Tính mới của sáng kiến Thông qua quá trình dạy học giúp học sinh yêu thích, hứng thú đối với môn Giáo dục công dân và nhận ra được môn Giáo dục công dân có vai trò quan trọng trong việc
Trang 1ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: - Hội đồng Sáng kiến trường THCS Tham Đôn
- Hội đồng Sáng kiến huyện Mỹ Xuyên Tôi ghi tên dưới đây:
Họ và tên Ngày tháng
năm sinh
Nơi công tác Chức danh Trình độ
chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo
ra sáng kiến
Hồ Thị Thanh Ngoan 1975 Trường THCS
Tham Đôn Giáo viên Cử nhân CT 100
Số điện thoại: 0974477685
Địa chỉ Email: hothithanhngoan73@gmail.com
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:
“Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học môn GDCD 9 ”
- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không có
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 01/01/2022
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
- Tên của sáng kiến: “Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học GDCD 9”
Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn GDCD trung học cơ sở
1 Tính mới của sáng kiến
Thông qua quá trình dạy học giúp học sinh yêu thích, hứng thú đối với môn
Giáo dục công dân và nhận ra được môn Giáo dục công dân có vai trò quan trọng
trong việc giáo dục đạo đức, hình thành thế giới quan khoa học,…Từ đó giúp học
sinh đạt kết quả học tập cao hơn
2 Nội dung sáng kiến (bao gồm các Giải pháp thực hiện)
2.1 Giải pháp truyền cảm hứng cho học sinh
GDCD là một môn có tầm quan trọng đặc biệt trong việc giáo dục nhân
cách, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, tuy nhiên môn học này chưa thật sự thu
hút sự đam mê, yêu thích của học sinh
Để truyền sự yêu thích cho học sinh thì trước tiên người giáo viên phải yêu
nghề, tâm huyết, say mê với lựa chọn của mình Để làm được điều này giáo viên
phải tham khảo nhiều tài liệu, tích lũy nhiều vốn sống, có kiến thức sâu rộng, cập
Trang 2nhật kiến thức kịp thời, Ngoài ra, giáo viên còn phải đổi mới phương pháp dạy học và truyền đạt đến học sinh bằng niềm say mê thực sự của mình
2.2 Giải pháp đưa thực tiễn, tư liệu cuộc sống vào bài giảng
GDCD là môn học giáo dục học sinh cách sống và ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội, với quyền và nghĩa vụ của người công dân Chính vì vậy, để dạy học môn GDCD có hiệu quả cần gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống của học sinh Để gây hứng thú cho học sinh, trong từng bài học, tiết dạy của mình GV cần phải đưa ra nhiều tình huống thật gần gũi với cuộc sống để học sinh nhận xét, xử
lý, lựa chọn và sau mỗi tình huống đó GV sẽ chỉ ra cho các em thấy được vấn đề đúng ở đâu và sai ở đâu Thông qua tình huống GV giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Dạy theo cách này học sinh rất thích vì được phát biểu theo sự hiểu biết của mình Để tăng sự hứng thú GV nên cần tổ chức cho học sinh học nhóm để các em
tự nghiên cứu, hợp tác, tìm tòi và đưa ra kết quả của riêng mình, từ đó học sinh sẽ dần làm quen và dễ xử lý tình huống gặp phải trong thực tế cuộc sống Giáo viên chỉ là người định hướng và chốt lại vấn đề cốt lõi cho học sinh
Tuy nhiên, khi gắn nội dung môn học với thực tiễn cuộc sống của học sinh
GV cần chú ý khắc phục những lỗi sau:
Thứ nhất, những dẫn chứng liên hệ nhiều nhưng không có tính điển hình phổ biến GV ham kể, ham nêu những mẩu chuyện, những hình ảnh xa xôi lạ lẫm, xem thường bỏ qua những dẫn chứng gần gũi, thân quen giàu tính thực tế khiến tính thuyết phục bị mất đi nhiều
Thứ hai, các dẫn chứng liên hệ không được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, mang nặng tính minh họa Những dẫn chứng phải được sử dụng như một phương tiện trọng yếu để hướng học sinh tự mình đi đến nhận thức khái niệm một cách tự nhiên, sâu sắc thì ngược lại nhiều GV chủ yếu lại dựa vào SGK cho các em phát biểu nội dung khái niệm trong sách, sau đó mới giảng giải rồi cùng các em dẫn chứng liên hệ
Thứ ba, các dẫn chứng liên hệ được GV thông qua một cách khô khan, đơn điệu ít sinh động bằng hình ảnh cụ thể giàu tính thực tiễn và giáo dục; bằng những mẩu chuyện hấp dẫn với cách kể đầy sức lôi cuốn kèm theo những lời phân tích giảng giải ngắn gọn xúc động Học sinh ngồi nghe rồi lại quên ngay không một chút hưng phấn, không một sự tò mò nào trong các em
Thứ tư, các dẫn chứng liên hệ thực tế chưa được chú ý khơi gợi, phát huy từ phía học sinh Nhu cầu tự bộc lộ những chính kiến, suy nghĩ, băn khoăn, thắc mắc của các em hầu như mới được thực hiện một cách hạn chế Các dẫn chứng liên hệ
do vậy chưa phong phú đa dạng, chưa rộng, chưa sâu, chưa tạo được sự bất ngờ sinh động, Nói cách khác, trong trường hợp này vai trò chủ thể của việc liên hệ thức tế vẫn thuộc về các thầy cô chứ chưa phải các em
2.3 Giải pháp nêu gương
Mỗi khái niệm đạo đức, pháp luật mỗi chủ đề cần đưa gương tốt về người thật, việc thật Đồng thời cả gương xấu nếu có để học sinh tránh Những tấm
Trang 3gương nêu ra phải được học sinh biết, đặc biệt là những tấm gương ở lớp, ở trường, ở gia đình, ở địa phương mình
Điều này đòi hỏi GV phải căn cứ vào từng mục tiêu, yêu cầu nội dung dạy học, căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi HS mà GV lựa chọn những tấm gương cho phù hợp Đó phải là những tấm gương điển hình, gần gũi với HS Tránh lạm dụng các tấm gương phản diện vì dễ gây kết quả phản giáo dục, làm giảm lòng tin ở HS về việc tồn tại những cái tốt vốn rất nhiều trong xã hội
Các hình thức nêu gương:
Thứ nhất: Nêu gương thông qua việc đề cao truyền thống trường lớp, địa phương, Các tấm gương này có tác dụng trong việc kích thích lòng tự trọng, tự hào của HS về con người, về quê hương, về Tổ quốc,
Thứ hai: Nêu gương thông qua việc đề cao cá nhân điển hình các tấm gương này sát với điều kiện học tập, tu dưỡng của các em nên việc học tập từ những tấm gương đó rất thuận lợi
Thứ ba: Nêu gương thông qua việc tổ chức, hướng dẫn HS tìm hiểu, đọc sách kể chuyện về những tấm gương các nhà bác học, nhà văn nổi tiếng, các anh hùng trong chiến đấu và trong lao động, gương người tốt, việc tốt, Các tấm gương này có tác dụng nhiều trong việc giáo dục lý tưởng, hoài bão cho HS
Thứ tư: Nêu gương thông qua chính sự gương mẫu của thầy cô giáo GV hằng ngày tiếp xúc với HS và lại làm công tác giáo dục các em Hơn ai hết mỗi Thầy cô giáo phải là tấm gương sáng cho HS về mọi phương diện để học sinh học tập và noi theo và cũng làm tăng tính thuyết phục của GV đối với HS trong công tác giáo dục
Khi nêu gương GV phải dùng hình thức kể chuyện kết hợp với việc phân tích so sánh để HS hình dung rõ về các tấm gương Có thể đàm thoại giữa GV và
HS để làm nổi bật những nét điển hình những ưu điểm của các tấm gương Hoặc cùng phê phán những cái xấu đối với các tấm gương phản diện
GV phải tổ chức cho HS tự rút ra được bài học cụ thể, bổ ích, đồng thời phải chỉ đạo xây dựng mạng lưới tích cực, phát động tổ chức thi đua để noi theo gương sáng tránh những gương xấu
Khi sử dụng phương pháp nêu gương cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất: Những tấm gương nêu lên phải phù hợp với mục đích, yêu cầu nội dung bài học Tấm gương nêu ra phải gần gũi với cuộc sống, hình thành được ở các em niềm tin về những cái tốt, cái đẹp, cái thiện, trong xã hội và trong chính bản thân mình
Thứ hai: Cần có sự đánh giá đúng mực tấm gương đó bởi vì chính sự đánh giá quá cao hay quá thấp những tấm gương nêu lên đều làm hạn chế tác dụng giáo dục đối với HS Phương pháp nêu gương phải làm sao để phát triển được ở HS khả
Trang 4năng phân tích, đánh giá hay phê phán về những tấm gương để các em tự rút ra được bài học bổ ích
Thứ ba: Với các hiện tượng chưa tốt trong tập thể HS khi nêu gương cần tránh nêu tên cụ thể bởi như vậy sẽ khiến trẻ cảm thấy bị xúc phạm và tạo yếu tố tâm lý bất lợi Đối với những em có gương tốt cần phải tuyên dương khen thưởng nêu gương trước lớp kịp thời để động viên các em cố gắng hơn và để các em HS khác noi theo Như vậy sẽ làm cho HS nỗ lực học tập và rèn luyện theo những gương tốt và tránh xa những gương xấu Tự rèn luyện bản thân thành một tấm gương sáng
Thứ tư: Khi sử dụng phương pháp nêu gương không nên áp đặt, buộc HS phải tuân thủ hay thực hiện ngay Trong dạy học cần lấy những tấm gương gần gũi chẳng hạn như: ông bà, cha mẹ, anh chị em, đặc biệt GV phải là tấm gương sống động, mẫu mực đối với HS về thức bên ngoài như cách ăn nói, ứng xử Ngoài ra, nêu gương tốt để các em noi theo thì cũng cần phải đưa ra một số gương xấu để HS biết và tránh
2.4 Giải pháp phát huy năng lực tự học của học sinh
Đối với việc học ở nhà:
Cho HS lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ thể gắn liền với thời gian cụ thể
Duy trì nề nếp kiểm tra, kiểm tra sự chuẩn bị đồ dùng học tập
Có hình thức nhắc nhở, khen thưởng cụ thể nhằm động viên khuyến khích kịp thời những em chăm học và nhắc nhở những em lười học, không chú ý trong giờ học
2.5 Giải pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
Để phát huy được tích tích cực học tập của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào cách sử dụng phương pháp của GV chứ không phải là phụ thuộc vào bản thân phương pháp đó Việc lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như nội dung bài học, đối tượng học sinh, cơ sở vật chất của nhà trường,… Giáo viên lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học như thế nào
để người học được hoạt động tích cực về mặt nhận thức cũng như về mặt thực hành để họ tự khám phá ra tri thức mới Theo lý luận dạy học, về mặt nhận thức thì các phương pháp hoạt động thực hành là “tích cực” hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan thì “tích cực” hơn phương pháp dùng lời Nhưng đối với môn GDCD do đặc thù của môn học nên việc vận dụng một số phương pháp rất khó thực hiện, chẳng hạn như phương pháp thực hành Mặt khác, chúng ta cũng không nên quan niệm một cách cứng nhắc rằng phương pháp này tích cực hơn hay phương pháp kia tốt hơn mà vấn đề là ở chỗ trên cơ sở nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của chúng để vận dụng sao cho hiệu quả theo mục đích, khả năng của GV và học sinh Có thể lấy ví dụ về phương pháp dùng lời hay chúng ta thường gọi là phương pháp thuyết trình - đây là phương pháp có thể làm cho học sinh thụ động nhưng cũng có thể dùng lời tạo nên mâu thuẫn giữa điều đã biết và
Trang 5điều chưa biết thì người học sẽ tích cực suy nghĩ để giải quyết mâu thuẫn đó Như vậy, mặt bên ngoài của phương pháp mà ai cũng nhận ra đó là phương pháp dùng lời nhưng mặt bên trong của phương pháp đã thể hiện mức độ tính tích cực nhận thức của học sinh, đòi hỏi tư duy tìm tòi, sáng tạo của các em
Như vậy, giáo viên phải nhận thức sâu sắc rằng để phát huy tính tích cực của học sinh không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ hoặc thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống Đối với môn GDCD do đặc thù tri thức của bộ môn, nên các phương pháp truyền thống nếu biết vận dụng hợp lý thì vẫn rất hiệu quả Vấn đề là ở chỗ cần kế thừa và phát triển những mặt tích cực của phương pháp dạy học truyền thống như phương pháp thuyết trình, vấn đáp,…Đồng thời vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt các phương pháp hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập phù hợp với hoàn cảnh dạy học bộ môn hiện nay như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp tình huống, đóng vai,… Thực tiễn giảng dạy môn GDCD chứng minh rằng vận dụng hợp lý các phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại sẽ mang lại hiệu quả dạy học rất cao
2.6 Giải pháp ứng dụng CNTT vào dạy học
Xây dựng bài giảng điện tử để dạy cho học sinh trong giai đọan hiện nay làm cho học sinh học tập thêm nhiều hứng thú, hiệu quả của hiệu ứng điện tử giúp học sinh nhanh chóng khám phá hiểu sâu nội dung bài học
Một số lưu ý khi ứng dụng CNTT trong dạy học:
Tránh lạm dụng CNTT quá mức trong dạy học Bởi lạm dụng CNTT sẽ biến tiết dạy thành tiết xem phim khi đó vai trò của người GV sẽ bị mờ nhạt
Tránh việc thiết kế các hình hoặc các slide trình chiếu quá cầu kì, quá bắt mắt khiến cho HS tập trung vào đó Điều này làm hạn chế hiệu quả của PPDH
Thực nghiệm
Bài 2 – tiết 2: Tự chủ
Mục tiêu đạt được của bài
- Về kiến thức: HS hiểu được khái niệm, ý nghĩa và cách rèn luyện tính tự
chủ
- Về kĩ năng: Nhận biết được những biểu hiện của tính tự chủ và biết đánh
giá bản thân và người khác về tính tự chủ
- Về thái độ: Tôn trọng những người biết sống tự chủ và có ý thức rèn luyện
tính tự chủ trong quan hệ với mọi người và trong những công việc cụ thể của bản thân
Nội dung bài:
- Thế nào là tự chủ
- Ý nghĩa của tính tự chủ trong cuộc sống
Trang 6- Cách rèn luyện.
Phương pháp thực hiện:
- Kết hợp giải pháp đưa thực tiễn, tư liệu cuộc sống vào bài giảng và giải pháp ứng dụng CNTT
- Kết hợp giải pháp nêu gương và giải pháp ứng dụng CNTT
- Giải pháp phát huy năng lực tự học của học sinh
Cụ thể:
Kết hợp giải pháp đưa thực tiễn, tư liệu cuộc sống vào bài giảng và giải pháp ứng dụng CNTT
Để giúp HS hiểu rõ hơn về cách ứng xử như thế nào là thể hiện người có tính tự chủ và ngược lại Tôi đưa ra một số tình huống có thể gặp ở nhà, ở trường
và ngoài xã hội Các tình huống này tôi soạn trên các silde và trình chiếu cho các
em xem cụ thể như sau:
* Ở nhà:
- Tình huống 1: Đi học về nhà đói và mệt nhưng mẹ chưa nấu cơm
- Tình huống 2: Nhiều bài tập Toán quá khó, em giải mãi vẫn không ra kết quả
- Tình huống 3: Bố mẹ đi vắng ở nhà một mình với em
* Ở trường:
- Tình huống 1: Có bạn rủ trốn học đi chơi game
- Tình huống 2: Giờ kiểm tra không làm bài được, bạn bên cạnh cho chép bài
- Tình huống 3: Xe bị hỏng nên em đến trường muộn
* Ngoài xã hội:
- Tình huống 1: Nhặt được chiếc ví trong đó có tiền và các loại giấy tờ
- Tình huống 2: Gặp một em nhỏ bị ngã
- Tình huống 3: Bị một người đi đường đâm vào xe mình
Sau đó tôi yêu cầu HS nêu cách ứng xử của các em thông qua những tình huống mà tôi đã đưa ra HS đưa ra cách ứng xử của mình từ các tình huống nêu trên tôi chốt lại nội dung và chỉ cho các em thấy được tình huống nào các em xử lí thể hiện tính tự chủ và ngược lại
Từ đó HS thấy được nhờ có tính tự chủ giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách và sự cám dỗ của cuộc sống đem lại nhiều điều tốt đẹp cho bản thân, gia đình và xã hội
Kết hợp giải pháp nêu gương và giải pháp ứng dụng CNTT
Trang 7Tôi yêu cầu HS nêu một vài tấm gương thể hiện tính tự chủ trong học tập cũng như trong cuộc sống
Sau đó tôi cũng đưa ra một số tấm gương trong học tập cũng như trong cuộc sống về những HS có hoàn cảnh gia đình khó khăn không bi quan, chán nản vẫn đến lớp và khắc phục khó khăn để học tập tốt để HS học tập và noi theo Tôi cũng giới thiệu thêm cho HS về một tấm gương sáng ngời về nghị lực vượt lên số phận
đó là Thầy Nguyễn Ngọc Kí
Bên cạnh việc nêu một số tấm gương thể hiện tính tự chủ trong học tập, cuộc sống để các em học tập và noi theo Tôi cũng đưa ra một số việc làm thiếu tính tự chủ để HS biết và tránh
Giải pháp phát huy năng lực tự học của học sinh
Trước khi học bài “Tự chủ” tôi yêu cầu HS về xem trước nội dung bài và tìm
những tấm gương, ví dụ thực tế về tính tự chủ
Ở mục tìm hiểu khái niệm tự chủ Tôi yêu cầu HS trình bày những ví dụ thực tế về tính tự chủ mà các em đã tìm hiểu trước và trình bày theo nhiều cách khác nhau cụ thể như: có em trình bày những việc làm thể hiện tính tự chủ trong học tập, nhưng cũng có em trình bày những việc làm thể hiện tính tự chủ trong cuộc sống và ngoài xã hội Khi HS trình bày xong tôi chốt lại nội dung và chỉ cho
HS thấy được việc làm nào là thể hiện tính tự chủ và ngược lại Ở mục tìm những tấm gương thể hiện tính tự chủ trong học tập cũng như trong cuộc sống Tôi yêu cầu HS trình bài những tấm gương mà các em đã chuẩn bị trước Các em trình bày bằng nhiều cách khác nhau như: một số em trình bày bằng các silde trình chiếu, viết trên giấy A0,
Qua việc trình bày của HS tôi cũng đánh giá được khả năng tự học về việc tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu của các em
Sau đó tôi cũng tuyên dương, khen thưởng những HS về nhà tìm hiểu trước nội dung bài Bên cạnh đó tôi cũng nhắc nhở những em lười học Tôi cũng không quên chỉ ra cho HS thấy được việc tự học có ý nghĩa đối với HS nhằm giúp HS hiểu bài nhanh và sâu hơn về kiến thức
Bài 8 – tiết 10: Năng động, sáng tạo
Mục tiêu đạt được của bài
Trang 8- Về kiến thức: Hiểu được khái niệm và vì sao cần phải năng động, sáng
tạo
- Về kĩ năng: Biết đánh giá hành vi của bản thân và người khác về những
biểu hiện của tính năng động, sáng tạo Có ý thức học tập những tấm gương năng động, sáng tạo của những người xung quanh
- Về thái độ: Hình thành ở HS nhu cầu và ý thức rèn luyện tính năng động,
sáng tạo ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào trong cuộc sống
Nội dung bài:
- Nhấn mạnh nội dung cốt lõi của tính năng động, sáng tạo
- Làm cho HS hiểu rõ cuộc sống năng động, sáng tạo có thể giúp con người vượt qua những ràng buộc của hoàn cảnh, làm nên những kì tích vẻ vang và đạt được mục đích đề ra với hiệu quả cao
Phương pháp thực hiện:
- Kết hợp giải pháp nêu gương với giải pháp ứng dụng CNTT
- Giải pháp phát huy năng lực tự học của học sinh
Cụ thể:
Kết hợp giải pháp nêu gương với giải pháp ứng dụng CNTT
Những tấm gương mà tôi nêu ra rất gần gũi với HS đó là những tấm gương ngay ở trường, lớp, trong học tập và trong cuộc sống
Ví dụ: Em hãy nêu một số tấm gương năng động, sáng tạo của các bạn trong lớp, trong trường?
Sau khi HS nêu xong tôi nhận xét, kết luận và cho HS xem một số tấm gương năng động, sáng tạo trong học tập, lao động và trong cuộc sống, để học sinh học tập, noi theo Sau đây là một số tấm gương tiêu biểu:
Trang 9Hoàng Duy Khánh, Trường THPT Lương Văn Tri, huyện Văn Quan nhận giải nhất với công trình sáng tạo là chiếc máy gieo hạt mini
Giáo sư Ngô Bảo Châu (bên trái) –
Nhà toán học trẻ nhất Việt Nam.
Giáo sư Ngô Bảo Châu vừa được Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil trao huy chương Fields
Trang 10Ông Nguyễn Cẩm Lũy (dân gian thường gọi là “thần đèn”) Ông sinh năm 1948 trong một gia đình nông dân ở xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Ông chỉ học hết lớp 4 rồi nghỉ
Nhưng ông đã tạo nên một kì tích: Chuyển một ngôi nhà, cây đa từ vị trí này sang vị trí khác.
Một nông dân mới học lớp 6 chế ra máy sạ lúa theo hàng chạy ngời ngời trên đồng ruộng Các chuyên gia ở châu Phi qua coi đã ký hợp đồng mua máy ngay lập tức Đã vậy, họ còn nhờ anh làm cố vấn kỹ thuật tham gia dự án “Giúp nông dân châu Phi trồng lúa”
Quê ở xã Láng Biển, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, Phạm Thanh Liêm (36 tuổi)
Bên cạnh việc nêu một số tấm gương năng động, sáng tạo trong học tập, cuộc sống và trong lao động để các em học tập và noi theo Tôi cũng đưa ra một số
việc làm thiếu năng động, sáng tạo để HS biết và tránh.
Giải pháp phát huy năng lực tự học của học sinh
Trước khi học bài “Năng động, sáng tạo” tôi yêu cầu HS về xem trước nội
dung bài và tìm những tấm gương, những việc làm thể hiện năng động, sáng tạo trong học tập, lao động và trong cuộc sống