Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường .... DANH MỤC HÌNHHình 2.1: Tổng quan về thuế BVMT trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
PHẠM BÁCH KHOA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế (Khoa học Quản lý)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng Luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật./.
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2021
Nghiên cứu sinh
Phạm Bách Khoa
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp mới của luận án 7
7 Kết cấu của luận án 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 9
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 9
1.1.1 Các nghiên cứu về thuế và thuế bảo vệ môi trường 9
1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý nhà nước về thuế và thuế bảo vệ môi trường 14
1.2 Các nghiên cứu trong nước 16
1.2.1 Các nghiên cứu về thuế và thuế bảo vệ môi trường 16
1.2.2 Các nghiên cứu về quản lý nhà nước về thuế và thuế bảo vệ môi trường 21
1.3 Đánh giá tổng quan nghiên cứu 26
1.3.1 Những nội dung luận án kế thừa từ kêt quả các nghiên cứu trước 26
1.3.2 Những khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của luận án 27
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 31
2.1 Cơ sở lý luận về thuế bảo vệ môi trường 31
2.1.1 Khái luận chung về thuế bảo vệ môi trường 31
2.1.2 Các lý thuyết liên quan đến thuế bảo vệ môi trường 35
2.1.3 Những kết luận về cơ sở lý luận đối với thuế bảo vệ môi trường 37
2.2 Quản lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường 38
Trang 52.2.1 Lý thuyết về thất bại thị trường và sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối vớithuế bảo vệ môi trường 38
2.2 2 Khái niệm, ý nghĩa và nguyên tắc quản lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường412.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường 43
2.2.4 Mục tiêu quản lý thuế và tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước vềthuế bảo vệ môi trường 51
2.3 Kinh nghiệm thế giới và một số bài học rút ra cho Việt Nam trong quản lý nhà nước đối với thuế bảo vệ môi trường 51
2.3.1 Kinh nghiệm các nước trên thế giới 52
2.3.2 Các bài học rút ra cho Việt Nam 62
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 65 3.1 Khái quát lịch sử và bộ máy quản lý nhà nước đối với thuế BVMT ở Việt Nam 65
3.1.1 Lịch sử thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 65
3.1.2 Bộ máy quản lý nhà nước đối với thuế BVMT ở Việt Nam 66
3.2 Đánh giá thực trạng các nội dung quản lý nhà nước đối với Thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 67
3.2.1 Thực trạng xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật quản lý nhà nướcđối
với thuế bảo vệ môi trường 68
3.2 2 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với thuế bảo vệ môi trường 743.2.3 Thực trạng tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối với thuế bảo vệ môitrường 78
3.2.4 Thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật thuế bảo vệmôi
trường 84
3.3 Đánh giá chung về thực hiện quản lý nhà nước về Thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 91
3.3.1 Đánh giá thành công theo các mục tiêu thuế bảo vệ môi trường 91
3.3.2 Đánh giá hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 95
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 102 4.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về thuế bảo
vệ môi trường trong các công trình đã công bố 102
Trang 64.1.1 Nhóm nhân tố vĩ mô và liên quan đến Cơ quan quản lý nhà nước 102
4.1.2 Nhóm nhân tố liên quan đến đối tượng nộp thuế, tính chất hoạt động, đặc điểm của doanh nghiệp 104
4.1.3 Nhóm nhân tố quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường 105
4.2 Mô hình, giả thuyết và thiết kế nghiên cứu đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng 107
4.2.1 Đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu lý thuyết 107
4.2.2 Phát triển thang đo nghiên cứu chính thức 109
4.2.3 Thiết kế nghiên cứu định lượng 112
4.2.4 Kiểm định thang đo nghiên cứu 113
4.3 Phân tích hồi quy bội và kiểm định mô hình, giả thuyết nghiên cứu 117
4.3.1 Phân tích hồi quy bội và kiểm định mô hình nghiên cứu 117
4.3.2 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường 119
4.3.3 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 121
CHƯƠNG 5: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 134
5.1 Những căn cứ đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 134
5.1.1 Bối cảnh quốc tế 134
5.1.2 Bối cảnh trong nước 135
5.1.3 Chủ trương của Đảng và nhà nước 135
5.2 Đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước quản lý nhà nước đối với thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 136
5.2.1 Đề xuất quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 136
5.2 2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế bảo vệ môi trường138 5.3 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 151
KẾT LUẬN 153
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 155
TÀI LIỆU THAM KHẢO 156
PHỤ LỤC 163
Trang 7Phụ lục 1: Hệ thống văn bản pháp luật về thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam163 Phụ lục 2: Các lĩnh vực áp dụng các loại thuế, phí bảo vệ môi trường phổ biến hiện nay trên thế giới 165 Phụ lục 3: Các câu hỏi khung phỏng vấn chuyên gia, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường 168 Phụ lục 4: Danh sách các chuyên gia nghiên cứu và quản lý nhà nước về thuế bảo vệ
môi trường 169 Phụ lục 5: Bảng hỏi điều tra các doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế BVMT.171 Phụ lục 6: Bảng hỏi khảo sát điều tra đối với các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, cán
bộ quản lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường 179 Phụ lục 7: Mô tả đặc điểm mẫu điều tra 187 Phụ lục 8: Phân tích miêu tả kết quả khảo sát điều tra 189
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
CFA : Phân tích thành tố khẳng định (Confirmatory factor analysis)
CNTT : Công nghệ thông tin
CPTPP : Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
(Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-PacificPartnership)
EFA : Phân tích thành tố khám phá (Exploratory factor analysis)
ESCAP : Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc
(Economic and Social Commission for Asia and the Pacific)
EU : Liên minh Châu Âu (European Union)
EU : Liên minh Châu Âu (European Union)
EVFTA : Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam
(EU-Vietnam Free Trade Agreement)FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
GDP : Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)
GDP : Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)
HCFC : Dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon
IMF : Quỹ tiền tệ thế giới (International Monetary Fund)
INDC : Đóng góp do quốc gia tự quyết định (Nationally Determined
Contributions)NSNN : Ngân sách nhà nước
NSTW : Ngân sách Trung ương
OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation for Economic
Cooperation and Development)QLNN : Quản lý nhà nước
SPSS : Phần mềm phân tích thống kê (Statistical Package for the Social
Sciences)
Trang 9SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCHQ : Tổng Cục Hải Quan
TNDN : Thu nhập cá nhân
TTĐB : Tiêu thụ đặc biệt
UBND : Ủy Ban Nhân Dân
UNESCAP hay ESCAP: Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp
Quốc (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific)UNESCAP : Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc
(United Nations Economic and Social Commission for Asia and thePacific)
UNFCCC : Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (United
Nations Framework Convention on Climate Change)UNFCCC : Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (United
Nations Framework Convention on Climate Change)
WB : Ngân hàng thế giới (World Bank)
XNK : Xuất nhập khẩu
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động xây dựng và ban hành luật pháp và
chính sách thuế BVMT 72
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức bộ máy quản lý thuế BVMT 76
Bảng 3.3: Tỷ lệ thu Thuế BVMT so với GDP và thu NSNN giai đoạn 2012-2019 81
Bảng 3.4: Số thu thuế BVMT chi tiết các nhóm hàng hóa từ năm 2012-2019 82
Bảng 3.5: Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động tổ chức quản lý thuếBVMT 83
Bảng 3.6: Kết quả thanh tra, kiểm tra giai đoạn 2011-2019 của Tổng cục Thuế 86
Bảng 3.7: Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật thuế BVMT 87
Bảng 3.8: Kết quả khảo sát thực trạng hiệu quả QLNN đối với thuế BVMT 95
Bảng 4.1: Bộ thang đo các biến trong mô hình nghiên cứu 109
Bảng 4.2: Kết quả phân tích thành tố khám phá (EFA) đối với các biến độc lập 114
Bảng 4.3: Hệ số Cronbach’s Alpha của 7 Biến độc lập và Biến phụ thuộc 115
Bảng 4.4: Kết quả phân tích thành tố khám phá (EFA) đối với Biến phụ thuộc 117
Bảng 4.5: Phân tích tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu 118
Bảng 4.6: Kết quả phân tích hồi quy bội 118
Bảng 4.7: Kết quả khảo sát thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến nhận thức và trách nhiệm môi trường của đối tượng nộp thuế BVMT 122
Bảng 4.8: Kết quả khảo sát thực trạng ảnh hưởng của các nhân tốliên quan đến thương mại quốc tế và xu thế bảo hộ thương mại bằng hàng ràokỹ thuật môi trường 124
Bảng 4.9: Kết quả khảo sát thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố liên quan tình hình hoạt động SXKD của đối tượng nộp thuế BVMT 125
Bảng 4.10: Kết quả khảo sát thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến Cơ quan quản lý nhà nước về BVMT 127
Bảng 4.11: Kết quả khảo sát thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố liên quan quy trình thủ tục, hồ sơ thanh toán thuế BVMT 129
Bảng 4.12: Kết quả khảo sát thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến ngành thuế về BVMT 130
Bảng 4.13: Kết quả khảo sát thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố liên quan xu thế BVMT tại Việt Nam 133
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Tổng quan về thuế BVMT trong các công cụ kinh tế 32Hình 2.2: Các công cụ chính sách môi trường và mức độ can thiệp của nhà nước 41Hình 3.1: Tổ chức bộ máy quản lý thuế hiện hành tại Việt Nam 66Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu thuyết tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
công tác QLNN đối với thuế BVMT Error! Bookmark not defined.
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thứ nhất, bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những vấn đề nhận được sự
quan tâm toàn cầu từ nhiều năm trở lại đây bởi tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóngcùng sự bùng nổ dân số thế giới đã khiến môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng.Theo đó, một số quốc gia đã có chính sách điều chỉnh han chế tác hại của ô nhiễm môitrường, góp phần nâng cao ý thức BVMT Điển hình, Thụy Sĩ đã thu lệ phí tiếng ồnmáy bay từ năm 1981; Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển đã giới thiệu cải cách thuế nănglượng từ năm 1990; Bỉ áp dụng thuế phát thải cơ vào năm 1993,… Đây là những chínhsách tài khóa mà rất nhiều nước tiến tiến trên thế giới đã áp dụng bằng cách sử dụngcông cụ phổ biến là thuế và phí môi trường Luật thuế BVMT, ở Việt Nam, được banhành và đưa vào thực thi tương đối muộn (có hiệu lực từ 01/01/012); tuy nhiên cũng làdấu mốc ghi nhận sự nỗ lực của nhà nước trong việc BVMT
Thứ hai, tại Việt Nam, hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn biến
theo chiều hướng xấu khi liên tiếp phải đối đầu với một số hiện tượng đáng lo ngại,chẳng hạn như hiện tượng cá chết hàng loạt do nhiễm độc biển ở miền Trung, hạn hán
ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Tây, cũng như tình trạng xâm nhập mặn ở vùng TâyNam Bộ,… Công tác QLNN về thuế BVMT vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế,ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả QLNN
Thứ ba, cho đến nay, Việt Nam đã ký kết nhiều văn bản liên quan đến môi
trường, trong đó phải kể đến các văn kiện quan trọng như: Công ước khung của Liênhợp quốc về biến đổi khí hậu 1992, Công ước về đa dạng sinh học 1992, Công ướcBasel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúngnăm 1995,… Đặc biệt, việc ban hành Luật thuế BVMT năm 2010 và chính thức cóhiệu lực năm 2012 có ý nghĩa rất lớn, thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước về BVMT Qua gần 8 năm triển khai thực hiện, chính sách thuế BVMT cơbản đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra như: đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tếbền vững, khuyến khích phát triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường; nâng cao ýthức BVMT của toàn xã hội; thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam với cộngđồng quốc tế; động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu để giải quyếtvấn đề môi trường,… Tuy nhiên, do chính sách thuế BVMT ở Việt Nam là một chínhsách mới nên trong quá trình triển khai thực hiện đã phát sinh những vướng mắc vàhạn chế từ xây dựng chính sách, tổ chức triển khai, công tác thanh tra kiểm tra, cũngnhư mục tiêu thực hiện cải cách thuế BVMT, điều này cần thiết phải được nghiên cứu,
Trang 13đánh giá một cách tổng thể, đầy đủ, toàn diện để từ đó đề xuất khắc phục những điểmyếu, hạn chế, vướng mắc và sửa đổi, bổ sung hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đốivới thuế BVMT trong thời gian tới.
Thứ tư, theo số liệu thống kê từ Bộ Tài chính, số thu từ thuế BVMT tăng trưởng
đều qua các năm Nếu số thu năm 2012 – năm đầu tiên thực hiện Luật thuế BVMT –mới chỉ đạt 11.160 tỷ đồng thì đến năm 2019 đã tăng gần 6 lần đạt 64.463 tỷ đồng;chiếm tỷ trọng 4,16% tổng thu NSNN và đóng góp 1,07% vào GDP hàng năm Tuynhiên, trong quá trình thực thi Luật này đã phát sinh một số bất cập như: đối tượng chịuthuế còn hạn hẹp, thời điểm tính thuế đối với mặt hàng xăng dầu chưa đồng bộ, cáchtính thuế và thu thuế chưa hợp lý giữa các đối tượng, chưa làm rõ sự khác nhau cơ bảngiữa thuế BVMT và phí môi trường, mục đích nguồn thu thuế chưa rõ ràng, công tácquản lý thuế còn nhiều yếu kém,… Chính vì thế, cần nghiên cứu đánh giá hoạt độngquản lý nhà nước (QLNN) đối với thuế BVMT để quá trình thực thi đạt hiệu quả caonhất
Thứ năm, hiện nay, tại Việt Nam, số lượng các công trình nghiên cứu về QLNN
đối với thuế BVMT chưa nhiều, đa phần mới chỉ dừng lại ở những bài viết mang tínhđóng góp cho dự thảo của Luật thuế BVMT, nhiều nghiên cứu chỉ dưới gốc độ tiêu chíchứ không đi sâu dưới góc độ QLNN, hoặc chỉ về vấn đề BVMT Thực tế cho thấychưa có nghiên cứu nào đi sâu vào các vấn đề liên quan đến thuế BVMT như thựctrạng pháp luật, thực trạng QLNN, thực trạng thực thi,… của luật này Điều này chothấy cần có một nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về QLNN đối với thuế BVMT, trước hết
là xây dựng tổng quan nghiên cứu, đưa ra đánh giá nghiên cứu, xác định khoảng trốngnghiên cứu và định hướng nghiên cứu một cách chính xác và phù hợp
Xuất phát từ những lý do nêu trên và mong muốn đóng góp vào việc nghiên cứu
chủ đề BVMT ở khía cạnh QLNN, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam” để thực hiện Luận án Tiến sĩ Luận
án này nhằm nghiên cứu thực trạng QLNN đối với thuế BVMT tại Việt Nam hiện nay,
từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động này trong thời gian tới
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chung
Luận án đặt mục tiêu góp phần hoàn thiện lý thuyết về QLNN đối với thuếBVMT; trên cơ sở đó đánh giá thực trạng, đề xuất định hướng và hệ thống các giảipháp có tính khoa học hoàn thiện công tác QLNN về thuế BVMT tại Việt Nam trongthời gian tới, nhằm bảo đảm được các mục tiêu QLNN về thuế BVMT của Việt Nam
Trang 14 Mục tiêu cụ thể
Về lý luận: Luận án tập trung làm rõ các nội dung sau:
(i) Những vấn đề mang tính nguyên tắc và yêu cầu đặt ra trong công tác QLNNđối với thuế BVMT;
(ii) Nội hàm QLNN đối với thuế BVMT: xây dựng và ban hành các chính sáchthu thuế BVMT; thiết lập bộ máy QLNN đối với thuế BVMT; tổ chức thực hiện chínhsách thuế BVMT; thanh tra kiểm tra và xử lý hành vi vi phạm chính sách thu thuếBVMT;
(iii) Mục tiêu và tiêu chí đánh giá mục tiêu QLNN đối với thuế BVMT;
(iv) Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với thuế BVMT để có cái nhìn tổngquan về bối cảnh QLNN, kết hợp với thực trạng các nội hàm QLNN và đánh giá mụctiêu QLNN đối với thuế BVMT trong thời gian qua, đề đề xuất các giải pháp hoàn thiện
(iv) Luận án đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN về thuếBVMT tại Việt Nam trong thời gian tới
3 Câu hỏi nghiên cứu
Trong bối cảnh nghiên cứu đã trình bày, câu hỏi nghiên cứu tổng quát của luận
án được đặt là: Việt Nam cần làm gì để hoàn thiện hơn nữa công tác QLNN đối với thuế BVMT trong thời gian tới?
Các câu hỏi nghiên cứu phụ được chi tiết hóa gồm:
1 Cơ sở lý thuyết về QLNN đối với thuế BVMT: nguồn gốc hình thành và mụctiêu của thuế BVMT là gì? Bản chất các nội dung, các nhân tố ảnh hưởng và tiêu chíđánh giá hiệu quả QLNN về thuế BVMT?
Trang 152 Thực trạng nội dung và thực thi QLNN về thuế BVMT tại Việt Nam hiện naynhư thế nào? Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả QLNN về thuế BVMT?Những thành công trong QLNN về thuế BVMT tại Việt Nam là gì? Có gì bất cập, khókhăn gì? Nguyên nhân do đâu?
3 Các quan điểm và giải pháp nào cần triển khai thực hiện để hoàn thiệnQLNN đối với thuế BVMT, cũng như đảm bảo sự tuân thủ nộp thuế của đối tượngđóng thuế BVMT tại Việt Nam trong thời gian tới?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: QLNN về thuế BVMT ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Luận án phân tích và làm rõ thực trạng QLNN đối
với thuế BVMT trên phương diện tác giả là một nhà nghiên cứu công tác tại Bộ Tàichính, tập trung vào 4 nhóm nội dung chính: (1) Xây dựng và ban hành các chính sáchthuế BVMT; (2) Tổ chức bộ máy và phân cấp QLNN đối với thuế BVMT; (3) Thựchiện QLNN đối với thuế BVMT và (4) Thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luậtliên quan đến thuế BVMT
Về thời gian nghiên cứu: Do Luật thuế BVMT có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2012, nên luận án sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng QLNN đối với thuế BVMTtrong giai đoạn 2012-2019 để có thể làm rõ những thay đổi trong QLNN trước và saukhi Luật thuế BVMT có hiệu lực thi hành Các phương hướng và đề xuất giải pháp hoànthiện QLNN đối với thuế BVMT áp dụng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
Về không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu thực trạng QLNN đối với thuế
BVMT tại Việt Nam Với đặc thù là quốc gia đang phát triển và Luật thuế BVMT chỉmới được triển khai áp dụng năm 2012, việc nghiên cứu công tác QLNN đối với thuếBVMT là rất cần thiết và có ý nghĩa thiết thực với phát triển kinh tế - môi trường tạiViệt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong luận án này, tác giả sử dụng một số phương pháp thu thập dữ liệu cụ thểnhư sau:
- Dữ liệu thứ cấp: Các dữ liệu thứ cấp trong nghiên cứu này được thu thập từ
các báo cáo cập nhật của các cơ quan, tổ chức (Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Tài
Trang 16nguyên Môi trường, Tổng cục thống kê, Tổng Cục Thuế, WB ); báo cáo tổng kết từcác chương trình, dự án cũng như các kết quả đã công bố của các hội nghị, hội thảo,các cuộc điều tra, khảo sát và đề tài NCKH do các tổ chức, cá nhân có liên quan trong
và ngoài nước thực hiện Ngoài ra, các dữ liệu thứ cấp còn được thu thập từ sách, báo,các kết quả từ các công trình khoa học có liên quan tới thực trạng QLNN đối với thuếBVMT trong những năm gần đây
Bên cạnh đó, nguồn dữ liệu thứ cấp quan trọng khác phục vụ cho nghiên cứunày là các văn bản pháp lý hiện hành tại Việt Nam có liên quan đến QLNN về thuếBVMT như Luật BVMT, Luật Thuế BVMT, … Đây là nguồn dữ liệu thứ cấp hữu ích,cung cấp các thông tin quan trọng về các quy định hiện hành của nhà nước liên quanđến công tác QLNN đối với thuế BVMT tại Việt Nam
- Dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn: Trong nghiên cứu này, tác giả thu thập dữ liệu
sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn sâu với 28 chuyên gia, nhà nghiên cứu, cán bộQLNN trong lĩnh vực QLNN về thuế BVMT (Phụ lục 4) nhằm phân tích thực trạngQLNN đối với thuế BVMT cũng như tham vấn để xây dựng Phiếu điều tra phục vụđánh giá Đây là kỹ thuật nghiên cứu định tính, theo đó, những người tham gia phỏngvấn được yêu cầu phát biểu cảm nhận, đánh giá của họ về vấn đề nghiên cứu Mục đíchcủa các cuộc phỏng vấn chuyên sâu cá nhân chú trọng thu thập ý kiến đánh giá của cácnhà quản lý và các chuyên gia về QLNN đối với thuế BVMT tại Việt Nam hiện nay,luận án sử dụng phỏng vấn bán cấu trúc (dựa theo danh mục các câu hỏi hoặc các chủ đềcần đề cập đến, Phụ lục 3) để có thể tìm hiểu sâu về vấn đề nghiên cứu
Sau khi xác định rõ mục tiêu và phương pháp phỏng vấn, tác giả xác định cácđối tượng tham gia phỏng vấn, và tiến hành liên hệ để lên kế hoạch về thời gian và địađiểm phỏng vấn Các nội dung phỏng vấn được xây dựng trên cơ sở mục tiêu nghiêncứu đã được xác định trước Nội dung phỏng vấn chuyên sâu tập trung vào các vấn đềchính như: (1) Thực trạng các chính sách thuế BVMT tại Việt Nam; (2) Thực trạngcông tác QLNN đối với thuế BVMT; (3) Những khó khăn trong QLNN đối với thuếBVMT; (4) Định hướng QLNN đối với thuế BVMT
- Dữ liệu sơ cấp qua khảo sát điều tra:
Trên cơ sở Phiếu điều tra khảo sát đã hoàn thiện sau phỏng vấn chuyên sâu, tácgiả đã tiếp tục tiến hành khảo sát đối với 68 chuyên gia, nhà quản lý về QLNN đối vớithuế BVMT Đây là đối tượng chuyên sâu vừa hiểu về công tác QLNN, xây dựng cơchế chính sách cũng như các vấn đề liên quan đến đối tượng nộp thuế, hoạt động củadoanh nghiệp trong lĩnh vực thuế BVMT
Trang 17Đồng thời, để củng cố thêm dữ liệu sơ cấp cho nghiên cứu, tác giả tiến hànhmột cuộc khảo sát điều tra bảng hỏi đối với 155 doanh nghiệp về QLNN đối với thuếBVMT trên cả nước Đây là đối tượng vừa phải chịu thuế và đi đóng thuế thay ngườitiêu dùng cuối cùng; vì vậy, đối tượng này có thể cung cấp nhiều thông tin hữu ích vàđưa ra các đánh giá chính xác về hiệu quả QLNN đối với thuế BVMT.
Để triển khai khảo sát điều tra, trước tiên, tác giả xác định mục đích khảo sátđiều tra Theo đó, mục đích khảo sát điều tra là nghiên cứu thực trạng công tác QLNNđối với thuế BVMT tại Việt Nam hiện nay Bảng hỏi gồm hai nội dung chính là thôngtin của doanh nghiệp tham gia khảo sát và thực trạng QLNN đối với thuế BVMT tạiViệt Nam hiện nay Kết quả thu về từ khảo sát hai đối tượng trên hình thành mẫunghiên cứu là 223 phiếu, gồm: 68 phiếu chuyên gia 155 phiếu doanh nghiệp là đốitượng chịu thuế BVMT (Phụ lục 7 và Phụ lục 8)
Phương pháp phân tích dữ liệu
- Đối với dữ liệu thứ cấp, tác giả sử dụng kết hợp cả hai phương pháp quy nạp và
suy diễn nhằm đưa ra các lập luận của mình trên cơ sở những kiến thức, kinh nghiệm vàcác công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến vấn đềnghiên cứu Cả hai phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong phần cơ sở lý luận vàđánh giá thực trạng công tác QLNN đối với thuế BVMT hiện nay Đồng thời, các chỉ sốthống kê mô tả như trung bình, độ lệch chuẩn, phần trăm, tốc độ phát triển, tốc độ pháttriển bình quân là các chỉ số thống kế dùng để phân tích dữ liệu thứ cấp
- Đối với dữ liệu sơ cấp quan phỏng vấn và khảo sát điều tra, tác giả sử dụng
một số phương pháp phân tích dữ liệu sau đây:
+ Tổng hợp, phân tích thống kê: Các dữ liệu phỏng vấn được tổng hợp lại vàphân loại theo từng nội dung cụ thể liên quan đến QLNN về thuế BVMT Hoạt độngnày tạo thuận tiện cho quá trình nghiên cứu của tác giả Trong trường hợp một sốthông tin phỏng vấn chưa rõ ràng, tác giả gọi điện lại cho người tham gia phỏng vấn đểxác nhận với họ Dữ liệu phỏng vấn thu thập được tổng hợp phân tích kết hợp với kếtquả khảo sát nhằm đánh giá thực trạng các nội dung QLNN, đánh giá thực hiện cácmục tiêu QLNN đối với thuế BVMT
+ Phương pháp định lượng: Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đếnhiệu quả QLNN đối với thuế BVNT Cụ thể, tác giả sử dụng phần mềm Excel và SPSS
để tổng hợp, phân tích dữ liệu sơ cấp khảo sát trên cơ sở mô hình lý thuyết được đềxuất, lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng với kết quả QLNN bằng
Trang 18phương pháp phân tích hồi quy, đồng thời để đánh giá mức độ quan trọng (mức độ tácđộng, giải thích) của mỗi biến độc lập tới biến phụ thuộc, kết luận có hay không bác
bỏ các giả thuyết về tác động của mỗi nhân tố ảnh hưởng tới QLNN đối với thuếBVMT tại Việt Nam hiện nay Ngoài ra, để phân tích các dữ liệu này, tác giả sử dụngcác phép thống kê như phần trăm, trung bình nhằm đánh giá tác động của các nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả QLNN đối với thuế BVMT tại Việt Nam
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Về lý luận:
Thứ nhất, luận án đã tiếp cận trên góc độ quản lý nhà nước (QLNN) về thuế bảo
vệ môi trường (BVMT) nhằm khắc phục thất bại của thị trường đối với khía cạnh tácđộng ngoại lai của môi trường, bao gồm: (i) Xây dựng và ban hành các chính sách thuthuế BVMT; (ii) Bộ máy QLNN về thuế BVMT; (iii) Tổ chức thực hiện chính sáchthuế BVMT; (iv) Thanh tra kiểm tra và xử lý hành vi vi phạm chính sách thu thuếBVMT Cách tiếp cận này là mới so với một số nghiên cứu trước đây ở Việt Nam, chủyếu tập trung vào nghiên cứu các khía cạnh để hoàn thiện luật thuế như nội dung thuế,các loại thuế, phương pháp tính thuế, hoặc các chính sách thuế BVMT Đó là cáchtiếp cận nghiên cứu của khoa học quản lý
Thứ hai, phần lớn, các nghiên cứu về thuế BVMT trong thời gian gần đây ở
Việt Nam đơn thuần đứng trên góc độ tài chính Điểm mới của luận án là giải quyếtvấn đề theo hai góc độ là tài chính và môi trường Quan trọng hơn, luận án nhấn mạnh
góc độ thứ hai: quản lý nhà nước về thuế BVMT phải nhằm đến mục tiêu chủ yếu là phải bảo vệ được môi trường Theo đó, luận án xác định nhóm tiêu chí đầu tiên đánh
giá hiệu quả QLNN về thuế BVMT là đáp ứng được yêu cầu về BVMT, sau đó mới lànhóm tiêu chí về tăng thu từ thuế Điều đó có nghĩa là tiêu chí tăng thu từ thuế phảiđược ưu tiên thấp hơn mục tiêu về BVMT Đây là quan điểm mới so với các quanđiểm truyền thống về mục tiêu của thuế Từ quan điểm đó nên nhóm nhân tố liên quanđến BVMT đã được luận án xem là chủ đạo khi lập luận về hệ thống các nhân tố ảnhhưởng đến QLNN về thuế BVMT của luận án
6.2 Về thực tiễn:
- Ngoài việc sử dụng mô hình định lượng để chỉ ra được 6 nhân tố tác động đếnhiệu quả của QLNN về thuế BVMT, điểm mới của luận án là còn sử dụng phương phápnghiên cứu định tính, và thang đo Likert để nghiên cứu, chỉ ra được trạng thái của cácnhân tố này hiện nay như thế nào ở Việt Nam Trong khi còn nhiều quan điểm cho rằng
Trang 19hiệu quả hành thu thuế BVMT thấp hiện nay là do hạn chế năng lực tài chính của doanhnghiệp, hay tính bất hợp lý của chính sách thuế, các thủ tục quy trình nộp thuế thiếukhoa học, thì qua phân tích bằng mô hình định lượng, luận án đã kết luận nút thắt chính
là: (i) Nhận thức và trách nhiệm môi trường và sự tự nguyện của doanh nghiệp; (ii) Bộ máy quản lý nhà nước về thuế BVMT hoạt động còn thiếu hiệu quả; (iii) Tổ chức thực thi, thanh kiểm tra và xử phạt vi phạm theo pháp luật BVMT chưa nghiêm minh Những
phát hiện mới này của luận án là cơ sở để luận án đề xuất những giải pháp đột phá trongtăng cường QLNN về thuế BVMT
- Luận án đã khẳng định, BVMT và thúc đẩy sự phát triển bền vững của kinh
tế-xã hội của đất nước là mục tiêu hàng đầu chương trình hoàn thiện QLNN về thuếBVMT Các giải pháp chính được đề cập trong luận án hướng tới giải quyết các nút thắt
ảnh hưởng không tích cực nhất đến QLNN về thuế BVMT, đó là: (i) Hoàn thiện các khía cạnh kinh tế của thuế BVMT nhằm nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp đến BVMT; (ii) Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thuế BVMT, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện thuế BVMT; (iii) Hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra thực hiện thuế BVMT.
7 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu gồm 5 Chương, không kể phần mở đầu và kết luận, cụthể gồm:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lýnhà nước về thuế bảo vệ môi trường
Chương 2: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với thuế bảo vệ môitrường
Chương 3: Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường
ở Việt Nam
Chương 4: Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản
lý nhà nước về thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Chương 5: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối vớithuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Trang 20CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Thuế BVMT đã được các học giả trên thế giới nghiên cứu từ cuối những năm
1990, và nở rộ trong 2 thập niên gần đây Các nghiên cứu chủ yếu chú trọng phân tích
về vai trò và tác động của thuế BVMT Từ năm 2010 đến nay, các nghiên cứu nướcngoài tập trung vào việc hoàn thiện và đổi mới thuế BVMT về thực tiễn Các nghiêncứu tiêu biểu gồm:
1.1.1 Các nghiên cứu về thuế và thuế bảo vệ môi trường
- YipChi Man (2018), “On the labor market consequences of environmental
taxes”, Journal of Environmental Economics and Management, Volume 89,
Pages 136-152
Nghiên cứu “Hậu quả thị trường lao động của thuế môi trường”chỉ ra tác động
của thuế BVMT đến thị trường lao động một quốc gia Cụ thể, nghiên cứu chú trọngphân tích và đánh giá ảnh hưởng của thuế BVMT đối với thị trường lao động trong cácngành sản xuất sử dụng nhiều năng lượng Trong đó, tác giả cho rằng việc đánh thuếBVMT nhiều hơn đối với thị trường lao động phổ thông tại các doanh nghiệp này làkhông hoàn toàn hợp lý
Điều này sẽ dẫn tới tình trạng thất nghiệp, đặc biệt là các lao động nam có trình
độ học vấn trung bình Bằng chứng cho thấy tình trạng thất nghiệp của bộ phận namgiới có trình độ học vấn thấp ngày càng gia tăng tại một số quốc gia trên thế giới domức thuế BVMT áp dụng cho vị trí công việc của họ cao khiến họ chán nản và quyếtđịnh rời khỏi lực lượng lao động Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả cho rằng cácquốc gia cần cân nhắc việc đánh thuế BVMT đối với các ngành sản xuất sử dụng nhiềunăng lượng bởi điều này ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động các ngành này
- OueslatiWalid (2015), “Growth and welfare effects of environmental tax
reform and public spending policy”, Economic Modelling, Volume 45,
Trang 21BVMT tác động tích cực thay đổi cơ cấu chi tiêu công giúp cải thiện tăng trưởng vàphúc lợi dài hạn.
Tuy nhiên, điều này dẫn đến chi phí phúc lợi tương đối cao trong giai đoạnchuyển tiếp.Hơn nữa, giảm thuế trên tiền lương có tác động tích cực đến tăng trưởngkinh tế, mạnh hơn là giảm thuế trên lợi nhuận Ngoài ra, phúc lợi xã hội cũng phụthuộc vào các nhân tố khác, như chi tiêu cho giáo dục;mặt khác giảm ô nhiễm cũng tácđộng tích cực đến tích lũy vốn nhân lực Khi cải cách thuế BVMT gắn liền với sự thayđổi trong cơ cấu chi tiêu công, tác động đến tăng trưởng và phúc lợi vẫn tích cực,nhưng với mức độ thay đổi
- Abdullah Sabah, Morley Bruce (2014), “Environmental taxes and economic
growth: Evidence from panel causality tests”, Energy Economics, Volume
về quan hệ dài hạn giữa tăng trưởng kinh tế và tăng doanh thu từ thuế BVMT, tuynhiên cũng có một số bằng chứng về mối quan hệ ngắn hạn theo hướng ngược lại.Nhìn chung, dân số và chính sách trợ cấp kinh tế ít ảnh hưởng đến mối quan hệ dài hạngiữa tăng trưởng kinh tế và tăng doanh thu từ thuế BVMT, mặc dù chính sách trợ cấp
có một số tác động ngắn hạn đối với tăng trưởng
Kết quả nghiên cứu chỉ ra tác động dài hạn của GDP và tiết kiệm được điềuchỉnh ròng đối với thuế BVMT và vận tải Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng về quan hệdài hạn theo hướng khác với dữ liệu thuế BVMT và giao thông của EU hoặc OECD.Kết quả này không thay đổi đáng kể khi các nhân tố khác được xem xét, chẳng hạnnhư dân số và chính sách trợ cấp môi trường
- OueslatiWalid (2014), “Environmental tax reform: Short-term versus
long-term macroeconomic effects”, Journal of Macroeconomics, Volume 40,
Pages 190-201
Nghiên cứu“Cải cách thuế môi trường: Tác động kinh tế vĩ mô ngắn hạn so với dài hạn” xem xét các tác động kinh tế vĩ mô của thuế BVMT trong một nền kinh tế
đang phát triển Một mô hình tăng trưởng nội sinh dựa trên tích lũy vốn nhân lực được
sử dụng để mô phỏng số lượng các tác động tăng trưởng của những cải cách thuếBVMT khác nhau và tính toán tác động của chúng đối với phúc lợi trong ngắn hạn vàdài hạn Kết quả cho thấy mức độ tác động phụ thuộc vào loại cải cách thuế và sự hiện
Trang 22diện của chi phí điều chỉnh cho đầu tư Mặc dù, cải cách thuế xanh nhằm mục đích sửdụng nguồn thu từ thuế BVMT để giảm thuế đối với tiền lương luôn cải thiện tăngtrưởng, hiệu quả phúc lợi dài hạn của thuế phụ thuộc vào chi phí điều chỉnh vốn Hơnnữa, hiệu quả phúc lợi ngắn hạn luôn luôn là tiêu cực đối với bất kể kịch bản cải cáchthuế nào tại các nền kinh tế đang phát triển.
- LiuAntung Anthony (2013), “Tax evasion and optimal environmental
taxes”, Journal of Environmental Economics and Management, Volume 66,
Issue 3, Pages 656-670
Nghiên cứu về“Trốn thuế và thuế môi trường tối ưu”chỉ ra tác động của thuế
BVMT đến kinh tế - xã hội của một quốc gia Đặc biệt, tác giả đưa ra lập luận mới vềtác động của một số hành vi liên quan đến thuế BVMT Tác giả cho rằng một số thuếBVMT, đặc biệt là thuế đối với xăng hoặc điện, khó trốn hơn thuế đối với lao độnghoặc thu nhập Khi cơ sở thuế được thay đổi theo cách trung lập về doanh thu đối vớicác loại thuế BVMT này, kết quả là làm giảm đáng kể số tiền trốn thuế Sử dụng thuếcarbon làm ví dụ,tình trạng trốn thuế được chứng minh là làm giảm mạnh các chi phíphục vụ cho việc kiểm soát khí thải, từ đó ảnh hưởng đến tình hình vĩ mô chung, đặcbiệt là tại các quốc gia có mức độ trốn thuế cao.Nhóm tác giả đã phát hiện sự thay đổitrung lập về doanh thu đối với thuế BVMT có thể có chi phí cực kỳ thấp hoặc tiêu cực,ngay cả khi thuế carbon được thực hiện Đồng thời, nghiên cứu đã xem xét cẩn thậnvấn đề trốn thuế khi thiết kế thuế carbon
- Wiesmeth Hans (2013), Environmental Economics: Theory and Policy in Equilibrium, Springer-Verlag Berlin and Heidelberg GmbH & Co KG
Nghiên cứu“Kinh tế môi trường: Lý thuyết và chính sách cân bằng” đã nêu lên
các nội dung quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề môi trường bằng các công cụkinh tế, đặc biệt là vai trò của thuế BVMT trong việc kiểm soát các vấn đề kinh tế Cụthể, nghiên cứu đã chỉ rõ ở một mức độ nhất định, suy thoái môi trường là kết quả củacác hoạt động kinh tế, cho nên mâu thuẫn giữa kinh tế và sinh thái được xem là hiểnnhiên Để giải quyết vấn đề này, việc sử dụng công cụ thuế BVMT có ý nghĩa quantrọng đối với nền kinh tế và môi trường của các quốc gia
Chính bởi vậy, trong nghiên cứu này, tác giả đã tập trung giải thích vai trò củathuế BVMT, đồng thời thực hiện các phân tích chuyên sâu về phương pháp cân bằngđối với kinh tế môi trường Nghiên cứu thảo luận sự cần thiết phải có các cơ chế ápdụng thuế BVMT phù hợp, ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế, để giải quyết các vấn đềmôi trường Ngoài ra, nghiên cứu tiến hành một cuộc khảo sát để làm rõ vấn đề này
Theo kết quả khảo sát của nghiên cứu này, các chính sách môi trường hiện tạitrên thế giới khá đa dạng, gồm các quy định, công cụ và các cuộc đàm phán liên quan
Trang 23đến môi trường, ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế, trong đó thuế BVMT có vai trò rấtquan trọng Tuy nhiên, sự hiểu biết đầy đủ về kinh tế môi trường và vai trò của thuếBVMT cần được đẩy mạnh hơn nữa trong việc ban hành các chính sách môi trường tạicác quốc gia.
- Böcher Michael (2012), “A theoretical framework for explaining the choice
of instruments in environmental policy”, Forest Policy and Economics,
Trong giai đoạn thứ hai, trọng tâm của quy trình cải cách chính sách đã chuyểnsang các cấu hình phân phối Lợi ích và quyền lực trở nên quan trọng hơn, và điều này
đã làm giảm khả năng thay đổi chính sách môi trường Các nhân tố thể chế liên quanđến hệ thống chính trị Đức đã phân định phạm vi lựa chọn thực tế mà các chủ thểchính sách có thể đưa ra liên quan đến chính sách môi trường Nhìn chung, ở giai đoạnnày, thuế BVMT chưa được nhìn nhận đúng với vai trò của nó, việc ra quyết định củacác chủ thể chính trị đối với thuế BVMT ở mức độ không cao
Nhìn chung, trong nghiên cứu này, tác giả đã tập trung nhấn mạnh vai trò củathuế BVMT trong chính sách môi trường của các quốc gia Đồng thời, theo tác giả, vaitrò của thuế BVMT đôi khi chưa được nhìn nhận và đánh giá một cách chính xác bởicác chủ thể chính trị, điều này làm giảm hiệu quả của công cụ thuế BVMT
- Cornelia Piciu Gabriela and LenutaTrica Carmen (2012), “Trends in the
Evolution of Environmental Taxes”, Procedia Economics and Finance,
Volume 3, Pages 716-721
Nghiên cứu“xu hướng phát triển của thuế môi trường”đã làm rõ vai trò quan
trọng của thuế BVMT như một công cụ tác động tích cực đến sự phát triển môi trườngtrên cơ sở quan điểm của các nhà chính trị.Những tác động của các hoạt động kinh tếđối với môi trường ngày càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết Vì vậy, việc áp dụng thuế mô-đun sẽ cho phép Liên minh châu Âu triển khai hiệu quả các giải pháp BVMT trên cơ
sở thu thuế công bằng đối với các công dân của EU
Trang 24Thuế mô-đun dựa trên một loại thuế đã được áp dụng ở các nước châu Âu vàtrong hệ thống tài chính của liên minh, không mang lại bất kỳ tác dụng phụ nào đối vớihiệu quả và công bằng của nền kinh tế Các tác giả cho rằng một cơ chế cân bằng nênđược phát triển giữa các thành viên của quốc gia để bù đắp cho sự thay đổi trong thunhập từ mỗi quốc gia Bên cạnh đó, sự cân bằng giữa các thành viên quốc gia về hànghóa và dịch vụ chưa được áp dụng phải được thiết lập.
- Westin Richard (1994), “International trade and environmental taxes”,
Renewable Energy, Volume 5, Issues 5–8, Pages 1293-1299.
Trong nghiên cứu“Thương mại quốc tế và thuế môi trường” tác giả cho rằng
cuộc khủng hoảng môi trường là tiền đề của các đề xuất thuế nhằm kiểm soát thiệt hạicho môi trường Trái Đất Tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của thuế BVMT nhưmột giải pháp hữu ích cho ngành năng lượng thay thế bởi có thể tạo gánh nặng tàichính cho các dạng năng lượng không mong muốn Về cơ bản, những đề xuất thuếBVMT này rất hấp dẫn, nhưng đồng thời cũng là đối tượng của các cuộc tranh luận bởi
vì thuế có tác động đáng kể đến các mô hình ngoại thương
Theo nghiên cứu này, thuế BVMT có vai trò quan trọng thông qua những tácđộng đến luật thương mại quốc tế dựa theo các hiệp ước đa phương mà nhiều quốcgia đã ký kết, trong đó chủ yếu là các quốc gia phát triển Vì vậy, các hiệp ước nàycần được thực hiện nghiêm túc, đồng thời phải được kiểm soát cẩn thận nhằm đảmbảo tính hiệu quả của việc thực thi thuế BVMT Ngoài ra, đối với các quốc gia, cácvấn đề liên quan đến thuế BVMT trong việc thiết lập thương mại quốc tế cần đượccân nhắc cẩn thận
- Baumol và Oates (1988), The Theory of Environmental Policy, Cambridge:
Cambridge University Press, 2nd ed
Trong nghiên cứu“Lý thuyết và chính sách môi trường” này, vai trò của thuế
BVMT đối với sự hiệu quả của nền kinh tế thị trường được các tác giả chú trọng quantâm Trước tiên, các tác giả hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về xây dựng chính sách môitrường tại các quốc gia Nghiên cứu chú trọng xác định các nhân tố bên ngoài tác độngđến sự hoạt động hiệu quả của nền kinh tế thị trường Kết quả phân tích cho thấy, bộthuế Pigouvian rất hữu ích trong việc điều chỉnh tác động ngoại lai Thuế Pigouvianđưa ra mức thuế bằng với những thiệt hại xã hội cận biên, từ đó có thể duy trì tính hiệuquả trong môi trường cạnh tranh
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng áp dụng phân tích kinh tế vào việc thiết kế mộtchính sách môi trường khả thi và hiệu quả Dựa trên thiết kế và thực thi các biện phápchính sách trong một môi trường hành chính điển hình, trong đó cơ quan môi trườngtrước tiên xác định một bộ tiêu chuẩn môi trường (ví dụ, nồng độ chất ô nhiễm cho
Trang 25phép), các tác giả đã thiết lập một khung chính sách môi trường để đạt được các tiêuchuẩn này Theo đó, các hệ thống phí và giấy phép phát thải có thể được sử dụng đểđạt được các tiêu chuẩn định trước về chất lượng môi trường Ngoài ra, một số công cụchính sách khác cũng có thể được nghiên cứu áp dụng trong điều kiện cụ thể của từngquốc gia.
1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý nhà nước về thuế và thuế bảo vệ môi trường
- Hafstead Marc, Williams III Roberton (2018), “Unemployment and
environmental regulation in general equilibrium”, Journal of Public Economics, Volume 160, Pages 50-65.
Trong nghiên cứu “Thất nghiệp và điều tiết môi trường trong trạng thái cân bằng chung”, tác giả tập trung nghiên cứu QLNN về thuế BVMT Cụ thể, tác giả đã
phân tích các tác động của chính sách và công tác quản lý môi trường, đặc biệt là thuếBVMT đối với vấn đề việc làm và thất nghiệp Nghiên cứu cho rằng việc áp thuếBVMT sẽ làm giảm đáng kể việc làm trong ngành công nghiệp gây ô nhiễm, nhưngđiều này được giải quyết bằng việc gia tăng việc làm trong các khu vực không hoặc ítgây ô nhiễm Kết quả là, mặc dù chính sách liên quan đến thuế BVMT gây ra sự thayđổi đáng kể về việc làm giữa các ngành, những hiệu quả ròng về việc làm nói chung(và thất nghiệp) là rất nhỏ, ngay cả trong ngắn hạn Bên cạnh đó, định mức (tiêuchuẩn) môi trường gây ra sự thay đổi đáng kể trong ngành nghề so với thuế phát thải,với các tác động ròng gần tương tự nhau
Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách muốn giảm thiểu sự thay đổi việc làmgiữa các ngành thì nên ưu tiên giải pháp sử dụng các tiêu chuẩn môi trường thay vìthuế BVMT Kết quả nghiên cứu cho thấy các quốc gia cần phải thận trọng trong việctriển khai các chính sách và công tác QLNN đối với thuế BVMT để đảm bảo cân bằng
Có thể đánh giá, đây là một trong những công trình nghiên cứu có quy mô vàbao quát khá đầy đủ các nội dung quan trọng liên quan đến thuế BVMT và công tác
Trang 26QLNN đối với loại thuế này Nhìn chung, nghiên cứu này đã đóng góp những cơ sở lýluận và thực tiễn hữu ích về việc sử dụng công cụ thuế BVMT trong QLNN về môitrường hiện nay.
- Kreiser Larry, Andersen Mikael Skou, Olsen Birgitte Egelund, Speck
Stefan, Milne Janet, Ashiabor Hope (2015), Environmental Pricing: Studies
in Policy Choices and Interactions, Edward Elgar Pub.
Trong nghiên cứu“Định giá môi trường: nghiên cứu lựa chọn chính sách và tương tác”, các tác giả nhấn mạnh đến công tác QLNN về thuế BVMT Hiện nay, việc
áp dụng thuế BVMT đã bị hạn chế trong công tác quản lý ở nhiều quốc gia trên thếgiới Nghiên cứu tìm hiểu phạm vi định giá môi trường (environmental pricing)và xemxét nhiều kinh nghiệm quốc gia trong hội nhập chính sách môi trường, để xác địnhviệc sử dụng thuế và chính sách hiệu quả nhất cho môi trường bền vững
Theo các tác giả, hiện nay, thuế BVMT thường được quản lý kết hợp với cáccông cụ điều tiết khác Tuy nhiên, vấn đề bất cập hiện nay là các quốc gia còn thiếukiến thức nghiêm trọng về cách thức QLNN đối với các công cụ chính sách và thuếkhác nhau Vì vậy, các tác giả chú trọng nghiên cứu và thảo luận về tiềm năng để sửdụng rộng rãi hơn thuế BVMT kết hợp với các công cụ chính sách khác và chỉ rõnhững hạn chế hiện tại trong công tác quản lý thuế BVMT phải được giải quyết Cácnghiên cứu thực nghiệm về các chiến lược chính sách được thảo luận cụ thể để làmtiền đề đề xuất các giải pháp khả thi Đồng thời, các tác giả cho rằng định giá môitrường là một giải pháp hữu ích đối với các quốc gia trong việc thực thi luật môitrường, kinh tế môi trường và phát triển bền vững môi trường
- Goulder và Parry (2008), “Instrument Choice in Environmental Policy,”
Review of Environmental Economics and Policy, Vol 2, No 2, pp 152–74 Nghiên cứu “Lựa chọn công cụ trong chính sách môi trường”, mục tiêu quan
trọng của nghiên cứu này là chỉ rõ ra những điểm mạnh và điểm yếu trong công tácQLNN về các công cụ chính sách môi trường (trong đó bao gồm thuế BVMT), từ đó
đề xuất công cụ phù hợp trong từng điều kiện cụ thể nhằm đảm bảo hiệu quả QLNN.Xuất phát từ mục tiêu đó, các tác giả tiến hành tổng hợp các vấn đề liên quan trong cácnghiên cứu gần với thời điểm nghiên cứu, từ đó đưa ra các bài học hữu ích cho các nhàhoạch định chính sách
Đồng thời, nghiên cứu này cũng thiết lập ý tưởng cho rằng thuế BVMT là mộtnguồn thu tiềm năng đặc biệt hiệu quả của chính phủ Đồng thời, thông qua công cụnày, các quốc gia có thể kiểm soát tốt các vấn đề liên quan đến BVMT, đồng thời địnhhướng các hoạt động (đặc biệt là các hoạt động kinh tế) theo hướng thân thiện với môitrường Vì vậy, công tác QLNN về thuế BVMT cần được quan tâm hơn nữa
Trang 27- Bontems Philippe, Bourgeon Jean-Marc (2005), “Optimal environmental
taxation and enforcement policy”, European Economic Review, Volume 49,
Issue 2, Pages 409-435
Trong nghiên cứu “Chính sách thực thi và đánh thuế môi trường tối ưu”, nhóm
tác tác giả phân tích và đánh giá công tác QLNN vềthuế BVMT tối ưu trong điều kiện(i) cơ quan quản lý không xác định được chính xác thiệt hại xã hội của ô nhiễm môitrường, (ii) các hình phạt đối với việc trốn thuế bị hạn chế và (iii) giám sát ô nhiễmmôi trường tốn kém Nhóm tác giả cho rằng tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từngquốc gia, các nhà hoạch định sẽ đưa ra các chính sách thực thi và đánh thuế BVMT tối
ưu một cách phù hợp để thu được hiệu quả cao nhất
Đồng thời, để đảm bảo hiệu quả của QLNN về thuế BVMT, việc ban hànhchính sách trên cơ sở cân nhắc đến điều kiện kinh tế - xã hội quốc gia và những tácđộng vĩ mô của chúng là rất quan trọng nhằm đảm bảo được tính ổn định của cácchính sách Bên cạnh công cụ thuế, các tác giả cho rằng việc sử dụng tiêu chuẩn ônhiễm môi trường cũng nên được xem xét bởi công cụ này cũng rất hiệu quả nếu cócác chính sách kèm theo phù hợp
- BaileyIan (2002), “European environmental taxes and charges: economic theory
and policy practice”, Applied Geography, Volume 22, Issue 3, Pages 235-251 Trong nghiên cứu “Thuế và phí môi trường Châu Âu: lý thuyết kinh tế và thực hành chính sách” tác giả đặc biệt quan tâm đến vấn đề QLNN về thuế BVMT trên cả
góc độ lý thuyết và thực tiễn tại các quốc gia châu Âu Tác giả đã chỉ ra các lợi ích vềmôi trường và kinh tế của thuế BVMT và các chính sách cũng như cơ chế QLNN dựatrên thị trường Mở đầu nghiên cứu, tác giả khẳng định tầm quan trọng của thuế và phímôi trường cũng như cơ chế quản lý thuế BVMT Đồng thời, tác giả hệ thống hóa các
lý thuyết kinh tế liên quan đến thuế và phí môi trường Kết quả nghiên cứu cho thấy cơchế QLNN dựa trên thị trường đối với các khoản thuế và phí môi trường tại các nướcchâu Âu có tác động cải thiện môi trường trong khi vẫn duy trì lợi ích kinh tế của cácbên liên quan Vì vậy, các quốc gia nên đầu tư nghiên cứu và triển khai áp dụng cơ chếquản lý này nhằm đảm bảo hiệu quả triển khai các chính sách thuế và phí BVMT
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, thuế BVMT mới được quan tâm trong hơn 10 năm gần đây, từkhi các dự thảo Luật thuế BVMT ra đời, các nhà nghiên cứu trong nước mới quan tâmhơn đến vấn đề này Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như sau:
1.2.1 Các nghiên cứu về thuế và thuế bảo vệ môi trường
- Phạm Thị Mỹ Linh (2019), Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam: nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội, LATS,
Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 28Nghiên cứu này phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuếcủa doanh nghiệp Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính đểlàm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Việt Nam Tácgiả nhận ra mối liên hệ mới: nhân tố sở hữu có tác động tích cực đến hành vi tựnguyện tuân thủ thuế của người nộp thuế trên cơ sở mẫu nghiên cứu các doanh nghiệptrên địa bàn Hà Nội Cũng theo kết quả nghiên cứu, nhân tố danh tiếng hay hình ảnhcủa doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều với tuân thủ thuế tự nguyện Đồng thời,kết quả nghiên cứu cho phép các nhà quản lý nhận thức rằng nhân tố tuân thủ thuế tựnguyện có tác động mạnh hơn đến tuân thủ thuế bắt buộc Bên cạnh đó, nhân tố khảnăng bị kiểm tra và xử phạt có tác động mạnh nhất đến hành vi tuân thủ thuế củangười nộp thuế, đặc biệt là nhân tố khả năng bị kiểm tra Nhân tố chuẩn mực xã hộicũng có tác động đáng kể đến tuân thủ bắt buộc Tuy nhiên, nghiên cứu này không tìmthấy được mối quan hệ giữa nhân tố đạo đức thuế đến hành vi tuân thủ thuế của cácdoanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội, mặc dù nhiều nghiên cứutrước đây đều khẳng định đây là một nhân tố chủ quan có vai trò quan trọng, tác độnglớn đến hành vi tuân thủ thuế.
- Trung Tâm Thông Tin Khoa Học Lập Pháp (2018), Thuế BVMT một số nước trên thế giới – kinh nghiệm cho Việt Nam, Viện Nghiên Cứu Lập Pháp
- Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
Vai trò quan trọng của thuế BVMT đối với quản lý và BVMT được nhấn mạnh
rõ trong chuyên đề này Cụ thể, chuyên đề tập trung phân tích các loại thuế và phíBVMT hiện đang được một số nước trên thế giới áp dụng và đã mang lại hiệu quả caotrong quản lý và BVMT, bao gồm thuế năng lượng/nhiên liệu, thuế phương tiện, thuếBVMT, phí khai thác nước, phí xử lý rác thải…Trên cơ sở nghiên cứu thực tế chínhsách thuế BVMT tại các quốc gia tiêu biểu như Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc, ThuỵĐiển…, đề tài đã rút ra những điểm tiêu biểu để làm bài học cho Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu về kinh nghiệm của các nước và những đánh giá vềchính sách thuế BVMT hiện hành của Việt Nam, đề tài đã đưa ra các kiến nghị về đốitượng chịu thuế, mức thuế suất đối với một số sản phẩm, hàng hóa Các kết quả nghiêncứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng để Nhà nước Việt Nam có những sự điều chỉnh,
bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp luật về thuế BVMT để nâng cao hiệu quảBVMT của nước ta
- Nguyễn Đình Chiến (2017), “Chính sách thuế nhằm bảo vệ môi trường
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Tài chính ngày
18/07/2017
Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng, vấn đề BVMT hiện là mối quan tâmhàng đầu trên thế giới Thuế BVMT đóng vai trò là công cụ chính sách BVMT đang
Trang 29được nhiều nước áp dụng triển khai Tác giả nhấn mạnh rằng việc áp dụng công cụthuế BVMT có tác động mạnh mẽ đến kinh tế, xã hội và môi trường của các quốc gia.Chính vì vậy, việc triển khai áp dụng thuế BVMT nếu không hiệu quả sẽ dẫn đếnnhững tác động tiêu cực đối với quốc gia.
Trong những năm gần đây, chính sách thuế BVMT của Việt Nam đã có một sốthành công; mặc dù vậy, hiệu quả và tác động đến vấn đề BVMT vẫn còn nhiều nhiềuhạn chế Thực tế này đã gây ra những tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội và môitrường; nội dung và hoạt động triển khai các chính sách và thuế BVMT được hiểu vàtriển khai chưa triệt để, đồng bộ, dẫn đến những tác động tiêu cực đối với quốc gia
- Đinh Trọng Khang (2016), “BVMT bằng công cụ thuế, phí môi trường và
hiệu quả của giải pháp hiện nay ở Việt Nam”, Tạp chí Giao thông vận tải,
số tháng 8-2016
Hiện nay, tại Việt Nam, các biện pháp BVMT hiện đang được áp dụng bao gồmcông cụ thuế, phí BVMT được thể hiện trong Luật Thuế BVMT và hệ thống phíBVMT đối với một số loại hàng hóa gây ô nhiễm Bài báo tập trung phân tích kháiniệm và vai trò của thuế và phí BVMT trong công tác QLNN và sự thay đổi hành viứng xử của các chủ thể tiêu dùng, sản xuất và kinh doanh trong cộng đồng Để chứngminh tính hiệu quả của các loại phí BVMT trong việc cải thiện và giảm thiểu mức độ ônhiễm môi trường, tác giả đã tập trung phân tích việc áp dụng các loại phí này vàothực tế tại một số quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng sử dụng công cụ thuế và phí BVMT tạiViệt Nam, bài báo cho thấy những hạn chế như sự thiếu đồng bộ về hệ thống chínhsách quản lý của Nhà nước và chính sách BVMT, sự phân công trách nhiệm chưa rõràng và hiệu quả, mức thuế suất áp dụng cho các mặt hàng chưa hợp lý…Trên cơ sở
đó, bài báo đã đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công cụthuế và phí BVMT nhằm hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường
- Ho Hoang-Anh (2016), Business Compliance with Environmental Regulations: Evidence from Vietnam, WorldFish (ICLARM) – Economy
and Environment Program for Southeast Asia (EEPSEA)
Xuất phát từ vai trò quan trọng của thuế BVMT, trong nghiên cứu“Tuân thủ các quy định về môi trường của doanh nghiệp: bằng chứng từ Việt Nam” tác giả thực
hiện các nghiên cứu thực nghiệm về nhiều nhân tố khác nhau nhằm nâng cao ý thức vàtrách nhiệm tuân thủ các điều luật về môi trường tại Việt Nam Cuộc nghiên cứu dựatrên dữ liệu khảo sát 3 vòng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta (2007,
2009 và 2011), đây là giai đoạn Luật thuế BVMT chưa có hiệu lực Nghiên cứu nàycung cấp những bằng chứng thực nghiệm dễ hiểu về việc xác định hành vi tuân thủ
Trang 30luật pháp về BVMT tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về luật môitrường có mối liên hệ mạnh mẽ và chặt chẽ đến hành vi tuân thủ luật pháp của các tầnglớp nhân dân.
Nghiên cứu cũng chứng minh được rằng việc nộp phí BVMT có mối liên hệmật thiết đối với khả năng BVMT Trong khi đó, các nhân tố như áp lực từ cộng đồng
và thị trường cũng như năng lực tuân thủ không có mối liên hệ nhiều với hành vi tuânthủ luật pháp Kết quả nghiên cứu của đề tài này có những tác động tích cực đến chính
sách nâng cao hành vi tuân thủ pháp luật của người dân tại Việt Nam Thứ nhất, Chính
phủ cần tăng cường đối thoại và hỗ trợ người dân bằng cách phân tích chi tiết hiệu quả
của các loại chi phí Thứ hai, Việt Nam cần cân nhắc hiệu quả chi phí của việc sử dụng nhiều tài nguyên vào việc kiểm tra và giáo dục cộng đồng Cuối cùng, các nghiên cứu
trong tương lai nên tập trung vào tác động của việc công bố công khai tình hình thực tếcủa môi trường đối với các hành vi tuân thủ pháp luật môi trường
- Nguyễn Thị Thanh Hoài (2014), “Sử dụng chính sách thuế nhằm BVMT ở
Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 1-2014.
Nghiên cứu làm rõ vai trò quan trọng của thuế BVMT đối với việc điều chỉnhcác hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm duy trì và cải thiện sự trong sạchcủa môi trường, tiết kiệm khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hài hòa lợiích giữa doanh nghiệp và xã hội Trong chính sách thuế hiện hành về BVMT của ViệtNam, có thể kể đến các loại thuế bao gồm thuế BVMT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thunhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên Thuế BVMT hiện hành của Việt Nam vừa tạonguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa góp phần nâng cao nhận thức của mọi tầng lớpnhân dân về việc BVMT, đồng thời điều tiết hoạt động sản xuất và kinh doanh nhằmthúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Bên cạnh những tác động tích cực, chính sách thuế BVMT hiện hành của ViệtNam vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định Cụ thể, thuế BVMT chưa góp phầnkhuyến khích các doanh nghiệp triển khai các giải pháp xử lý chất thải, chưa góp phầngiảm thiểu các hành vi tiêu dùng các sản phẩm có ảnh hưởng xấu đến môi trường;đồngthời, thuế BVMT tại Việt Nam chưa thúc đẩy nhận thức sâu sắc của các tầng lớp nhândân về tầm quan trọng của nó Điều này dẫn đến đa số người dân còn thờ ơ và chưa cótrách nhiệm đối với các chính sách thuế của nhà nước hiện nay
Trên cơ sở thực trạng về chính sách thuế BVMT hiện hành của Việt Nam, đề tài
đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả BVMT của nước ta Cụ thể, ViệtNam cần đẩy mạnh ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp có tham gia BVMT Bêncạnh đó, Việt Nam cần khuyến khích phát triển các nguồn năng lượng sạch, cũng như
Trang 31quản lý nghiêm ngặt hoạt động khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên;đặc biệt là trong dài hạn cần nghiên cứu và xây dựng thuế carbon.
- Vũ Văn Cương (2013), Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, LATS, Trường Đại học
Từ đó, luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế trongnền kinh tế thị trường ở Việt Nam Nhìn chung, đây là một công trình nghiên cứu cótính hệ thống về pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Vìvậy, luận án rất hữu ích trong nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp lý phục vụ chomột số hoạt động cụ thể như hoạch định chính sách; quản lý hoạt động trong các cơquan tài chính, thuế, hải quan…
- Nguyen Van Chan, CoxheadIan (2011), “Vietnam’s environment protection
tax: Possible impacts and incidence”, Journal of Economics and Development Vol.13, No.1, pp 5 – 18.
Bài báo đánh giá các tác động về mặt kinh tế và môi trường trong ngắn hạn vàdài hạn của thuế BVMT, cụ thể là việc thực hiện Luật Thuế BVMT được Quốc hội banhành và bắt đầu có hiệu lực từ năm 2012 Kết quả dự báo từ kịch bản mô phỏng dựa trên
mô hình trạng thái cân bằng tổng thể đối với nền kinh tế Việt Nam, sử dụng phần mềm
Mô hình cân bằng tổng thể (GEMPACK) Tùy thuộc vào các giả định khác nhau về sựbiến động của các nhân tố, kết quả số học của mô phỏng cho thấy sự sụt giảm mạnhtrong ngắn hạn và giảm dần trong thời gian dài của tốc độ tăng trưởng GDP
Theo kết quả của mô hình, việc áp dụng Luật Thuế BVMT sẽ ít có khả năng trựctiếp mang lại hiệu quả kinh tế một cách tích cực nhưng sẽ giúp cải thiện môi trường tựnhiên và nâng cao chất lượng cuộc sống Các kết quả mô phỏng cũng nhấn mạnh sự cầnthiết của các chính sách và biện pháp đi kèm của Chính phủ như phân phối lại doanh thu
từ Thuế BVMT trong các chương trình khác nhau nhằm cải thiện môi trường tự nhiên
và hỗ trợ các ngành công nghiệp phụ thuộc nhiều vào năng lượng
Trang 32- Lê Thị Kim Oanh (2010): Bàn về áp dụng nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả” trong chính sách môi trường”, Tạp chí khoa học và công nghệ,
đại học Đà Nẵng – Số 4 (39)
Nghiên cứu phân tích vai trò của thuế BVMT trong chính sách môi trường Cụthể, tác giả nghiên cứu làm rõ nội hàm của nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả”(PPP), trong đó đề cao vai trò của việc phân bổ cũng như nội dung phí môi trường baohàm trong phạm vi của PPP Bài viết đi sâu phân tích xem ai sẽ là người chi trả các chiphí kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm được đưa ra bởi các cơ quan chức năng khi gây ônhiễm môi trường Chi phí PPP được tính vào giá cả của hàng hóa và phụ thuộc vàocấu trúc thị trường
Trong công nghiệp, phí ô nhiễm được thu dưới dạng phí sử dụng để bù đắp chiphí của dịch vụ xử lý nước thải và phí xả thải và tính chất khuyến khích xử lý ô nhiễm.Việc làm rõ bản chất của nguyên tắc PPP sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triểnkhai và thực hiện các công cụ chính sách môi trường trong thực tế để nâng cao hiệu quảBVMT
- Nguyễn Quang Tuấn, Lê Thị Thảo (2008), “Luật Thuế môi trường – giải pháp
quản lý và bảo vệ môi trường”, Tạp Chí Nghiên Cứu Lập Pháp, Số 8/2008.
Trong nghiên cứu này, vai trò của thuế BVMT được hai tác giả chú trọng làm
rõ thông qua đề cập đến sự cần thiết của việc xây dựng nên một bộ luật riêng về thuếBVMT, đó là Luật thuế BVMT Theo thực trạng về thuế BVMT được phân tích trong
đề tài, mặc dù việc quản lý và BVMT chủ yếu dựa vào chính sách pháp luật và cáccông cụ pháp lý, giáo dục và truyền thông nhưng các loại thuế BVMT và hoạt độngthu, chi các loại thuế này vẫn chưa được quy định trong một bộ luật riêng nào
Hiện nay, thuế BVMT tại Việt Nam được đề cập và quy định trong nhiều vănbản pháp luật cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành luật như Bộ luật Hình sự
1985, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp (1993), Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp(2005, 2008), Pháp lệnh Thuế tài nguyên (1990)…Tuy nhiên, tất cả đều không cụ thể
và thiếu tính hệ thống, gây nên những hạn chế nhất định trong việc quản lý, BVMT vàđiều chỉnh các hành vi của các cá nhân, tổ chức trong cộng đồng
Xuất phát từ tính cấp bách của vấn đề và từ việc phân tích các quan điểm khácnhau về xây dựng Luật môi trường, tác giả cũng đề xuất hướng xây dựng Luật môitrường tại Việt Nam dựa trên các nội dung bao gồm đối tượng chịu thuế, đối tượngđánh thuế, căn cứ tính thuế và thuế suất, đối tượng không thuộc diện chịu thuế, đốitượng miễn hoặc giảm thuế
1.2.2 Các nghiên cứu về quản lý nhà nước về thuế và thuế bảo vệ môi trường
- Phạm Nữ Mai Anh (2019), Quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện
tử ở Việt Nam, LATS, Học viện Tài chính.
Trang 33Luận án tập trung nghiên cứu quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện
tử ở Việt Nam Thông qua phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy môhình, luận án xác định 04 nhân tố có ảnh hưởng đến tính tuân thủ tự nguyện của cácdoanh nghiệp, cụ thể là: (1) kiểm soát của cơ quan thuế; (2) sự đáp ứng thông tin của cơquan thuế; (3) năng lực phục vụ của cán bộ thuế; và (4) ý thức của doanh nghiệp
Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án cũng làm rõ được thực trạng quản lýthuế đối với hoạt động thương mại điện tử thời gian qua cả về những kết quả đạt được,cũng như các hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Từ đó, luận án đưa ra các giải phápkhả thi để cải thiện hoạt động quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử tạiViệt Nam Như vậy, thông qua luận án này, tác giả đã làm rõ thêm mục tiêu của quản
lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử, đặc biệt là các nội dung quan trọng củaquản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử
- Nguyễn Quang Hưng (2018), Hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam, LATS, Đại học Kinh tế Quốc dân.
Luận án nhằm mục tiêu hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam thôngqua hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra thuế Thông qua việc tổng hợpcác kết quả nghiên cứu trước đó về hoạt động thanh tra thuế, tác giả đã xây dựng haikhung mô hình nghiên cứu về hoạt động thanh tra thuế Mô hình nghiên cứu thứ nhất
là về các nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế và tác động lan tỏa củakết quả hoạt động thanh tra thuế (mô hình này có 10 giả thuyết nghiên cứu) Mô hìnhnghiên cứu thứ hai là về các nhân tố ảnh hưởng đến sự đồng thuận của người nộp thuếđối với kết luận thanh tra và tác động lan tỏa của sự đồng thuận (mô hình này có 5 giảthuyết nghiên cứu)
Sau khi xây dựng mô hình nghiên cứu, tác giả tiến hành phân tích các thông tin,
số liệu từ báo cáo của ngành thuế và kết quả khảo sát đánh giá của cán bộ thanh tra,người nộp thuế và chuyên gia tư vấn thuế - kế toán - kiểm toán Kết quả nghiên cứuchỉ ra thực trạng hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2015.Đồng thời, trong luận án, tác giả chú trọng chỉ rõ những kết quả, hạn chế, nguyên nhânchính dẫn đến những kết quả cũng như hạn chế đó của hoạt động thanh tra thuế tạiViệt Nam trong giai đoạn 2007 - 2015 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đề xuấtcác khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam
- Đinh Nam Thắng (2016), Định hướng hoàn thiện chính sách thuế BVMT giai đoạn 2016 – 2020, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Bộ Tài chính.
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác QLNN về thuế BVMT tại Việt Nam giaiđoạn 2016 - 2020 Tác giả trình bày cụ thể và chi tiết về quản lý thuế BVMT, đặc biệt
là những vướng mắc và chồng chéo giữa các Luật và chính sách liên quan đến thuế
Trang 34BVMT đều được đề tài phân tích một cách rõ ràng Những kết quả đạt được trong quátrình triển khai thuế BVMT ở Việt Nam được phân tích một cách cụ thể Từ khi đượcđưa vào áp dụng, thuế BVMT đã góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩmgây ô nhiễm, khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bổ sung mộtnguồn thu đáng kể vào ngân sách nhà nước.
Bên cạnh những điểm tích cực, đề tài cũng chỉ rõ những hạn chế trong quá trìnhtriển khai QLNN về thuế BVMT trong thời gian qua về đối tượng chịu thuế, đối tượngkhông chịu thuế, thời điểm tính thuế, khung thuế suất, phương pháp tính thuế Dựatrên kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị mang tính thựctiễn cao nhằm hoàn thiện chính sách thuế BVMT của Việt Nam trong bối cảnh hộinhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2016 – 2020
- Nguyễn Đình Chiến (2016), “Hoàn thiện các quy định về thuế BVMT ở
Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, số 01 (150) – 2016.
Công tác QLNN về thuế BVMT tại Việt Nam được tác giả đặc biệt quan tâm vàlàm rõ Sau khi xây dựng cơ sở lý luận hoàn thiện đối với QLNN về thuế BVMT(thông qua các quy định về thuế BVMT), đề tài đi sâu vào đánh giá thực trạng củacông tác QLNN về chính sách thuế BVMT ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu chỉ rõ hiện nay, công tác QLNN về thuế BVMT ở ViệtNam được thể hiện thông qua các sắc thuế bao gồm thuế BVMT, thuế tiêu thụ đặc biệt
và thuế tài nguyên Đề tài cũng đánh giá những điểm hạn chế của QLNN về thuếBVMT hiện hành như chính sách còn mang tính chung chung, hạn chế trong năng lựcthẩm định mức độ tác động đến môi trường, sự triển khai còn chưa triệt để Trên cơ sởcác kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất một số giải pháp tập trung vào các sắc thuếnhằm hoàn thiện chính sách thuế BVMT ở Việt Nam
- Lưu Ngọc Thơ (2013), Quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn ở Việt Nam hiện nay, LATS, Học viện Tài chính.
Nội dung chính của luận án là nghiên cứu hoạt động quản lý thuế đối với cácdoanh nghiệp lớn ở Việt Nam hiện nay Trước tiên, tác giả hệ thống hóa các vấn đề lýluận liên quan đến quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn Một số nội dung chính baogồm: (i) mô hình tổ chức bộ máy và việc tổ chức thực hiện pháp luật thuế trong hoạtđộng quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn ở cơ quan thuế nội địa, (ii) kinh nghiệmquản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn ở một số quốc gia trên thế giới
Trên cơ sở đó, tác giả rút ra kinh nghiệm cho công tác quản lý thuế đối vớidoanh nghiệp lớn ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận án chỉ ra thực trạng quản
lý thuế đối với doanh nghiệp lớn ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nâng caohiệu quả quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn ở Việt Nam
Trang 35- Nguyễn Hoàng (2013), Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Nội dung chính của luận án là hoạt động quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam Tác giả triển khai nghiên cứu sâu về chính sách và cơ chế quản lýthu thuế thu nhập cá nhân hiện hành, với sự tham gia của các chuyên gia và các đối tácquốc tế Thông qua mô hình kinh tế lượng, điều tra khảo sát thử nghiệm về tuân thủ thuếthu nhập cá nhân trên địa bàn Hà Nội, tác giả tập trung chỉ ra những thành công và hạnchế trong công tác QLNN đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Từ đó, luận án tập trung đề xuất lộ trình cải cách chính sách thuế Cụ thể, tác giảcho rằng việc rút gọn dần số thuế suất vào 2 kỳ cải cách thuế tiếp theo năm 2017 và
2022 là rất cần thiết, đồng thời cần sử dụng mô hình toán đánh giá tác động của việc cảicách đến nghĩa vụ ngân sách của người nộp thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
- Bùi Thanh (2013), “Tăng cường QLNN về bảo vệ môi trường để phát triển
bền vững”, Tạp chí Cộng sản, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh, ngày 9/7/2013
Bài báo nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò của công tác QLNN về thuếBVMT của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Trong phạm vi nội dungcủa bài báo, những thành tựu của công tác QLNN trong BVMT được trình bày mộtcách cụ thể, bao gồm hệ thống chính sách và pháp luật ngày càng hoàn thiện, tổ chức
bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương được thiết lập đồng bộ và dần kiệntoàn, nguồn vốn đầu tư cho hoạt động BVMT ngày càng tăng, sự tham gia của cáctầng lớp nhân dân vào BVMT ngày càng được nâng cao…
Tuy nhiên, theo tác giả, công tác QLNN về thuế BVMT vẫn còn nhiều hạn chếcần khắc phục Cụ thể, nhận thức của các cơ quan QLNN và người dân về BVMTchưa cao, ý thức BVMT chưa trở thành thói quen, nhận thức về tăng trưởng kinh tếxanh, bền vững của các cấp chính quyền còn hạn chế, hệ thống pháp luật còn mangtính chung chung và nặng về nguyên tắc, cơ chế và chính sách BVMT còn lạc hậu vàchậm đổi mới, bộ máy QLNN về môi trường còn cồng kềnh và chưa thực sự phát huyđược tối đa hiệu quả QLNN về BVMT…
Bài báo cũng đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường QLNN trong BVMT,bao gồm (1) tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan QLNN, đẩy mạnh tuyêntruyền và giáo dục ý thức BVMT cho nhân dân, (2) hoàn thiện chính sách và pháp luật
về BVMT, (3) tăng cường nguồn tài chính cho hoạt động bảo vệ và cải tạo môi trường
- Nguyễn Thị Thùy Dương (2011), Quản lí thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, LATS, Đại học Kinh tế Quốc dân.
Trang 36Nội dung trọng tâm của luận án là phân tích và đánh giá hoạt động quản lí thuế
ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Với mục tiêu hoàn thiện hoạtđộng quản lý thuế, tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài; đồng thờichú trọng nghiên cứu hoạt động quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế Thông qua kết quả nghiên cứu, có thể thấy rằng, hoạt động quản trịchiến lược trong quản lý thuế ở Việt Nam vẫn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Bêncạnh đó, việc tuân thủ nghiêm pháp luật thuế chưa được đánh giá cao Công tác quản
lý thuế còn một số hạn chế, đặc biệt là về uy trình và thời gian xử lý khiếu kiện củadoanh nghiệp Bên cạnh đó, việc thay đổi chính sách và thủ tục quản lý thuế còn thiếu
sự quan tâm, tiếp thu góp ý từ người nộp thuế
Đồng thời, luận án đã chỉ ra những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đếncông tác quản lý thuế tại Việt Nam Cụ thể, hội nhập kinh tế cho phép gia tăng hợp tácthuế giữa các nước, từ đó thúc đẩy cạnh tranh thuế và góp phần quan trọng vào việcđối phó với tình trạng trốn và tránh thuế quốc tế Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận
án đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tác giả cho rằng việc giải quyết tốt mối quan hệ vớingười nộp thuế cần được chứ trọng hơn nữa Đồng thời, Việt Nam cần chủ động xâydựng mô hình phân tích để dự báo và ứng dụng vào công tác quản trị thuế
- Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), Hoàn thiện quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (nghiên cứu tình huống của Hà Nội) LATS, Đại học Kinh tế Quốc dân.
Luận án nhằm mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý thu thuế của nhà nướcnhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu nghiêncứu, tác giả chú trọng vào một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý thu thuế nhànước đối với doanh nghiệp nhằm tăng cường việc tuân thủ của doanh nghiệp, đặc biệt
là tuân thủ tự nguyện
Trong luận án này, tác giả triển khai khảo sát và nghiên cứu hành vi tuân thủthuế của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội Từ đó, tác giả khẳng định tầm quantrọng của công tác quản lý nhà nước về thuế đối với việc tăng cường tuân thủ thuế củacác doanh nghiệp Đồng thời, kết quả nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đếnviệc tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Trên cơ sở đó, luận án đưa ra giải pháp vàkiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế, từ đó nâng cao mức độ tuân thủthuế của các doanh nghiệp Việt Nam
- Trần Vũ Hải (2009), “Một số vấn đề về việc ban hành Luật thuế môi trường
ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 4/2009.
Trang 37Đề tài nghiên cứu công tác QLNN về thuế BVMT dưới góc độ việc ban hànhLuật thuế BVMT ở Việt Nam Căn cứ vào các điều luật được đề cập trong Luật Môitrường 2005, đề tài đi sâu phân tích khái niệm “Thuế BVMT” dưới nhiều góc độ Cùngvới mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, sự thiếu hệ thống và chồngchéo về mặt luật pháp, yêu cầu bức thiết của công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế khiếncho việc ban hành Luật thuế BVMT ở Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Bên cạnh đó, đề tài phân tích những nguyên tắc tiếp cận khi xây dựng Luật thuếBVMT như (1) nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả”, nguyên tắc “người đượchưởng lợi phải trả”, (2) Luật phải đảm bảo khuyến khích việc BVMT, (3) cần táchbạch giữa thuế BVMT và thuế tài nguyên, (4) một số loại phí môi trường cần phải duytrì vì thuế BVMT không thể hoàn toàn thay thuế phí môi trường Trên cơ sở cácnguyên tắc đưa ra, bài báo đưa ra một số đề xuất đề xây dựng Luật thuế BVMT Cụthể, cần quy định rõ đối tượng phải nộp thuế, hệ thống các chỉ tiêu để xác định mức độgây ô nhiễm của chủ thể, quy định về ưu đãi thuế (miễn thuế, giảm thuế)
1.3 Đánh giá tổng quan nghiên cứu
1.3.1 Những nội dung luận án kế thừa từ kêt quả các nghiên cứu trước
Qua những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước kể trên, có thể thấy, cácnhà nghiên cứu đã hệ thống được những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản liên quan đếnQLNN về thuế BVMT, luận án có thể sử dụng mang tính chất kế thừa, cụ thể như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu trong và ngoài nước đã làm rõ vai trò và tác động của
thuế BVMT đến các nhân tố vĩ mô của một quốc gia như kinh tế, xã hội, môi trường Đồng thời, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến vai trò quan trọng của các chínhsách và công tác QLNN đối với thuế BVMT
Thứ hai, các nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề QLNN đối với thuế BVMT,
trong đó, đa phần quan tâm đến cải cách hành chính và thuế BVMT trên cơ sở phântích các vấn đề bất cập phát sinh trong quá trình thực thi thuế BVMT trong thời gianqua, từ đó đề xuất một số kiến nghị sửa đổi Luật thuế BVMT
Thứ ba, các công trình nghiên cứu, đặc biệt là các công trình ngoài nước đã tiếp
cận công tác QLNN từ nhiều góc độ khác nhau như góc độ về chính sách, về cơ chếquản lý từ khi thuế BVMT được thi hành Từ đó phản ánh các vấn đề lý luận và thựctiễn liên quan đến QLNN về thuế BVMT một cách chi tiết, rõ nét, đưa ra được các đánhgiá mang tính chuyên sâu về hoạt động này trong các bối cảnh nghiên cứu khác nhau
Thứ tư, trong những năm gần đây, cùng với những biến động bất thường của
môi trường sinh thái trong nước và toàn cầu, cũng như ý thức BVMT ngày càng đượcnâng cao, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có đóng góp đáng kể vào
Trang 38tiến trình hoàn thiện QLNN đối với thuế BVMT, góp phần nâng cao vai trò của thuếBVMT đối với các vấn đề mang tính vĩ mô của một quốc gia và toàn cầu, hỗ trợ đắclực cho quá trình phát triển bền vững của các quốc gia.
Thứ năm, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra được những hạn chế chủ yếu của
công tác QLNN về thuế BVMT trong những năm gần đây, cụ thể như nhận thức củacác cơ quan QLNN và người dân về BVMT chưa cao; ý thức BVMT chưa trở thànhthói quen, nhận thức về tăng trưởng kinh tế xanh, bền vững của các cấp chính quyềncòn hạn chế, hệ thống pháp luật còn mang tính chung chung và nặng về nguyên tắc, cơchế và chính sách BVMT vẫn còn những nội dung chưa phù hợp và chậm đổi mới, bộmáy QLNN về môi trường còn cồng kềnh và chưa thực sự phát huy được tối đa hiệuquả QLNN về BVMT…
Thứ sáu, trên cơ sở kết quả nghiên cứu, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp
nhằm tăng cường QLNN trong BVMT, bao gồm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo củacác cơ quan QLNN, đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục ý thức BVMT cho người dân;hoàn thiện chính sách và pháp luật về BVMT; tăng cường nguồn tài chính cho hoạtđộng bảo vệ và cải tạo môi trường
1.3.2 Những khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của luận án
1.3.2.1 Khoảng trống nghiên cứu về lý luận
Cho đến nay, mặc dù đã có những công trình nghiên cứu liên quan tới chủ đề,tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định về mặt lý luận
cụ thể như sau:
Thứ nhất, quan điểm về nội hàm, vai trò, tác động của thuế BVMT cho đến nay
vẫn chưa được thống nhất và đầy đủ Đa số các nghiên cứu chỉ nhấn mạnh vai trò quantrọng của thuế BVMT đối với việc điều chỉnh các hoạt động của các chủ thể trong nềnkinh tế nhằm duy trì và cải thiện sự trong sạch của môi trường, tiết kiệm khai thác và
sử dụng tài nguyên thiên nhiên Trong khi đó, vai trò của thuế BVMT đối với vấn đềhài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và xã hội chưa được chú trọng nghiên cứu Đây làvấn đề mang tính thực tiễn cao, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay Ngoài ra, nhữngtác động của thuế BVMT đến nay vẫn chưa được các học giả nghiên cứu sâu và đi đếnthống nhất, đặc biệt là tác động thúc đẩy cải cách đổi mới công nghệ và tăng nguồnvốn đầu tư cải tạo môi trường
Thứ hai, những nội hàm QLNN về thuế BVMT như hoạch định xây dựng chính
sách, tổ chức thực hiện, thanh tra kiểm tra vẫn chưa được đầu tư nghiên cứu cụ thể.Các nghiên cứu mới chỉ ra rằng các chính sách QLNN về thuế BVMT còn mang tínhchung chung và quá trình triển khai còn chưa hiệu quả Tuy nhiên, một số vấn đề khác
Trang 39liên quan đến QLNN về thuế BVMT như hạn chế trong năng lực thẩm định mức độ tácđộng đến môi trường vẫn chưa được các nhà nghiên cứu làm rõ.
Thứ ba, mục tiêu QLNN về thuế BVMT vẫn chưa được các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước chú trọng nghiên cứu và làm rõ; đa phần chỉ nhấn mạnh tăng thungân sách nhà nước hoặc BVMT Trong khi mục tiêu QLNN là vấn đề rất quan trọngnhằm đảm bảo hiệu quả thực thi thuế BVMT Tính hiệu quả và tính tuân thủ thuếBVMT vẫn chưa được các tác giả quan tâm đúng mức nhằm chỉ ra thực trạng của vấn
đề này một cách sâu sắc
Thứ tư, cho đến nay, chưa có phương pháp cụ thể nào để đánh giá sự phù hợp
hay không phù hợp ở góc độ từ dưới lên (đối tượng chịu thuế) Thực tế cho thấy báocáo đánh giá tác động của thuế BVMT hiện nay do người lập chính sách đánh giá làchủ yếu
Thứ năm, các nghiên cứu đã nêu lên các lý luận cơ bản về những vấn đề liên
quan đến QLNN đối với thuế BVMT, đồng thời phân tích và đánh giá chi tiết thựctrạng của vấn đề nghiên cứu, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với thuếBVMT Tuy nhiên, mỗi một nghiên cứu chỉ mới đề cập tới một mảng lý luận liên quantới chủ đề của nghiên cứu đó Đồng thời, chưa có nghiên cứu nào tổng hợp đầy đủ các lýluận về QLNN đối với thuế BVMT trong bối cảnh hiện nay Trong nghiên cứu này, tácgiả sẽ tổng hợp, bổ sung, sắp xếp hệ thống lý luận để phù hợp nhất với đề tài lựa chọn
Thứ sáu, phần lớn các công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò của QLNN
đối với thuế BVMT Các tác giả đi sâu nghiên cứu từ lý luận và thực tiễn và nhận thấyvai trò ngày càng quan trọng của QLNN về thuế BVMT đối với toàn bộ nền kinh tế, xãhội và cộng đồng Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ chủ yếu phân tích vai trò củaQLNN đối với thuế BVMT một cách chung chung chứ chưa hướng đến các đối tượng
cụ thể, chẳng hạn như các doanh nghiệp, người tiêu dung là đối tượng nộp thuế BVMT.Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ bổ sung hạn chế này thông qua nghiên cứu tổng hợp lýluận và thực tiễn khảo sát điều tra đối tượng doanh nghiệp cũng như các chuyên gia, nhàhoạch định chính sách, nhà quản lý trong công tác QLNN về thuế BVMT
Thứ bảy, các công trình nghiên cứu tập trung phân tích về các hạn chế, bất cập
và khó khăn trong QLNN đối với hoạt động BVMT và chính sách thuế Tuy nhiên,cho đến nay, theo hiểu biết của tác giả, có rất ít công trình nghiên cứu phân tích cụ thể
và toàn diện những khó khăn trong QLNN đối với hoạt động thu thuế BVMT, đặc biệttrong điều kiện hội nhập sâu, rộng và phức tạp như hiện nay
1.3.2.2 Khoảng trống nghiên cứu về thực tiễn
Thứ nhất, cho đến nay, có rất ít nghiên cứu đánh giá đầy đủ và chính xác thực
trạng QLNN về thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay Một vài nghiên cứu mới chỉ đưa ra
Trang 40được những vướng mắc và chồng chéo giữa các Luật và chính sách liên quan đến thuếBVMT Các nghiên cứu phần lớn chưa chỉ ra được cụ thể các hạn chế của công tácQLNN về thuế BVMT nhằm cung cấp cái nhìn khách quan về hoạt động này tại ViệtNam hiện nay.
Thứ hai, theo hiểu biết của tác giả, các nghiên cứu đã công bố chưa phân tích
các nguyên nhân về những bất cập trong QLNN về thuế BVMT Trong khi đó, việcxác định chính xác những nguyên nhân khách quan và chủ quan của những bất cập có
ý nghĩa quan trọng, cho phép các nhà nghiên cứu đề xuất các giải pháp có tính khả thi
và hiệu quả cao hơn
Thứ ba, cho đến nay, các nghiên cứu đã công bố đa phần sử dụng phương pháp
định tính, nghiên cứu định lượng còn hạn chế về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quảQLNN đối với thuế BVMT Điều này khiến các bất cập, hạn chế trong công tác QLNN
về thuế BVMT chưa được khắc phục một cách triệt để và hiệu quả
Thứ tư, thời gian của các dữ liệu nghiên cứu phổ biến trong giai đoạn từ trước
năm 2014, trong khi trong giai đoạn sau năm 2014, tại Việt Nam, nhiều chủ trương,chính sách đối với thuế nói chung và thuế BVMT nói riêng đã có nhiều thay đổi Điềunày ảnh hưởng đáng kể đến cách thức và quy trình QLNN đối với thuế BVMT tại ViệtNam Vì vậy, thông qua nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung phân tích và đánh giá thựctrạng QLNN đối với thuế BVMT trong những năm gần đây với các số liệu được cậpnhật mới nhất từ các nguồn chính thống, uy tín nhằm phản ánh chính xác thực trạngvấn đề nghiên cứu
Thứ năm, xuất phát từ những hạn chế về phương pháp nghiên cứu, đa số các
công trình nghiên cứu chỉ sử dụng một phương pháp nghiên cứu cụ thể, chẳng hạn nhưphương pháp định tính hoặc phương pháp định lượng Việc sử dụng kết hợp haiphương pháp nghiên cứu này vẫn còn hạn chế, đặc biệt là đối với các nghiên cứu củacác tác giả trong nước Vì vậy, các nghiên cứu phần lớn chưa chỉ ra được một cáchtoàn diện thực trạng QLNN đối với thuế BVMT Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sửdụng kết hợp cả hai phương pháp (định tính và định lượng) nhằm phản ánh một cáchtoàn diện và chi tiết thực trạng QLNN đối với thuế BVMT, làm tiền đề để xây dựngcác giải pháp có tính khả thi cao
Thứ sáu, các nghiên cứu về thực trạng QLNN đối với thuế BVMT còn mang
tính khái quát cao Có một số nghiên cứu về QLNN đối với thuế BVMT nhưng chưađược tiến hành trên các phương diện cụ thể, chưa bao quát hết đủ các vấn đề liên quanđến công tác QLNN đối với thuế BVMT như Ban hành luật pháp và chính sách thuếBVMT; Kiện toàn tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực QLNN đối với thuế BVMT; Tổchức quản lý thuế BVMT: ứng dụng công nghệ thông tin vào tuyên truyền, hướng dẫn