1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu tổn thương mòn cổ răng ở người cao tuổi tỉnh Bình Dương và đánh giá hiệu quả điều trị bằng GC Fuji II LC Capsule

198 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tổn thương mòn cổ răng ở người cao tuổi tỉnh Bình Dương và đánh giá hiệu quả điều trị bằng GC Fuji II LC Capsule
Trường học Đại học Y Dược Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Nha khoa
Thể loại Luận án Tiến sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN (4)
    • 1.1. Đặc điểm cấu tạo tổ chức học răng (4)
      • 1.1.1. Men răng (4)
      • 1.1.2. Ngà răng (6)
      • 1.1.3. Tủy răng (7)
      • 1.1.4. Xê măng (7)
      • 1.1.5. Giải phẫu vùng cổ răng (10)
    • 1.2. Một số đặc điểm sinh lý, bệnh lý người cao tuổi (12)
      • 1.2.1. Một số đặc điểm sinh lý (12)
      • 1.2.2. Một số đặc điểm bệnh lý răng miệng người cao tuổi (19)
    • 1.3. Tổn thương mòn cổ răng (22)
      • 1.3.1. Nguyên nhân (22)
      • 1.3.2. Cơ chế (25)
      • 1.3.3. Phân loại (26)
      • 1.3.4. Đặc điểm lâm sàng (28)
      • 1.3.5. Các biến chứng (29)
      • 1.3.6. Các biện pháp xử lí tổn thương mòn cổ răng (30)
    • 1.4. Một số vật liệu phục hồi tổn thương mòn cổ răng (30)
      • 1.4.1. Composite nha khoa (30)
      • 1.4.2. Xi măng thuỷ tinh cải tiến (40)
      • 1.4.3. Xi măng GC Fuji II LC Capsule (41)
    • 1.5. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về thực trạng và điều trị tổn thương mòn cổ răng (43)
      • 1.5.1. Thực trạng tổn thương mòn cổ răng (43)
      • 1.5.2. Điều trị tổn thương mòn cổ răng (48)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (56)
    • 2.1. Nghiên cứu mô tả cắt ngang (56)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (56)
      • 2.1.2. Phương pháp nghiên cứu (56)
      • 2.1.3. Cách chọn mẫu (57)
      • 2.1.4. Kỹ thuật thu thập số liệu (57)
      • 2.1.5. Các biến số nghiên cứu cắt ngang (58)
      • 2.1.6. Thu thập thông tin lâm sàng (59)
    • 2.2. Nghiên cứu can thiệp (61)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (61)
      • 2.2.2. Phương pháp nghiên cứu (62)
      • 2.2.4. Các biến số trong nghiên cứu can thiệp (68)
      • 2.2.5. Một số tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu can thiệp (69)
    • 2.3. Nghiên cứu thực nghiệm (74)
      • 2.3.1. Đối tượng nghiên cứu (74)
      • 2.3.2. Địa điểm nghiên cứu (74)
      • 2.3.3. Phương pháp nghiên cứu (74)
      • 2.3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm (80)
    • 2.4. Xử lý số liệu (80)
    • 2.5. Sai số và hạn chế sai số trong nghiên cứu (80)
      • 2.5.1. Sai số (80)
      • 2.5.2. Biện pháp hạn chế sai số (81)
    • 2.6. Đạo đức trong nghiên cứu (82)
      • 2.6.2. Nghiên cứu can thiệp (82)
      • 2.6.3. Nghiên cứu thực nghiệm (83)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (84)
    • 3.1. Thực trạng tổn thương mòn cổ răng và một số yếu tố ảnh hưởng (84)
      • 3.1.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (84)
      • 3.1.2. Th ự c tr ạ ng mòn c ổ răng và mộ t s ố y ế u t ố ảnh hưở ng (85)
    • 3.2. Hiệu quả điều trị tổn thương mòn cổ răng (93)
      • 3.2.1. Đặc điểm răng nghiên cứu (93)
      • 3.2.2. Kết quả điều trị sau 6, 12, 18 tháng (96)
    • 3.3. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm (108)
      • 3.3.1. Quan sát trên kính hiển vi soi nổi (108)
      • 3.3.2. Quan sát trên kính hiển vi điện tử quét (110)
      • 3.3.3. So sánh sự kín khít giữa Fuji II LC và composite với ngà răng dưới kính hiển vi điện tử quét (114)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (116)
    • 4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (116)
    • 4.2. Thực trạng mòn cổ răng và một số yếu tố ảnh hưởng ở người cao tuổi tỉnh Bình Dương năm 2015 (117)
      • 4.2.1. Thực trạng mòn cổ răng (117)
      • 4.2.2. Tuổi, giới (117)
      • 4.2.3. Thói quen chải răng (119)
      • 4.2.4. Tình trạng mòn răng (119)
      • 4.2.5. Tình trạng mất răng (120)
      • 4.2.7. Tỷ lệ số người bị ê buốt theo tình trạng mòn cổ răng (121)
    • 4.3. Hiệu quả điều trị tổn thương mòn cổ răng bằng GC Fuji II LC Capsule (122)
      • 4.3.1. Đáp ứng tủy răng (122)
      • 4.3.2. Sự lưu giữ miếng trám (124)
      • 4.3.3. Sự sát khít của miếng trám (125)
      • 4.3.5. Hình thể miếng trám (128)
      • 4.3.6. Sự hợp màu của miếng trám (128)
      • 4.3.7. Tình trạng lợi (129)
      • 4.3.8. Đánh giá chung sau trám 6, 12, 18 tháng (130)
    • 4.4. Bàn luận về nghiên cứu thực nghiệm (132)
      • 4.4.1. Trên kính hiển vi soi nổi (132)
      • 4.4.2. Trên kính hiển vi điện tử quét (136)
    • 4.5. Phương pháp nghiên cứu (140)
      • 4.5.1. Thiết kế và chọn mẫu nghiên cứu (140)
      • 4.5.2. Phương tiện, kỹ thuật và vật liệu sử dụng trong nghiên cứu (143)
      • 4.5.3. Thu thập, phân tích và xử lý số liệu (144)
    • 4.6. Điểm mới, tính giá trị và khả năng áp dụng của luận án (145)
  • KẾT LUẬN (146)
  • PHỤ LỤC (164)

Nội dung

Tổn thương tổ chức cứng của răng đặc biệt tổn thương mòn cổ răng MCR rất phổ biến trong số các bệnh lý về răng miệng.. – Có tính thẩm thấu nên các chất lỏng xâm nhập được – Xê măng cấu t

TỔNG QUAN

Đặc điểm cấu tạo tổ chức học răng

Hình 1 1 Giải phẫ u các thành phần của răng [ 19]

Men răng, có nguồn gốc từ ngoại bì, là tổ chức cứng nhất trong cơ thể, với 95% thành phần là muối vô cơ, vượt trội hơn so với ngà và xương răng.

Men răng bao phủ toàn bộ thân răng với độ dày thay đổi tùy theo vị trí, dày nhất ở núm răng khoảng 1,5 mm, trong khi ở vùng cổ răng, men răng mỏng dần và kết thúc bằng một cạnh góc nhọn.

Về mặt hóa học, các chất vô cơ chủ yếu là hỗn hợp photpho canxi dưới dạng Apatit, cụ thể là Hydroxyapatit [(PO4)2Ca3](OH)2, chiếm khoảng 90-95% Phần còn lại bao gồm các muối cacbonat của Mg cùng với một lượng nhỏ clorua, fluorua và sunfat của natri và kali Thành phần hữu cơ chỉ chiếm khoảng 1%, trong đó protit đóng vai trò quan trọng.

Cấu trúc tổ chức học: Quan sát trên kính hiểnvi thấy 2 loại đường vân:

Đường Retzius là các đường song song với viền ngoài của lớp men và đường ranh giới men ngà, xuất hiện trên tiêu bản cắt ngang Khi nhìn từ tiêu bản cắt dọc thân răng, đường Retzius tạo thành một góc nhọn với đường ranh giới men ngà và mặt ngoài của men Những đường này phản ánh giai đoạn ngấm vôi kém trong quá trình hình thành men răng.

Trụ men là đơn vị cơ bản cấu thành lớp men răng, chạy từ đường ranh giới men ngà đến bề mặt men răng Hướng trụ men thường thẳng góc với đường ngoài trong của men, nhưng có thể gấp khúc và thay đổi hướng, đặc biệt rõ ở vùng gần lớp ngà Sự thay đổi hướng này giảm dần và kết thúc ở 1/3 ngoài của men, từ đó trụ men song song cho đến mặt ngoài của răng Hướng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ, được gọi là dải Hunter – Schreger Đường kính của trụ men dao động từ 3-6 µm, với tiết diện cắt ngang có hình thể vẩy cá chiếm 57%, lăng trụ 30%, và không rõ ràng 10%.

Hình 1.2 Hình ảnh vi thể trụ men [19]

Cấu trúc siêu vi của men răng bao gồm thành phần hữu cơ có cấu trúc sợi, sắp xếp dọc theo trụ men và tạo thành một góc 40 độ với trụ men Thành phần vô cơ gồm các khối tinh thể có kích thước không đều, dài khoảng 1μm và rộng từ 0,04 đến 0,1μm Các tinh thể trong trụ men được sắp xếp theo hình xương cá hoặc hình lốc Cấu tạo của các tinh thể chủ yếu là hydroxy apatit, trong khi chất giữa các trụ men là các tinh thể giả apatit, với sự thay thế của PO4 bằng (Ca3, Mg, CO3).

Ngà răng là tổ chức cứng thứ hai sau men răng, chủ yếu nằm ở thân răng và không bị lộ ra ngoài trong điều kiện bình thường, được bảo vệ bởi men răng và xương răng Mặc dù ngà răng kém rắn hơn men nhưng lại có tính đàn hồi tốt hơn, không giòn và dễ vỡ như men răng, đồng thời cản quang kém hơn so với men răng.

Thành phần vô cơ của ngà chiếm 70% và chủ yếu là hydroxyapatit.Còn lại là nước và chất hữu cơ chiếm 30% chủ yếu là collagen

Cấu trúc tổ chức học: 2 loại

Ngà tiên phát chiếm khối lượng chủ yếu trong răng và được hình thành trong quá trình phát triển của răng, bao gồm ống ngà, chất giữa ống ngà và dây Tome Ngà thứ phát, ngược lại, được sinh ra sau khi răng đã hoàn thiện, bao gồm ngà thứ phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt.

Hình ảnh vi thể ngà răng cho thấy ống ngà với số lượng từ 15.000 đến 50.000/mm² và đường kính từ 3 đến 5 µm Tùy thuộc vào đường kính và hướng đi của ống ngà, người ta phân chia thành hai loại khác nhau.

+ Ống ngà chính: Chạy từ bề mặt tủy theo suốt chiều dày của ngà và tận cùng bằng đầu chột ở ranh giới men ngà.

+ Ống ngà phụ: Đường kính ống nhỏ hơn ống ngà chính Là những nhánh bên hoặc nhánh tận của ống ngà chính.

Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi và được ngấm vôi, sắp xếp thẳng góc với ống ngà.

Dây Tome: Nằm trong ống ngà, là đuôi nguyên sinh chất kéo dài của tế bào tạo ngà

Tủy răng là tổ chức liên kết nằm trong hốc tủy của răng, kết nối với tổ chức liên kết quanh cuống răng qua lỗ cuống răng (Apex) Hình dạng của tủy răng tương ứng với hình dạng bên ngoài của răng, bao gồm tủy buồng và tủy chân.

Tổ chức học: Chia làm 2 vùng

Vùng cạnh tủy là khu vực mà dưới tác động của men, một lớp tế bào trong tổ chức tủy được biệt hóa thành lớp tế bào có khả năng tạo ngà, gọi là tạo ngà bào Ngoài ra, vùng này còn có một lớp không tế bào, bao gồm tổ chức sợi đặc biệt và các dây keo.

Vùng giữa tủy là tổ chức liên kết với nhiều tế bào và ít tổ chức sợi hơn so với tổ chức liên kết lỏng lẻo thông thường Thành phần tế bào bao gồm tế bào xơ non, xơ già và tổ chức bào, trong khi thành phần sợi chủ yếu là những dây keo nối với nhau thành một mạng lưới Ngoài ra, tổ chức tủy còn chứa nhiều máu và bạch huyết.

Là do mô liên kết khoáng hoá tạo thành lớp màng bao bọc mặt ngà chân răng

– Xê măng là thành phần khoáng hoá thấp nhất so với ngà và men răng nhưng vẫn cao hơn xương

– Có tính thẩm thấu nên các chất lỏng xâm nhập được

– Xê măng cấu tạo gồm 2 thành phần: Sợi và muối khoáng

Muối khoáng: gồm Ca, P và Mg

Nồng độ Fluor của xê măng cao hơn so với men răng và các mô cứng khác.

–Xê măng không có thần kinh và mạch máu.

Xê măng thường chỉ bao bọc ngà chân răng, nhưng trong một số trường hợp, nó còn bao phủ men răng Do đó, xê măng được phân loại thành hai loại: xê măng chân răng và xê măng thân răng.

Chức năng: Là chỗ bám cho các dây chằng nha chu nối răng vào xương ổ

*Các tế bào tạo Xê măng (cementoplast)

Có 3 loại tế bào tạo xê măng:

Cả ba loại này đều có nguồn gốc từ tế bào ngoại trung mô.

* Các loại xê măng: Dựa vào sự có hoặc không tế bào hoặc sợi để chia các loại xê măng khác nhau

+ Xê măng loại không sợi không có tế bào: Nó không có xê măng bào và không có sợi collagen.

+ Xê măng sợi ngoại sinh không có tế bào (xê măng nguyên phát)

Loại này xuất hiện ở vùng cổ răng và giữa chân răng, phủ trực tiếp lên bề mặt ngoài của ngà trên tất cả các răng, đặc biệt là chân của các răng cửa.

Lớp xê măng mỏng và trong suốt tạo ra sự ngăn cách rõ rệt với ngà răng, bao gồm nhiều lớp song song với nhau và với bề mặt chân răng, cho thấy xê măng được hình thành theo chu kỳ, diễn ra rất chậm nhưng kéo dài suốt đời Xê măng sợi hỗn hợp có tế bào chứa xê măng bào cùng với hai loại sợi ngoại sinh Sharpey và nội sinh collagen, là sản phẩm chính của nguyên bào xê măng, giúp duy trì quá trình tạo xê măng của xê măng bào.

Một số đặc điểm sinh lý, bệnh lý người cao tuổi

1.2 1 Một số đặc điểm sinh lý

1.2.1.1 Biến đổi sinh lý chung

Lão hóa là quá trình tích lũy các thay đổi sinh lý, tâm lý và xã hội theo thời gian Theo Carranza, lão hóa diễn ra từ khi mới sinh, qua thời thơ ấu đến trưởng thành, đặc trưng bởi sự phân hủy và tổng hợp mô học cũng như chức năng sinh lý.

Khi người trưởng thành già đi, các hệ cơ quan trong cơ thể trải qua nhiều thay đổi do sự tương tác giữa môi trường sống, bệnh tật, di truyền, stress và nhiều yếu tố khác Những biến đổi này có thể dễ dàng nhận thấy, chẳng hạn như tóc bạc, da nhăn và lưng gù.

Mặc dù không thể nhận thấy bằng mắt thường, cơ thể trải qua nhiều biến đổi âm thầm Những thay đổi này chỉ được phát hiện khi người cao tuổi được khám và xét nghiệm Quá trình lão hóa làm suy giảm khả năng tự điều chỉnh và thích nghi của cơ thể, dẫn đến việc không đáp ứng kịp thời với các yêu cầu của sự sống.

Những thay đổi sinh lý do tuổi tác thường được xem là không thể tránh khỏi và không thể thay đổi Sự biến đổi này rất đa dạng, khác nhau giữa các cá nhân và các bộ phận trong cùng một cơ thể Chẳng hạn, có người xuất hiện da nhăn nheo và tóc bạc, trong khi nhiều người khác vẫn giữ được làn da căng mịn và tóc đen Một số người có thể bị lưng còng, trong khi những người khác vẫn duy trì vóc dáng như thuở còn trẻ.

Quả tim của người cao tuổi thường lớn hơn và chiếm thể tích lớn hơn trong lồng ngực, đây là triệu chứng phổ biến của bệnh lý tim mạch như bệnh cơ tim giãn Do đó, cần đánh giá kích thước tim của người cao tuổi để phân biệt giữa biến đổi sinh lý và bệnh lý Mặc dù kích thước tim tăng, nhưng khối lượng cơ tim chức năng lại giảm Áp lực tống máu cũng giảm, dẫn đến giảm khối lượng tuần hoàn Các van tim trở nên xơ cứng do calci hóa, làm giảm khả năng đóng khít và gây ra tiếng thổi sinh lý và bệnh lý Tiếng T4 bệnh lý thường gặp hơn ở người cao tuổi so với người trẻ do sự thay đổi về giải phẫu tim.

Giảm lực co bóp cơ tim và sự đóng mở bất thường của các van tim dẫn đến tuần hoàn chậm, gây ra nhiều hệ quả cho người cao tuổi (NCT) Tuần hoàn chậm làm chậm quá trình liền vết thương; ví dụ, vết rách da chân của NCT có thể mất vài tuần để lành, trong khi vết rách tương tự ở người trẻ hoặc trẻ em khỏe mạnh chỉ cần khoảng 1 tuần Hơn nữa, tuần hoàn chậm cũng ảnh hưởng đến thời gian tác dụng của thuốc.

Một số người cao tuổi có huyết áp tâm trương rất thấp, do cơ tim yếu dẫn đến áp lực trong buồng tim giảm đáng kể khi nghỉ ngơi Huyết áp tâm trương thấp là yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch máu não.

Sức cản của hệ mạch ngoại vi tăng lên khiến máu từ các bộ phận xa trung tâm như ngón tay và ngón chân khó quay về tim và phổi để lấy oxy Các van tĩnh mạch ở chi dưới hoạt động kém, dẫn đến ứ trệ tuần hoàn Những yếu tố nguy cơ bệnh tật làm tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn Do di truyền, chế độ ăn uống và các yếu tố khác, người cao tuổi có nguy cơ cao tiến triển xơ vữa và xơ cứng động mạch ở tim và động mạch ngoại vi.

Giảm dung tích sống và độ đàn hồi của phổi ở người cao tuổi (NCT) dẫn đến hạn chế chức năng trao đổi khí, gây khó thở và thiếu không khí Khả năng hấp thụ oxy vào máu động mạch cũng giảm, ảnh hưởng đến cung cấp oxy cho mô và hoạt động chung Mất nước, vôi hóa xương và co cứng khớp làm giảm tính di động của lồng ngực, tạo lực cản lớn trong hô hấp Sự giảm sút số lượng lông mao trên bề mặt đường dẫn khí, đặc biệt nghiêm trọng ở những người hút thuốc hoặc tiếp xúc với khói bụi, làm tăng nguy cơ nghẹn và viêm phổi Thêm vào đó, giảm phản xạ ho do thay đổi sinh lý hệ thần kinh ở NCT càng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý đường hô hấp.

Da của NCT thường mỏng manh và dễ bị tổn thương do giảm lượng mô dưới da, dẫn đến tình trạng khô và mất độ đàn hồi, từ đó xuất hiện nhiều nếp nhăn.

Sự hình thành nếp nhăn có mối liên hệ chặt chẽ với thời gian tiếp xúc với ánh nắng trong suốt cuộc đời, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình lão hóa Thực tế cho thấy, những vùng da ít tiếp xúc với ánh nắng, như da mặt trong cánh tay, thường không xuất hiện nếp nhăn.

Khi con người già đi, hoạt động của các tuyến mồ hôi giảm, dẫn đến việc tiết mồ hôi ít hơn Lớp cơ và mỡ dưới da cũng bắt đầu teo nhỏ, gây ra tình trạng khô da Tình trạng này không chỉ khiến người cao tuổi cảm thấy không thoải mái mà còn có thể dẫn đến rách da dù chỉ với lực tác động rất nhỏ, và việc lành lại sau đó cũng gặp khó khăn.

Trong quá trình lão hóa, móng tay và móng chân thường trở nên dày và giòn Tóc cũng là một trong những bộ phận chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất, với nhiều người có tóc bạc màu, mượt và mỏng, nhưng mức độ thay đổi lại khác nhau giữa từng cá nhân.

NCT thường gặp khó khăn trong việc nhai do viêm lợi, bệnh quanh răng, mòn răng và mất răng Sự giảm nhu động thực quản làm chậm quá trình vận chuyển thức ăn qua ống tiêu hóa, khiến NCT phải nhai lâu hơn và ăn chậm hơn Ngoài ra, giảm nhu động ruột và tiết dịch vị dạ dày dẫn đến giảm hấp thu chất dinh dưỡng Giảm nhu động của đại tràng cũng cản trở sự di chuyển của thức ăn trong ống tiêu hóa, làm tăng thời gian lưu thông của khối thức ăn trong ruột, từ đó làm tăng tỉ lệ táo bón ở NCT.

Thay đổi trong hệ tiết niệu là vấn đề phổ biến ở người cao tuổi, với thận mất đi một lượng lớn nephron và cầu thận Sự giảm sút trương lực và khối lượng bàng quang ở người cao tuổi dẫn đến tỷ lệ cao mắc chứng són tiểu, với nghiên cứu cho thấy khoảng 10 – 58% phụ nữ gặp phải tình trạng này.

6 –28% nam giới mắc chứng són tiểu hàng ngày.

Tổn thương mòn cổ răng

Nhiều tác giả đã đưa ra giả thuyết về nguyên nhân gây MCR, bao gồm yếu tố tuổi tác, chế độ ăn uống, thói quen vệ sinh răng miệng, loại kem đánh răng sử dụng, cũng như một số bệnh lý như gút và thấp khớp.

* Các yếu tốliên quan đến mòn răng:

Hình 1.13 Nguyên nhân mòn răng (Grippo) [31]

Gần đây, nhiều tác giả cho rằng có 3 nguyên nhân chính:

Erosion là sự mất tổ chức cứng của răng do phản ứng hóa học, không liên quan đến vi khuẩn Phân loại erosion dựa trên nguồn gốc của các chất hóa học gây mòn.

Chế độ ăn uống có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe răng miệng, đặc biệt là việc tiêu thụ nhiều trái cây, nước ép, thực phẩm ngâm dấm có nồng độ axit cao, thức ăn lên men chua và nước uống có ga Những thực phẩm này có thể làm mòn răng nhanh chóng, và mức độ mòn sẽ gia tăng khi độ pH của nước bọt giảm.

•Sử dụng kéo dài các thuốc có chứa các axit

Mòn răng có thể xảy ra ở những công nhân làm việc trong môi trường axit cao, chẳng hạn như trong ngành công nghiệp hóa chất hoặc sản xuất pin và ắc quy Những yếu tố này dẫn đến mòn mặt ngoài của răng trước, mòn rìa cắn và mặt ngoài của răng cửa dưới.

•Bệnh lý nôn hoặc trào ngược dạ dày

• Tác dụng phụ của thuốc kháng viêm như corticoid, aspirin

• Bệnh nhân nghiện rượu kết hợp với viêm dạ dày

Suy giảm hoặc mất khả năng tiết nước bọt trong chứng khô miệng có thể dẫn đến mòn răng nghiêm trọng do yếu tố hóa học Tình trạng này ảnh hưởng nặng nề đến chức năng nhai của bệnh nhân, với sự kích thích răng thường gặp ở cả người trẻ và người già Đáng chú ý, mức độ mất mô răng không tỷ lệ với độ tuổi của bệnh nhân.

Hình 1.14 Mòn răng do nguyên nhân hoá học [32]

- Do nguyên nhân khớp cắn “Abfraction”: Chỉ sự mất tổ chức của răng do những sang chấn khớp cắn gây mỏi liên kết men ngà vùng cổrăng.

Hình 1.15 Mòn răng do nguyên nhân khớp cắn [32]

Mòn cơ học (Abrasion) là hiện tượng mất tổ chức của răng do sự chà xát Nhiều nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đã chỉ ra rằng việc chải răng theo chiều ngang và áp lực chải mạnh có thể gây tổn thương cho tổ chức cứng tại cổ răng.

Hình 1.16 Mòn răng do nguyên nhân cơ học [32]

Theo Mannerberg (1960), chải răng kéo ngang làm tăng nguy cơ MCR lên 2-3 lần so với chải răng theo chiều dọc

Nghiên cứu của Theo Bergstrom và Lavstedt (1979) trên 818 đối tượng cho thấy tỉ lệ tổn thương MCR ở những người chải răng 2 lần một ngày cao hơn 12% so với nhóm chải răng ít hơn.

Theo Kitchin (1941), Sangnes và Gjermo (1976), Oginni và cộng sự

(2003), tổn thương MCR thường xuất hiện ở bên đối diện với tay cầm bàn chải [31]

Nguyên nhân gây tổn thương MCR vẫn chưa được xác định rõ ràng, và khó có thể kết luận rằng tổn thương này do một nguyên nhân cụ thể nào Tổn thương MCR có thể xuất phát từ sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau Do đó, cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn để làm rõ căn nguyên của tổn thương MCR.

Nghiên cứu cho thấy men ở cổ răng yếu hơn và có hình thái tinh thể không rõ ràng, dẫn đến việc lớp men cổ răng giòn hơn so với men ở mặt nhai hay rìa cắn, dễ bị vỡ Khu vực nối men xê măng cổ răng là vùng kém phát triển và ít ngấm vôi Hầu hết tổn thương MCR xảy ra do quá trình mài mòn, thường do chải răng ngang, sử dụng bàn chải lông cứng hoặc chải với lực mạnh, gây tổn hại cho tổ chức men ngà ở vùng cổ răng.

Dưới tác động của quá trình ăn nhai lực nhai tập trung ở vùng cổ răng.

Hydroxyapatite và fluorapatite, hai thành phần chính của men và ngà răng, sẽ bị hòa tan khi pH giảm xuống dưới mức pH tới hạn, với pH tới hạn của hydroxyapatite là 5,5 và pH tới hạn của fluorapatite là 4,5.

Acid từ môi trường bên ngoài và nội sinh có thể làm khử khoáng lớp men răng, dẫn đến sự mài mòn và mất dần ngà răng Quá trình này diễn ra nhanh chóng ở những người có tình trạng giảm tiết nước bọt, thường gặp ở độ tuổi trung niên và cao tuổi Khi răng ở tư thế khớp cắn trung tâm, lực tác động theo chiều dọc sẽ làm răng chịu lực, nhưng nếu lực nghiêng sang bên, men răng ở vùng cổ sẽ yếu đi Khi lực vượt quá ngưỡng mỏi, các liên kết hóa học giữa các tinh thể hydroxyapatite bị gãy, cho phép nước và các phân tử nhỏ xâm nhập, ngăn cản sự liên kết giữa các tinh thể Kết quả là men răng bị phá vỡ, bộc lộ lớp ngà ở cổ răng.

Hình 1.17 Vỡ trụ men cổ răng do sang chấn khớp cắn [32]

Có nhiều phân loại tổn thương MCR

Kitchin (1941) phân loại tổn thương trên răng dựa vào hình dạng, bao gồm mòn kiểu hình chêm, hình đĩa, mòn kiểu phẳng và mòn một vùng Những tổn thương này có sự thay đổi từ nông đến hình đĩa rộng, với hình chêm có các cạnh sắc ở phía trong và phía ngoài tạo thành đường có hình tam giác.

- Grippo 2004 phân loại tổn thương mòn răng theo nguyên nhân [31]:

+ Mòn răng do tiếp xúc giữa răng với răng (cọ mòn) (Attrition)

+ Mòn do hóa học (Erosion)

+ Mòn do cơ học (Abrasion)

+ Mòn do nguyên nhân khớp cắn (Abfraction)

- Levitch và cộng sự đưa ra những tiêu chuẩn lâm sàng phân biệt các tổn thương nêu trên [34]:

Nguyênnhân Đặc điểm Mòn do hóa học Mòn do cơ học Mòn do khớp cắn

Vị trí Mặt lưỡi hay má Mặt má Mặt má

Hình dạng Hình chữ U Hình chêm hay rãnh Hình chữ V, đôi lúc có các tổn thương chồng lên nhau

Rìa Nhẵn Sắc Sắc, đôi lúc dưới lợi

Bề mặt men Nhẵn, thường bóng Nhẵn hay xước Ráp

-Borcic và cộng sự (2004) phân loại tổn thương MCR theo độ sâu tổn thương [7]:

1 Tổn thương nhỏ dạng viền

4 Sâu trên 2mm hoặc có điểm hở tuỷ

- Smith và Knight phân loại tổn thương MCR theo độ sâu tổn thương [35]:

Hình 1.18 Phân loại tổn thương MCR theo độ sâu

0 Không có tổn thương ở men

Không có sự thay đổi đường vòng cổ răng

1 Có sự xuất hiện tổn thương ở men

Có tổn thương một phần nhỏ ở đường vòng cổ răng

Mất men răng và bộc lộ 1/3 ngà của bề mặt

Mất men răng và chắc chắn bộc lộ ngà răng nhưng chưa lộ tủy Mòn cổ độ mòn từ 1-2mm chiều sâu

Mất men răng hoàn toàn hoặc lộ tủy hoặc lộ ngà thứ phát.

Lộ tủy hoặc lộ ngà thứ phát

Mòn cổ hơn 2mm chiều sâu hoặc lộ tủy hoặc lộ ngà thứ phát

-Zucchelli phân loại tổn thương cổ răng dựa trên tương quan với MRC

(maximum root coverage): MRC là độ che phủ chân răng tối đa sau phẫu thuật nha chu [36]:

Loại 1 (B): MRC nằm trên thành cắn tổn thương lớn hơn 1mm

Loại 2 (C): MRC nằm trên thành cắn tổn thươngít hơn hoặc bằng 1mm Loại 3 (D): MRC nằm ngang mức lõm nhất của tổn thương cổ răng

Loại 4 (E): MRC nằm ở vị trí giữa vị trí lõm nhấtvới thành lợicủa tổn thương cổ răng

Loại 5 (F): MRC nằm ngang mứcthành lợitổn thươngcổ răng

- Biểu hiện tổn thương ở cổrăng có hình chêm hay hình chữ V; ngang ở cổrăng, hình chữ U hoặc đĩa, rộng và nông

- Bờ tổn thương cạnh sắc, đáy cứng, màu nâu đỏ hoặc đáy nhẵn bóng

- Vị trí hay gặp ở mặt ngoài của răng nanh và răng hàm nhỏ Cũng có thể gặp ở tất cảcác răng.

* Phân biệt sâu cổ răng và tổn thương MCR

Tổn thương sâu răng có hình nón với đỉnh ở phía trên và đáy ở phía dưới, thường chứa nhiều ngà mủn và thức ăn Ngược lại, tổn thương MCR có hình tam giác, với đáy ở phía ngoài men và đỉnh hướng về phía ngà, đáy nhẵn không có ngà mủn và thức ăn, thành trên gần vuông góc với mặt ngoài của răng.

- Viêm tủy: + Viêm tủy cấp

- Viêm quanh cuống: + Viêm quanh cuống cấp

- Gẫy răng: Do mòn cổ răng sâu tác động ăn nhai mạnh thường gẫy ngang tổn thương MCR [38]

1.3.6 Các biện pháp xử lí tổn thương mòn cổ răng

1.3.6.1 Tổn thương cổ răng chỉ mòn lớp men Điều trị tái khoáng hoá.

1.3.6.2 Tổn thương cổ răng qua lớp men

Dùng các loại chất trám để phục hồi tổn thương MCR Hiện nay GIC và CPS đangđược sử dụng rộng rãi

Phục hồi bằng Inlay sứ, composite Điều trị Laser.

Phẫu thuật che vạt lợi [36],[39],[40].

Một số vật liệu phục hồi tổn thương mòn cổ răng

CPS là vật liệu được tạo thành từ sự kết hợp của hai hoặc nhiều vật liệu có tính chất hóa học khác nhau và không hòa tan vào nhau, giúp đạt được các tính chất lý hóa theo yêu cầu.

1.4.1.1 Thành phần của composite nha khoa

-Có hai thành phần cơ bản:

+ Pha hữu cơ (chất nhựa khung)

+ Pha vô cơ (hạt độn)

Hai thành phần được kết nối bởi pha liên kết (chất kết dính) và bao gồm các chất như chất tạo màu, chất khởi động, chất gia tốc, chất ức chế, và chất ổn định Các loại CPS cơ bản có pha hữu cơ tương tự nhau, nhưng khác biệt ở pha vô cơ, bao gồm kích thước hạt độn, tỉ lệ cấu tạo và các chất pha màu.

- Pha hữu cơ: có thể là một trong các loại nhựa sau hoặc trộn lẫn vào nhau với tỉ lệ khác nhau:

+ Nhựa Bowen(Bis-GMA): Có trong phần lớn các thành phần CPS là sự kết hợp của một phân tử Bis-phenol A với hai phân tử metacylate

+ Nhựa polymetacrylate (acylic): Được khơi mào bằng tri-N-butyl-boran

Sự khơi mào được tác động ở môi trường ẩm

Nhựa epoxy đồng trùng hợp là sự kết hợp giữa epoxy và diacrylate, hai phân tử với cấu trúc khác nhau Nhờ vào việc không chứa gốc tự do, loại nhựa này có tính trơ, giúp hạn chế độ co khi trùng hợp và giảm thiểu độc tính.

Nhựa urethane, hay còn gọi là nhựa dimetacrylate urethane, có khả năng tăng cường độ kết dính của CPS nhờ vào việc thêm nhiều hạt độn Nhóm amin bậc 3 trong nhựa này có khả năng tạo cầu nối hydro, đồng thời không chứa nhóm OH, giúp giảm độ ngấm nước và hạn chế sự đổi màu của CPS Tuy nhiên, do công thức của nhựa không có nhân thơm, nên độ cứng chắc của nó kém hơn so với Bis-GMA.

- Pha vô cơ: Hạt độn khác nhau về kích cỡ và chất liệu.

+ Cấu tạo hóa học: Hạt độn có thể là thạch anh, thủy tinh, sứ hoặc hạt độn kim loại nặng

Thạch anh (Quartz) là một vật liệu cứng, có tính trơ về hóa học và độ nở nhiệt thấp Với chỉ số khúc xạ tương tự như mô răng, thạch anh mang lại tính thẩm mỹ cao Hạt thạch anh được chia thành hai loại: hạt nhỏ (0,04-0,07 micron) và hạt lớn (>0,1 micron).

Thủy tinh và sứ có độ cứng kém hơn hạt độn thạch anh và không trơ về tính hóa học Các hạt độn thường được sử dụng bao gồm thủy tinh lithium/aluminium và thủy tinh barium/aluminium.

•Kim loại nặng: có tính cản quang và độ cứng cao như: Niobium, thiếc, titan…

+ Hình dạng và kích thước hạt độn:

•Hình dạng: Có thể không tròn đều, có cạnh sắc hoặc tròn, bầu dục nhằm tăng diện tích tiếp xúc và độ cứng

•Kích thước: Hạt độn quyết định thẩm mỹ và khả năng làm nhẵn bóng của composite (hạt độn nhỏ: 0,04 micron, hạt độn lớn :1-50micron)

Hạt độn < 1micron: Có khảnăng làm nhẵn bóng gần giống men răng thật

✓Hạt độn 1-8micron: Có khảnăng làm nhẵn bóng

✓Hạt độn >10micron: Không làm nhẵn bóng được

Kỹ thuật trùng hợp cho phép tăng khối lượng hạt độn lên tới 80% khối lượng của CPS, từ đó nâng cao tính chịu lực mà vẫn đảm bảo sự kết dính, độ nhẵn bóng và màu sắc.

Pha liên kết được sử dụng để tăng cường sự liên kết giữa nhựa khung và các hạt độn, trong đó chất silane đóng vai trò quan trọng Chất silane hữu cơ có cấu trúc phân tử lưỡng cực, với một cực kết nối với nhựa khung và một cực kết nối với chất độn, giúp cải thiện tính chất của vật liệu.

- Dựa vào kích thước hạt độn chia 3 loại CPS:

CPS hạt độn lớn (Macrofiller composite) là loại CPS thế hệ đầu tiên, được sử dụng từ những năm 60-70 của thế kỷ trước Thành phần của nó bao gồm 60-75% hạt độn vô cơ, được tạo ra bằng cách nghiền đá thạch anh, thủy tinh và sứ, với kích cỡ từ 1-50 micron Mặc dù loại này có độ cứng cao và khả năng cản quang, nhưng lại gặp phải vấn đề về độ bóng kém, hở rìa và đổi màu, do đó hiện nay không còn được sử dụng.

+ CPS hạt độn nhỏ (Microfiller composite)

Hạt độn nhỏ với kích cỡ 0,04 micron được sản xuất từ đá silic ở nhiệt độ cao, giúp tăng diện tích tiếp xúc giữa hạt và khung nhựa, từ đó cải thiện sự kết hợp Có hai loại hạt độn này.

✓ Hạt độn nhỏ không đều: Khối lượng hạt độn

Ngày đăng: 03/05/2023, 07:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. B ộ Y t ế (2011). D ự án nâng cao chăm sóc sứ c kh ỏe cho ngườ i cao tu ổ i thu ộc chương trình mụ c tiêu qu ốc gia giai đoạ n 2012-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án nâng cao chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012-2015
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
3. T ổ ng c ụ c th ố ng kê (2010). K ế t qu ả ch ủ y ế u c ủ a T ổng điề u tra Dân s ố và Nhà ở . Nhà xu ấ t b ả n Th ố ng kê, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chủ yếu của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2010
4. Bùi Qu ế Dương (1999). B ả ng x ế p lo ạ i m ớ i c ủ a các xoang trám, Thông tin m ới răng hàm mặ t Thành Ph ố H ồ Chí Minh, s ố 1.2,tr 42-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng xếp loại mới của các xoang trám
Tác giả: Bùi Quế Dương
Nhà XB: Thông tin mới răng hàm mặt Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
5. Lussi AR, Schafner M, Hotz P, Suter P (1993). Epidemiology and risk factors of wedge – shape defects in a Swiss population. Schweiz Monatsschr Zahnmed, 1993; 103: 276-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology and risk factors of wedge – shape defects in a Swiss population
Tác giả: Lussi AR, Schafner M, Hotz P, Suter P
Nhà XB: Schweiz Monatsschr Zahnmed
Năm: 1993
6. Pegoraro LF, Scolaro JM, Conti PC, Telles D, Pegoraro TA (2005). Noncarious cervical lesions in adults, Prevalence and occlusal aspects.JADA, 2005; 136: 1694-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Noncarious cervical lesions in adults, Prevalence and occlusal aspects
Tác giả: Pegoraro LF, Scolaro JM, Conti PC, Telles D, Pegoraro TA
Nhà XB: JADA
Năm: 2005
7. Borčić J, Anić I, Urek MM, Ferreri S (2004). The prevalence of non - carious cervical lesions in permanent dentition. J Oral Rehabil, 2004;31: 117-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The prevalence of non - carious cervical lesions in permanent dentition
Tác giả: Borčić J, Anić I, Urek MM, Ferreri S
Nhà XB: J Oral Rehabil
Năm: 2004
8. Jakupovic S, Vukovic A, Korac S, Tahmiscija I, Bajsman A (2010). The Prevalence, Distribution and Expression of Noncarious Cervical Lesions (NCCL) in Permanent Dentition. Mater Sociomed. 2010; 22(4): 200-204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Prevalence, Distribution and Expression of Noncarious Cervical Lesions (NCCL) in Permanent Dentition
Tác giả: Jakupovic S, Vukovic A, Korac S, Tahmiscija I, Bajsman A
Nhà XB: Mater Sociomed
Năm: 2010
9. Đặ ng Qu ế Dương (2004).Nh ậ n xét k ế t qu ả trám t ổn thươ ng c ổ răng b ằ ng Composite có lót Glass Ionomer Cement. Luận văn thạc sỹ y học.Đạ i h ọ c Y Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét kết quả trám ổn thương cổ răng bằng Composite có lót Glass Ionomer Cement
Tác giả: Đặng Quế Dương
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2004
10. Aw T.C, Lepe X, Johnson G.H, et al (2002).“ Characteristics of non- carious cervical lesions ” . JADA; 133(6): 725-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Characteristics of non- carious cervical lesions
Tác giả: Aw T.C, Lepe X, Johnson G.H, et al
Nhà XB: JADA
Năm: 2002
11. Chuajedong P, Kedjarune-Leggat U, Kertpon D, et al (2002). “Associated factors of tooth wear in southern Thailand”. J Oral Rehab;29: 997-1002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Associated factors of tooth wear in southern Thailand
Tác giả: Chuajedong P, Kedjarune-Leggat U, Kertpon D
Nhà XB: J Oral Rehab
Năm: 2002
12. Miller N, Penaud J, Ambrosini P V, et al (2003). “Analysis of etiologic factors and period ontal conditions involved with 39 abfractions”. J Clin Periodontol; 30: 828-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysis of etiologic factors and period ontal conditions involved with 39 abfractions
Tác giả: Miller N, Penaud J, Ambrosini P V
Nhà XB: J Clin Periodontol
Năm: 2003
13. Ph ạ m L ệ Quyên và c ộ ng s ự (2007). Mòn răng và các yế u t ố liên quan.Y Học TP. Hồ Chí Minh, tập11 số 2 : Tr 227 – 235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mòn răng và các yếu tố liên quan
Tác giả: Phạm Lệ Quyên
Nhà XB: Y Học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
14. Đinh Thị Khánh Vân (2003). Cập nhật về nhựa composite trực tiếp. C ậ p nh ậ t nha khoa, t ậ p 7, s ố 2, tr77-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật về nhựa composite trực tiếp
Tác giả: Đinh Thị Khánh Vân
Nhà XB: Cập nhật nha khoa
Năm: 2003
15. Lenzi T, Hesse D, Guglielmi C, Anacleto K, Raggio DP (2013). Shear bond strength of two adhesive materials to eroded enamel. J Contemp Dent Pract. Jul 1; 14(4):700-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Shear bond strength of two adhesive materials to eroded enamel
Tác giả: Lenzi T, Hesse D, Guglielmi C, Anacleto K, Raggio DP
Nhà XB: J Contemp Dent Pract
Năm: 2013
16. Pedigao J, Dutra-Corea M, Saraceni S (2012). Randomized clinical trial of two resin modified glass ionomer materials: 1-year results. Operative dentistry; 37(6): 591-601 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Randomized clinical trial of two resin modified glass ionomer materials: 1-year results
Tác giả: Pedigao J, Dutra-Corea M, Saraceni S
Nhà XB: Operative dentistry
Năm: 2012
17. Yassini E, Kermanshah H, Mirzaei M, Ranjbar Omidi B (2012). Effect of mechanical load cycling on class V glass- ionomer and composite restorations; a microleakage and scanning electron microscopic evaluation. JIDAI; 24(2): 69-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of mechanical load cycling on class V glass- ionomer and composite restorations; a microleakage and scanning electron microscopic evaluation
Tác giả: Yassini E, Kermanshah H, Mirzaei M, Ranjbar Omidi B
Nhà XB: JIDAI
Năm: 2012
18. Zhou SL, Watanabe S, WenLY (2012). In vitro study of the effects of fluoride-releasing dental materials on remineralization in an enamel erosion model. J Dent, Mar; 40(3):255-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro study of the effects of fluoride-releasing dental materials on remineralization in an enamel erosion model
Tác giả: Zhou SL, Watanabe S, WenLY
Nhà XB: J Dent
Năm: 2012
21. Ian Needleman (2002), Aging and Periodontium, Carranza's Clinical Periodontology, 9th Ed. Phialdelphia, 58-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aging and Periodontium
Tác giả: Ian Needleman
Nhà XB: Carranza's Clinical Periodontology
Năm: 2002
22. Atsu SS, Aka S, Kucukesmen HC (2005). Age-related changes in tooth enamel as measured by electron microscopy: Implications for porcelain laminate veneers. J Prosthet Dent, 94: 336 – 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Age-related changes in tooth enamel as measured by electron microscopy: Implications for porcelain laminate veneers
Tác giả: Atsu SS, Aka S, Kucukesmen HC
Nhà XB: J Prosthet Dent
Năm: 2005
23. Lilian Neuvald, Den, and Alberto Consolaro (2000). Cementoenamel junction: microscopic analysis and external cervical resorption. Jounal of endodontics. 26 (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cementoenamel junction: microscopic analysis and external cervical resorption
Tác giả: Lilian Neuvald, Den, Alberto Consolaro
Nhà XB: Journal of endodontics
Năm: 2000

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w