1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU MÔN KINH TẾ VĨ MÔ 1 (ĐẦY ĐỦ LÝ THUYẾT)

141 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Kinh Tế Học
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế Vĩ mô
Thể loại Bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng kinh tế học vĩ mô Bài giảng kinh tế vĩ mô 1 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ Khi nhắc đến khái niệm kinh tế học, nhiều người xem nó như một môn khoa học xa lạ, tuy nhiên trên thực t.

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ

Khi nhắc đến khái niệm kinh tế học, nhiều người xem nó như một môn khoa học xa lạ, tuy nhiên trên thực tế chúng ta ai nấy đều ít nhiều biết về kinh tế học Chẳng hạn, bạn biết rằng mọi sự lựa chọn đều mang lại các kết quả, rằng có nhiều tiền thì sẽ vui hơn có ít tiền, rằng bạn giàu có hơn một số người, song lại nghèo hơn so với mức

mà bạn mong muốn, Có những bài học kinh tế bạn chỉ đơn giản học được từ thực tế cuộc sống, cái mà bạn không có chính là phương pháp tư duy hệ thống về các tư tưởng kinh tế, đó là điều mà môn học này cung cấp cho bạn

Mục tiêu của chương này là giúp sinh viên tiếp cận với khái niệm kinh tế học, phân tích các đặc trưng và các khái niệm cơ bản trong kinh tế học Đồng thời, giới thiệu về mục tiêu môn học, các vấn đề kinh tế vĩ mô then chốt và những công cụ mà

Chính phủ sử dụng điều tiết nền kinh tế

1 Khái niệm và đặc trưng của kinh tế học

1.1 Khái niệm về kinh tế học

Kinh tế học bắt đầu từ bao giờ ?

Năm 1776, khi Adam Smith công bố tác phẩm kinh điển “ Bàn về bản chất

và sự giàu có của các quốc gia” là năm khởi đầu cho kinh tế học hiện đại Ông cũng

là người đã đặt nền móng cho lĩnh vực kinh tế học vi mô, và được xem là ông tổ

của kinh tế học vi mô Trong tác phẩm của mình, Smith đã nghiên cứu về giá cả hàng hóa cá biệt được hình thành như thế nào, thị trường tự nó vận hành ra sao Đồng thời tác phẩm này đã đưa ra thuật ngữ “bàn tay vô hình” nhấn mạnh tính hiệu quả của thị trường, sau này “ bàn tay vô hình” trở thành một thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong nhiều tài liệu kinh tế học khi đề cập đến sức mạnh thị trường

Gần 160 năm sau, một nhánh khác của kinh tế học là kinh tế học vĩ mô

chính thức ra đời năm 1936 khi John Maynard Keynes công bố tác phẩm có tính cách mạng của ông “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” Đây cũng là thời điểm hai nền kinh tế lớn nhất lúc bấy giờ là Anh và Mỹ đang chìm sâu vào cuộc Đại Suy thoái những năm 1930, tỷ lệ thất nghiệp lên đến ¼ lực lượng lao động

xã hội Trong quá trình nghiên cứu, Keynes nhận ra nền kinh tế thị trường đã không làm tròn chức năng của nó và cần thiết phải có vai trò điều tiết của chính phủ nhằm

Trang 2

giảm bớt những thăng trầm trong chu kỳ kinh doanh, chính thức đánh dấu những bước phát triển trong nghiên cứu kinh tế học vĩ mô

Hai nhánh – Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô hợp lại hình thành nên kinh tế học hiện đại

Để hiểu thấu đáo khái niệm này, có một vài cụm từ chúng ta cần làm rõ:

“ Kinh tế học là môn khoa học xã hội”: Kinh tế học là môn học nghiên

cứu hoạt động của con người trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Đối tượng kinh tế học nghiên cứu là sự lựa chọn của con người khi đối mặt với sự khan hiếm Kinh tế học nghiên cứu về các hành vi của con người, song chúng ta mô tả nó là môn khoa học, điều này được thể hiện ở phương pháp phân tích Kinh tế học phát triển các lý thuyết về hành vi của con người trong các hoạt động kinh tế và kiểm chứng chúng so với thực tế

Kinh tế học có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều môn học khác như triết học, kinh

tế chính trị đặc biệt liên quan chặt chẽ với toán học và thống kê học

“ Sự khan hiếm”: là vấn đề chúng ta thất bại trong việc thỏa mãn các mong

muốn Nguyên nhân là mong muốn của con người là vô hạn trong khi các nguồn lực lại bị giới hạn, hay nói cách khác chúng ta mong muốn nhiều hơn cái mà chúng ta có thể nhận được

Không xã hội nào hay một cá nhân nào không phải đối mặt với khan hiếm

“Sự khan hiếm” công bằng với tất cả mọi người, mọi quốc gia, không phân biệt giàu nghèo Thậm chí ngay cả một quốc gia giàu có như Mỹ, nền sản xuất cũng chưa thể đáp ứng đủ mọi nhu cầu của tất cả công dân Nếu cộng tất cả nhu cầu lại, bạn sẽ nhanh chóng nhận thấy rằng, sản phẩm hàng hóa dịch vụ sản xuất ra chỉ thỏa mãn một phần nhỏ trong tổng nhu cầu của tất cả mọi người mà thôi

Nguồn lực khan hiếm bao gồm tài nguyên thiên nhiên, đất đai, của cải vật chất, thời gian, sức khỏe,

Trang 3

“ Vấn đề kinh tế cơ bản là dung hòa mâu thuẫn giữa những nhu cầu gần như

vô hạn của con người và khả năng hạn chế của xã hội để sản xuất ra hàng hóa, dịch

vụ đáp ứng được những nhu cầu đó”

“Sự khan hiếm” dẫn chúng ta đến với khái niệm về “Sự lựa chọn” và “Sự đánh đổi”:

“ Sự lựa chọn” Khi sự khan hiếm không cho phép chúng ta thoản mãn tất

cả các nhu cầu, tất yếu dẫn đến lựa chọn tối ưu giữa các phương án sẵn có Vì thế nhiều nhà kinh tế cho rằng “ Kinh tế học là khoa học của sự lựa chọn” bởi nó giải thích tại sao các cá nhân, doanh nghiệp, hoặc chính phủ lại đưa ra lựa chọn như vậy khi họ phải đối mặt với sự khan hiếm

“Sự đánh đổi” Sự khan hiếm còn có hàm ý rằng không thể theo đuổi cùng

một lúc nhiều mục tiêu xã hội với cùng một số các nguồn lực sẵn có, sự đánh đổi sẽ xảy ra khiến mục tiêu này xung đột với mục tiêu khác

Bài học đầu tiên về ra quyết định được tóm tắt trong câu ngạn ngữ sau:

“Chẳng có gì là cho không cả” Để có được một thứ ưa thích, chúng ta thường phải

từ bỏ một thứ khác mà mình thích Ra quyết định đòi hỏi phải đánh đổi mục tiêu này để đạt được một mục tiêu khác

VD: Khi cân nhắc nên sử dụng quỹ thời gian như thế nào, bạn phải đánh đổi giữa các mục tiêu khác nhau, nên học bài hay đi xem phim, nên học kinh tế học hay học tâm lý học

Tương tự như đối với cá nhân, xã hội cũng phải đối mặt với “sự đánh đổi” Khi con người tập hợp nhau lại thành xã hội, họ đối mặt với nhiều loại đánh đổi hơn Ví dụ kinh điển là sự đánh đổi giữa “súng và bơ” Khi chi tiêu cho quốc phòng nhiều hơn để bảo vệ chủ quyền quốc gia (súng), ngân sách nhà nước dành cho hàng tiêu dùng để nâng cao phúc lợi xã hội (bơ) ít hơn Sự đánh đổi quan trọng trong xã hội hiện đại là giữa môi trường trong sạch và mức thu nhập cao Các đạo luật yêu cầu doanh nghiệp phải cắt giảm lượng chất thải gây ô nhiễm sẽ đẩy chi phí sản xuất lên cao Do chi phí cao hơn, nên cuối cùng các doanh nghiệp này kiếm được ít lợi nhuận hơn, trả lương thấp hơn, định giá cao hơn hoặc kết hợp của cả ba yếu tố này Như vậy, mặc dù các quy định về chống ô nhiễm đem lại ích lợi cho chúng ta ở chỗ làm cho môi trường trong sạch hơn và nhờ đó sức khỏe của chúng ta tốt hơn, nhưng chúng ta phải chấp nhận tổn thất là giảm thu nhập của chủ doanh nghiệp, công nhân hoặc phúc lợi của người tiêu dùng

Một sự đánh đổi khác mà xã hội đối mặt là giữa công bằng và hiệu quả Hiệu quả có nghĩa là xã hội thu được kết quả cao nhất từ các nguồn lực khan hiếm của mình Công bằng hàm ý ích lợi thu được từ các nguồn lực khan hiếm đó được phân

Trang 4

phối công bằng giữa các thành viên của xã hội Hai mục tiêu này thường mâu thuẫn với nhau trong quá trình đưa ra các chính sách của chính phủ

Những vấn đề cần lưu ý:

Kinh tế học là môn khoa học nên đòi hỏi bảo đảm tính khách quan Tuy nhiên đây cũng môn học thuộc lĩnh vực xã hội nên không thể tách rời hoàn toàn quan điểm chủ quan trong nội dung nghiên cứu

Sự đánh đổi là tư tưởng trung tâm trong toàn bộ chương trình kinh tế học Chúng ta có thể đưa ra mọi câu hỏi trong kinh tế học dưới dạng những sự đánh đổi Những sự đánh đổi quan trọng mà tổng thể nền kinh tế phải đối mặt là:

Sự đánh đổi liên quan đến nỗ lực cải thiện mức sống: sự cải thiện về mức sống theo thời gian và tốc độ cải thiện mức sống phụ thuộc nhiều vào sự lựa chọn của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ

Thứ nhất, lựa chọn sử dụng bao nhiêu thu nhập cho tiêu dùng và bao nhiêu cho tiết kiệm

Thứ hai, lựa chọn xem dành bao nhiêu nguồn lực cho giáo dục và đào tạo Thứ ba, lựa chọn nên dành bao nhiêu nguồn lực cho nghiên cứu và triển khai các phương pháp sản xuất mới

Sự đánh đổi trong ngắn hạn giữa thất nghiệp và lạm phát

Mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu kinh tế là nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của con người Muốn thỏa mãn được nhu cầu đòi hỏi sản xuất phải được tăng trưởng Do đó nghiên cứu tăng trưởng kinh tế là một nội dung quan trọng của kinh

tế học

Theo truyền thống, kinh tế học được chia thành hai phân ngành lớn và thường được giảng dạy thành 2 môn học riêng tại các trường đại học: Kinh tế học

vi mô và kinh tế học vĩ mô

1.1.2 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

Kinh tế học vi mô (Microeconomics): là môn học nghiên cứu cách thức ra

quyết định của hộ gia đình và doanh nghiệp cũng như sự tương tác giữa họ trên các thị trường cụ thể

VD: kinh tế học vi mô nghiên cứu các yếu tố nhằm xác định giá và lượng xe hơi, đồng thời nghiên cứu các qui định và thuế của chính phủ tác động đến giá cả và sản lượng xe hơi trên thị trường

Trang 5

Kinh tế học vi mô nhấn mạnh sự am hiểu các thị trường cụ thể Để có được mức độ chi tiết này, nhiều tương tác với các thị trường khác bị bỏ qua Ta có thể quay trở lại ví dụ về thị trường xe hơi Khi chính phủ đánh thuế vào xe hơi sẽ làm giảm lượng xe hơi ở trạng thái cân bằng, tuy nhiên chúng ta bỏ qua thực tế là Chính phủ làm

gì với khoản thuế đó Tăng thu ngân sách làm giảm nợ Chính phủ, dẫn đến lãi suất và

tỷ giá hối đoái giảm, điều này tác động làm tăng đầu tư và tăng lợi thế cạnh tranh của các hãng sản xuất xe hơi trong nước, do đó có thể làm tăng sản lượng xe hơi

Kinh tế học vĩ mô (Macroecconomics): nghiên cứu hoạt động của tổng thể

nền kinh tế, nhấn mạnh sự tác động qua lại trong toàn bộ nền kinh tế

Hàng ngày tại mỗi quốc gia có hàng triệu quyết định kinh tế được người tiêu dùng, các doanh nghiệp, công nhân, các viên chức chính phủ đưa ra Kinh tế học vĩ mô xem xét, đánh giá kết quả tổng hợp của tất cả các hoạt động cá nhân này VD: trong 1 tháng nào đó, hàng ngàn doanh nghiệp có thể tăng giá các sản phẩm của mình, trong khi nhiều doanh nghiệp khác lại giảm giá Để hiểu được sự thay đổi trong giá cả nói chung, kinh tế học vĩ mô sẽ xem xét sự biến động của mức giá trung bình chứ không phải giá cả của từng mặt hàng hay nhóm hàng riêng biệt

Kinh tế học vĩ mô còn nghiên cứu tác động của các chính sách chính phủ ảnh hưởng như thế nào đến tới hoạt động chung của nền kinh tế

Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô xử lý các vấn đề khác nhau, những phương pháp tiếp cận được sử dụng đôi khi hoàn toàn khác nhau và thường được giảng dạy thành hai môn riêng biệt trong các khóa học

Tuy nhiên, kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô là hai bộ phận cấu thành quan trọng của môn kinh tế học, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau

Sự phân biệt kinh tế học vi mô và vĩ mô không có nghĩa là phải tách rời các

vấn đề kinh tế một cách riêng biệt Những nhà kinh tế học ngày nay thường sử dụng hành vi của vi mô để lý giải cho hành vi vĩ mô và gọi đó là kinh tế học vĩ mô dựa trên nền tảng hành vi vi mô

Kết quả của hoạt động kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào các hành vi kinh tế vi mô như hoạt động của các doanh nghiệp, người tiêu dùng Ngược lại, hành vi của doanh

nghiệp, của người tiêu dùng, bị chi phối bởi các chính sách kinh tế vĩ mô

Trang 6

Mối quan hệ này chỉ ra rằng, trong thực tiễn quản lý kinh tế cần phải có sự phối hợp linh hoạt và giải quyết tốt các vấn đề kinh tế trên cả hai phương diện vi mô và vĩ

mô Nếu chỉ tập trung vào những vấn đề vi mô như tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp mà không có sự điều tiết của chính phủ, thì không thể có một nền kinh tế thực

sự phát triển ổn định, bình đẳng và công bằng

1.1.3 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc

Kinh tế học thực chứng (Positive economics): mô tả các sự kiện và các mối

quan hệ trong nền kinh tế một cách khách quan và khoa học

Kinh tế học thực chứng đưa ra những nhận định thực chứng mô tả về sự vận hành của thế giới Chúng khẳng định rằng thế giới là như thế nào

Mục tiêu của Kinh tế học thực chứng là phân tích xem xã hội ra quyết định như thế nào về tiêu dùng, sản xuất và trao đổi hàng hóa Nó vừa có mục đích giải thích nguyên nhân hoạt động của nền kinh tế vừa cho phép dự báo về cách phản ứng của nền kinh tế trước những biến động

Trong kinh tế học thực chứng, chúng ta hành động như những nhà khoa học khách quan, không có chỗ cho những quan điểm cá nhân Một nhận định thực chứng chỉ có thể đúng hoặc sai, chúng ta có thể kiểm định một nhận định thực chứng bằng cách đối xứng với thực tế

Kinh tế học thực chứng trả lời cho câu hỏi: Là gì? Là bao nhiêu?

Kinh tế học chuẩn tắc (Normative economics): đưa ra các khuyến nghị dựa

trên những nhận định mang giá trị cá nhân về các vấn đề kinh tế

Khác với kinh tế học thực chứng, kinh tế học chuẩn tắc dựa trên các nhận định mang tính chất chủ quan chứ không dựa trên các bằng chứng thực nghiệm mang tính chất khách quan

Mỗi người có thể đưa ra các nhận định chuẩn tắc khác nhau về các vấn đề kinh

tế, kinh tế học không thể chỉ ra được rằng nhận định chuẩn tắc này là đúng hay sai, bởi những nhận định này phụ thuộc vào giá trị (dựa trên sự ưu tiên và sở thích của cá nhân hay xã hội) và không thể đánh giá chúng chỉ bằng số liệu Việc quyết định xem một chính sách nào tốt và chính sách nào tồi không đơn thuần chỉ là một vấn đề thuần túy khoa học Nó còn phụ thuộc vào quan điểm của chúng ta về đạo đức, tôn giáo và triết

lý chính trị

Trang 7

Kinh tế học chuẩn tắc trả lời cho câu hỏi: “ Thế giới cần phải như thế nào?”,

“Nên làm gì?”, “Phải làm gì?”

VD: Phát biểu sau đây kết hợp kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc:

“Những người cao tuổi có chi phí chăm sóc y tế rất cao và chính phủ nên trợ cấp cho họ” Phần thứ nhất của luận điểm trên là nhận định thực chứng Nó là một nhận định

về sự vận động của thế giới thực có thể kiểm định nhận định thông qua một chương trình điều tra thực tế Phần thứ hai của luận điểm này là đề xuất chính phủ nên làm gì - không thể chứng minh được là đúng hay sai bằng bất cứ điều tra nghiên cứu khoa học nào Nó là một nhận định mang giá trị chủ quan dựa trên cảm giác của người đưa ra nhận định đó Nhiều người có thể có cùng nhận định chủ quan này Những người khác

có thể phản đối một cách hợp lý

Nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc có mối quan hệ với nhau Quan điểm thực chứng của chúng ta về phương thức vận hành của thế giới ảnh hưởng tới quan điểm chuẩn tắc của chúng ta về việc những chính sách nào là đáng mong muốn Song, kết luận chuẩn tắc không phải chỉ được rút ra từ các phân tích thực chứng Nó cần tới cả những phân tích thực chứng và các đánh giá giá trị

1.2 Đặc trưng của kinh tế học

Tiền đề nghiên cứu và phát triển của kinh tế học: Nghiên cứu sự khan hiếm các

nguồn lực một cách tương đối so với nhu cầu kinh tế xã hội Chúng ta biết rằng nhu cầu của con người thì vô hạn trong khi các nguồn lực lại bị giới hạn, tất yếu cần phải

có sự cân đối, chọn lựa Nếu thực sự có một ngày thể sản xuất số lượng vô hạn về mọi loại hàng hoá và thoả mãn đầy đủ được mọi nhu cầu của con người thì sẽ không có

hàng hoá kinh tế và cũng không cần tiết kiệm hay nghiên cứu kinh tế học

Tính hợp lý của kinh tế học: thể hiện ở chỗ khi phân tích hoặc lý giải một sự

kiện kinh tế nào đó cần phải dựa trên những giả thiết hợp lý về diễn biến của sự kiện kinh tế này Tuy nhiên lưu ý rằng tính chất của những giả thiết này chỉ có ý nghĩa tương đối Ví dụ muốn phân tích hành vi của người tiêu dùng muốn mua gì? Với số lượng là bao nhiêu? Kinh tế học giả định rằng họ sẽ tìm cách mua được nhiều hàng hóa và dịch vụ nhất trong số thu nhập hạn chế của mình Tương tự như vậy, để giải thích xem doanh nghiệp sản xuất cái gì, bao nhiêu và bằng cách nào? Kinh tế học giả

Trang 8

định là họ tìm cách tối đa hoá thu nhập của mình với những ràng buộc nhất định về các yếu tố sản xuất

Kinh tế học là một bộ môn nghiên cứu mặt lượng: Việc thể hiện các kết quả

nghiên cứu kinh tế bằng những con số có tầm quan trọng đặc biệt Khi phân tích kết quả của các hoạt động kinh tế, nếu chỉ nhận định nó tăng lên hay giảm đi thì chưa đủ

mà còn phải xác định xem sự thay đổi đó là bao nhiêu, có ý nghĩa như thế nào?

Ví dụ: Nói rằng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp A năm 2011 là khả quan, điều này chưa đủ, nó không cho chúng ta thấy điều gì cả, mà khả quan như thế nào, thể hiện bằng các con số cụ thể ra sao? Ta phải lượng hóa nó thông qua các chỉ tiêu kinh tế như: Doanh thu năm 2011 tăng 20% so với năm 2010 với mức tăng là 400 tỷ đồng, lợi nhuận tăng 22%, mức tăng là 150 tỷ đồng,

Tính toàn diện và tính tổng hợp: Khi xem xét các hoạt động và sự kiện kinh tế

phải đặt nó trong mối liên hệ với các hoạt động và các sự kiện khác trên phương diện một nước, thậm chí trên phương diện nền kinh tế thế giới

Khi nói rằng: “năm 2011 kinh tế nước ta tăng trưởng khá cao nhưng chưa thực

sự ổn định” Chúng ta phải đưa ra số liệu cụ thể để minh chứng cho nó, ta có tăng trưởng kinh tế nước ta là 5,89% cao hơn so với mức tăng trưởng bình quân trên thế giới là 4%, tuy nhiên kèm theo sự tăng trưởng khá tích cực này, tỷ lệ lạm phát của chúng ta lên tới 18,58%, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao nhất trên thế giới

Các kết quả của kinh tế học có tính tương đối: các kết quả nghiên cứu kinh tế

chỉ xác định được ở mức trung bình vì những kết quả này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau và không thể xác định được chính xác tất cả các yếu tố này

2 Một số khái niệm cơ bản của kinh tế học

2.1 Các yếu tố sản xuất, đường giới hạn khả năng sản xuất và chi phí cơ hội

2.1.1 Các yếu tố sản xuất

Nhìn chung, cái mà con người có là các yếu tố sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất), còn cái mà con người cần là sản phẩm, hàng hoá (đầu ra của quá trình sản xuất) Các đầu vào của quá trình sản xuất được phân chia thành ba nhóm:

Trang 9

Đất đai và tài nguyên thiên nhiên: Đất đai (theo nghĩa rộng) bao gồm toàn bộ

đất dùng cho canh tác, xây dựng nhà ở, đường xá…và tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên bao gồm nhiên liệu như than đá, dầu lửa và khoáng sản như quặng sắt, crom…và cây cối để lấy gỗ, làm giấy…

Lao động: là năng lực của con người được sử dụng theo một mức độ nhất định

trong quá trình sản xuất Người ta đo lường lao động bằng thời gian của người lao động sử dụng trong quá trình sản xuất Lực lượng lao động của nền kinh tế trong đó có

cả số lượng và chất lượng lao động có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế (Đặc biệt

là trong nền kinh tế tri thức như hiện nay)

Tư bản: là những hàng hoá như máy móc, đường xá, nhà xưởng…được sản

xuất ra để rồi được sử dụng để sản xuất ra các hàng hoá khác Việc tích luỹ các hàng hoá tư bản trong nền kinh tế có một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất

Hiện nay nhiều nhà kinh tế cho rằng quản lý và công nghệ cũng là đầu vào, một yếu tố sản xuất

2.1.2 Giới hạn năng lực sản xuất

Kinh tế học trả lời 3 câu hỏi cơ bản:

- Sản xuất cái gì, với số lượng bao nhiêu? (tiêu dùng hay đầu tư, hàng hóa tư nhân hay công cộng, thịt hay khoai tây )

- Sản xuất như thế nào? (sử dụng công nghệ nào? )

- Sản xuất cho ai? (sản xuất phải hướng đến nhu cầu người tiêu dùng, phân phối đầu ra cho ai? )

Một công cụ để phân tích vấn đề này là đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF- production possibilities frontier)

Đường giới hạn khả năng sản xuất: chỉ ra các kết hợp khác nhau của hai hay

nhiều loại hàng hóa mà nền kinh tế có thể sản xuất được từ một số lượng nhất định các nguồn tài nguyên (khan hiếm)

Mặc dù trên thực tế nền kinh tế sản xuất ra hàng ngàn các hàng hóa và dịch vụ, nhưng ta hãy tưởng tượng rằng 1 nền kinh tế chỉ sản xuất 2 mặt hàng- lương thực và quần áo Cả 2 ngành này cùng sử dụng tất cả các nguồn lực sản xuất của nền kinh tế Bảng 2 chỉ ra một số khả năng lựa chọn các tổ hợp hai hàng hóa trên khi sử dụng các yếu tố sản xuất với công nghệ hiện có

Trang 10

Bảng 1: Những khả năng sản xuất thay thế nhau

Phương án sản xuất Lương thực (triệu tấn) Quần áo (1000 bộ)

Hình 1: Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)

Dọc theo đường cong từ A→B→C→D→E, xã hội ngày càng có ít quần áo và thay vào đó là nhiều lương thực hơn Như vậy, khi di chuyển trên đường PPF, sản xuất

1 loại hàng hóa nào nhiều hơn đồng nghĩa phải sản xuất hàng hóa kia ít hơn, nói cách khác, sản lượng của 2 loại hàng hóa này tỷ lệ nghịch Điều này là do để tăng sản lượng của 1 loại hàng hóa đòi hỏi phải có sự dịch chuyển nguồn lực đầu vào để sản xuất hàng hóa kia Độ dốc của đồ thị thể hiện sự đánh đổi giữa hai loại hàng hóa Nó đo lường chi phí của 1 đơn vị tăng thêm của 1 loại hàng hóa khi bỏ không sản xuất 1 loại hàng hóa khác Đây là 1 ví dụ cụ thể về chi phí cơ hội

Tất cả các điểm nằm trên đường PPF là những điểm nền kinh tế đang hoạt động hiệu quả vì không lãng phí các yếu tố đầu vào

Tất cả các điểm nằm trong đường PPF được gọi là những điểm không hiệu quả

vì còn lãng phí các yếu tố đầu vào, ví dụ điểm M Tại điểm này, đầu ra của 1 loại hàng hóa có thể tăng bằng cách di chuyển ra ngoài để nằm trên đường PPF

Trang 11

Một ví dụ về sản xuất không hiệu quả trong thực tế đó là thất nghiệp cao trong thời kỳ suy thoái kinh tế

Tất cả các điểm nằm ngoài đường PPF được gọi là điểm không thể đạt được vì đòi hỏi đầu tư vượt quá khả năng hiện có (các nguồn lực đầu vào bị giới hạn), ví dụ điểm N (có thể đạt được trong nền kinh tế mở)

Theo thời gian, các nguồn lực sản xuất của mỗi quốc gia có khuynh hướng gia tăng Do đó, đường PPF sẽ dịch chuyển ra ngoài

2.1.3 Chi phí cơ hội (Opportunity Cost)

Chi phí cơ hội là khái niệm chìa khóa trong kinh tế học, nó được miêu tả như là

“ mối quan hệ cơ bản giữa khan hiếm và sự lựa chọn”

Chi phí cơ hội của 1 mặt hàng là số lượng mặt hàng khác phải bỏ qua không sản xuất để sản xuất thêm 1 đơn vị mặt hàng đó

Đường PPF ngoài việc mô tả giới hạn khả năng sản xuất còn thể hiện chi phí cơ hội của việc tăng thêm xuất lượng của 1 loại sản phẩm

Chi phí cơ hội là một khái niệm hữu ích được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn

Nó được vận dụng rất thường xuyên và rộng rãi trong đời sống kinh tế Chi phí cơ hội dựa trên cơ sở là nguồn lực khan hiếm buộc chúng ta phải lựa chọn dẫn đến việc thực hiện sự đánh đổi (tức là để nhận được một lợi ích đòi hỏi phải đánh đổi/ bỏ ra 1 chi phí nhất định cho nó) Như vậy chi phí cơ hội của phương án được chọn lựa là giá trị của phương án tốt nhất đã bị bỏ qua khi thực hiện sự lựa chọn

Trên hình 1, giả sử lúc đầu nền kinh tế sản xuất tại điểm C, sản xuất ra 5 nghìn

bộ quần áo và 2 triệu tấn lương thực Bây giờ, muốn tăng số lượng lương thực lên 3 triệu tấn đòi hỏi nền kinh tế phải di chuyển đến điểm D Tại D, chúng ta có thêm 1 triệu tấn lương thực nhưng đồng thời mất đi 2 nghìn bộ quần áo Như vậy, lượng quần

áo mất đi chính là chi phí cơ hội của lượng lương thực tăng lên

2.2 Quy luật năng suất cận biên giảm dần và chi phí cơ hội ngày càng tăng

2.2.1 Quy luật năng suất cận biên giảm dần

Quy luật này cho biết số lượng đầu ra có thêm sẽ ngày càng giảm xuống khi chúng ta liên tiếp đầu tư thêm những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi trong điều kiện các yếu tố đầu vào khác được giữ cố định

Trang 12

Bảng 2: Quy luật năng suất cận biên giảm dần

Bản chất của quy luật này là sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào giảm dần

2.2.2 Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng

Quy luật này cho biết để có thêm những số lượng bằng nhau về 1 mặt hàng xã hội phải hi sinh ngày càng nhiều số lượng mặt hàng khác

Quay lại hình 1 ta thấy, khi xuất phát ở điểm E với 4 triệu tấn lương thực và không có quần áo, chuyển đến điểm D với 3 triệ tấn lương thực (giảm đi 1 triệu tấn lương thực) và 3 nghìn bộ quần áo Tức là ta đã hi sinh 1 triệu tấn lương thực để đổi lấy 3 nghìn bộ quần áo Tiếp tục như vậy, ta thấy đến điểm C, B, A thì việc hi sinh 1 triệu tấn lương thực chỉ còn đổi được lần lượt là 2; 1,5 và 1 nghìn bộ quần áo, tức là muốn có thêm 1 đơn vị quần áo ta phải hi sinh tương ứng ngày càng nhiều lương thực

Trang 13

3 Một số vấn đề kinh tế vĩ mô then chốt

Kinh tế học vĩ mô quan tâm đến rất nhiều vấn đề Tuy nhiên, có ba vấn đề

mà không một nhà kinh tế học nào, cũng như không một cuốn sách kinh tế vĩ mô nào có thể bỏ qua đó là sản lượng quốc gia, lạm phát và thất nghiệp

Sản lượng quốc gia: là giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong

một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nào đó Các chỉ tiêu được sử dụng để

đo lường sản lượng quốc gia như GDP, GNP, GNI Một trong những thước đo

quan trọng nhất về thành tựu kinh tế vĩ mô của 1 quốc gia là tổng sản phẩm trong nước (GDP) GDP đo lường tổng sản lượng và tổng thu nhập của 1 quốc gia

Tỷ lệ thất nghiệp, một thước đo cơ bản về cơ hội tìm việc làm và hiện trạng

của thị trường lao động, cũng là một chỉ tiêu phản ánh tình trạng hoạt động của nền kinh tế Sự biến động ngắn hạn của tỷ lệ thất nghiệp liên quan đến những dao động theo chu kỳ kinh doanh Những thời kỳ sản lượng giảm thường đi kèm với tăng thất nghiệp và ngược lại Một mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản đối với mọi quốc gia là đảm bảo trạng thái đầy đủ việc làm, sao cho mọi lao động sẵn sàng và có khả năng làm việc tại mức tiền lương hiện hành đều có việc làm

Lạm phát Lạm phát là hiện tượng phổ biến trong những thập kỷ gần đây trên

toàn thế giới, là sự tăng lên của mức giá chung trong nền kinh tế Đây là chỉ tiêu chính để phản ánh tình trạng hoạt động của nền kinh tế

Sau khi chúng ta đã xác định một số vấn đề kinh tế vĩ mô then chốt của kinh

tế học vĩ mô, đến đây chúng ta sẽ đặt ra câu hỏi: Các nhà kinh tế làm thế nào để đánh giá được mức độ thành công trong hoạt động chung của một nền kinh tế? Các mục tiêu kinh tế vĩ mô sẽ giúp chúng ta trả lời các câu hỏi này Dựa vào các mục tiêu đề ra, chúng ta sẽ so sánh với kết quả đạt được để đánh giá thành tựu kinh tế vĩ

mô của 1 đất nước

4 Mục tiêu

4.1 Mục tiêu tổng quát

Các mục tiêu tổng quát đặt ra đối với nền kinh tế cần đạt được đó là:

- Ổn định nền kinh tế: Giải quyết tốt những vấn đề cấp bách như lạm phát, suy

thoái, thất nghiệp trong ngắn hạn Mục tiêu này được hiểu là hạn chế sự thăng trầm của các chu kỳ kinh doanh

Trang 14

- Tăng trưởng kinh tế: Muốn có tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải tăng năng lực

sản xuất quốc gia, làm cho tốc độ tăng sản lượng đạt mức cao nhất mà nền kinh tế có thể thực hiện được Tuy nhiên cần ghìm bớt sự tăng trưởng quá nhanh để đề phòng nguy cơ lạm phát bùng nổ trong nền kinh tế

- Công bằng trong phân phối: Đây vừa là vấn đề xã hội vừa là vấn đề kinh tế

Để đạt được các mục tiêu tổng quát đặt ra, các chính sách kinh tế vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể sau đây

4.2 Mục tiêu cụ thể

- Mức sản lượng: Cần đạt được mức sản lượng thực tế cao trong ngắn hạn

tương ứng với sản lượng tiềm năng và đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh và vững chắc trong dài hạn Thước đo toàn diện của tổng sản lượng trong một nền kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội GDP

- Việc làm: Cần tạo ra nhiều việc làm tốt cho người lao động và hạ thấp tỷ lệ

thất nghiệp tự nhiên

- Ổn định giá cả: Cần duy trì giá cả ổn định trong phạm vi thị trường tự do tức

là giá cả được quyết định bởi cung và cầu của thị trường, chính phủ cần tránh kiểm soát giá cả của từng mặt hàng riêng lẻ Cần ngăn chặn không cho mức giá chung lên xuống quá nhanh và kiểm soát được lạm phát Thước đo phổ biến nhất của mức giá chung là chỉ số giá tiêu dùng CPI

- Kinh tế đối ngoại: Ổn định tỷ giá hối đoái và cân bằng cán cân thanh toán

- Phân phối công bằng: Phân phối và phân phối lại của cải vật chất sao cho thúc

đẩy sản xuất phát triển vừa đảm bảo công bằng giữa các tầng lớp trong xã hội, cải thiện mức sống dân cư

Khi xác định các mục tiêu kinh tế vĩ mô cần đạt được, chúng ta cần chú ý vào những điểm sau:

- Những mục tiêu trên thể hiện trạng thái lý tưởng của nền kinh tế Không có công thức đơn giản nào để giải quyết tốt tất cả các vấn đề phát sinh trong nền kinh tế

và đạt được tất cả các mục tiêu Các chính sách kinh tế vĩ mô chỉ có thể giảm thiểu được những thiệt hại so với trạng thái lý tưởng

- Trong nhiều trường hợp khó khăn, chúng ta phải lựa chọn thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu Chẳng hạn, trong ngắn hạn chúng ta không thể đồng thời vừa muốn thất nghiệp thấp và lạm phát thấp hay giữa tăng trưởng cao và thâm hụt ngân sách thấp Do

Trang 15

đó, các nhà hoạch định chính sách buộc phải lựa chọn mục tiêu khi phải đối đầu với những căn bệnh của nền kinh tế

5 Những công cụ của nền kinh tế vĩ mô

Chính phủ có những công cụ nhất định để tác động đến hoạt động kinh tế vĩ

mô Công cụ chính sách là một biến số kinh tế dưới sự kiểm soát của chính phủ có thể tác động đến một hay nhiều mục tiêu kinh tế vĩ mô Tức là, bằng cách thay đổi chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách tài khóa khác, chính phủ có thể lái nền kinh tế đến một tình trạng tốt hơn về sản lượng, ổn định giá cả và việc làm Bốn chính sách kinh tế vĩ mô đó là chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại

5.1 Chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa (Fiscal Policy) là việc sử dụng thuế và chi tiêu của chính phủ để hướng nền kinh tế vào 1 mức sản lượng và việc làm mong muốn

Chính sách tài khóa có hai công cụ là chi tiêu của chính phủ và thuế

Chi tiêu của chính phủ (G) gồm hai bộ phận: thứ nhất là các khoản mua sắm

của chính phủ, nó bao gồm việc mua sắm các hàng hóa và dịch vụ - mua xe tăng, xây dựng đường sá, trả lương công nhân viên Thứ hai là các khoản thanh toán chuyển nhượng của chính phủ nhằm cải thiện thu nhập cho các nhóm người già hay thất nghiệp G quyết định quy mô chi tiêu công cộng, do đó ảnh hưởng đến mức chi tiêu của nền kinh tế, tác động đến tổng cầu và sản lượng

Thuế (T) có ảnh hưởng đến nền kinh tế theo hai cách Trước tiên, thuế làm giảm

các khoản thu nhập của mọi người, do đó làm giảm thu nhập khả dụng của các hộ gia đình và từ đó làm giảm chi tiêu của khu vực tư nhân, điều này lại làm giảm tổng cầu

và sản lượng Trong dài hạn, thuế ảnh hưởng đến hành vi đầu tư của các doanh nghiệp trong nền kinh tế và do đó cũng ảnh hưởng đến sản lượng về lâu dài

Trong ngắn hạn, chính sách tài khóa tác động đến sản lượng thực tế và lạm phát Trong dài hạn, chính sách tài khóa có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế giúp cho sự tăng trưởng và phát triển lâu dài

5.2 Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ (Moneytary Policy) là việc chính phủ điều hành nền kinh tế thông qua việc quản lý tiền tệ, tín dụng và hệ thống ngân hàng của quốc gia

Trang 16

Chính sách tiền tệ do NHTƯ thực hiện bằng cách thay đổi cung tiền có ảnh hưởng đến rất nhiều biến số tài chính và kinh tế như: lãi suất, tỷ giá hối đoái, đầu tư Hạn chế cung tiền sẽ làm tăng lãi suất và làm giảm đầu tư, từ đó làm giảm GDP và giảm lạm phát Nếu NHTƯ phải đương đầu với thời kỳ đi xuống của chu kỳ kinh doanh thì nó có thể tăng cung tiền và hạ lãi suất để thúc đẩy hoạt động kinh tế

Chính sách tiền tệ có hai công cụ là cung tiền và lãi suất Nó tác động đến đầu

tư, do đó cũng ảnh hưởng đến sản lượng tiềm năng trong dài hạn

Tuy nhiên, chính sách thu nhập là chính sách gây nhiều tranh cãi nhất trong số các chính sách kinh tế vĩ mô Nhiều nước có thu nhập cao chỉ sử dụng công cụ này trong các trường hợp khẩn cấp

5.4 Chính sách kinh tế đối ngoại

Chính sách kinh tế đối ngoại bao gồm thuế quan, hạn ngạch và các quy định khác nhằm hạn chế hoặc khuyến khích xuất, nhập khẩu và từ đó giữ cho cán cân thương mại ở mức có thể chấp nhận được

Chính sách này cũng tập trung vào các biện pháp giữ cho thị trường ngoại hối cân bằng Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng quan trọng đến thương mại của một nước có tác động nâng cao hiệu quả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trang 17

CHƯƠNG 2: ĐO LƯỜNG SẢN LƯỢNG VÀ MỨC GIÁ

Mục tiêu của chương này là giới thiệu cho sinh viên hai chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được sử dụng để đo lường sản lượng mà mức giá chung của một nền kinh tế đó là tổng sản phẩm trong nước GDP và chỉ số giá tiêu dùng CPI và ứng dụng của hai chỉ tiêu này trong việc đo lường lạm phát

1 Tổng sản phẩm trong nước GDP (Gross Domestic Product)

1.1 Khái niệm

Khái niệm GDP

“Tổng sản phẩm trong nước còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội hay tổng sản phẩm nội địa là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).”

Để có thể hiểu thấu đáo khái niệm này, chúng ta phải lưu ý đến nội dung chuyển tải của từng cụm từ một

VD: Giả sử nền kinh tế sản xuất ra 3 quả táo và 4 quả cam, hãy tính GDP của nền kinh tế đó Nhiều người chọn cách tính đơn giản là cộng 4 quả táo và 3 quả cam, kết luận rằng GDP là 7 quả Nhưng kết luận này chỉ có ý nghĩa khi táo và cam có giá trị như nhau, tuy nhiên, như tôi đã nói “bạn không thể so sánh táo với cam”, nên điều này không xảy ra Để tính được GDP, chúng ta phải sử dụng giá trị thị trường, giả sử giá táo là 6 ngàn đồng/quả và giá cam là 3 nghìn đồng/quả, ta tính được GDP như sau:

GDP = số lượng táo × giá táo + số lượng cam × giá cam = 3 × 6 + 4 × 3 = 18 + 12 = 30 (ngàn đồng)

➢ “Hàng hóa và dịch vụ”:

Trang 18

GDP bao gồm các hàng hóa hữu hình như lương thực, thực phẩm và các dịch

vụ vô hình như dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, chăm sóc sức khỏe… Khi bạn mua chiếc đĩa CD được thực hiện bởi một nhóm nhạc mà bạn yêu thích ghi âm, điều này có nghĩa

là bạn mua hàng hóa và giá mua nằm trong GDP Khi bạn trả tiền để nghe 1 buổi hòa nhạc cũng của nhóm nhạc đó, thì có nghĩa là bạn mua 1 dịch vụ và giá vé cũng nằm trong GDP

➢ “Của tất cả” hàng hóa và dịch vụ

GDP tìm cách tính toán hết tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra và bán hợp pháp trên thị trường bao gồm các sản phẩm nông nghiệp như: gạo, ngô,…; các sản phẩm công nghiệp như: quần áo, giày dép…; dịch vụ như: du lịch, phim ảnh…

Tuy nhiên GDP chỉ tính những sản phẩm được đem ra trao đổi chứ không tính những sản phẩm tự cung tự cấp (VD: hoa quả vườn nhà) và giá trị giao dịch của một

số sản phẩm lưu thông bất hợp pháp hay thuộc kinh tế ngầm (VD: ma túy)

Những ngoại lệ này đôi khi dẫn đến những kết quả kỳ quặc VD: Một đầu bếp được trả tiền khi anh ta nấu ăn tại khách sạn, giá trị của bữa ăn này được tính vào GDP Tuy nhiên, khi anh ta chuẩn bị bữa ăn cho gia đình mình, giá trị của bữa ăn này

có thể cao hơn nhiều khi anh ta dành nhiều công sức và tình cảm hơn, tuy nhiên, giá trị này lại không được tính vào GDP

➢ Hàng hóa và dịch vụ “cuối cùng”:

- GDP chỉ tính các sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng

- Không tính các sản phẩm trung gian được dùng làm đầu vào để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng một cách độc lập

- Cần phân biệt hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và hàng hóa dịch vụ trung gian vì đôi khi cùng một hàng hóa có thể là hàng hóa cuối cùng của ngành này nhưng lại là hàng hóa trung gian của ngành khác Ví dụ: vải là sản phẩm cuối cùng của ngành dệt nhưng lại là sản phẩm trung gian của ngành may Phân biệt hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và hàng hóa, dịch vụ trung gian nhằm khắc phục hiện tượng tính trùng trong đo lường GDP

VD: công ty máy tính mua ổ cứng $100, mainboard $200, màn hình $150, phụ kiện khác $50 về lắp ráp và bán máy tính tới tay người tiêu dùng với giá $600

Sản phẩm trung gian là các bộ phận kể trên, sản phẩm cuối cùng là chiếc máy tính hoàn chỉnh tới tay người tiêu dùng Chúng ta chỉ tính giá trị chiếc máy tính cuối cùng

$600 và không cần phải tính lại các bộ phận một cách độc lập vào GDP

➢ “Được sản xuất”:

GDP bao gồm mọi hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong thời kỳ hiện tại

Nó không bao gồm những giao dịch liên quan đến hàng hóa được sản xuất trong quá

Trang 19

khứ Nghĩa là, chúng ta chỉ quan tâm tới thời điểm sản xuất chứ không quan tâm tới thời điểm tiến hành mua bán sản phẩm đó trên thị trường khi tính GDP

VD: chiếc ôtô Camry sản xuất ra vào 12/2015 và bán cho khách hàng vào 1/2016 thì giá trị chiếc ôtô này được tính vào GDP năm 2015 Cũng như vậy, khi một người nào đó bán chiếc xe hơi đã qua sử dụng cho người khác thì giá trị của chiếc xe hơi được bán đó không được tính vào GDP

➢ “Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia”:

Trên lãnh thổ một nước ngoài phần sản phẩm do công dân nước đó tạo ra còn

có phần sản phẩm do công dân nước ngoài tạo ra Do đó, GDP gồm 2 phần:

+ Phần do công nhân một nước sản xuất ra trên lãnh thổ nươc đó

+ Phần do công nhân nước khác sản xuất ra trên lãnh thổ nước đó

Giá trị của tất cả hàng hóa được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam đều được tính vào GDP của Việt Nam, bất kể hàng hóa đó được tạo ra bởi công dân nước nào và doanh nghiệp thuộc sở hữu trong nước hay nước ngoài

VD: chiếc ôtô Camry Việt Nam của công ty Toyota 100% vốn nước ngoài có giá $50.000 => tính vào GDP Việt Nam

VD: thu nhập của người Việt Nam đang làm việc ở Nhật được tính vào GDP của Nhật

* Ưu và nhược điểm của GDP

* Ưu điểm: GDP là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng về kết quả hoạt động kinh

tế của một quốc gia, phản ánh cả tổng thu nhập và tổng chi tiêu của nền kinh tế để mua hàng hóa và dịch vụ Quy mô GDP bình quân đầu người cho chúng ta biết thu nhập và chi tiêu của một người trung bình trong nền kinh tế Do hầu hết mọi người đều muốn nhận được mức thu nhập cao hơn và tận hưởng mức chi tiêu cao hơn, nên GDP bình quân đầu người là chỉ tiêu tự nhiên về phúc lợi kinh tế trung bình của một người

*Nhược điểm: GDP không phải là một chỉ tiêu hoàn hảo về phúc lợi (phúc lợi kinh tế phản ánh mức độ hạnh phúc và thỏa mãn của dân chúng)

Một số thứ góp phần tạo nên cuộc sống tốt đẹp bị loại ra khỏi GDP Một trong

số đó là thời gian nghỉ ngơi Ví dụ, nếu mọi người trong nền kinh tế đột nhiên bắt đầu

làm việc tất cả các ngày trong tuần, không nghỉ vào cuối tuần, nhiều hàng hóa và dịch

vụ hơn sẽ được sản xuất và GDP tăng Song mặc dù GDP tăng, nhưng chúng ta không

Trang 20

thể nói phúc lợi của mọi người có tăng hay không Những cái mất từ việc giảm thời gian nghỉ ngơi làm triệt tiêu những cái được từ việc sản xuất và tiêu dùng một khối lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn

Do GDP sử dụng giá thị trường để đánh giá hàng hóa và dịch vụ, nên nó bỏ qua hầu hết các hoạt động xảy ra bên ngoài thị trường Cụ thể, GDP bỏ sót giá trị của

những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất tại gia đình Ta thấy, dịch vụ chăm sóc trẻ

em ở các nhà trẻ nằm trong GDP, nhưng những hoạt động chăm sóc trẻ em được bố

mẹ chúng thực hiện tại nhà thì không Các công việc tình nguyện cũng đóng góp vào phúc lợi của xã hội, nhưng GDP không phản ánh được những đóng góp này

GDP còn bỏ qua một thứ khác đó là chất lượng môi trường Hãy tưởng tượng

ra rằng chính phủ dỡ bỏ tất cả đạo luật về môi trường Các doanh nghiệp có thể sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà không cần bận tâm đến sự ô nhiễm mà họ gây ra và GDP

có thể tăng Tuy nhiên, phúc lợi rất có thể sẽ giảm Sự suy thoái chất lượng không khí

và nguồn nước gây ra nhiều thiệt hại hơn những ích lợi do việc sản xuất nhiều hơn mang lại

GDP cũng không đề cập đến phân phối thu nhập Một xã hội có 100 thành viên

với thu nhập hàng năm bằng 20 triệu đồng sẽ có GDP là 2 tỷ đồng và đương nhiên GDP bình quân đầu người bằng 20 triệu đồng Chúng ta cũng thu được kết quả tương

tự với GDP là 20 tỷ đồng trong trường hợp một xã hội khác có 10 người kiếm được

200 triệu đồng và 90 người không có gì cả Rất ít người coi hai tình huống đó như nhau GDP bình quân đầu người cho chúng ta biết những gì xảy ra đối với một người trung bình, nhưng đằng sau sự bình quân đó có rất nhiều sự khác biệt giữa các cá nhân

Sự phân phối thu nhập bất bình đẳng và sự phân hóa giàu nghèo rõ ràng không được phản ánh trong GDP

Cuối cùng, chúng ta có thể kết luận rằng GDP là một chỉ tiêu tốt về phúc lợi kinh tế đối với hầu hết các mục tiêu - nhưng không phải tất cả Điều quan trọng là phải biết GDP bao gồm những gì và nó bỏ sót những gì

1.2 GDP danh nghĩa, GDP thực tế và chỉ số điều chỉnh GDP

Như chúng ta đã thấy, GDP chính là con số đạt được khi dùng thước đo tiền tệ tính toán giá trị của các loại hàng hóa có hình thức và nội dung vật chất khác nhau Giá

cả lại là một thước đo thay đổi theo thời gian Lạm phát thường xuyên đưa mức giá chung lên cao Do vậy, GDP tính bằng tiền có thể tăng nhanh chóng khi giá trị thực của tổng sản phẩm tính bằng hiện vật có thể không tăng hoặc tăng ít Do đó, GDP tính bằng thước đo tiền tệ cần phải loại bỏ sự biến động về giá cả (lạm phát) Để khắc phục

Trang 21

nhược điểm này, các nhà kinh tế thường sử dụng cặp khái niệm: GDP danh nghĩa và GDP thực tế

• GDP danh nghĩa (GDPn ) là tổng sản phẩm quốc nội theo giá trị sản lượng và

hàng hóa dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành Sản phẩm sản xuất ra trong thời

kỳ nào thì lấy giá của thời kỳ đó, của cải năm nào tính theo giá năm đó, do vậy GDP danh nghĩa còn được gọi là GDP theo giá hiện hành

GDPn = ∑ P t Q t

Trong đó: Pt: Giá hiện hành của hàng hóa, dịch vụ i ở năm t

Qt: Sản lượng hàng hóa và dịch vụ i ở năm t GDP danh nghĩa dùng để nghiên cứu cơ cấu và sự biến động về cơ cấu theo các ngành, các nhóm ngành, các loại hình kinh tế, các mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với phần huy động vào ngân sách nhà nước và phúc lợi xã hội

Bảng 1: Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành (GDP danh nghĩa)

về tổng lượng hàng hóa và dịch vụ được nền kinh tế tạo ra mà nó hoàn toàn không bị tác động bởi sự thay đổi giá cả của các hàng hóa và dịch vụ này Để làm được điều này các nhà kinh tế sử dụng một chỉ tiêu gọi là GDP thực tế

• GDP thực tế (GDPr ) là tổng sản phẩm quốc nội tính theo giá trị sản lượng

hàng hóa và dịch vụ cuối cùng của năm nghiên cứu được tính theo mức giá cố định Mức giá này là giá của một năm do Tổng cục thống kê quy định sử dụng để so sánh các năm với nhau Ở nước ta hiện nay, năm 2010 được chọn làm năm gốc để tính các

Trang 22

chỉ tiêu thống kê theo giá so sánh (thông tư số: 02/2012/TT-BKHĐT) Như vậy, sản phẩm sản xuất ra trong thời kỳ này nhưng lại được tính theo giá của kỳ gốc, của cải năm này tính theo giá năm gốc, do vậy GDP thực tế còn được gọi là GDP “theo giá cố định” hay GDP so sánh

Nếu thống kê GDP thực tế cho thấy GDPr năm sau cao hơn năm trước, thì có thể khẳng định rằng sản lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra tăng lên, vì giá cả được giữ cố định ở năm cơ sở (năm gốc)

Bảng 2: Tổng sản lượng trong nước theo giá so sánh năm 2010 (GDP thực tế)

Các chỉ tiêu GDPn và GDPr thường được dùng cho các mục tiêu phân tích khác nhau:

+ Khi muốn so sánh quan hệ tài chính, so sánh kết quả hoạt động giữa các ngành, vùng, địa phương với nhau thì dùng GDPn

+ Khi so sánh GDP qua các năm để đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế phải sử dụng GDPr

• GDP r và tăng trưởng kinh tế

“Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian, đó là sự tăng lên của GDP r theo thời gian.”

Có ba loại tăng trưởng kinh tế như sau:

+ Tăng trưởng kinh tế liên hoàn (g t ): Được tính bằng phần trăm(%) thay đổi

của sản lượng thực tế thời kỳ sau so với thời kỳ trước

GDP t r – GDP t-1 r

Trang 23

g t = × 100 (%)

GDP t-1

r

GDPtr > GDPt-1r: gt > 0: nền kinh tế tăng trưởng

GDPtr < GDPt-1r: gt< 0: nền kinh tế suy thoái

GDPtr = GDPt-1r: gt= 0: nền kinh tế trên đà suy thoái hoặc phục hồi

VD: tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2015 là:

GDPr2015 – GDPr2014 2875856 - 2695796

GDPr2014 2695796 Con số này cho ta biết rằng tổng sản phẩm trong nước thực tế của Việt Nam năm 2015 tăng lên so với năm 2014 là 6,68%

+ Tăng trưởng kinh tế định gốc (g 0 ):

Cụ thể, “chỉ số điều chỉnh GDP là chỉ tiêu đo lường mức giá trung bình của các hàng hóa dịch vụ được tính vào GDP Nó là quan hệ tỷ lệ giữa GDP n và GDP r ”

GDPn ∑ P t Q t DGDP = ×100 hay DGDP = ×100

GDPr ∑ P 0 i Q t

DGDP ở năm gốc luôn bằng 1 hay 100

Trang 24

Chỉ số giá điều chỉnh GDP phản ánh mức giá hiện hành so với mức giá của năm gốc, do đó nếu DGDP càng cao nghĩa là chênh lệch mức giá càng lớn, hay giá trị sản lượng hàng hóa dịch vụ Qi tại năm hiện hành đã được đẩy lên so với năm gốc DGDP

phảnánh sự gia tăng của GDPn so với năm gốc Nó cho biết sự thay đổi giá trị sản lượng do giá thay đổi, chứ không cho biết sự gia tăng của GDP thực tế

+ Tại năm gốc: DGDP = 100 vì P t = P 0

i + Năm trước gốc: DGDP <100 vì P t < P 0 i

+ Sau năm gốc: DGDP >100 vì P t > P 0

i DGDP có hai mục đích:

- Để quy đổi GDPn thành GDPr và ngược lại

- Để tính tỷ lệ lạm phát:

+ Tỷ lệ lạm phát (π): Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung Do

vậy, tỷ lệ lạm phát là phần trăm thay đổi của mức giá chung so với thời kỳ trước đó

phát chính là tốc độ tăng giá của hàng hóa dịch vụ năm sau so với năm trước được tính qua công thức sau:

GDP πt >0 lạm phát (là tình trạng mức giá chung của nền kinh

tế tăng lên trong một thời gian nhất định)

- Nếu Dt

GDP < Dt-1

GDP  πt <0 giảm phát (là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống trong một thời gian nhất định)

- Nếu DtGDP = Dt-1GDP πt = 0 trên thực tế không xảy ra trường hợp này

Tỷ lệ lạm phát tính cho hai mốc thời gian liền kề nhau Trường hợp hai mốc thời gian so sánh cách nhau thì không gọi là tỷ lệ lạm phát mà gọi là tốc độ tăng giá Lấy tốc độ tăng giá chia cho khoảng cách thời gian thì có được tỷ lệ lạm phát trung bình trong thời gian đó

Tốc độ tăng giá:

Trang 25

1.3.1 Thu nhập, chi tiêu và luồng chu chuyển

Trong nền kinh tế giản đơn, GDP phản ánh đồng thời tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế và tổng chi tiêu cho việc mua sắm toàn bộ hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế

Với tổng thể nền kinh tế thì thu nhập phải bằng chi tiêu GDP phản ánh được cả tổng thu nhập và tổng chi tiêu vì mọi giao dịch trong nền kinh tế được tiến hành bởi hai bên: bên bán và bên mua Khoản thu nhập của người bán chính là khoản chi tiêu của người mua, vì vậy, thực chất hai đại lượng này là một

Cũng có thể chỉ ra rằng, tại sao đối với tổng thể nền kinh tế thì thu nhập bằng chi tiêu và bằng GDP thông qua nghiên cứu luồng chu chuyển của thu nhập và chi tiêu như sau:

Doanh thu (=GDP) Chi tiêu (=GDP)

Đầu vào sản xuất Thị trường các Lao động, tư bản

Trang 26

Luồng chu chuyển của thu nhập và chi tiêu còn được gọi là luồng chu chuyển hàng hóa và dịch vụ hay là luồng chu chuyển kinh tế vĩ mô

Sơ đồ chu chuyển kinh tế vĩ mô là sơ đồ mô tả luồng hàng hóa, dịch vụ và luồng tiền di chuyển giữa các chủ thể kinh tế với nhau Sơ đồ mô tả nền kinh tế chỉ bao gồm hai khu vực là hộ gia đình và các doanh nghiệp và hai thị trường tổng hợp là thị trường các nhân tố sản xuất và thị trường hàng hóa và dịch vụ Chúng ta tập trung xem xét các giao dịch kèm theo các luồng chu chuyển của hàng hóa và tiền diễn ra giữa hai khu vực này

- Thị trường các yếu tố sản xuất:

Các hộ gia đình bán các dịch vụ về lao động, vốn, đất đai, nhà xưởng và các doanh nghiệp mua các yếu tố sản xuất này

Các doanh nghiệp thanh toán các dịch vụ yếu tố sản xuất dưới hình thức trả thu nhập cho các hộ gia đình như trả tiền công cho dịch vụ lao động, tiền lãi cho sử dụng vốn, tiền thuê đất đai, nhà xưởng và lợi nhuận cho các chủ doanh nghiệp Toàn bộ thu nhập mà các hộ gia đình nhận được từ các dịch vụ yếu tố sản xuất lưu chuyển qua thị trường các yếu tố sản xuất được gọi là tổng thu nhập và bằng GDP

- Thị trường hàng hóa và dịch vụ

Các doanh nghiệp bán hàng hóa và dịch vụ còn các hộ gia đình dùng thu nhập

đã nhận được từ các doanh nghiệp để mua hàng tiêu dùng, VD: lương thực, thực phẩm, quần áo, bánh kẹo, ti vi… hay các dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc, thẩm mỹ

Tổng thanh toán các hộ gia đình trả cho những hàng hóa và dịch vụ này thông qua thị trường hàng hóa và dịch vụ được gọi là chi tiêu dùng và bằng GDP

Như vậy, sơ đồ chu chuyển nền kinh tế vĩ mô đặt cơ sở cho các phương pháp tính toán GDP Chúng ta có thể tính GDP của nền kinh tế theo hai cách là: cộng tất cả các khoản thu nhập mà các doanh nghiệp thanh toán cho các hộ gia đình hoặc cộng tất

cả các khoản chi tiêu của hộ gia đình thanh toán cho các doanh nghiệp Hai giá trị này luôn bằng nhau nên GDP tính theo hai cách trên luôn bằng nhau

Tuy nhiên, nền kinh tế thực phức tạp hơn nhiều so với nền kinh tế giản đơn được giả định ở hình 2 Nó không chỉ có 2 mà có tới 4 tác nhân kinh tế, ngoài các hộ gia đình và các doanh nghiệp còn có sự tham gia của chính phủ và nước ngoài Các hộ gia đình không hoàn toàn chi tiêu hết các khoản thu nhập mà phải dành một phần để

Trang 27

nộp thuế cho chính phủ, một phần để tiết kiệm và đầu tư Trong nền kinh tế thực, các hộ gia đình không mua hết tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh

tế mà chính phủ và các doanh nghiệp cũng tham gia mua hàng hóa và dịch vụ cho mục đích tiêu dùng và tiếp tục quá trình sản xuất Song do hộ gia đình, chính phủ hay doanh nghiệp mua 1 hàng hóa và dịch vụ nào thì đó vẫn là 1 giao dịch được thực hiện giữa bên

mua và bên bán Bởi vậy, xét tổng thể nền kinh tế thì chi tiêu luôn bằng thu nhập

1.3.2 Các phương pháp tính GDP

Có ba phương pháp tính toán GDP đó là: phương pháp chi tiêu, phương pháp thu nhập và phương pháp sản xuất Bất kể GDP được tính theo cách nào thì kết quả cuối cùng phải thỏa mãn điều kiện là chi tiêu, thu nhập và giá trị sản lượng của nền kinh tế phải bằng nhau

1.3.2.1 Phương pháp chi tiêu

Phương pháp chi tiêu hay còn gọi là phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm cuối cùng

Phương pháp chi tiêu đo lường GDP bằng cách thu thập dữ liệu về chi tiêu cho tiêu dùng, đầu tư, chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ và xuất khẩu ròng

GDP = C + I + G + X – M

Theo phương pháp này, ta nhận thấy GDP chịu tác động của bốn nhân tố: tiêu dùng C, đầu tư I, chi tiêu chính phủ G và xuất khẩu ròng (NX = X – M) Sau đây, chúng ta lần lượt tìm hiểu về các nhân tố này

* Tiêu dùng của các hộ gia đình (C) bao gồm những khoản chi tiêu cho tiêu

dùng cá nhân của các hộ gia đình về hàng hóa và dịch vụ cuối cùng

- Hàng hóa vật chất

- Giá trị của các hoạt động dịch vụ phục vụ đời sống

Như đã được tìm hiểu trong phần định nghĩa GDP, chúng ta cũng làm rõ thêm rằng chi xây dựng và mua nhà ở mới không tính vào tiêu dùng mà được hạch toán vào đầu tư tư nhân Những hàng hóa và dịch vụ mà hộ gia đình tự sản xuất để tiêu dùng cũng không được tính vào GDP

* Đầu tư (I) phản ánh tổng đầu tư trong nước của khu vực tư nhân Nó bao gồm

các khoản chi tiêu của doanh nghiệp về trang thiết bị và nhà xưởng, chi tiêu cho nhà ở

Trang 28

mới của dân cư Đầu tư cũng bao gồm về hàng tồn kho của doanh nghiệp Tổng đầu tư bao gồm hai bộ phận:

- Đầu tư thay thế: là chi tiêu để bù đắp giá trị của bộ phận tư bản hiện vật đã

hao mòn, gọi là khấu hao (De) Khấu hao ở đây chính là sự tiêu dùng tài sản cố định

của doanh nghiệp và được định nghĩa là sự giảm sút trong giá trị hiện tại của tài sản cố định do các doanh nghiệp sử dụng trong một thời gian nhất định

- Đầu tư ròng: là khoản chi tiêu để mở rộng quy mô của tư bản hiện vật Do đó, đầu tư ròng sẽ bằng tổng đầu tư trừ đi khấu hao

* Chi tiêu của chính phủ (G): là chi mua hàng hóa và dịch vụ cho các cấp

chính quyền từ Trung ương tới địa phương, khoản chi tiêu này bao gồm tất cả các khoản chi cho:

- Xây dựng cơ sở hạ tầng: điện chiếu sáng, đường sá,…

- An ninh, quốc phòng

- Luật pháp

- Y tế, giáo dục

- Trả lương cho bộ máy Nhà nước

Chi tiêu chính phủ không bao gồm các khoản thanh toán chuyển khoản hay còn gọi là chuyển giao thu nhập (Tr) Những khoản này thuộc chi ngân sách nhưng nó không tương ứng với một loại hàng hóa, dịch vụ nào mới được sản xuất trong nền kinh

tế, do đó không làm tăng GDP và không tính vào GDP Ví dụ:

- Chi bảo hiểm thất nghiệp

- Trợ cấp cho những người thuộc diện chính sách xã hội: người già, người tàn tật, mất sức

Trang 29

Hàng nhập khẩu là những hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài nhưng được mua để phục vụ tiêu dùng nội địa

Với quan niệm này, hàng xuất khẩu làm tăng giá trị GDP, còn hàng nhập khẩu không nằm trong sản lượng nội địa nên phải trừ đi lượng hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu

- Thù lao lao động (W) là toàn bộ các khoản thanh toán dịch vụ trả cho các dịch

Ngoài các khoản thu nhập nói trên, GDP còn bao gồm cả thuế gián thu ròng và khấu hao

- Thuế gián thu ròng (Te) = Thuế gián thu (Ti) – Trợ cấp sản xuất

Thuế gián thu (Ti) là những khoản thuế mà người tiêu dùng thanh toán khi mua hàng hóa và dịch vụ, nó là những khoản thuế gián tiếp đánh vào thu nhập người tiêu

Trang 30

dùng, người chịu thuế và người nộp thuế không phải là một Ví dụ như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào các mặt hàng như thuốc lá, rượu,… Thuế gián thu làm cho người tiêu dùng phải thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ họ mua một số tiền lớn hơn so với số tiền mà người sản xuất nhận được

Trợ cấp cho người sản xuất là khoản tiền chính phủ thanh toán cho một người sản xuất Ví dụ chính phủ cấp tiền trợ giá để người nông dân sản xuất rau sạch Do có trợ cấp sản xuất đối với một loại hàng hóa và dịch vụ nên người tiêu dùng phải thanh toán một số tiền nhỏ hơn số tiền mà người sản xuất nhận được

- Khấu hao (De) là khoản tiền dùng để bù đắp sự hao mòn TSCĐ

GDP = W + R + r + Pr + OI + Te + De

1.3.2.3 Phương pháp sản xuất

Phương pháp sản xuất còn được gọi là phương pháp giá trị gia tăng

Theo phương pháp này GDP được tính bằng cách cộng giá trị gia tăng của các ngành hoặc giá trị gia tăng của các doanh nghiệp

GDP =

Trong đó, i: ngành, doanh nghiệp thứ i, i = 1 ÷ n

Giá trị gia tăng (VA, Value Added) là giá trị sản lượng của ngành hay doanh nghiệp trừ đi giá trị của hàng hóa trung gian mua từ các doanh nghiệp khác

VA = GO - IC

Tổng giá trị sản xuất GO: là giá trị của toàn bộ lượng hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra trong một năm, nó bao gồm cả phần hàng hóa đã tiêu thụ và hàng tồn kho

Chi phí trung gian IC: bao gồm những chi phí vật chất và dịch vụ mua bên ngoài được sử dụng một lần trong quá trình sản xuất Chẳng hạn, chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, điện năng hoặc các dịch vụ thuê ngoài như vận tải, thương nghiệp, ngân hàng, Chi phí trung gian không bao gồm khấu hao TSCĐ vì TSCĐ được dùng nhiều lần trong quá trình sản xuất

Với phương pháp giá trị gia tăng chúng ta đã loại trừ được sản phẩm trung gian của nền kinh tế Giá trị gia tăng của một doanh nghiệp hay của một ngành là số đo phần đóng góp của ngành đó, doanh nghiệp đó vào tổng sản lượng của nền kinh tế

=

n

i iVA

1

Trang 31

Có thể minh họa quá trình tính GDP theo phương pháp giá trị gia tăng thông qua ví dụ sau đây Giả sử nền kinh tế đang sản xuất áo sơ mi, quá trình sản xuất chiếc

áo hoàn chỉnh đến tay người tiêu dùng đi qua nhiều giai đoạn, trong mỗi giai đoạn, chúng ta có thể tính được VA như sau:

Bảng 5 : Tính GDP theo phương pháp giá trị gia tăng NSX Quy trình sản xuất Số tiền trả Số tiền nhận GTGT

1 Người trồng dâu bán lá dâu

2 Người nuôi tằm mua lá dâu,

bán tơ cho người dệt vải 100.000 250.000 150.000

3 Ngưới dệt vải mua tơ, dệt vải

4 XN may mua vải, may 10 cái

5 Đại lý nhận áo từ XN may,

bán cho người tiêu dùng 1.200.000 1.500.000 300.000 Tổng GDP = Tổng giá trị gia tăng của 5 người sản xuất = 1.500.000

Đầu tiên, người nông dân trồng dâu, sau đó họ thu hoạch và đem bán lá dâu cho người nuôi tằm, thu về được 100.000 đồng Giả sử rằng người trồng dâu không tốn bất

cứ chi phí nào để trồng dâu, GTGT mà người trồng dâu tạo ra cho nền kinh tế là 100.000 đồng Tiếp theo, người nuôi tằm phải trả 100.000 đồng để mua lá dâu, về nuôi tằm để nhả tơ sau đó bán tơ cho người dệt vải, thu về 250.000 đồng Khi đó, GTGT của người nuôi tằm thực chất chỉ có 150.000 đồng vì phải trừ đi khoản tiền mua lá dâu Tương tự, GTGT của người dệt vải là 350.000 đồng, XN may là 600.000 đồng và của đại lý bán quần áo là 300.000 đồng Khi đại lý bán áo cho người tiêu dùng cuối cùng thì quy trình này kết thúc Tổng giá trị gia tăng của 5 nhà sản xuất này tạo ra cho nền kinh tế là 1.500.000 đồng; đó cũng chính là GDP của nền kinh tế

Tới đây, chúng ta cũng nhận thấy được vai trò của việc phân biệt hàng hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian Trong quy trình này, chỉ có cái áo bán cho người tiêu dùng cuối cùng là hàng hóa cuối cùng, trong khi đó, lá dâu, tơ, vải, áo mới sản xuất

Trang 32

đều là hàng hóa trung gian Chúng ta nhận thấy số tiền mà mỗi nhà sản xuất nhận vào

đã bao gồm giá trị của hàng hóa trung gian Ví dụ: 250.000 đồng mà NSX2 nhận vào

đã có 100.000 đồng tiền lá dâu của NSX1; 600.000 đồng của NSX3 đã bao gồm 250.00 đồng của NSX2, cứ tiếp tục như vậy Cho nên, chúng ta cần phải nhận thức rõ đâu là hàng hóa trung gian, đâu là hàng hóa cuối cùng, bởi nếu lấy tổng giá trị nhận vào để tính GDP thì lúc này GDP sẽ bị tính trùng nhiều lần, kết quả không phản ánh đúng giá trị hàng hóa mà nền kinh tế sản xuất ra

Đồng thời, chúng ta cũng nhớ lại rằng, theo định nghĩa, GDP là giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ cuối cùng Áp dụng vào ví dụ này, ta có GDP chính là giá trị nhận được khi bán 10 cái áo cho người tiêu dùng, là 1.500.000 đồng Thông qua tính GDP theo phương pháp giá trị gia tăng, chúng ta một lần nữa làm rõ định nghĩa GDP chỉ tính giá trị của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà thôi

* Chú ý:

Về nguyên tắc thì ba phương pháp này phải cho kết quả giống nhau, tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào 3 phương pháp này cũng cho ta cùng một kết quả

Nếu các kết quả lệch nhau < 5% thì dùng trung bình cộng để tính

Nếu chênh lệch 5% thì cần phải thu thập số liệu tính toán lại sao cho mức chênh lệch < 5%

2 Một số chỉ tiêu khác về thu nhập

Ngoài GDP, chúng ta còn cần tính toán các chỉ tiêu thu nhập khác nhằm đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh hơn về những gì đang xảy ra trong nền kinh tế Những chỉ tiêu này khác với GDP ở chỗ chúng loại bỏ hoặc tính thêm những khoản mục thu nhập nào đó Sau đây là mô tả tóm tắt về những chỉ tiêu thu nhập này, được sắp xếp theo thứ

tự từ lớn nhất đến nhỏ nhất

❖ Tổng sản phẩm quốc dân GNP (Gross Natinal Product)

Tổng sản phẩm quốc dân còn được gọi là tổng sản lượng quốc gia là chỉ tiêu đo lường tổng giá trị của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia hay một địa phương sản xuất ra trong một thời kỳ (thường là 1 năm) bằng các yếu tố sản xuất của mình

GNP = GDP + NFA

Trang 33

NFA (Net Factor Income from Abroad) là thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài,

nó là chênh lệch giữa thu nhập cư dân trong nước tạo ra ở nước ngoài và thu nhập của người nước ngoài tạo ra ở trong nước

GNP chỉ phản ánh giá trị của những hàng hóa dịch vụ cuối cùng, không phản ánh giá trị của các hàng hóa trung gian

GNP xác định theo quyền sở hữu của những tư liệu sản xuất, cho nên bao gồm hai bộ phận:

Thứ nhất là phần hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà người dân 1 địa phương hay công dân 1 quốc gia tạo ra trên địa bàn của họ

Thứ hai là phần do người dân 1 địa phương hay 1 quốc gia sản xuất ra trên lãnh thổ nước khác, địa phương khác

❖ Sản phẩm quốc dân ròng (NNP)

Sản phẩm quốc dân ròng (NNP) là tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trừ đi khấu hao Khấu hao là các khoản hao mòn trang thiết bị và nhà xưởng của nền kinh tế Trong hệ thống tài khoản quốc gia, khấu hao được gọi là khoản "tiêu hao tư bản cố định."

NNP = GNP - De

❖ Thu nhập quốc dân (National Income – NI)

Thu nhập quốc dân là tổng thu nhập mà công dân một nước tạo ra trong quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ Nó khác với sản phẩm quốc dân ròng ở chỗ không bao gồm các khoản thuế gián thu ròng Te (ví dụ thuế doanh thu), nhưng bao gồm cả các khoản trợ cấp kinh doanh NNP và thu nhập quốc dân còn khác nhau ở khoản "sai

số thống kê" phát sinh từ việc thu thập và xử lý số liệu

NI = NNP – Te

❖ Thu nhập cá nhân (Personal Income – PI)

Thu nhập cá nhân là thu nhập mà các hộ gia đình và doanh nghiệp cá thể nhận được Không giống như thu nhập quốc dân, nó không bao gồm lợi nhuận để lại công

ty, tức khoản thu nhập các công ty tạo ra nhưng không trả cho chủ sở hữu Nó cũng không bao gồm các khoản thuế thu nhập công ty và đóng góp bảo hiểm xã hội (chủ yếu là các loại thuế bảo hiểm xã hội) Ngoài ra, thu nhập cá nhân còn bao gồm thu nhập từ lãi suất mà các hộ gia đình nhận được từ các khoản cho chính phủ vay và thu

Trang 34

nhập mà các hộ gia đình nhận được từ các chương trình trợ cấp của chính phủ, ví dụ như chương trình Phúc lợi và bảo hiểm xã hội

❖ Thu nhập khả dụng (Disposable Income – Yd)

Thu nhập khả dụng là thu nhập mà các hộ gia đình và doanh nghiệp cá thể còn lại sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho chính phủ Nó bằng thu nhập cá nhân trừ thuế thu nhập cá nhân và các khoản thanh toán ngoài thuế khác (ví dụ lệ phí giao thông)

Mặc dù các chỉ tiêu thu nhập có thể khác nhau về chi tiết, nhưng chúng hầu như luôn kể cho chúng ta cùng một câu chuyện về các điều kiện kinh tế Khi GDP tăng trưởng nhanh, thì các chỉ tiêu thu nhập khác cũng tăng nhanh Và khi GDP giảm, thì các chỉ tiêu thu nhập khác cũng giảm theo Đối với việc theo dõi những biến động của

toàn nền kinh tế, thì việc chúng ta sử dụng chỉ tiêu nào không có ý nghĩa quan trọng

3 Ý nghĩa của GDP, GNP và các chỉ tiêu thu nhập

- GDP, GNP là những thước đo tốt về thàn tựu kinh tế của một đất nước

- Chính phủ của các quốc gia trên thế giới đều phải dựa vào GDP, GNP để lập các chiến lược phát triển kinh tế dài hạn và lập kế hoạch ngân sách ngắn hạn

- GDP, GNP thường được sử dụng để phân tích những biến đổi về sản lượng của một đất nước trong những thời gian khác nhau Trường hợp này người ta tính tốc

độ tăng trưởng kinh tế

- GDP, GNP được sử dụng để phân tích sự thay đổi trong mức sống dân cư Trường hợp này người ta sử dụng chỉ tiêu GDP và GNP bình quân đầu người

4 Chỉ số giá tiêu dùng CPI

4.1 Khái niệm

Nếu GDP là chỉ tiêu phản ánh giá trị hoạt động của nền kinh tế thì CPI phản

ánh chi phí sinh hoạt

* Khái niệm CPI

Chỉ số giá tiêu dùng CPI đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hóa dịch

vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua

Từ khái niệm này, có hai cụm từ chúng ta cần làm rõ:

“Mức giá trung bình”: Chúng ta biết rằng, nền kinh tế thực có hàng ngàn hàng

hóa, dịch vụ tiêu dùng, mỗi loại có một mức giá cá biệt do vậy khi xem xét sự thay đổi

Trang 35

trong mức giá chung của nền kinh tế, đó chính là sự biến động trong mức giá trung bình thay vì mức giá cá biệt Cũng giống như GDP chuyển số lượng của nhiều hàng hóa, dịch vụ thành một con số duy nhất phản ánh giá trị của tổng sản lượng, CPI chuyển giá cả của nhiều hàng hóa, dịch vụ thành một chỉ tiêu duy nhất phản ánh mức giá chung của nền kinh tế

“Giỏ hàng hóa dịch vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua” bao gồm danh

mục tất cả các hàng hóa dịch vụ đại diện cho tiêu dùng của dân cư trong một khoảng thời gian nhất định

* Ý nghĩa

Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh mức chênh lệch về chi phí để mua cùng một giỏ hàng hóa và dịch vụ tại năm hiện hành so với chi phí đó ở năm gốc Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng nghĩa là mức giá trung bình tăng, điều này có nghĩa là người tiêu dùng phải chi nhiều tiền hơn để mua được số lượng hàng hóa dịch vụ như cũ nhằm duy trì mức sống trước đó của họ Phần trăm thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng phản ánh tỷ lệ lạm phát

* Ứng dụng tính CPI thực tế ở Việt Nam

Việt Nam bắt đầu tính toán và sử dụng CPI để phản ánh mức độ tăng giá tiêu dùng chung từ năm 1998 (trước 1998, sử dụng chỉ số giá bán lẻ - RPI) Thời điểm được chọn làm năm gốc cũng thay đổi theo, năm gốc là năm cập nhật danh mục mặt hàng, dịch vụ đại diện Số lượng và quyền số của các mặt hàng trong rổ hàng hóa để tính CPI được cập nhật và mở rộng 5 năm một lần (Danh mục các mặt hàng đại diện trong "rổ" hàng hàng hóa thời kỳ 2009-2014 sẽ bao gồm 573 mặt hàng chia thành 11 nhóm hàng) Cơ cấu quyền số (tỉ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hóa, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu) giữa các nhóm hàng hóa cũng có sự thay đổi để phản ánh sát thực và chính xác hơn với xu hướng tiêu dùng hiện nay Trong giỏ hàng năm 2016, tỷ trọng của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã giảm xuống còn 36,12% thay vì mức 39,93% năm 2010 và 42,8% như cách tính từ năm 2005 CPI của nước ta đã và đang được tính cho cả nước, 8 vùng kinh tế và 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Việc thực hiện đo lường chỉ số giá tiêu dùng CPI do Tổng cục thống kê chịu trách nhiệm thực hiện

Trang 36

Giỏ hàng tính CPI của Việt Nam thời kỳ 2009-2014

Giỏ hàng tính CPI của Việt Nam thời kỳ

2015-2020

Trang 37

4.2 Xây dựng chỉ số giá tiêu dùng

❖ B1: Chọn năm cơ sở (kỳ gốc) và xác định giỏ hàng hóa cho năm cơ sở

Khi tính CPI ta cố định giỏ hàng hóa dịch vụ cho các năm

Qt = Q0i với t: năm thứ t (kỳ thứ t), t = 0 tại kỳ gốc

i: mặt hàng tiêu dùng thứ i trong giỏ hàng Chọn giỏ hàng:

Giỏ hàng này gồm các hàng hóa tiêu dùng mà một người điển hình mua

Giỏ hàng này có thể bao gồm hàng tiêu dùng trong nước hoặc hàng tiêu dùng

nhập khẩu

❖ B2: Xác định giá của từng mặt hàng trong giỏ hàng cố định cho các năm (Pt)

❖ B3: Tính chi phí mua giỏ hàng cố định theo giá thay đổi ở các năm

Chi phí giỏ hàng năm cơ sở = ∑ P0i Q0i

Chi phí giỏ hàng năm t = ∑ Pt Q0

i

❖ B4: Tính CPI cho các năm

CPI tại thời điểm t bằng chi phí giỏ hàng tính theo giá thời điểm t chia chi phí

giỏ hàng tính theo giá năm cơ sở

∑ P t Q 0 i + Công thức 1: CPI = × 100 (1)

i Q0 i

Trang 38

❖ B5: Tính tỷ lệ lạm phát

Đây là công việc cuối cùng giúp ta hiểu được ứng dụng của CPI trong phân tích kinh tế, cụ thể là dùng CPI để tính tỷ lệ lạm phát Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá theo thời gian Tỷ lệ lạm phát là phần trăm thay đổi của mức giá chung so với thời kỳ trước đó Ở đây, tỷ lệ lạm phát chính là tốc độ tăng giá của giỏ hàng năm sau

so với năm trước và được tính theo công thức sau:

CPI t – CPIt-1

πt = ×100 (%)

CPIt-1

Trong đó, πt là tỷ lệ lạm phát ở năm t

CPIt, CPIt-1 lần lượt là chỉ số giá tiêu dùng ở năm t, năm t-1

Tỷ lệ lạm phát tính cho hai mốc thời gian liền kề nhau Trường hợp hai mốc thời gian so sánh cách nhau thì không gọi là tỷ lệ lạm phát mà gọi là tốc độ tăng giá Lấy tốc độ tăng giá chia cho khoảng cách thời gian thì có được tỷ lệ lạm phát trung bình trong thời gian đó

Ứng dụng quan trọng nhất của CPI là để đo lường tỷ lệ lạm phát, tuy nhiên do

có những hạn chế nhất định mà trong một số trường hợp nó phóng đại tỷ lệ lạm phát cao hơn thực tế Do đó CPI chưa phải là thước đo hoàn hảo để phản ánh lạm phát

Có 3 hạn chế của CPI là nguyên nhân gây nên những sai lệch khi đo lường lạm phát

➢ Lệch do chất lượng hàng hóa thay đổi

Thực tế cho thấy rằng, sản phẩm hàng hoá luôn được cải tiến về tính năng, độ bền và chất lượng, thường là phiên bản sau sẽ tạo ra giá trị sử dụng cao hơn phiên bản trước Sẽ có rất nhiều trường hợp khi xác định giá cả của hàng hoá, người làm công tác thống kê giá không để ý đến chi tiết này và đã lấy giá của sản phẩm mới để so sánh Việc làm này thực chất đã thổi phồng sự thay đổi của giá cả sản phẩm hàng hoá vì đi đôi với việc cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả hàng hoá thường cũng tăng lên Nếu lấy đúng giá của sản phẩm gốc, chắn chắn chỉ số giá của nhiều mặt hàng

sẽ giảm Chẳng hạn, chiếc một chiếc ti vi màu hiệu SONY 21 inch cách đây 6 - 7 năm

có giá đến 5 - 6 triệu, hiện những chiếc ti vi này chỉ có giá từ 1 - 2 triệu đồng Vậy

Trang 39

nhưng chỉ số giá thống kê hàng điện tử hàng năm hầu như không có bao giờ giảm giá

mà chỉ có tăng giá Như thế, chỉ số giá cả hàng hoá có thể đã không phản ánh đúng sự thay đổi của sức mua đồng tiền

➢ Lệch do hàng hóa mới

Hàng hóa mới thường xuyên xuất hiện thay thế hàng hóa cũ: DVD thay VCD; laptop thay thế máy tính bàn Nhờ đó, người tiêu dùng có sự lựa chọn đa dạng hơn, đồng nghĩa với mỗi đồng tiền có giá trị hơn Tuy nhiên, vì CPI được tính dựa trên giỏ hàng hóa cố định, không tính đến sự thay thế của các hàng hóa mới nên nó không phản ánh sự thay đổi về sức mua của đồng tiền, do đó nó có thể phóng đại tỷ lệ lạm phát so với thực tế Trong thời đại khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, chu kỳ sống của nhiều sản phẩm hàng hoá càng ngày càng rút ngắn lại thì việc chọn danh mục hàng hoá này vào rổ CPI cần phải được cân nhắc Một sản phẩm hàng hoá cụ thể có thể tồn tại ở thời điểm kỳ gốc, song, đến kỳ ngiên cứu đã được cải tiến không còn nguyên bản hoặc bị thay thế hẳn Chẳng hạn, chiếc điện thoại di động với một phiên bản cụ thể từ khi xuất hiện đến khi vắng bóng trên thị trường có khi chỉ 2 – 3 năm Trong trường hợp đó, nếu lấy sản phẩm thay thế (phiên bản sau) để so sánh thì sự sai lệch chắc chắn

sẽ xảy ra và CPI sẽ giảm ý nghĩa so sánh

➢ Lệch thay thế

Thay đổi của CPI đo lường % thay đổi trong giá cả của giỏ hàng hóa cố định Mặc dù giá hàng hóa thay đổi qua các năm song không phải giá của tất cả hàng hóa đều thay đổi với tỷ lệ như nhau Một số hàng hóa có giá tăng nhanh hơn Do đó, người tiêu dùng chọn những mặt hàng tăng chậm hơn các mặt hàng khác Do chỉ số giá tiêu dùng cố định giỏ hàng và trọng số từng nhóm hàng nên phóng đại tỷ lệ lạm phát cao hơn so với thực tế

VD: Giả sử trong năm cơ sở giá cá rẻ hơn thịt (giá 2 kg cá bằng giá 1 kg thịt) nên người tiêu dùng mua nhiều cá hơn thịt Khi hình thành giỏ hàng tiêu dùng, các nhà thống kê đưa cá vào giỏ hàng nhiều hơn thịt Nếu ở các năm sau do điều kiện thời tiết bất lợi và chi phí đầu vào cao, nguồn cá đánh bắt và nuôi thả giảm làm cá đắt hơn thịt ( giá của 1kg cá bằng giá của 1,5kg thịt) người tiêu dùng phản ứng với sự thay đổi này bằng cách mua nhiều thịt hơn cá do con người phản ứng với các kích thích Sự thay thế này không được tính đến trong CPI, do đó nó không còn phản ánh chính xác sự thay

đổi giá tới tỷ lệ lạm phát

Trang 40

4.4 Phân biệt chỉ số giá tiêu dùng CPI và chỉ số điều chỉnh GDP

* Giống nhau:

Cả hai chỉ số này đều được sử dụng để đo lường mức giá chung của nền kinh tế

và được các nhà kinh tế và hoạch định chính sách quan tâm và sử dụng vào việc hoạch định những chính sách kinh tế xã hội

* Khác nhau:

Trước hết, hai chỉ số này khác nhau ở chỗ chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá

cả hàng hóa dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong nước trong khi CPI đo lường mức giá trung bình của hàng hóa dịch vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua (tiêu dùng)

Do đó có một số mặt hàng là bộ phận của GDP song nó lại không được tính vào CPI và ngược lại VD: xe tăng quân sự Khi giá của mặt hàng này tăng lên do sự tăng giá đầu vào thì mức tăng này sẽ được phản ánh thông qua chỉ số điều chỉnh GDP chứ không được phản ánh trong CPI

Tương tự, hàng hóa nhập khẩu được tính vào CPI song không được tính vào GDP VD: giá sữa nhập khẩu tăng Sự tăng giá này không được tính đến trong chỉ số điều chỉnh GDP song do sữa thuộc giỏ hàng của người tiêu dùng nên nó vẫn được tính đến trong CPI

Thứ hai, CPI tính cho giỏ hàng cố định thì chỉ số điều chỉnh GDP lại thay đổi nhóm hàng dịch vụ hàng hóa theo thời gian khi các thành tố khác của GDP thay đổi

4.5 Vận dụng CPI trong thực tiễn: Điều chỉnh các biến số kinh tế theo lạm phát

Mục đích của việc tính mức giá chung của nền kinh tế là để đưa ra được sự so sánh các chỉ tiêu tính bằng đồng tại các thời điểm khác nhau Giờ đây, khi đã biết cách tính các chỉ số giá, chúng ta hãy xét xem có thể sử dụng chúng như thế nào để so sánh một chỉ tiêu tính bằng đồng trong quá khứ với chỉ tiêu đó tính bằng đồng trong hiện tại

Các con số tính bằng đồng tại các thời điểm khác nhau

Chúng ta xem xét ví dụ về mức lương tối thiểu mà chính phủ trả cho người lao động vào năm 1993 là 120.000 đồng Năm 2003, chính phủ nâng mức tiền lương này lên 290.000 đồng và được duy trì mức này trong năm 2004 Thực ra, mức tiền lương

Ngày đăng: 03/05/2023, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Ngọc, 2013, Bài giảng Kinh tế vĩ mô, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kinh tế vĩ mô
Tác giả: Nguyễn Văn Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2013
2. TS. Trần Thị Giang, Bài giảng Kinh tế vĩ mô 1, Trường đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kinh tế vĩ mô 1
Tác giả: TS. Trần Thị Giang
Nhà XB: Trường đại học Kinh tế Huế
3. David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch, Nhóm giảng viên khoa Kinh tế học - Đại học Kinh tế quốc dân dịch; Trần Phú Thuyết hiệu đính, 2010, Kinh tế học vĩ mô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vĩ mô
Tác giả: David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch, Trần Phú
Nhà XB: Nhóm giảng viên khoa Kinh tế học - Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2010
4. Vũ Đình Bách chủ biên, 2002, Kinh tế học vĩ mô: Giáo trình dùng trong các trường Đại học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vĩ mô: Giáo trình dùng trong các trường Đại học
Tác giả: Vũ Đình Bách
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
5. N. Gregory Mankiw, Principles of Economics, Nhà xuất bản Cengage Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of Economics
Tác giả: N. Gregory Mankiw
Nhà XB: Nhà xuất bản Cengage
6. Nguyễn, Thái Thảo Vy, 2009, Kinh tế học vĩ mô: phần cơ bản. NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vĩ mô: phần cơ bản
Tác giả: Nguyễn, Thái Thảo Vy
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2009
7. Nguyễn Khắc Minh, Phạm Văn Minh, Cao Thúy Xiêm, 2008, Kinh tế học vi mô: Dùng cho hệ đào tạo sau đại học, khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vi mô: Dùng cho hệ đào tạo sau đại học, khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Khắc Minh, Phạm Văn Minh, Cao Thúy Xiêm
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2008
8. Kim Văn Chính, 2008, Kinh tế học vi mô, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vi mô
Tác giả: Kim Văn Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2008
9. Nguyễn Hồng Giáp, 2003, Kinh tế học vi mô, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vi mô
Tác giả: Nguyễn Hồng Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
10. PGS.TS. Phạm Văn Vận – TS. Vũ Cương, 2013, Giáo trình Kinh tế Công cộng, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Công cộng
Tác giả: PGS.TS. Phạm Văn Vận, TS. Vũ Cương
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2013
11. Lê Thế Giới, 2006, Kinh tế vi mô, Nhà xuất bản Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vi mô
Tác giả: Lê Thế Giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài Chính
Năm: 2006
12. Paul A. Samuelson, Hilliamd Nordhaus; Vũ Cương, Đinh Xuân Hà dịch, 2002, Kinh tế học tập I và II, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học tập I và II
Tác giả: Paul A. Samuelson, Hilliamd Nordhaus, Vũ Cương, Đinh Xuân Hà
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w