1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7 9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN

76 599 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7-9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thận
Chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 186,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rất hay bà bổ ích !

Trang 1

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3

1.2.1 Mục đích 3

1.2.2 Yêu cầu 3

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 5

2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5

2.2.2 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam 10

2.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Thái Nguyên 15

2.3 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và ở Việt Nam 16

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngô lai trên thế giới 16

2.3.2 Nghiên cứu về một số giống ngô lai ở Việt Nam 17

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm 25

3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Nôi dung nghiên cứu 25

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 26

3.3.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26

3.3.2.2 Quy trình kĩ thuật thí nghiệm 27

3.4 Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 28

3.4.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng 28

3.4.2 Chỉ tiêu về hình thái 28

3.4.3 Chỉ tiêu sinh lý 29

3.4.4 Chỉ tiêu chống chịu 29

3.4.5 Chỉ tiêu năng suất và yếu tố cấu thành năng suất 30

Trang 2

3.5 Phương pháp phân tích số liệu 31

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Điều kiện thời tiết khí hậu vụ đông năm 2011 tại Thái nguyên và ảnh hưởng của nó đến sinh trưởng phát triển của giống ngô LVN99 32

4.1.1 Nhiệt độ 33

4.1.2 Ẩm độ 34

4.1.3 Lượng mưa 34

4.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 -9 lá đến thời gian sinh trưởng của giống ngô lai LVN99, vụ đông 2011 35

4.2.1 Giai đoạn từ gieo đến mọc 36

4.2.2 Giai đoạn từ gieo đến trỗ 37

4.2.3 Giai đoạn gieo đến tung phấn và phun râu 37

4.2.4 Thời gian sinh trưởng 38

4.3 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 -9 lá đến Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống ngô LVN99, vụ đông 2011 39

4.4.1 Chiều cao cây 41

4.4.2 Chiều cao đóng bắp 42

4.4.3 Số lá trên cây 42

4.4.4 Chỉ số diện tích lá 43

4.4.5 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của giống ngô lai LVN99, vụ đông 2011 43

4.4.5.1 Trạng thái cây 44

4.4.5.2 Độ bao bắp 44

4.4.5.3 Trạng thái bắp 44

4.5 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến đặc tính chống chịu của giống ngô lai LVN99, vụ đông 2011 45

4.5.1 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến khả năng chống đổ của giống ngô lai LVN99, vụ đông 2011 45

4.5.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến khả năng chống chịu sâu bệnh ở thời kỳ 7 - 9 lá của giống ngô LVN99 trong các công thức thí nghiệm phân đạm 45

4.5.2.1 Sâu đục thân 46

4.5.2.2 Sâu cắn râu 47

Trang 3

4.5.2.3 Bệnh khô vằn 47

4.6 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô lai LVN99, vụ đông 2011 48

4.6.1 Số bắp trên cây 49

4.6.2 Chiều dài bắp 49

4.6.3 Đường kính bắp 50

4.6.4 Số hàng trên bắp 50

4.6.5 Số hạt trên hàng 50

4.6.6 Khối lượng 1000 hạt 51

4.6.7 Năng suất lý thuyết (NSLT) 51

4.6.8 Năng suất thực thu (NSTT) 51

4.7 Hoạch toán kinh tế 52

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.1.1 Về khả năng sinh trưởng 53

5.1.2 Khả năng chống chịu 53

5.1.3 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 53

5.1.4 Hoạch toán kinh tế 53

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 58

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CIMMYT International Maize and Wheat inprovementcentre

(Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa Mỳ Quốc Tế)

CSDTL Chỉ số diện tích lá

CV Coefficient of variation

(Hệ số biến động)FAO Food Agriculture Oganization

(Tổ chức Nông Lương Thực)LSD Leat significant difference

(Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa)NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

USA Unitead State Depatment of Agriculture

(Bộ Nông Nghiệp Mỹ)

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ, lúa nước của thế

giới giai đoạn 2004 - 2010 6

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2010 7

Bảng 2.3 Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020 9

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1975 - 2010 11

Bảng 2.6.Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2010 .15

Bảng 2.7 Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn sinh trưởng .21

Bảng 3.1 Các công thức thí nghiệm và thời kỳ bón đạm 26

Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu vụ ngô đông 2011 tại Thái Nguyên .32

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến thời gian sinh trưởng của giống ngô lai LVN99, vụ đông 2011 36

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 -9 lá đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống ngô LVN99, vụ đông 2011 39

Bảng 4.4 Đặc điểm về hình thái và sinh lý của giống ngô LVN99 trong các công thức thí nghiệm 41

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của giống ngô lai LVN99, vụ đông 2011 44

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến khả năng chống đổ của giống ngô LVN99 trong các công thức thí nghiệm .45

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến tỷ lệ nhiễm sâu, bệnh của giống ngô LVN99 trong các công thức thí nghiệm 46

Bảng 4.8 Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 49

Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm đối với giống ngô LVN99 tại vụ đông năm 2011 52

Trang 6

Vào cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng về ngô lai đã tạo nên các thànhtựu kỳ diệu ở các châu lục, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Ý

Đi đôi với việc áp dụng ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống, những tiến

bộ về kỹ thuật canh tác tiên tiến như cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá, bảo vệ thựcvật, cũng được áp dụng kịp thời để khai thác tối đa ưu thế của giống ngô lai.Ngô lai đã được coi là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất trong việcphát triển nông nghiệp thế giới của thế kỷ XX

Vai trò của ngô trước hết phải nói đến đó là nguồn lương thực nuôisống gần 1/3 dân số thế giới Tất cả các nước trồng ngô nói chung đều ăn ngô

ở mức độ khác nhau Ngô là lương thực chính của người dân khu vực ĐôngNam Phi, Tây Phi, Nam á và là thành phần quan trọng nhất trong thức ăn chănnuôi Hầu như 70% chất tinh trong chăn nuôi được tổng hợp từ ngô, 71% sảnlượng ngô trên thế giới được dùng cho chăn nuôi Ở các nước phát triển phầnlớn sản lượng ngô được sử dụng cho chăn nuôi: Mỹ 76%, Bồ Đào Nha 91%,Italia 9%, Croatia 95%, Trung Quốc 76%, Thái Lan 96%, (Ngô Hữu Tình,2003) [10]

Ngô được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biếnthực phẩm, tạo ra cồn, rượu, bia, tinh bột, bánh kẹo Người ta đã sản xuất rakhoảng trên 670 loại sản phẩm từ ngô bằng công nghiệp lương thực, thựcphẩm, công nghiệp nhẹ và dược phẩm (Ngô Hữu Tình, 1997) [8]

Trang 7

Từ những nhận thức về vai trò của cây ngô trong nền kinh tế thế giới nóichung và nền nông nghiệp Việt Nam nói riêng, Đảng và Nhà nước ta đã cónhững chính sách và phương hướng đúng đắn cho công tác nghiên cứu khoahọc, tiếp thu những thành tựu của thế giới với mục đích duy trì diện tích, độtphá về năng suất và tăng nhanh sản lượng.

Ngô được đưa vào trồng ở nước ta khoảng 300 năm trước đây Hiện nay

ở một số vùng miền núi, ngô là cây lương thực chủ yếu Diện tích trồng ngô đã

có bước tăng nhanh từ sau năm 1995 và năm 2010 trên cả nước ngô được trồngkhoảng 800 ha Về năng suất những năm trước đây, bình quân cả nước chỉ đạtdưới 20 tạ/ha hạt Từ sau những năm 90 năng suất tăng dần lên và đến nay đãđạt gần 30 tạ/ha Do diện tích và năng suất ngô đều tăng cho nên đến nhữngnăm cuối thế kỷ XX sản lượng ngô nước ta đã đạt gần 2 triệu tấn hàng năm Tuy nhiên năng suất trồng ngô ở nước ta vẫn chưa cao và chưa ổn định

so với các nước trong khu vực, giá thành cao hơn nhiều so với các nước trênthế giới Lượng ngô dùng cho chăn nuôi còn chưa được đáp ứng đủ Để gópphần làm giảm những hạn chế trên cần xác định đúng những giống ngô lai mới

có năng suất cao, thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của từng vùng, cần hiểu

rõ mối quan hệ giữa các yếu tố sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thànhnăng suất với năng suất để có những hướng cụ thể từ khi chọn vật liệu lai tạogiống đến sử dụng các biện pháp canh tác phù hợp, phát huy tối đa tiềm năngcủa từng giống, tại mỗi vùng sinh thái

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh

hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7 - 9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ Đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN“.

Trang 8

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Xác định ảnh hưởng của liều lượng đạm bón vào thời kỳ 7 - 9 lá đếnsinh trưởng và năng suất của ngô Trên cơ sở đó đề xuất mức đạm thích hợpnhằm tăng năng suất cho giống ngô LVN99 tại trường ĐHNL Thái Nguyên

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Giúp cho sinh viên củng cố được những kiến thức đã học, đồng thờigắn liền với thực tiễn giúp cho mỗi sinh viên nâng cao được chuyên môn,nắm được phương pháp và tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộkhoa học kĩ thuật vào sản xuất

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Góp phần tìm ra lượng đạm bón thích hợp ở giai đoạn 7 - 9 lá cho giốngngô LVN99 được trồng ở Thái Nguyên

Trang 9

Phần 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cây ngô có những đóng góp to lớn cho con người, bởi cây ngô cũngđược con người chọn làm đối tượng và đầu tư nghiên cứu toàn diện, đặc biệt

về di truyền, chọn tao giống và các biện pháp thâm canh Đầu thế kỉ 20 đánhdấu một bước ngoặc lịch sử trong nghề trồng ngô với sự xuất hiện của ngô lai

- một tiến bộ kĩ thuật thành công nhất trong việc ứng dụng thuyết ưu thế laivào sản xuất Các nhà khoa học đã thành công trong việc lai tạo ra nhữnggiống ngô lai mới có năng suất cao, chất lượng tốt Đặc biệt là những giốngngô lai mới có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuậnnhư hạn, rét, mật độ dầy, sâu bệnh,…

Đạm là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng nhất, đóng vai trò tạo năngsuất và chất lượng Đạm được tích luỹ trong hạt 66% Cây ngô hút đạm tăngdần từ khi cây có 3-4 lá tới trước trổ cờ Ở nước ta, một số kết quả nghiên cứucho thấy thời kỳ hút đạm mạnh nhất là 6-12 lá và trước khi trổ cờ, nếu cácgiai đoạn này mà thiếu đạm thì năng suất giảm rõ rệt Triệu chứng thiếu đạm:cây thấp, lá nhỏ có màu vàng, các lá già có vệt xém đỏ, cây sinh trưởng chậm,cằn cỗi, cờ ít, bắp nhỏ, năng suất thấp

Cây ngô cần đạm ngay từ ban đầu, tức là ngay khi cây nảy mần cây ngôcần lượng đạm rất nhỏ nhưng rất quan trọng Nhịp độ hút đạm lớn dần đến lúctrỗ cờ, sự hút đạm của cây ngô kéo dài đến khi hạt chín Có thể phân tíchlượng đạm trong lá để đánh giá hiệu quả cung cấp đạm và khả năng cho năngsuất của ngô Giống ngô LVN99 là giống ngô lai mới do viện nghiên cứu ngôchọn tạo Đây là giống ngô lai có khả năng chịu hạn, có khả năng sinh trưởng,phát triển tốt và có tiềm năng cho năng suất cao, thích hợp cho sản xuất tạicác tỉnh trung du miền núi phía Bắc

Do nhu cầu về thị trương ngô ngày càng tăng không chỉ ở trong nước

mà cả trên thế giới nên việc nâng cao năng suất chất lượng ngô là một bàitoán khó đang đi tìm lời giải Đã có rất nhiều giải pháp mới được đưa ra đểgiải quyết vấn đề trên như lai tạo giống mới, nghiên cứu tăng mật độ trồng

Trang 10

trên một diện tích,… nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn bởinếu chỉ có giống tốt, mật độ trồng hợp lý, điều kiện ngoại cảnh thích hợp màkhông có một chế độ canh tác hợp lý thì sẽ không mang lại hiệu quả cao.

Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và yêu cầu thực tiễn chúng tôi đã tiếnhành nghiên cứu đề tài này

2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

Ngô là cây trồng nhiệt đới, được trồng phổ biến trong khoảng vĩ độ 30-55.Ngô thích hợp với thời tiết ấm, nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn sinh trưởngmạnh là từ 21-27oC Khi nhiệt độ dưới 19oC ngô sinh trưởng phát triển chậm lại.Lượng mưa thích hợp nhất cho ngô trong khoảng 600-900 mm/năm Ngô là cây

có thể trồng được nhiều vụ trong năm, nước ta trồng vụ đông xuân và hè thu ởmiền Nam, vụ xuân, vụ đông ở miền Bắc Cây ngô không kén đất, do vậy có thểtrồng được trên nhiều loại đất khác nhau, song thích hợp nhất là đất trung tính(pH từ 6,0-7,2), tơi xốp, thoát nước tốt, giàu mùn và dinh dưỡng

Ngô là cây lương thực nuôi sống gần 1/3 số dân trên toàn thế giới Bêncạnh giá trị lương thực, cây ngô còn là cây thức ăn cho gia súc quan trọng 70 %chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô Cây ngô còn là thức ăn xanh và ủchua rất tốt cho chân nuôi gia súc lớn, đặc biệt là bò sữa

Những năm gần đây cây ngô còn là loại cây thực phẩm được ưachuộng Người ta dùng bắp ngô bao tử để làm rau cao cấp Đây là loại rau cóhàm lượng chất dinh dưỡng cao và không có dư lượng các hóa chất bảo vệthực vật Các loại ngô nếp, ngô đường được dùng để luộc, nướng hoặc đónghộp làm đồ hộp Ngoài ra, ngô còn là nguyện liệu của nhà máy sản xuất rượu,cồn, tinh bột, dầu, bánh kẹo và đặc biệt là sản xuất ra ethanol để sản suất xăngsinh học

Hiện nay trên thế giới hàng năm sản xuất trên 600 triệu tấn ngô hạt,trong đó, khoảng gần 100 triệu tấn được xuất khẩu Ngô được sử dụng chủyếu làm thức ăn cho gia súc Ở một số nước sản lượng ngô dùng làm thức ăngia súc chiếm trên 90 %

Chính vì ngô có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế cho nênrất nhiều nước trên thế giới đã quan tâm đẩy mạnh nghiên cứu phát triển sản

Trang 11

xuất ngô Trong những năm gần đây nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất nên cây ngô đã không ngùng nâng cao về diện tích, năngsuất cũng như sản lượng.

Trên thế giới hiện nay có khoảng 75 nước trồng ngô bao gồm cả cácnước phát triển và đang phát triển, mỗi nước trồng ít nhất khoảng 100.000 hangô Trong 25 nước sản xuất ngô hàng đầu thế giới đang thì có 8 nước pháttriển, 17 nước đang phát triển Có khoảng 200 triệu nông dân trồng ngô trêntoàn cầu, 98% là nông dân ở các nước đang phát triển Mặc dù diện tích trồngngô của Châu á nhỏ hơn Châu Mỹ La Tinh nhưng 75% số người trồng ngô là

ở châu á, 15 - 20 % ở châu phi và 5% ở mỹ la tinh (FAOSTAT, 2009) [33].Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học về các lĩnhvực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, điện khí hóa

và tin học… vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình, 1997) [8]

Do vậy diện tích, năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ, lúa nước của thế

giới giai đoạn 2004 - 2010

ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tấn/

ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tấn/

ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 12

Số liệu bảng 2.1 cho thấy: Ngành sản xuất ngô trên thế giới tăng liêntục về diện tích, năng suất và sản lượng từ đầu thế kỉ 20 đến nay Năm 2010diện tích ngô đã vượt qua lúa nước, với 162,3 triệu ha, năng suất là 5,06tấn/ha và sản lượng đạt kỉ lục là 820,6 triệu tấn trong hơn 40 năm qua, ngô làcây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lươngthực chủ yếu So với năm 2004, và năm 2010, năng suất ngô trung bình củathế giới tăng thêm 0,16 tấn/ha (hơn 4,9 tấn/ha lên đến 5,06 tấn/ha), lúa nướctăng 0,3 tấn/ha (từ 4 tấn/ha lên 4,3 tấn/ha), còn lúa mỳ thêm 0,01 tấn/ha (từ2,9 lên 2,91 tấn/ha) (FAOSTAT, 2010; USDA,2011 [34] [40].

Trong công tác cải tạo giống cây trồng trên cơ sở ưu thế lai, ngô lai làmột thành công kỳ diệu của nhân loại Nhờ sử dụng giống ngô lai và kỹ thuậttrồng trọt tiên tiến mà năng suất ngô trên thế giới đã tăng 1,83 lần trong vòng

30 năm (1960-1990), nhất là các nước có điều kiện thâm canh như Mỹ, TrungQuốc, Brazil Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới được trìnhbày ở bảng 2.3

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2010

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 13

Mỹ là một nước có sản xuất ngô lớn nhất thế giới, chiếm hơn 40% tổngsản lượng ngô thế giới Theo Rinke.E (1979) [38] việc sử dụng các giống ngôlai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930 Hiện nay 100% diện tích ngô của Mỹ là trồngcác giống ngô lai trong đó hơn 90% là giống ngô lai đơn (Ngô Hữu Tình,2009) [11] Nhiều thí nghiệm ở Mỹ về các giống ngô lai đơn đã cho năng suấtđạt 25 tấn/ha/vụ Người ta tính được mức độ tăng năng suất ngô ở Mỹ tronggiai đoạn 1930 - 1986 là 103 kg/ha/năm, trong đó sự đóng góp do cải tiến nền

di truyền là 63 kg/ha/năm Vào cuối thế kỷ 19 Mỹ đã có 770 giống ngô cảilượng (Duvick D.N, 1990) [29] Trong thời gian gần đây, nếu như phần lớncác nước phát triển năng suất ngô tăng không đáng kể, thì năng suất ngô ở Mỹlại có sự tăng đột biến

Trung Quốc là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích trồng ngôtheo dự báo, sản lượng ngô năm 2010 - 2011 của Trung Quốc sẽ tăng 7,1% sovới năm 2009, và vượt kỷ lục 163,12 triệu tấn năm 2009 Do có trình độ khoahọc kỹ thuật và thâm canh cao nên Israel là nước đứng đầu về năng suất với16,23 tấn/ha, năng suất ngô thấp nhất là Ấn Độ (2,06 tấn/ha) Trong sản xuấthiện nay có sự khác biệt rõ ràng về năng suất giữa các nước phát triển và cácnước đang phát triển Năng suất ngô trung bình của các nước phát triển là 7,8tấn/ha, các nước đang phát triển là 2,7 tấn/ha Hai nguyên nhân chính dẫn đến

sự chênh lệch này là:

- Tỷ lệ sử dụng giống ngô lai khác nhau trong sản xuất Ở các nướcphát triển 90-100% diện tích ngô được trồng bằng các giống lai có ưu thế laicao, trong khi đó các nước đang phát triển diện tích trồng giống ngô lai rấtthấp (37% diện tích) chủ yếu là trồng các giống thụ phấn tự do (63% diệntích) (CIMMYT, 1991-1992) [27]

- Khả năng đầu tư và trình độ thâm canh của người sản xuất

Theo dự báo của viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới, năm 2020tổng nhu cầu ngô của thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lươngthực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho côngnghiệp Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% sản lượng ngô làm lương thực.Nhưng ở các nước đang phát triển ngô sử dụng làm lương thực chiếm 22%(IPRI,2003), (Trần Hồng Uy và cs, 2002) [20]

Trang 14

Bảng 2.3 Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020

(triệu tấn)

Năm 2020 (Triệu tấn) % Thay đổi

Trang 15

tới kết luận: "Chiều cao cây ở dạng ngô giao phối cao hơn 19% và chín sớmhơn 9% so với dạng ngô tự phối" (Hallauer và Miranda, 1981) [30] Ngô làcây điển hình nhất về sự thành công trong ứng dụng ưu thế lai - một thành tựukhoa học nông nghiệp cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới Ngô lai đãlàm thay đổi không những bức tranh cây ngô trong quá khứ mà còn làm thayđổi kế hoạch của các nhà hoạch định kinh tế, kỹ thuật và quản lý Công tácnghiên cứu lai tạo giống ngô mới hiện nay cũng đang bước sang giai đoạnmới, hứa hẹn nhiều triển vọng nhờ vào sự hiểu biết sâu sắc hơn và sự hỗ trợtốt hơn của khoa học kỹ thuật tiên tiến.

2.2.2 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam

Năng suất ngô Việt Nam 1960 - 1970 đạt 0,8 - 1,0 tấn/ha, với diện tíchchưa đến 300 ha; đến đầu những năm 1980 năng suất cũng chỉ đạt khoảng 1,1tấn/ha và sản lượng hơn 400.000 tấn, do vẫn trồng các giống ngô địa phươngnăng suất thấp với kĩ thuật canh tác lạc hậu Từ năm 1980, nhờ hợp tác vớitrung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến

đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng cao năng suất lên gần 1,55tấn/ha vào năm 1990 Ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiếnnhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay do không ngừng mở rộng diệntích trồng ngô lai trong sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kĩ thuậtcanh tác đáp ứng theo nhu cầu của giống mới Năm 1991, diện tích trồng ngôlai chỉ chiếm chưa đến 1% trong 430 nghìn ha thì năm 2005, giống ngô lai đãchiếm khoảng 90% diện tích trong hơn 1 triệu ha ngô của cả nước, trong đógiống được cung cấp do các cơ quan nghiên cứu trong nước chọn tạo và sảnxuất chiếm khoảng 50% - 55%, còn lại là của các công ty hạt giống ngô laihàng đầu thế giới Một số giống ngô lai được dùng chủ yếu ở vùng núi hiệnnay như LVN99, LVN4, LVN61, DK888, DK999, B9698, NK54, NK4300,NK66, NK67, VN8960,…

Trang 16

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1975 - 2010

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sảng lượng (nghìn tấn)

Đạt được kết quả đó một phần do chính sách đầu tư đúng đắn của nhànước cho nghiên cứu khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật.Các nhà khoa học Việt Nam đã tạo ra nhiều giống ngô lai mới đưa vào sảnxuất, tự túc được một phần hạt giống ngô lai, tiết kiệm nguồn ngoại tệ cho đấtnước Các giống ngô lai có năng suất cao hơn các giống ngô địa phương, lợinhuận do mức tăng sản lượng của ngô lai đã đem lại cho quốc gia hàng nghìn

tỷ đồng mỗi năm Một thành tựu Việt Nam đạt được đó là việc áp dụng cácbiện pháp kỹ thuật trồng ngô vụ đông trên nền đất ướt đã mở ra hướng cơ cấucây trồng mới cho khu vực đồng bằng Bắc Bộ, mỗi năm tăng khoảng 200.000

Trang 17

tấn ngô đáp ứng nhu cầu lương thực cho người và thức ăn cho chăn nuôi Nhờquy trình sản xuất ngô đông trong hệ thống canh tác 3 vụ trên đất 2 lúa ở đồngbằng Bắc Bộ mà diện tích ngô vụ đông năm 1992 - 1993 đạt 8.500 ha Bêncạnh đó, các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến khác được áp dụng trongsản xuất đã tiết kiệm chi phí đầu vào và tăng thu nhập cho nông dân.

Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất ngô đã đạtđược kết quả đáng khích lệ Công tác chọn tạo, so sánh, khảo nghiệm nghiêncứu ảnh hưởng của các liều lượng phân bón được tiến hành thường xuyên kếthợp với những tiến bộ của các ngành khoa học khác như công nghệ sinh học,công nghệ thông tin,… đã tạo ra rất nhiều giống ngô có năng suất cao, phẩmchất tốt phù hợp với điều kiện nước ta phục vụ cho nhu cầu sử dụng của nôngdân trong cả nước

Nhờ làm chủ được công nghệ lai tạo chúng ta đã tạo ra các giống mớicho năng suất cao, ổn định trong sản xuất với chất lượng tốt, quan trọng là giáthành chỉ bằng 1/2 - 1/3 giống của các công ty nước ngoài Như vậy sản xuấtngô Việt Nam nói chung và công tác giống nói riêng đã đang được chiếm ưuthế cạnh tranh trên thị trường Diện tích ngô lai năm 2007 chiếm khoảng 95%tổng diện tích trồng ngô cả nước Phương thức trồng ngô thâm canh đã thaythế dần trồng ngô quảng canh Chính yếu tố này đã tạo ra sự tăng trưởng cótính đột biến về sản lượng ngô ở các vùng trọng điểm

Mặc dù sản xuất ngô ở nước ta trong những năm gần đây được nhànước quan tâm đầu tư song cây ngô ở Việt Nam vẫn chưa phát huy được hếttiềm năng vốn có của nó Sản lượng ngô hàng năm có tăng nhưng vẫn chưađáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước Hàng năm nước ta vẫn phải nhậpkhẩu ngô hạt cho chăn nuôi Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triểnnông thôn diện tích trồng ngô của Việt Nam là 1,1 triệu ha, năng suất bìnhquân đạt 40,9 tạ/ha, sản lượng 4,6 triệu tân (năm 2010) Từ đầu năm 2011 đếnnay, giá thứ ăn chăn nuôi đã tăng 5 lần, tình bình quân 3 tháng đầu năm 2011,giá thức ăn chăn nuôi đã tăng gần 80% so với năm 2009 và 35,5% so với năm

2010, hiện giá ngô là 7.300 đồng/kg, tăng 35,5% so với năm 2010 Hiện trongnước có đến 241 nhà máy sản xuất thứ ăn chăn nuôi, trên thực tế nguồnnguyên liệu cho các nhà máy này sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào nhập

Trang 18

khẩu Hiện tại, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 60% nguyên liệu thức

ăn chăn nuôi Dự báo, nhu cầu nguyện liệu cho ngành thức ăn chăn nuôi trongnước vẫn tiếp tục tăng cao trong những năm tới và nhu cầu nhập khẩu vẫn lêntới từ 8 - 10 triệu/tấn Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sản lượngkhông đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng Trong khi đó ngô ngoại nhập có chấtlượng cao, giá thành hợp lý Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và PTNT mặtbằng giá thức ăn nông nghiệp sản xuất trong nước cao hơn khu vực khoảng từ

10 - 12% và nhu cầu thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam sẽ tăng lên tới gần 19triệu tấn vào năm 2015

Theo tổng cục Hải quan Việt Nam, trước 1996, Việt Nam là nước xuấtkhẩu ngô (khoảng 250.000 tấn) Từ 1997, Việt Nam trở thành nước nhập khẩungô (50.000 tấn năm 2001 và trên 300.000 tấn năm 2002) Giá trị nhập khẩu

là 51,6 triệu đôla (2003), 17 triệu đôla (2004) Hiện nay ngô chủ yếu được sửdụng cho thức ăn chăn nuôi với nhu cầu tăng liên tục Kế hoạch cho năm

2010 là mở rộng diện tích lên 1,2 triệu ha với năng suất trung bình 4,5 - 5,0tấn/ha và tổng sản lượng là 5,5 - 6,0 triệu tấn

Tuy nhiên với việc giá nhiên liệu tăng thì giá ngô nhập về Việt Namtương đương giá ngô sản xuất trong nước Như vậy, nếu Việt Nam không thayđổi phương thức sản xuất, không chủ động thực hiện các biện pháp đồng bộ,chiến lược thì lượng ngô nhập khẩu ngày càng tăng

* Khó khăn trong sản xuất ngô của Việt Nam

- Năng suất ngô của nước ta còn thấp so với năng suất ngô trung bìnhcủa thế giới (năm 2008 năng suất ngô của Việt Nam đạt 40,2 tạ/ha, bằng78,7% năng suất ngô thế giới), năng suất thực tế thấp hơn nhiều so với tiềmnăng, giá thành sản xuất ngô còn cao, cạnh tranh gay gắt giữa ngô và các câytrồng khác

- Khí hậu toàn cầu đang biến đổi phức tạp, đặc biệt là hạn hán, lũ lụtngày càng nặng nề hơn, nhiều sâu bệnh hại mới xuất hiện, sản xuất ngô ởnhiều nơi đang gây nên tình trạng xói mòn, rửa trôi đất

- Các giống ngô thực sự chịu hạn và các điều kiện bất thuận khác nhưđất xấu, chua phèn, kháng sâu bệnh, có thời gian sinh trưởng ngắn đồng thờicho năng xuất cao và ổn định… nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả canh

Trang 19

tác cho người sản xuất vẫn chưa nhiều Đặc biệt các biện pháp kỹ thuật canhtác, mặc dù đã được cải thiện nhiều song vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi củagiống mới.

* Định hướng phát triển ngô ở Việt Nam

Ngô là một trong những cây lương thực có giá trị kinh tế quan trọng, vìvậy Đảng và Nhà nước ta đã xác định được tầm quan trọng của cây ngô và đề

ra phương hướng sản xuất ngô năm 2011 phải đạt được 5,6 - 6 tấn trên diệntích 1,2 triệu ha

- Định hướng tăng diện tích: Tăng diện tích vụ Xuân trên đất bỏ hóa ở cáctỉnh miền núi phía Bắc Tăng diện tích vụ 2 (Thu - Đông) ở các tỉnh Tây Bắc,Tây Nguyên, Đông Nam Bộ Tăng diện tích vụ Đông ở các tỉnh Đồng BằngSông Hồng và Bắc Trung Bộ Chuyển một số diện tích cây trồng khác kém hiệuquả sang trồng ngô (lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cà phê ở Tây Nguyên)

- Định hướng tăng năng suất: Mở rộng diện tích trồng ngô lai, tăng tỷ lệgiống ngô lai trong sản xuất lên 85 - 90% Tạo ra những giống lai mới ưu việthơn (ngắn ngày, có khả năng chống chịu tốt, năng suất cao, chất lượng tốt).Đầu tư cho một số khâu trong biện pháp kỹ thuật trồng trọt như phân bón,tưới nước, phòng trừ sâu bệnh… để tăng năng suất ngô

- Kết hợp các phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học trongtạo dòng, đánh giá dòng và xác định cặp lai (tạo dòng bằng nuôi cấy baophấn, noãn chưa thụ tinh, chọn dòng bằng maker phân tử…) bước đầu nghiêncứu công tác chuyển gen trong tạo giống

- Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô thụ phấn tự do cho những vùngkhó khăn, chú ý phát triển các giống có đặc điểm tốt tại địa phương (ngô đáđịa phương, nếp lù,…) để làm lương thực và tiêu thụ tươi

- Nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu theo định hướng tạo giống: Tạo quầnthể theo nhóm ưu thế lai, tạo dòng thế hệ mới,…

- Cập nhật thông tin, trao đổi vật liệu, tài liệu và kinh nghiệm thông quahợp tác quốc tế

- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học tiên tiến, ứng dụng nhanh

và hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ sinh học và

Trang 20

công nghệ thông tin trong nghiên cứu, đánh giá sản phẩm một cách nhanhchóng, chính xác Tăng cường trang thiết bị phục vụ trong công tác nghiên cứu.

2.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là tỉnh miền núi Trung du Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên3.562.82 km2, dân số hiện nay khoảng 1.046.000 người chiếm 1,13% diện tích

và 1,41% dân số so với cả nước

Với điều kiện đất đai phức tạp gây cản trở lớn trong việc sản xuất ngôcủa tỉnh Đại đa số các huyện còn nghèo nàn, cơ sở vật chất, trình độ thâmcanh còn thấp Điều kiện tự nhiên phức tạp, hệ thống thuỷ lợi còn chưa đápứng được nhu cầu nước tưới cho nên sản xuất nông nghiệp nói chung và sảnxuất ngô nói riêng còn nhiều hạn chế

Từ 1995 trở về trước, sản xuất ngô ở Thái Nguyên chủ yếu dùng cácgiống cũ, giống địa phương có thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp Saumột thời gian với sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địaphương, có sự tham gia tích cực của đội ngũ các nhà khoa học, diện tích trồngngô lai ngày càng tăng, thay thế dần các giống ngô địa phương Đến nay diệntích trồng ngô lai tăng mạnh, chiêm trên 90% diện tích mang lại năng suất,sản lượng vượt trội trong sản xuất

Bảng 2.6.Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2010

Trang 21

Qua bảng 2.6 cho thấy diện tích, năng suất, sản lượng ngô đều tăngđáng kể Diện tích trong giai đoạn này tăng khá nhanh từ 9,7 lên 17,9 nghìn

ha Nhìn chung, năng suất ngô của tỉnh trong 10 năm gần đây đều tăng Năngsuất ngô tăng 0,77 tạ/ha/năm Sản lượng ngô tăng từ 29,7 nghìn tấn năm 2001lên 75,4 nghìn tấn năm 2010 (tăng 45,7 nghìn tấn/năm) Sản lượng ngô tăngchậm là do diện tích đất trồng ngô ở nhiều vùng ở Thái Nguyên bị thu hẹp,một số nơi chuyển sang trồng các cây công nghiệp khác, năng suất lại tăngchậm Năm 2008 diện tích, năng suất và sản lượng đều tăng lên đáng kể

Từ những kết quả thống kê trên cho thấy những năm tiếp theo diện tíchtrồng ngô của tỉnh có xu hướng ổn định Tuy nhiên năng suất ngô vẫn tiếp tụctăng lên không ngừng

2.3 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và ở Việt Nam

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngô lai trên thế giới

Trong quá trình nghiên cứu và sản xuất hiện tượng ưu thế lai ở cây ngôđược các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm Thực hành tạp giao đầu tiên ởngô với mục đích nâng cao năng suất hạt có lẽ là John Lorain, năm 1812 ông

đã nhận thấy rằng việc trộn lẫn các loài ngô khác nhau như người da đỏ đãlàm sẽ cho năng suất ngô cao Tuy nhiên người đầu tiên đưa ra lý thuyết vềhiện tượng ưu thế lai là Charles Darwin vào năm 1871 Bằng cách nghiên cứuhàng loạt các cá thể giao phối và tự phối ở nhiều loài khác nhau như đậu đỗ,ngô, ông nhận thấy sự hơn hẳn của các cây giao phấn với các cây tự thụ phấn

về chiều cao, tốc độ nẩy mầm của hạt, số quả trên cây và cả sức chốngchịu với điều kiện bất thuận và năng suất hạt Sử dụng ưu thế lai trong tạogiống ngô lai được nhà nghiên cứu Wiliam, Janes Beal người Mỹ bắt đầunghiên cứu từ năm 1876, Ông thu được những cặp lai hơn hẳn các giống bố

mẹ về năng suất từ 10 - 15% Shull là nhà khoa học dẫn chứng và nêu kháiniệm về ưu thế lai khá hoàn chỉnh trên ngô Năm 1904 ông đã tiến hành tự thụcưỡng bức ở ngô để thu được các dòng thuần và tạo ra các giống lai từ cácdòng thuần này Năm 1913, nhà khoa học này đã chính thức đưa ra thuật ngữ

“Heterosis“để chỉ ưu thế lai, những công trình nghiên cứu về ngô lai củaShull đã đánh dấu bắt đầu thực sự của chương trình chọn tạo giống ngô(Hallauer, 1988)[31]

Trang 22

Ngoài Shull, các nhà khoa học người Mỹ như East, Heyes cũng đãnghiên cứu ưu thế lai ở ngô Từ năm 1918, khi Jones đề xuất sử dụng lai képtrong sản xuất để giảm giá thành hạt giống thì việc áp dụng ưu thế lai vàotrồng trọt, chăn nuôi được phát triển nhanh chóng Ngô lai đơn đã đem lạinăng suất và lợi nhuận cao cho người trồng ngô Nhờ việc sản xuất lượnglớn hạt giống với giá thành hạ nên đã tạo điều kiện cho cây ngô lai phát triểnmạnh mẽ ở Mỹ và các nước có kỹ thuật trồng ngô tiên tiến trên thế giới.Năm 1966, Trung tâm cải tiến ngô và lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT) đượcthành lập tại Mêxicô Nhiệm vụ của Trung tâm là nghiên cứu và đào tạo vềngô, lúa mỳ tại các nước đang phát triển Trung tâm đã đưa ra giải pháp làtạo giống ngô thụ phấn tự do (OPV), làm bước chuyển tiếp ngô địa phương

và ngô lai Hơn 30 năm hoạt động Trung tâm đã góp phần đáng kể vào việcxây dựng, phát triển và cải tiến hàng loạt vốn gen, quần thể và giống ngôtrên 80 quốc gia trên thế giới Dòng thuần là nguyên liệu được sử dụng trongchọn tạo giống ngô lai cũng được chú trọng, theo điều tra của Bauman năm

1981, ở Mỹ các nhà tạo giống đã sử dụng 15% quần thể có nguồn di truyềnrộng, 16% từ quần thể có nền di truyền hẹp, 14% từ quần thể của các dòng

ưu tú, 39% từ tổ hợp lai của các dòng ưu tú và 17% từ quần thể hồi giao đểtạo dòng (Bauman,1981) [26]

2.3.2 Nghiên cứu về một số giống ngô lai ở Việt Nam

Việt Nam tiếp cận với ngô lai không phải là muộn, ngay từ những năm

60 chúng ta đã có những nghiên cứu về chọn tạo và sử dụng ngô lai vào sảnxuất Song do vật liệu khởi đầu của chúng ta còn nghèo nàn và không phùhợp, vì vậy ngô lai đã không phát huy được vai trò của nó Phải đến nhữngnăm đầu của thập kỷ 90 công tác chọn tạo giống ngô lai được các nhà khoahọc coi là nhiệm vụ chiến lược chủ yếu Góp phần đưa nghề trồng ngô nước

ta đứng vào hàng ngũ những nước tiên tiến ở Châu Á Trong những năm

1992 - 1994, Viện nghiên cứu ngô đã lai tạo ra các giống ngô lai không quyước là: LS-5, LS-6, LS-7, LS-8 Bộ giống ngô lai này gồm những giống chínsớm, chín trung bình và chín muộn, có năng suất từ 3-7 tấn/ha và đã được mởrộng trên phạm vi toàn quốc, mỗi năm diện tích gieo trồng trên 80.000 ha tăngnăng suất 1 tấn/ha so với giống thụ phấn tự do (Trần Hồng Uy, 1997) [19]

Trang 23

Trong giai đoạn từ 1996 đến 2002 các nhà chọn tạo giống ngô ViệtNam đã chú trọng đến việc tạo dòng thuần để tạo giống ngô lai Kết quả lànhiều giống ngô lai năng suất cao được khảo nghiệm ở các vùng sinh tháikhác nhau như: LVN4, LVN10, LVN17, LVN20, LVN25 Viện khoa học

Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam trong giai đoạn này cũng nghiên cứu và laitạo ra giống ngô lai đơn V98 - 1 Đây là giống ngô lai đơn ngắn ngày cótiềm năng năng suất cao chống chịu đổ ngã, nhiễm khô vằn nhẹ (ở mức độ điểm

1 - 2), trồng được nhiều vụ trong năm, thích hợp với điều kiện sinh thái ở MiềnNam Việt Nam (Phạm Thị Rịnh và cs) [17]

Bên cạnh việc tạo ra các giống ngô lai có năng suất chất lượng cao thìcông tác lai tạo các giống ngô thích hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhauvới nhiều đặc tính nông học quý được các nhà nghiên cứu rất quan tâm.Trong giai đoạn 1995 - 2002 nhóm nghiên cứu ngô thuộc Trung tâm khảonghiệm giống cây trồng Trung ương đã lai tạo giống ngô lai đơn T9 và giốngngô lai ba T7 triển vọng cho sản xuất tại các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ,trong đó giống T9 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn côngnhận là giống khu vực hoá tại Miền Trung tháng 9 - 2002 Năm 2000, Việnnghiên cứu ngô tiếp tục đưa ra thử nghiệm giống ngô lai HQ2000 có chấtlượng cao, hàm lượng Protein cao hơn hẳn ngô thông thường, đặc biệt là hailoại axit amin thường thiếu ở ngô là Lyzin và Triptophan, nhờ vậy mà nângcao được giá trị dinh dưỡng của ngô Năm 2005, Lưu Văn Quỳnh và csnghiên cứu tạo giống ngô lai cho vùng sinh thái đồng bằng sông Cửu Long,bước đầu tạo ra 9 tổ hợp lai có triển vọng trong sản xuất[6]

Thông qua dự án "Phát triển giống ngô chịu hạn nhằm cải thiện thu nhậpcho Nông dân vùng Đông Nam Châu Á" (AMNET), chúng ta đã thu thập đượcmột số nguồn nguyên liệu mới từ CIMMYT và các nước trong khu vực, bướcđầu tạo ra một số tổ hợp lai có triển vọng Nhờ nguồn nguyên liệu tạo dòng kháphong phú và được thử nghiệm trong điều kiện sinh thái và mùa vụ nên cácgiống ngô lai mới tạo ra đã tỏ ra có nhiều ưu thế như: chịu hạn, chống đổ, ítnhiễm sâu bệnh, chất lượng và màu dạng hạt tốt hơn Điển hình là các giống dàingày, tỷ lệ 2 bắp/cây cao như: LVN98, LVN145; một số giống ngô chịu hạn tốt,thích nghi với nhiều vùng sinh thái như: VN8960, LCH9, LVN61, LVN14

Trang 24

Nhờ sự nỗ lực không ngừng trong việc nghiên cứu và ứng dụng ngô laitrong sản xuất, đến năm 2007 giống ngô lai chọn tạo của Việt Nam chiếm32,5% diện tích, giống nước ngoài chiếm 52,3% Số giống ngô có mặt trongsản xuất là 114 giống, trong đó 10 giống được ưa chuộng nhất là LVN10,CP888, B9698, CP999, C919, G49, B9681, P11 LVN4, CP989 với diện tíchchiếm gần 73% diện tích gieo trồng, riêng giống LVN10 chiếm 25% Khácvới lúa lai, các giống ngô lai chủ yếu sản xuất trong nước, đơn vị chính thamgia sản xuất và cung ứng giống ngô lai là CP Group, Bioseed, ĐC, NSC,Syngenta, Monsanto và Viện nghiên cứu ngô với thị phần được thể hiện ởbiểu đồ 2.1.

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu thị phần giống ngô lai ở Việt Nam

(Nguồn: Báo cáo hiện trạng ngành giống cây trồng Việt Nam, 2007)[1]

* Nghiên cứu về phân bón và bón đạm cho ngô trên thế giới

Cây ngô là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, là cây ưanhiệt, có hệ thống rễ chùm phát triển nên việc bón phân cho ngô có tác dụngtăng năng suất rất rõ rệt Theo Berzenny (1996) phân bón ảnh hưởng tới30,7% năng suất ngô còn các yếu tố khác như mật độ, phòng trừ sâu bệnh và

cỏ dại, đất trồng có ảnh hưởng nhưng ít hơn

Xayo (1995) cho rằng cây ngô hút hầu hết các chất dinh dưỡng tronglớp canh tác của vỏ trái đất và nguồn dinh dưỡng chủ yếu của cây ngô là từ

Trang 25

đất trồng Hàng chục tấn nông sản được tạo ra hàng năm, cây ngô đã lấy khỏiđất một lượng lớn về đạm, lân, kali trên 1 ha đất canh tác Vì vậy, để thu đượcnăng suất ngô cao, ổn định hàng năm cần bổ sung một lượng lớn chất dinhdưỡng thông qua việc bón phân từ đất Theo Smith (1973) trong trường hợpkhông bón đạm năng suất ngô chỉ đạt 1,192kg/ha, còn bón đạm năng suấttăng lên 7,338 kg/ha Tuy nhiên nghiên cứu của Geus (1967) bón đạm quá caocho cây ngô đã làm tăng sự phát triển thân lá, hạn chế đến năng suất hạt ngô.Duque (1998) nghiên cứu bón phân cho ngô trên đất đồi chua ở Philippin chorằng bón phân ở mức 100 kg P2O5/ha năng suất ngô đạt 7,016 kg/ha.

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng vai trò của phân N và S đến sự sinhtrưởng, năng suất và chất lượng của giống ngô lai (Cargill 707), tác giảHussain và CS, (1999) [41], cho rằng sự cung cấp phân bón ở các mức 150N+ 30S và 150N + 20S (kg/ha) làm tăng một cách tương ứng khối lượng chấtkhô/cây, số hạt/ bắp và khối lượng hạt/ bắp so với các xử lý khác Năng suấtngô đạt cao nhất (5,59 tấn/ ha) ở công thức bón 150N + 30S (kg/ha)

Theo Velly và CS (dẫn theo De Geus, 1973) [28], khi bón cho ngôvới liều lượng: 40 kg N/ha năng suất thu được 12,11 tạ/ha; 80 kg N/ha năngsuất thu được 15,61 tạ/ha; 120 kg N/ha năng suất thu được 32,12 tạ/ha; 160

kg N/ha năng suất thu được 41,47 tạ/ha; 200 kg N/ha năng suất thu được52,18 tạ/ha

* Nghiên cứu về phân bón và bón đạm cho ngô ở Việt Nam

Trong phạm vi nghiên cứu thuộc chương trình phát triển lương thực, TạVăn Sơn (1995) [18] đã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô ở vùng Đồngbằng sông Hồng, thu được kết quả như sau Để tạo ra 1 tấn hạt, ngô lấy đi từđất trung bình một lượng đạm, lân, kali là: N = 22,3 kg; P2O5 = 8,2 kg; K2O =12,2 kg.Tỉ lệ nhu cầu dinh dưỡng NPK là: 1: 0,35: 0,45

Tỉ lệ N: P: K thay đổi trong quá trình sinh trưởng phát triển như sau:

Trang 26

Bảng 2.7 Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn

(Nguồn: Tạ Văn Sơn, 1995) [18]

Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của nước ngoài và thể hiện rõ

là hút kali được hoàn thành sớm trước phun râu, còn các chất dinh dưỡngkhác như đạm và lân còn tiếp tục đến lúc ngô chín

Để ngô có năng suất trung bình 60 tạ/ha ngô hạt, cây ngô lấy từ đất 155

kg N, 60 kg P2O5, 115 kg K2O (tương đương 337 kg urê, 360 kg supe lân, 192

kg clorua kali)

Nghiên cứu của Ngô Hữu Tình (1995) [7] cho kết quả, trên đất phù

sa sông Hồng tỷ lệ nhu cầu dinh dưỡng của N, P, K cho cây ngô đạt năngsuất cao là 1: 0,35: 0,45 và liều lượng bón phân cho năng suất cao là: 180N

- 60P2O5 - 120K2O; ở Duyên hải miền Trung: 120N - 90P2O5 - 60K2O;miền Đông Nam bộ: 90N - 90P2O5 - 30K2O; Đồng bằng sông Cửu Long:150N - 50P2O5 - 0K2O Với ngô Đông trên đất phù sa sông Hồng liều lượngphân bón thích hợp là: 150 - 180 kg N; 90 kg P2O5; 50 - 60 kg K2O/ha(Phạm Kim Môn, 1991) [16]

Trên đất phù sa sông Hồng lượng phân bón phù hợp là: 120N - 90P2O5

- 60K2O cho năng suất 40 - 50 tạ/ha; 150N - 90P2O5 - 100K2O cho năng suất

50 - 55 tạ/ha; 180N - 90P2O5 - 100K2O cho năng suất 65 - 75 tạ/ha (Trần HữuMiện (1987) [21]) Trên đất bạc màu vùng Đông Anh - Hà Nội, giống ngôLVN10 có phản ứng rất rõ với phân bón ở công thức bón 120N - 120P2O5 -120K2O/ha và cho năng suất hạt gấp 2 lần so với công thức đối chứng không bónphân Cũng theo tác giả thì trên đất bạc màu, hiệu suất của 1 kg NPK là 8,7 kg; 1

kg N là 11,3 kg; 1 kg P205 là 4,9 kg; 1 kg K20 là 8,5 kg

Tác giả Vũ Cao Thái cũng cho rằng liều lượng và tỷ lệ phân bón chongô khác nhau trên các loại đất khác nhau Theo ông, trên đất phù sa nên bón

120 kg N - 60 kg P2O5 - 90 kg K2O/ha, tỷ lệ N:P:K là 1:0,5:0,75 Trên đất xám

Trang 27

bạc màu bón 100 kg N - 100 kg P2O5 - 150 kg K2O/ha với tỷ lệ là 1:1:1,5 (dẫntheo Ngô Hữu Tình, 2003) [10].

Nghiên cứu Nguyễn Văn Bộ (2007) [14], khẳng định rằng lượng phânbón khuyến cáo cho ngô phải tuỳ thuộc vào đất, mà còn phụ thuộc giống ngô

và thời vụ Giống có thời gian sinh trưởng dài hơn, có năng suất cao hơn cầnphải bón lượng phân cao hơn Đất chua phải bón nhiều lân hơn, đất nhẹ và vụgieo trồng có nhiệt độ thấp cần bón nhiều kali hơn Liều lượng khuyến cáochung cho ngô là:

+ Đối với giống chín sớm:

- Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kg

P2O5; 60 - 90 kg K2O/ha

- Trên đất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kg

P2O5; 100 - 120 kg K2O/ha

+ Đối với giống chín trung bình và chín muộn:

- Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kg

ha cho các giống thụ phấn tự do và 150 kg N - 60 kg P2O5 - 50 kg K2O/ha chocác giống lai Vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên lượng phân bón thích hợplà: 120 kg N - 90 kg P2O5 - 60 kg K2O cho vụ Hè Thu, còn vụ Thu Đông (vụ2) có thể tăng lượng K2O lên 90 kg (dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003) [10] Trênđất xám của vùng Đông Nam bộ, theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị DạThảo và Nguyễn Thị Sâm (2002), liều lượng phân bón cho ngô có hiệu quảkinh tế cao nhất là 180 kg N - 80 kg P2O5 - 100 kg K2O/ha (giống LVN99)(dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003) [10]

Theo Lê Quý Tường và Trần Văn Minh [5], lượng phân bón thích hợpcho ngô lai trên đất phù sa cổ ở duyên hải Trung bộ trong vụ Đông Xuân là 10tấn phân chuồng + 150-180 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha (tỷ lệ NPK là

Trang 28

1,7:1:0,7 hoặc 2:1:0,7), tiêu tốn lượng đạm từ 22,6 - 28,8 kgN/1 tấn ngô hạt;

vụ Hè Thu bón 10 tấn phân chuồng + 150 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha(tỷ lệ NPK là 1,7:1:0,7), tiêu tốn lượng đạm từ 27,9 - 28,4 kgN/1 tấn ngô hạt(dẫn theo Trần Văn Minh, 2004) [22]

Bón phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ cho ngô đã làm tăng năng suấtngô và giúp cải thiện độ phì trong đất, theo Bùi Đình Dinh (1988, 1994) đểđảm bảo cho cây trồng có năng suất cao, ổn định, bón phân hữu cơ chiếm25% tổng số dinh dưỡng, còn 75% phân hoá học (dẫn theo Trần Văn Minh,2004) [22]

Hiệu quả của phân bón chỉ có thể phát huy đầy đủ khi có chế độ phânbón hợp lý, bón cân đối giữa các nguyên tố Bón phân cho ngô để đạt hiệuquả kinh tế cao phải căn cứ vào đặc tính của loại giống ngô, yêu cầu sinh lýcủa cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng, tình trạng của cây trên đồng ruộng,tính chất đất, đặc điểm loại phân bón, kỹ thuật trồng trọt và điều kiện khí hậuthời tiết

Bón cân đối đạm - kali có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa Bội thu dobón cân đối (trung bình của nhiều liều lượng đạm) có thể đạt 33 tạ/ha trên đấtphù sa sông Hồng; 37,7 tạ/ha trên đất bạc màu; 11,7 tạ/ha trên đất xám và 3,9tạ/ha trên đất đỏ vàng Xét về hiệu quả kinh tế thì bón phân cân đối cho ngôtrên đất bạc màu, đất xám có lãi hơn nhiều so với đất phù sa và đất đỏ vàng(Nguyễn Văn Bộ, 2007) [14]

Theo tác giả Bùi Huy Hiền (2002)[2], từ năm 1985 đến nay tình hình

sử dụng phân đạm ở nước ta tăng trung bình là 7,2%/năm, phân lân là 13,9%/năm, phân kali là 23,9%/năm Tổng lượng N + P2O5 + K2O trong 15 năm quatăng trung bình 9,0%/năm Tỷ lệ N: P2O5: K2O trong 10 năm qua đã cân đốihơn với tỷ lệ tương ứng qua các năm 1990, 1995 và 2000 là 1: 0,12: 0,05; 1:0,46: 0,12 và 1: 0,44: 0,37 Lượng phân bón/ha cũng đã tăng lên qua các năm

1990, 1995, 2000 với tổng lượng N: P2O5: K2O tương ứng là 58,7; 117,7 và170,8 kg/ha, tỷ lệ này còn thấp so với các nước phát triển như Mỹ, Hàn Quốc,Pháp, Nhật với tổng lượng N: P2O5: K2O khoảng 240 - 400 kg/ha Theo VũHữu Yêm (1995) [25], ảnh hưởng của bón đạm như sau: Không bón năng suấtđạt 40 tạ/ha; bón 40 kg N năng suất đạt 56,5 tạ/ha; bón 80 kg N năng suất đạt

Trang 29

70,8 tạ/ha; bón 120 kg N năng suất đạt 76,2 tạ/ha; bón 160 kg N năng suất đạt79,9 tạ/ha.

Kết quả nghiên cứu bón đạm cho ngô của Đào Thế Tuấn cho thấy ởĐồng bằng sông Hồng với mức bón đạm 90 kgN/ha, hiệu suất bón đạm đốivới ngô địa phương là 13 kg ngô hạt/1 kg N và ngô lai là 18 kg ngô hạt/1

kg N Bón đến mức 180 kg N/ha đã đạt 9 - 14 kg ngô hạt/1 kg N (dẫn theoTrần Văn Minh, 2004) [22]

Trần Hữu Miện (1987) [21] để tạo ra 1 tấn ngô hạt trong vụ ngô Đôngmiền Bắc cần 25 - 28 kg N, vụ Xuân 28 - 32 kg N, vụ Hè Thu 32 - 35 kg N,Thu Đông 30 - 32 kg N

Kết quả nghiên cứu của Lê Quý Kha (2001) [8] đã chỉ ra rằng mặc dùtrong điều kiện ít có khả năng đầu tư đạm và thiếu nước, ví dụ như nhờ nướctrời, tốt hơn hết vẫn phải chia nhỏ lượng đạm làm nhiều lần để bón thì hiệuquả sử dụng đạm của cây ngô mới cao

Trang 30

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành trên giống ngô LVN99 do Viện Nghiên cứungô cung cấp là giống LVN99

* LVN99: Là giống ngô lai đơn có thời gian sinh trưởng trung bìnhsớm, ở miền Bắc giống có TGST là 115 - 120 ngày (vụ xuân), 90 - 95 ngày ở

vụ hè - thu, và 95 - 105 ngày ở vụ thu - đông Chiều cao cây từ 200 - 210 cm,chiều cao đóng bắp 100 - 115 cm, chiều dài bắp 18 - 20 cm, có 14 - 16 hànghạt, khối lượng 1.000 hạt từ 350 - 370 gram, tiềm năng năng suất từ 90 - 120tạ/ha LVN99 có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh và đổ gãykhá, hạt màu vàng cam, lá bi che kín bắp, chịu hạn, chịu mật độ cao, khả năngkết hạt tốt

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí trên đất cất pha, có thành phần cơ giới nhẹ,chuyên trồng màu

- Thời gian tiến hành thí nghiệm: vụ đông năm 2011

- Địa điểm thí nghiệm: khu cây màu của viện khoa học sự sống trườngĐại Học Nông Lâm Thái Nguyên

3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Nôi dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón vào thời kỳ 7- 9 lá đếnsinh trưởng của giống ngô LVN99

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tình hình sâu bệnh hại

và khả năng chống đổ của giống ngô LVN99

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến yếu tố cấu thành năngsuất và năng suất ngô của giống ngô LVN 99

Nền: 3 tấn phân vi sinh + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O

Trang 31

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Dải bảo vệ

Trang 32

3.3.2.2 Quy trình kĩ thuật thí nghiệm

Tiến hành theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trịcanh tác và sử dụng giống ngô QCVN 01-56 : 2011/BNNPTNT của BộNN&PTNT

+ Bón thúc: chia làm 3 lần theo các công thức thí nghiệm

- Lần 1: 1/2 K2O5 + N bón theo công thức thí nghiệm (khi cây có 3 - 5 lá)

- Lần 1: 1/2 K2O5 + N bón theo công thức thí nghiệm (khi cây có 7 - 9 lá)

- Lần 3: bón N theo công thức thí nghiệm (trước trỗ 7 - 10 ngày)

* Chăm sóc:

- Diệt sâu xám từ lúc cây còn nhỏ

- Khi cây mọc đến 3 lá tiến hành: Dặm cây thường xuyên, kiểm trađồng ruộng, nếu gặp mưa tiến hành xới nhẹ, phá váng

- Chú ý phòng trừ sâu đục thân và chuột gây hại

- Khi cây mọc được 3 - 5 lá tiến hành tỉa cây, kết hợp với làm cỏ, vungốc cho ngô, đồng thời bón thúc lần 1

- Khi cây 7 - 9 lá: Bón thúc lần 2 kết hợp làm cỏ vun cao thành luống

- Trước trổ 10 ngày: Bón thúc lần cuối

- Phòng trừ sâu bệnh khi sâu bệnh xuất hiện trên đồng ruộng

* Thu hoạch:

Thu hoạch khi ngô chín sinh lý (khi chân hạt có vết đen hoặc 75% sốcây có lá bi khô), tuy nhiên nếu thời tiết cho phép thì có thể thu hoạchmuộn hơn

Trang 33

3.4 Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi

3.4.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng

- Ngày mọc: Là ngày có > 50% số cây trên ô mọc

- Ngày trổ cờ: Là ngày có > 50% số cây trên ô xuất hiện nhánh cuốicùng của bông cờ

- Ngày tung phấn: Là ngày có > 50% số cây trên ô có hoa đực nở được1/3 trục chính

- Ngày phun râu: Là ngày có > 50% số cây trên ô phun râu (bắp có dâudài 2 - 3cm ngoài lá bi)

- Ngày chín sinh lý: Là ngày có >75% cây trên ô có lá bi khô hoặc chânhạt có chấm đen

- Tốc độ tăng trưởng của cây: Đo 10 cây trên ô, đo từ sát mặt đất đếnmút lá, lần 1 đo sau khi trồng 20 ngày, các lần đo cách nhau 10 ngày

* Công thức tính:

+ Tốc độ tăng trưởng sau trồng 20 ngày:

h1

t1 (t = 20 ngày) (cm/ngày)+ Tốc độ tăng trưởng sau 30 ngày:

h2−h1

t2−t1 (cm/ngày)+ Tốc độ tăng trưởng sau 40, 50, 60 ngày tính như sau 30 ngày

Trong đó: h1: Chiều cao cây sau trồng 20 ngày

h2: Chiều cao cây sau trồng 30 ngày

t1: Thời gian sau trồng 20 ngày

t2: Thời gian sau trồng 30 ngày

- Số lá/cây: Đếm số lá trên cây theo phương pháp đánh dấu lá (đánhdấu lá thứ 3, 6, 9, 12,…)

Trang 34

- Trạng thái cây: Đánh giá ở giai đoạn cây còn xanh, bắp đã phát triểnđầy đủ Đánh giá theo thang điểm từ 1 - 5 (điểm 1 là rất tốt, điểm 5 là xấu).

Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp đo vào thời gian sau khi ngô phunrâu 2 - 3 tuần hoặc trước khi thu hoạch

- Trạng thái bắp (điểm): để xác định được chỉ tiêu này thì căn cứ vàocác đặc tính như thiệt hại do sâu, bệnh, kích thước bắp, độ dày hạt và độ đồngđều của bắp theo thang điểm từ 1 - 5, điểm 1 là tốt nhất và điểm 5 là xấu nhất

- Độ bao bắp: Trước khi thu hoạch 1 - 3 tuần, khi bắp đã phát triểnhoàn toàn vỏ bọc đã khô, đánh giá độ bao bắp theo thang điểm từ 1 - 5

+ Điểm 1: Tốt, lá bi che kín đầu bắp và cả bắp

+ Điểm 2: Tốt, lá bi che kín đầu bắp

+ Điểm 3: Hở đầu bắp, lá bi không bao chặt đầu bắp

+ Điểm 4: Hở hạt, lá bi không che kín đầu bắp

+ Điểm 5: Kém - Đầu bắp hở nhiều

- Trạng thái bắp: Đánh giá khi thu hoạch cho điểm 1 - 5 dựa vào dạngbắp, kích thước bắp, sâu bệnh

3.4.3 Chỉ tiêu sinh lý

- Hệ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất): đo chiều dài, rộng tất cả các lá của 10cây theo dõi ở giai đoạn trổ cờ

HSDT lá = chiều dài x chiều rộng x 0,75 x số cây/m2

- Khối lượng chất khô: xác định ở thời kỳ 3 - 5 lá; 7 -9 lá; trổ cờ và chínNhổ 3 cây liên tiếp/ô, rửa sạch, sấy khô, cân và tính ra tạ/ha Chất khôđược xác định ở thời kỳ 3-5 lá, 7-9 lá, trổ cờ và chín sinh lý

3.4.4 Chỉ tiêu chống chịu

- Khả năng chống đổ

+ Gãy thân: Ghi tất cả những cây bị gãy dưới đốt mang bắp và tính

Tỷ lệ gãy thân (%) = Số cây bị gãy x100

Tổng số cây điều tra+ Đổ rễ: Ghi tất cả các cây bị nghiêng góc ≥ 300 so với mặt đất

Tỷ lệ đổ rễ (%) = Số cây bị đổ x100

Tổng số cây điều tra

Trang 35

- Chỉ tiêu chống chịu sâu bệnh

+ Sâu đục thân: Ghi số cây bị sâu đục thân (đếm lỗ đục trên thân, chủyếu là lỗ đục dưới bắp) và tính ra % cây bị hại

+ Sâu cắn râu: Đếm số bắp bị sâu cắn râu và tính % bắp bị hại

+ Bệnh khô vằn: Đếm và tính tỷ lệ cây bị bệnh ở giai đoạn tạo hạt

3.4.5 Chỉ tiêu năng suất và yếu tố cấu thành năng suất

- Đếm tổng số cây thu hoạch/ô

- Tổng số bắp thu hoạch/ô

- Khối lượng bắp của 2 hàng thu hoạch (kg/ô)

- Khối lượng 10 bắp mẫu (kg)

- Khối lượng hạt của 10 bắp mẫu (kg)

- Chiều dài bắp (cm): Đo từ đầu bắp đến múp bắp của 30 bắp mẫu

- Đường kính bắp (cm): Lấy ngẫu nhiên 30 bắp thứ nhất, đo ở giữa tất

cả các bắp

- Số hàng/bắp: Một hàng được tính khi có > 50% số hạt so với hàng dài nhất

- Số hạt/hàng: Đếm số hạt có chiều dài trung bình trên bắp của 30 bắp mẫu

- Đo độ ẩm khi thu hoạch bằng máy Kett - Nhật Bản

- Xác định khối lượng 1000 hạt tươi: Sau thu hoạch đếm 2 mẫu, mỗimẫu 500 hạt sau đó cân 2 mẫu được khối lượng M1, M2 Hiệu số của 2 lần cân(mẫu nặng - mẫu nhẹ) chênh lệch nhau ≤ 5% so với khối lượng trung bình 2mẫu là chấp nhận được, kết quả: P1000 = M1 + M2

- Khối lượng 1000 hạt khô:

P1000 (14%) = Mhạt tươi x (100 - A

0)

100 - 14

- Năng suất lý thuyết:

NSLT (tạ/ha) = Số cây/m2 x số bắp/cây x số hàng/bắp x số hạt/hàng x M1000

Trang 36

Tỷ lệ hạt/bắp (%): Là khối lượng hạt 10 bắp mẫu/khối lượng 10 bắp mẫu.

Pô: Khối lượng bắp tươi/ô (kg)

3.5 Phương pháp phân tích số liệu

- Thu thập và tổng hợp số liệu được tiến hành xử lý trên phần mềmExcel 2003

- Các số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê trên máy vi tính theo

chương trình IRRISTART 4.0

Trang 37

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện thời tiết khí hậu vụ đông năm 2011 tại Thái nguyên và ảnh hưởng của nó đến sinh trưởng phát triển của giống ngô LVN99

Điều kiện thời tiết khí hậu là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến quá trìnhsinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng Mỗi loại cây trồng thíchnghi với điều kiện khí hậu khác nhau

Cây ngô có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau, tuy nhiên nócũng rất nhạy cảm với một số yếu tố sinh thái như khí hậu, đất đai, các chấtdinh dưỡng khoáng Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới rất thích hợp chocây ngô sinh trưởng, phát triển Vì vậy, cây ngô trồng ở Việt Nam cho năngsuất, sản lượng rất cao và là cây chủ lực thứ 2 sau cây lúa

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc trung du miền núi phía Bắc, khí hậunhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều nên có thể trồng ngô ở nhiều vụ khác nhau.Hiện nay Thái Nguyên có 3 vụ trồng ngô chính là vụ xuân, vụ hè thu và vụđông trong đó vụ xuân có tiềm năng cho năng suất cao hơn cả Lý do chủ yếu

là ở vụ xuân, trong điều kiện gieo trồng từ tháng 2 đến tháng 6 khí hậu rấtthuận lợi cho ngô phát triển Các điều kiện về nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa đều

ở mức thích hợp hơn so với các vụ khác Chính vì vậy cây ngô càng có điềukiện bộc lộ những tính trạng tốt ra kiểu hình

Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu vụ ngô đông 2011 tại Thái Nguyên

Trang 38

4.1.1 Nhiệt độ

Ngô là cây ưa nóng, nhu cầu về nhiệt của ngô cao hơn nhiều cây trồngkhác Từ lúc cây nảy mầm đến lúc ngô chín cần tổng tích ôn từ 1700 - 37000Ctuỳ theo giống và thời gian sinh trưởng Theo các chuyên gia Trung tâm Cảilương giống ngô và lúa mỳ thế giới (CIMMYT): ngô phát triển tốt trongkhoảng nhiệt độ từ 240C - 300C Nhiệt độ tối thấp: <100C Nhiệt độ cao khônghạn chế sinh trưởng nhưng ảnh hưởng đến năng suất

Ở những vùng ban đêm có nhiệt độ trung bình lớn hơn 200C, năng suấtcây ngô sẽ giảm do ngô hô hấp mạnh Ở các thời kỳ sinh trưởng khác nhaucây ngô yêu cầu nhiệt độ khác nhau Có hai thời kỳ nhiệt độ ảnh hưởng mạnhđến quá trình sống của cây ngô:

+ Thời kỳ nảy mầm: Nếu gặp nhiệt độ thấp thì cây ngô sẽ nảy mầmkém, thời gian nảy mầm kéo dài, khi đó chất lượng cây con sẽ giảm Nếunhiệt độ thấp hơn 130C thì phần lớn các giống không nảy mầm Nhiệt độ thấphơn 150C thì thời gian nảy mầm kéo dài, tỷ lệ nảy mầm thấp, độ đồng đều củaruộng ngô sau này sẽ kém, chăm sóc khó khăn dẫn đến năng suất thu hoạchthấp Vì vậy hạt ngô nảy mầm tốt nhất khi nhiệt độ dao động trong khoảng từ

25 - 300C

+ Thời kỳ trỗ cờ, tung phấn, phun râu, thụ tinh: Cây ngô rất mẫn cảmvới nhiệt độ, nhiệt độ thích hợp trong khoảng từ 20 - 220C Nếu nhiệt độ nhỏhơn 130C thì hạt phấn ngô sẽ chết Nhiệt độ từ 13 - 150C thì sức sống của hạtphấn giảm, khả năng thụ tinh kém, bắp ngô ít hạt Nếu nhiệt độ cao hơn 350Chạt phấn bị chết không thụ tinh được làm cho bắp thiếu hạt Nhiệt độ quá caohoặc quá thấp còn gây ảnh hưởng lớn hơn khi kết hợp với ẩm độ không khíthấp trong thời kỳ thụ phấn thụ tinh

Kết quả theo dõi nhiệt độ tại Thái Nguyên vụ đông năm 2011 cho thấynhiệt độ trung bình là 14,2 - 27,10C tương đối phù hợp cho cây ngô sinh trưởng,tháng 9 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 27,10C, phù hợp cho quá trình nảymần và sinh trưởng của cây con Tháng 10 - 11 có nhiệt độ trung bình từ 22,9 -24,00C thuận lợi ch ngô sinh trưởng Từ tháng 12 đến tháng 1 nhiệt độ xuống rấtthấp chỉ còn từ 14,2 - 16,80C ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thụ phấn thụtinh và làm kéo dài giai đoạn chín sinh lý của ngô

Ngày đăng: 16/05/2014, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ, lúa nước của thế  giới giai đoạn 2004 - 2010 - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ, lúa nước của thế giới giai đoạn 2004 - 2010 (Trang 9)
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2010 - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2010 (Trang 10)
Bảng 2.3. Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020 - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 2.3. Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020 (Trang 11)
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1975 - 2010 - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1975 - 2010 (Trang 14)
Bảng 2.6.Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2010 - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 2.6. Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2010 (Trang 18)
Bảng 2.7. Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn sinh trưởng (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 2.7. Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn sinh trưởng (%) (Trang 23)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 27)
Bảng 3.1. Các công thức thí nghiệm và thời kỳ bón đạm - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 3.1. Các công thức thí nghiệm và thời kỳ bón đạm (Trang 27)
Bảng 4.1. Diễn biến thời tiết khí hậu vụ ngô đông 2011 tại Thái Nguyên - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 4.1. Diễn biến thời tiết khí hậu vụ ngô đông 2011 tại Thái Nguyên (Trang 33)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 -9 lá đến tốc độ tăng trưởng  chiều cao cây của giống ngô LVN99, vụ đông 2011 - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 -9 lá đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống ngô LVN99, vụ đông 2011 (Trang 39)
Bảng 4.4. Đặc điểm về hình thái và sinh lý của giống ngô LVN99 trong  các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 4.4. Đặc điểm về hình thái và sinh lý của giống ngô LVN99 trong các công thức thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến tỷ lệ nhiễm sâu, bệnh  của giống ngô LVN99 trong các công thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến tỷ lệ nhiễm sâu, bệnh của giống ngô LVN99 trong các công thức thí nghiệm (Trang 45)
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến năng suất và các yếu  tố cấu thành năng suất - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ 7 - 9 lá đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 49)
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm đối với giống ngô LVN99 tại  vụ đông năm 2011 - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ 7   9 lá đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99, vụ đông năm 2011 tại trường ĐHNLTN
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm đối với giống ngô LVN99 tại vụ đông năm 2011 (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w