đạt 191 người/km² XãTiến Xuân là một xã dân tộc, miền núi thuộc Huyện Thạch Thất cách thị trấnhuyện 17 km Nhìn chung địa hình thấp từ Tây sang Đông, chia thành hai dạng địahình bán sơn địa, đồi gò và địa hình đồng bằng
2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
Xã Tiến Xuân là 1 trong 14 xã miền núi chủ yếu sản xuất nông lâm nghiệp.Nghề nghiệp chính của người dân là làm nông nghiệp, trồng lúa nước, chăn nuôigia cầm gia súc Xã có phát triển kinh tế rừng, chế biến gỗ, trồng keo, bạch đàn
- Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 là 62 triệu đồng/ người/ năm
Trang 19- Dân tộc Mường chiếm chủ yếu đến 69%, còn lại dân tộc Kinh và dân tộckhác chiếm 31%
2.1.3 Mô tả mẫu nghiên cứu
- Về giới tính của NCT: trong 278 mẫu nghiên cứu
NCT là nữ giới: chiếm 59.88 nam tổng nghiên cứu
NCT là nam giới: chiếm 40.2% tổng nghiên cứu
- Về nhóm tuổi của NCT
Nhóm tuổi 60 - 65 tuổi: chiếm 44% tổng nghiên cứu
Nhóm tuổi 66 – 71 tuổi: chiếm 25% tổng nghiên cứu
Nhóm tuổi >70 tuổi chiếm 31% tổng nghiên cứu
2.2 Đặc điểm NCT
- Số lượng mẫu khảo sát: 214 mẫu, độ tuổi từ
- Giới tính đa số là nữ chiếm 59.88%, còn lại nam chiếm 40.2%
- Dân tộc Kinh chiếm 26.6%, Mường 73%, Tày 0.4%
- Trình độ học vấn hạn chế: Mù chữ/ Tiểu học 49.58%; THCS 37.92%;THPT 11.67%; Trung cấp/ Cao đẳng/ Đại học 0.42%
- Tình trạng hôn nhân phần lớn đều có vợ/ chồng chiếm 66.8%; kế tiếp là góachiếm 30.29% và lần lượt tỷ lệ còn lại chiếm độc thân là 2.09% và ly thân 0.41%
2.3 Thực trạng NCT chăm sóc sức khỏe
2.3.1 Chăm sóc sức khỏe là vô cùng cần thiết
Ở góc độ xã hội, NCT là những người đã đóng góp công sức, nỗ lực rấtnhiều cho xã hội khi tuổi đời còn trẻ Và giờ đây, khi họ đã bước sang tuổi xế