1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CƯ TRÚ, điều KIỆN cư TRÚ của NGƯỜI nước NGOÀI tại VIỆT NAM – THỰC TRẠNG và k

32 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cư Trú, Điều Kiện Cư Trú Của Người Nước Ngoài Tại Việt Nam – Thực Trạng Và Kiến Nghị
Trường học Viện Nghiên Cứu Lập Pháp
Chuyên ngành Luật pháp và quản lý nhà nước
Thể loại Chuyên đề nghiên cứu
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 84,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • - LỜI GIỚI THIỆU -

  • I- KHÁI NIỆM NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, QUAN NIỆM VỀ CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

    • 1- Khái niệm người nước ngoài

    • 2- Quan niệm về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

  • II– THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

    • 1- Đánh giá chung

    • 2- Các quy định của pháp luật về cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

    • 3- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân mời người nước ngoài vào Việt Nam

    • 4- Tình hình quản lý cư trú và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

    • 5- Các hạn chế, bất cập

  • III- CÁC KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP GÓP PHẦN XÂY DỰNG LUẬT NHẬP CẢNH, XUẤT CẢNH, CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

    • 1- Các kiến nghị, giải pháp góp phần xây dựng Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

    • 2- Các kiến nghị, giải pháp khác

  • - TÀI LIỆU THAM KHẢO -

    • 1- Văn bản pháp luật, tài liệu nước ngoài

    • 2- Văn bản pháp luật, tài liệu trong nước

Nội dung

Việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là để cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền biết được tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nhằm minh bạch tài sản thu nhập của người đó.

KHÁI NIỆM NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, QUAN NIỆM VỀ CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Khái niệm người nước ngoài

Khái niệm "người nước ngoài" có sự khác biệt giữa các quốc gia, nhưng chung quy lại, đó là những người không phải là công dân của quốc gia đó và có thể mang quốc tịch nước khác hoặc không có quốc tịch Tại các nước như Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Hàn Quốc, Luật xuất nhập cảnh không định nghĩa rõ về người nước ngoài, nhưng các văn bản pháp luật về quốc tịch lại xác định rằng người nước ngoài là những cá nhân không sở hữu quốc tịch của quốc gia đó.

Trong công tác quản lý người nước ngoài, có hai trường hợp cần lưu ý: người không có quốc tịch và người có từ hai quốc tịch trở lên Hầu hết các quốc gia công nhận người không có quốc tịch là người nước ngoài, do đó, quy định về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú áp dụng cho họ tương tự như đối với người nước ngoài Một số ít quốc gia không xác định rõ người không có quốc tịch là người nước ngoài, nhưng vẫn áp dụng các quy định tương tự trong quản lý nhập cảnh và cư trú.

Pháp luật quốc tịch hiện nay trên thế giới có hai xu hướng chính: một là áp dụng nguyên tắc một quốc tịch, như ở CHLB Đức, Séc, và Lào, quy định rằng mỗi cá nhân chỉ được mang một quốc tịch; hai là áp dụng nguyên tắc đa quốc tịch, như ở Hoa Kỳ.

Kỳ, Anh, Cộng hòa Pháp, Úc, (quy định một người được mang nhiều quốc tịch).

Người mang một quốc tịch chỉ được cấp một hộ chiếu của quốc gia đó Khi nhập cảnh, xuất cảnh hoặc cư trú tại nước ngoài, họ sẽ được quản lý theo quy định dành cho người nước ngoài.

Người đa quốc tịch có thể sở hữu nhiều hộ chiếu từ các quốc gia mà họ được công nhận là công dân Khi nhập cảnh, xuất cảnh hoặc cư trú tại một quốc gia không phải là công dân, quy định pháp lý áp dụng sẽ phụ thuộc vào loại hộ chiếu mà họ sử dụng Cụ thể, nếu sử dụng hộ chiếu của quốc gia mà họ có quốc tịch, họ sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật của quốc gia đó; ngược lại, nếu sử dụng hộ chiếu nước ngoài, họ sẽ bị điều chỉnh bởi pháp luật áp dụng cho người nước ngoài Tại Việt Nam, Luật quốc tịch năm 2008 khẳng định nguyên tắc một quốc tịch, trong đó công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam Tuy nhiên, Điều 15 của luật này cho phép những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đã được cấp quốc tịch nước ngoài nhưng chưa thôi quốc tịch Việt Nam, có thể đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, tạo điều kiện cho họ có thể mang cả hai quốc tịch.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, "người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam" Do đó, những người không có quốc tịch mà cư trú tại Việt Nam sẽ được xác định là người nước ngoài.

Nam cũng được điều chỉnh bởi pháp luật về nhập cảnh, xuất nhập, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam như đối với những người nước ngoài

Pháp luật Việt Nam quy định về xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú dựa trên loại hộ chiếu mà cá nhân sử dụng Cụ thể, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú tại Việt Nam bằng hộ chiếu nước ngoài sẽ được áp dụng như người nước ngoài Ngược lại, nếu họ sử dụng hộ chiếu Việt Nam, họ sẽ được đối xử như công dân Việt Nam.

Quan niệm về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Sự kiện pháp lý về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam bắt đầu từ khi họ nhập cảnh và cần thực hiện các thủ tục đăng ký tạm trú hoặc thường trú tại địa phương Thời gian cư trú của người nước ngoài được xác định từ lúc nhập cảnh cho đến khi họ xuất cảnh qua cửa khẩu.

Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam cần có chứng nhận tạm trú do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh cấp ngay tại cửa khẩu Khi đến địa chỉ cư trú cụ thể, họ phải thông qua chủ khách sạn, cơ sở lưu trú hoặc tự mình khai báo tạm trú với cơ quan công an có thẩm quyền tại nơi tạm trú hoặc thường trú.

Người nước ngoài có quyền cư trú tại Việt Nam, ngoại trừ các khu vực biên giới và những khu vực cấm theo quy định của pháp luật Việt Nam Trong trường hợp có điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia quy định khác, sẽ tuân theo điều ước quốc tế đó.

"Người nước ngoài tạm trú" được hiểu là người nước ngoài cư trú có thời hạn tại Việt Nam.

"Người nước ngoài thường trú" được hiểu là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam.

Do tính chất đặc thù của người nước ngoài, việc cư trú của họ tại Việt Nam, bao gồm cả tạm trú và thường trú, được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành về xuất cảnh, nhập cảnh, mà không nằm trong Luật cư trú Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về cư trú của người nước ngoài sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo.

II– THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚCNGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

Đánh giá chung

Trong thời gian qua, đặc biệt từ khi Đảng ta thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, số lượng người nước ngoài đến Việt Nam làm việc và cư trú ngày càng tăng Việc cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam hiện nay được điều chỉnh chủ yếu theo Hiến pháp năm 1992.

Điều 81 và Điều 82 được cụ thể hóa trong Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Pháp lệnh này do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành vào ngày 28 tháng 4 năm 2000 và có hiệu lực từ ngày ban hành.

Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, ban hành ngày 01 tháng 8 năm 2000, quy định rõ ràng về cư trú của người nước ngoài trong 5 điều từ Điều 11 đến Điều 15 Các quy định này được cụ thể hóa trong Nghị định số 21/2001/NĐ-CP, ban hành ngày 28 tháng 5 năm 2001, nhằm hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Bộ Công an là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện các quy định này.

Bộ Ngoại giao đã phối hợp ban hành các Thông tư liên tịch 2 hướng dẫn thi hành Nghị định này.

Ngoài các quy định chính, nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật đầu tư năm 2005, Luật du lịch năm 2005, và Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng đề cập đến các vấn đề liên quan đến cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh và bổ sung các quy định pháp luật để phù hợp với đường lối đổi mới trong công tác đối ngoại của Đảng Các quy định này liên quan đến nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Các Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG, số 01/2007/TTLT/BCA-BNG và số 01/2012/TTLT/BCA-BNG đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Những quy định này đã đạt được nhiều kết quả tích cực, giúp cải thiện quy trình và điều kiện cư trú cho người nước ngoài.

Cơ sở pháp lý được thiết lập nhằm quản lý hiệu quả hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời đảm bảo giám sát chặt chẽ các hoạt động này.

Hai là tạo thuận lợi cho người nước ngoài đến, tạm trú, thường trú tại Việt

Nam tham quan, du lịch, tìm hiểu thị trường, hợp tác, đầu tư, kinh doanh, học tập, lao động, nghiên cứu khoa học, v.v

Ba là, pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại

Các quy định của pháp luật về cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Việt Nam theo đuổi chính sách tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đồng thời đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế với phương châm "Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế" Chính sách này không chỉ thu hút du khách, nhà đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế, từ đó nâng cao niềm tin của bạn bè quốc tế.

"Việt Nam là điểm đến thực sự an toàn, thân thiện".

2- Các quy định của pháp luật về cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Theo quy định của pháp luật hiện hành về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, việc cư trú của người nước ngoài được quy định rõ ràng Cụ thể, điều kiện tạm trú của người nước ngoài được xác định và hướng dẫn chi tiết trong các văn bản pháp luật liên quan.

Người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam cần tuân thủ mục đích, thời hạn và địa chỉ đã đăng ký Nếu vào theo lời mời hoặc bảo lãnh của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, họ phải thông qua các bên này để đăng ký Trong trường hợp không có ai mời, người nước ngoài cần ghi rõ mục đích, thời gian và địa chỉ tạm trú trong đơn xin cấp thị thực Đối với những người được miễn thị thực theo các Hiệp định mà Việt Nam tham gia, mục đích và thời hạn tạm trú cũng phải phù hợp với các quy định trong Hiệp định đó.

Khi nhập cảnh vào Việt Nam, người nước ngoài sẽ nhận được chứng nhận tạm trú từ cơ quan quản lý xuất nhập cảnh hoặc Bộ đội biên phòng, tùy thuộc vào cửa khẩu Thời hạn của chứng nhận tạm trú sẽ tương ứng với giá trị của thị thực và mục đích nhập cảnh, đặc biệt đối với những người cần thị thực để vào Việt Nam.

Người nước ngoài được miễn thị thực sẽ có thời hạn chứng nhận tạm trú theo thỏa thuận trong Hiệp định, thường là 90 ngày Nếu không có quy định cụ thể, thời gian tạm trú sẽ là 30 ngày Đối với người nước ngoài tạm trú từ 01 năm trở lên, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an sẽ cấp thẻ tạm trú Những người được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, lãnh sự cũng sẽ được xem xét cấp thẻ tạm trú.

Điều 11 của Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 quy định chi tiết về việc thực hiện Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Nghị định này nhằm đảm bảo quy trình và thủ tục rõ ràng cho người nước ngoài khi nhập cảnh và cư trú tại Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và kiểm soát tình hình cư trú của họ.

Điểm a khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 quy định chi tiết về việc thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT/BCA-BNG ngày 30/01/2007 của Bộ Công an và Bộ Ngoại giao đã sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29/01/2002 Những điểm quan trọng trong thông tư này nhằm cải thiện quy trình và nâng cao hiệu quả quản lý trong lĩnh vực an ninh và ngoại giao.

Bộ Công an – Bộ Ngoại giao hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ.

Hiện nay, thẻ tạm trú tại Việt Nam được cấp cho các đối tượng sau: thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, luật sư nước ngoài có giấy phép hành nghề tại Việt Nam, người nước ngoài có giấy phép lao động làm việc tại doanh nghiệp hoặc văn phòng đại diện, chuyên gia và sinh viên tham gia các chương trình quốc gia được Chính phủ phê duyệt, cùng với thân nhân đi cùng như cha, mẹ, vợ, chồng và con dưới 18 tuổi của những người được cấp thẻ Thẻ tạm trú có thời hạn từ 01 đến 03 năm và do Bộ Ngoại giao cấp.

Người nước ngoài có thể bị hủy bỏ hoặc rút ngắn thời hạn tạm trú tại Việt Nam nếu vi phạm pháp luật hoặc không tuân thủ mục đích tạm trú đã đăng ký.

Người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam cần khai báo tạm trú với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền Nếu lưu trú tại khách sạn hoặc khu nhà ở dành cho người nước ngoài, họ phải thực hiện khai báo thông qua chủ khách sạn hoặc người quản lý Trong trường hợp nghỉ tại nhà riêng của công dân, việc khai báo phải được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua chủ nhà với công an phường, xã, thị trấn nơi tạm trú Chủ khách sạn, người quản lý và công an có trách nhiệm chuyển thông tin khai báo tạm trú đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại tỉnh hoặc thành phố.

Người nước ngoài có nhu cầu tiếp tục ở lại Việt Nam để làm việc, đầu tư hoặc kinh doanh sau khi hết thời hạn tạm trú có thể thực hiện thủ tục gia hạn tạm trú thông qua cơ quan, tổ chức nơi họ đang làm việc Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền sẽ xem xét và giải quyết yêu cầu gia hạn Nếu người nước ngoài muốn chuyển sang làm việc tại cơ quan, tổ chức khác, họ cũng có thể được xem xét chuyển đổi mục đích đã đăng ký và gia hạn tạm trú Về điều kiện thường trú, người nước ngoài cần đáp ứng các yêu cầu cụ thể để được cấp thẻ thường trú tại Việt Nam.

Người nước ngoài muốn thường trú tại Việt Nam phải đang tạm trú tại đây Tuy nhiên, không phải tất cả những người nước ngoài tạm trú đều được xem xét cho việc thường trú Quyết định này thuộc về cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

7 Khoản 3 và khoản 4 Điều 15 của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

8 Khoản 2 Điều 15 của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Khoản 2 Điều 16 của Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam chỉ xem xét giải quyết cho người nước ngoài thường trú trong một số trường hợp nhất định.

Là những người đấu tranh cho tự do, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hòa bình, hoặc vì sự nghiệp khoa học, họ đã phải chịu đựng sự bức hại.

- Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

- Là vợ, chồng, con, cha, mẹ của công dân Việt Nam thường trú ở Việt Nam.

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân mời người nước ngoài vào Việt Nam

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam bao gồm Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, cùng với các cơ quan đại diện ngoại giao và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố Nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan này được quy định tại Nghị định số 21/2001/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG Đồng thời, các cơ quan, tổ chức và cá nhân mời người nước ngoài vào Việt Nam cũng có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật liên quan.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, ngoài các cơ quan chức năng của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân mời người nước ngoài vào Việt Nam cũng phải chịu trách nhiệm.

Một là bảo đảm mục đích nhập cảnh, gồm:

+ Đăng ký với cơ quan chức năng dự kiến nội dung, chương trình hoạt động của người được mời trước khi người đó nhập cảnh;

+ Quản lý hoạt động của người được mời, đảm bảo thực hiện đúng nội dung, chương trình đã đăng ký;

+ Làm các thủ tục liên quan đến hoạt động tại Việt Nam của người được mời theo quy định của pháp luật.

Hai là cộng tác với cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết sự cố phát sinh đối với người nước ngoài, gồm:

Tham gia vào việc xử lý và khắc phục hậu quả các hành vi vi phạm pháp luật, tai nạn, hoặc những tình huống phức tạp khác liên quan đến người được mời theo yêu cầu của cơ quan chức năng.

Cần thông báo kịp thời cho cơ quan công an về các hoạt động của người được mời có liên quan đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Ba là bảo đảm tài chính, gồm:

Chi phí hoặc bảo lãnh tài chính là yêu cầu cần thiết khi người được mời không đủ khả năng tài chính tại chỗ để thanh toán các chi phí theo quy định của pháp luật Việt Nam.

+ Thanh toán với Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, Cục Lãnh sự

Bộ Ngoại giao quy định cước phí fax hoặc điện báo gửi đến các cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài nhằm cấp thị thực cho người nước ngoài.

Tình hình quản lý cư trú và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Việt Nam đã ký hiệp định miễn thị thực với 75 quốc gia nhằm tăng cường hội nhập quốc tế, trong đó đơn phương miễn thị thực cho công dân 7 nước: Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga và 4 nước Bắc Âu (Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch) để thu hút du khách Tuy nhiên, việc miễn thị thực này yêu cầu quản lý cư trú chặt chẽ hơn, do nhiều công dân nhập cảnh mà không qua xét duyệt của cơ quan có thẩm quyền và không có cơ quan mời đón.

Sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể số lượng người nước ngoài vào Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau Đặc biệt, nhiều lao động nước ngoài làm việc tại các khu công nghiệp và dự án của doanh nghiệp nước ngoài, với số lượng có thể lên đến hàng nghìn người tại các địa điểm như Nhiệt điện Hải Phòng và Nhiệt điện Cẩm Phả Số liệu cho thấy lao động nước ngoài tại Việt Nam đã tăng từ 52.633 người vào năm 2008 lên 78.440 người vào tháng 9 năm 2011.

Bình quân hàng năm số lượng người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam tăng từ 10% đến 30 % Nếu năm 2000 chỉ có 1.155.785 lượt người nước ngoài

Năm 2012, Việt Nam đã tiếp nhận 6.453.761 lượt người nước ngoài nhập cảnh, cho thấy sự gia tăng đáng kể trong việc quản lý lao động nước ngoài tại quốc gia này Ai là người chịu trách nhiệm quản lý vấn đề này?

Ngoài việc lưu trú tại khách sạn, nhà khách và nhà riêng của thân nhân, người nước ngoài còn có thể vào Việt Nam theo diện miễn thị thực để du lịch tự do, như đi bộ, xe đạp, xe máy xuyên Việt, hoặc leo núi Họ có thể ngủ trong rừng, trên đường, trên tàu thuyền du lịch, hoặc ở nhờ nhà dân Bên cạnh đó, công nhân nước ngoài làm việc dài hạn trên các phương tiện kỹ thuật cũng là một đối tượng lưu trú Ngoài ra, người nước ngoài là bạn bè của công dân Việt Nam cũng có thể được mời về nhà chơi và ngủ lại vào cuối tuần.

Bộ Công an quản lý tạm trú người nước ngoài thông qua mô hình phối hợp giữa Công an xã, phường, thị trấn và Công an quận, huyện, thị xã Thông tin khai báo tạm trú được chuyển từ cấp xã lên cấp quận, huyện, sau đó đến Phòng quản lý xuất nhập cảnh Các khách sạn đã kết nối mạng máy tính để truyền dữ liệu khai báo tạm trú về Phòng quản lý xuất nhập cảnh, từ đó thông báo số liệu cho Phòng quản lý hành chính về trật tự xã hội Cuối cùng, Phòng quản lý hành chính sẽ chuyển thông báo đến Công an quận, huyện, phường, xã nơi có khách sạn.

Trong bối cảnh các sự kiện chính trị và quốc tế quan trọng, công tác tiếp nhận và xử lý thông tin khai báo tạm trú của người nước ngoài đã được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý tình hình tạm trú.

Hiện nay, các quy định pháp luật về quản lý tạm trú của người nước ngoài tại Việt Nam chỉ áp dụng cho những người tạm trú tại khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, và nhà riêng của thân nhân Điều này dẫn đến khó khăn trong việc quản lý các đối tượng người nước ngoài khác.

14 Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2012.

Diện đối tượng người nước ngoài vào tạm trú tại Việt Nam đang bị thu hẹp do việc mở rộng diện miễn thị thực đơn phương và song phương Hiện cả nước có 36 địa phương có Phòng quản lý xuất nhập cảnh, trong khi các địa phương khác chỉ có tổ hoặc đội nhỏ với số lượng cán bộ hạn chế, thường xuyên phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác Điều này dẫn đến thông tin về tạm trú của người nước ngoài chưa được tập trung, khó đảm bảo đầy đủ và kịp thời, góp phần vào tình trạng người nước ngoài quá hạn tạm trú không bị phát hiện và không ngăn chặn kịp thời các tụ điểm "tự phát" tập trung đông người nước ngoài.

Bộ Công an hiện quản lý 16 cửa khẩu quốc tế, bao gồm 11 cửa khẩu hàng không và 5 cửa khẩu đường thủy, trong khi các cửa khẩu còn lại thuộc sự quản lý của Bộ đội biên phòng Do đó, việc thu thập thông tin và thống kê về tình hình người nước ngoài nhập cảnh và xuất cảnh gặp nhiều khó khăn.

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, người nước ngoài có thể được xét cho thường trú tại Việt Nam trong các trường hợp sau: họ là những người đấu tranh cho tự do, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hòa bình hoặc sự nghiệp khoa học và bị bức hại; có công lao trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hoặc là vợ, chồng, con, cha, mẹ của công dân Việt Nam đang thường trú tại đây.

Hiện nay, có khoảng 620 người được cấp thường trú tại Việt Nam để sống cùng vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam Ngoài ra, có 02 người được cấp thường trú do được tặng Huy chương, trong khi chưa có ai xin thường trú vì lý do chính trị.

Pháp lệnh mới về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đã quy định các đối tượng có thể được xem xét cho thường trú, nhưng vẫn chưa đưa ra điều kiện cụ thể cho người nước ngoài muốn thường trú tại đây.

Theo ThS Trần Ngọc Đường, chuyên viên Vụ pháp chế, Bộ Công an, việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thường trú cho người nước ngoài gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những trường hợp xin thường trú chỉ vì lý do hôn nhân mà không có việc làm hay thu nhập ổn định Để cải thiện tình hình, Bộ Công an đã được Chính phủ cho phép cấp thẻ thường trú cho hàng nghìn người Campuchia tị nạn thông qua thủ tục đơn giản, chỉ yêu cầu cung cấp ảnh và khai tờ khai mà không thu lệ phí Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 679/2007/QĐ-BCA và Thông tư số 45/2011/TT-BCA, qua đó đã cấp Giấy phép xuất nhập cảnh cho 2.829 người.

Gần đây, một số công dân Việt Nam gốc Hoa đã xin thôi quốc tịch Việt Nam và yêu cầu cấp thẻ thường trú để xin cấp hộ chiếu từ nước ngoài, chủ yếu là hộ chiếu Đài Loan, đặc biệt tại các tỉnh phía Nam Đây là một vấn đề mới đang nổi lên.

Bộ Công an đã hướng dẫn các Công an địa phương cần trao đổi với Sở Tư pháp để cân nhắc kỹ lưỡng việc giải quyết thôi quốc tịch, nhằm tránh tình trạng không quốc tịch nếu không được cấp hộ chiếu từ nước ngoài Nếu không có lý do chính đáng để từ chối tiếp nhận hồ sơ, các đơn vị cần báo cáo về Bộ Công an và Bộ Tư pháp để xem xét và quyết định Đồng thời, cần chú trọng đến việc xử lý vi phạm của người nước ngoài.

Các hạn chế, bất cập

Bên cạnh những mặt được, pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập chính sau đây:

Thứ nhất , các quy định của pháp luật về cư trú của người nước ngoài tại

Việt Nam có nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cư trú của người nước ngoài, nhưng hiệu lực pháp lý của chúng thường thấp và quy định còn chung chung, chồng chéo Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng và thực hiện các quy định, đặc biệt là cho người nước ngoài trong việc tìm hiểu và thi hành pháp luật về cư trú Văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực này là Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam năm 1992, nhưng đã được thay thế bởi các quy định mới hơn.

17 Các số liệu thống kê do ThS Trần Ngọc Đường, chuyên viên Vụ pháp chế, Bộ Công an cung cấp.

ThS Trần Ngọc Đường, chuyên viên Vụ pháp chế, Bộ Công an, đã cung cấp 18 số liệu thống kê về người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 Để thi hành các quy định của Pháp lệnh về cư trú của người nước ngoài, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2001, quy định chi tiết về tạm trú và thường trú Bộ Công an và Bộ Ngoại giao đã phối hợp ban hành một số Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Nghị định này, dẫn đến sự trùng lặp và chồng chéo trong các quy định về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trong các văn bản pháp luật khác nhau.

Có những trường hợp văn bản mới được ban hành nhưng không phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu sự thống nhất giữa các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.

Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005, hiện đã được thay thế bởi Nghị định số 73/2010/NĐ-CP, quy định các hành vi vi phạm và mức độ xử lý nhưng chưa có chế tài đủ mạnh đối với người nước ngoài vi phạm quy định về cư trú, đặc biệt là những trường hợp không có khả năng tài chính Luật doanh nghiệp năm 2005 yêu cầu người đại diện theo pháp luật phải “thường trú” tại Việt Nam, nhưng theo định nghĩa trong Pháp lệnh xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú, rất ít người nước ngoài đủ điều kiện Nghị định số 139/2007/NĐ-CP đã điều chỉnh yêu cầu này, cho phép người nước ngoài chỉ cần “tạm trú” tại Việt Nam Tuy nhiên, Nghị định số 102/2010/NĐ-CP đã thay đổi thuật ngữ thành “cư trú” tại Việt Nam, tạo ra sự không thống nhất trong việc áp dụng khái niệm này.

Pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam hiện còn một số điểm chưa hợp lý, đặc biệt là về trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước Việc thiếu quy định và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này dẫn đến tình trạng chồng chéo trong công tác quản lý, hoặc thậm chí là sự bỏ mặc trong một số trường hợp Hơn nữa, ý thức tôn trọng pháp luật vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý.

Theo Đại tá Hồ Văn Truyền, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng Khánh Hòa, công tác quản lý người nước ngoài ra vào khu vực biên giới biển còn lỏng lẻo Nhiều cơ quan, đơn vị chưa nắm rõ quy định, dẫn đến việc đưa đón người nước ngoài không thông báo cho công an và bộ đội biên phòng Việc cấp phép cho người nước ngoài thường trú và tạm trú tại khu vực biên giới biển cũng chưa thực hiện đúng quy định Ông Truyền nhấn mạnh rằng vụ việc người nước ngoài nuôi cá trên vịnh Cam Ranh cần 4 loại giấy phép từ nhiều lực lượng khác nhau, nhưng sự phối hợp giữa các cơ quan còn yếu kém, tạo ra sơ hở trong quản lý.

Tổng cục Thủy sản đã cấp giấy phép cho tàu Việt Điện Bạch vào khu vực biển Khánh Hòa để thu mua hải sản mà không thông báo cho Bộ đội Biên phòng và Công an Khánh Hòa Điều này đã gây ra sự bất ngờ và khó khăn trong công tác nhập cảnh Chúng tôi đã kiến nghị rằng khi cho phép tàu nước ngoài vào khu vực biển Việt Nam thu mua hải sản, cần phải có thông báo trước.

Quản lý người nước ngoài ra vào trên biển hiện đang gặp nhiều khó khăn, điều này đã được nêu rõ trong bài viết trên trang m.tuoitre.vn vào ngày 13/12/2012 Để cải thiện tình hình, cần tăng cường sự phối hợp giữa lực lượng biên phòng và an ninh địa phương nhằm theo dõi và quản lý chặt chẽ hơn.

Quản lý lao động người nước ngoài tại Việt Nam đang trở thành một vấn đề quan trọng khi số lượng lao động nước ngoài liên tục gia tăng Cụ thể, từ 52.633 người vào năm 2008, con số này đã tăng lên 55.428 người vào năm 2009 và đạt 56.929 người vào năm 2010.

Tính đến hết tháng 9 năm 2011, số người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã tăng lên 78.440, trong đó có 41.529 người được cấp phép, 5.581 người không thuộc diện cấp phép và 31.330 người chưa được cấp phép, chiếm 39,9% Số doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài có khai báo rất thấp Việc quản lý thiếu đồng bộ và không kiểm tra chặt chẽ là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng lao động nước ngoài làm việc không phép tại Việt Nam.

Bộ Công an và Bộ Quốc phòng có thẩm quyền cấp phép cho người nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm cả mục đích làm việc Tuy nhiên, hiện tại vẫn thiếu sự phối hợp đồng bộ và kịp thời với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trong việc quản lý người nước ngoài cư trú và làm việc tại Việt Nam.

Việc pháp luật 23 cho phép lao động nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam và xin giấy phép lao động sau khi vào nước này đã tạo ra lỗ hổng trong quản lý Nhiều người nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc, thường nhập cảnh với mục đích du lịch nhưng sau đó chuyển sang lao động, gây khó khăn cho công tác quản lý Họ tìm cách lưu trú trên 6 tháng để có thể sử dụng lý lịch tư pháp do Việt Nam cấp nhằm xin cấp phép lao động.

20 Xem “Quản lý người nước ngoài ra vào trên biển còn lỏng lẻo” trên http://m.tuoitre.vn, ngày 13/12/2012

Tại TP Hồ Chí Minh, có 15 khu chế xuất và khu công nghiệp với tổng số lao động nước ngoài là 1.907 người Trong số này, có 94 người chưa có giấy phép lao động, chiếm 5% tổng số lao động nước ngoài.

22 Xem Dũng Hiếu, Ai quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam, trên http://vneconomy.vn.

23 Khoản 2 Điều 15 của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; khoản 2 Điều 16 của Nghị định số 21/CP ngày 28 tháng 5 năm 2001.

Việc quản lý các cửa khẩu quốc tế tại Việt Nam hiện đang gặp khó khăn do sự phân tán và thiếu tập trung vào một đầu mối Thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả dẫn đến thông tin về người nước ngoài không được cập nhật đầy đủ và kịp thời, gây trở ngại trong thủ tục xuất nhập cảnh và xử lý vi phạm Việt Nam có đường biên giới tiếp giáp với 03 nước và hơn 70 cửa khẩu quốc tế, trong đó Bộ Công an quản lý 16 cửa khẩu quốc tế và Bộ đội biên phòng quản lý 22 cửa khẩu quốc tế cùng nhiều cửa khẩu khác.

Thứ sáu, như đã đề cập, có nhiều người nước ngoài vào Việt Nam theo diện miễn thị thực để du lịch tự do, như đi bộ, xe đạp, xe máy xuyên Việt, hoặc leo núi Họ có thể ngủ trong rừng, trên đường đi, hoặc ở nhờ nhà dân Ngoài ra, còn có công nhân nước ngoài làm việc dài hạn trên các phương tiện kỹ thuật, như tàu hút cát tại các khu kinh tế Những người nước ngoài này thường là bạn bè của công dân Việt Nam, như đồng nghiệp hay đối tác làm ăn, và vào cuối tuần, họ có thể được mời về nhà hoặc quê chơi, thậm chí ngủ lại tại gia đình Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam chưa quy định rõ ràng cho các trường hợp này, mà chỉ điều chỉnh đối tượng tạm trú tại khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, nhà cho thuê, và nhà riêng của thân nhân.

CÁC KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP GÓP PHẦN XÂY DỰNG LUẬT NHẬP CẢNH, XUẤT CẢNH, CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Các kiến nghị, giải pháp góp phần xây dựng Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Đề nghị Quốc hội nhanh chóng ban hành Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, kế thừa các quy định phù hợp từ Pháp lệnh hiện hành và luật hóa các quy định ổn định trong Nghị định số 21/2001/NĐ-CP cùng các Thông tư liên tịch của Bộ Công an và Bộ Ngoại giao Luật cần đảm bảo sự đồng bộ và thống nhất với các luật liên quan như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Bộ luật lao động, Luật hải quan, và Luật xử lý vi phạm hành chính.

Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam cần quy định rõ nguyên tắc, điều kiện, trình tự và thủ tục liên quan đến việc nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú Đồng thời, luật cũng phải xác định quyền và nghĩa vụ của cơ quan quản lý nhà nước, cũng như quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong các hoạt động này.

Theo Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài được định nghĩa là những cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam, bao gồm cả người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, khi nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam bằng hộ chiếu nước ngoài, họ sẽ được áp dụng quy định như người nước ngoài; ngược lại, nếu sử dụng hộ chiếu Việt Nam, họ sẽ được coi như công dân Việt Nam.

Quy định này kế thừa Pháp lệnh về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời phù hợp với Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 cùng các văn bản pháp luật liên quan.

Luật nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam cần quy định một đầu mối thống nhất để quản lý công tác xuất nhập cảnh Chính phủ sẽ đảm nhận vai trò quản lý nhà nước về các vấn đề này, trong khi Bộ Công an sẽ hỗ trợ thực hiện chức năng quản lý Các bộ, ngành liên quan cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an để đảm bảo hoạt động quản lý diễn ra đồng bộ, tránh tình trạng phân tán và không hiệu quả như hiện nay.

Thứ năm , Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt

Cần quy định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quản lý cư trú của người nước ngoài Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin giữa các cơ quan chức năng để quản lý hiệu quả người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, với Bộ Công an là đầu mối chính.

Thứ sáu , Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt

Nam cần có một chương riêng, gồm 2 mục quy định về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Mục 1 gồm các điều quy định về tạm trú (thủ tục khai báo, chứng nhận tạm trú; thẻ tạm trú; các đối tượng được xét cấp thẻ tạm trú; điều kiện, thẩm quyền cấp thẻ tạm trú; các quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam); đặc biệt cần có quy định điều chỉnh đối tượng người nước ngoài vào nước ta theo diện miễn thị thực đi du lịch tự do, ngủ trong rừng, trên đường đi, trên tàu, thuyền du lịch, trại, lều du lịch, ở nhờ nhà dân; công nhân nước ngoài làm việc dài hạn trên các phương tiện kỹ thuật nhằm quản lý chặt chẽ đối tượng này

Mục 2 gồm các điều quy định về thường trú của người nước ngoài tại Việt Nam (các đối tượng được xét cho thường trú; điều kiện, thẩm quyền, thủ tục giải quyết cho thường trú; thẻ thường trú; quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài thường trú tại Việt Nam)

Thứ bảy , Luật nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt

Cần có quy định rõ ràng về quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc mời và bảo lãnh người nước ngoài cư trú tại Việt Nam Đồng thời, cũng cần xác định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và cơ sở cung cấp chỗ ở cho người nước ngoài.

Để ngăn chặn tình trạng người nước ngoài cư trú quá thời hạn tại Việt Nam, Luật nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú cần quy định thời hạn tạm trú phù hợp với mục đích nhập cảnh Nếu có sự thay đổi mục đích, người nước ngoài phải xuất cảnh và thực hiện thủ tục lại Cần thiết lập các ký hiệu khác nhau cho thị thực, tương ứng với mục đích nhập cảnh và không cho phép chuyển đổi mục đích, đặc biệt là đối với khách du lịch Ngoài ra, cần quy định loại thị thực riêng cho lao động nước ngoài và cho những người đến học tập, giao lưu văn hóa.

Người nước ngoài muốn làm việc tại Việt Nam cần phải có giấy phép lao động do cơ quan quản lý nhà nước cấp trước khi nhập cảnh và bắt đầu công việc.

Đề xuất gia hạn thẻ tạm trú cho người lao động nước ngoài khi giấy phép lao động còn hiệu lực nhưng thẻ tạm trú đã hết hạn, cho phép gia hạn thẻ tạm trú với thời gian tương ứng với thời hạn còn lại của giấy phép lao động.

Cần có quy định cụ thể hơn về việc người nước ngoài cư trú tại khu vực biên giới Hiện nay, nhiều người nước ngoài đến thăm thân nhân và có công ty nước ngoài đầu tư tại khu vực này Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Nghị định số 21/2001/NĐ-

Theo CP ngày 28 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ, người nước ngoài không được cư trú ở khu vực biên giới theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp có điều ước quốc tế khác Để hỗ trợ lực lượng biên phòng, chính quyền địa phương và cơ quan công an trong việc quản lý, Luật nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam cần có quy định cụ thể hơn về vấn đề này.

Các kiến nghị, giải pháp khác

Cần đổi mới biện pháp quản lý cư trú bằng cách thay thế phương pháp khai báo tạm trú thủ công bằng phương pháp hiện đại Các cơ sở lưu trú cho người nước ngoài tạm trú cần kết nối mạng Internet với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh để truyền thông tin dữ liệu kịp thời về người nước ngoài tạm trú.

Cần tăng cường đầu tư và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quản lý cư trú, bao gồm việc trang bị thiết bị hiện đại tại các cửa khẩu và kết nối mạng giữa tất cả các cửa khẩu với trung tâm Điều này giúp truyền tải kịp thời thông tin và dữ liệu về người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, đồng thời phát hiện các trường hợp cư trú quá hạn.

Cần tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng mối quan hệ phối hợp và trao đổi thông tin, kinh nghiệm quản lý với các quốc gia khác trong lĩnh vực quản lý xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài.

Văn bản pháp luật, tài liệu nước ngoài

1) Luật quốc tịch Vương Quốc Anh;

2) Luật quốc tịch Cộng hòa liên bang Đức;

3) Luật quốc tịch Hàn Quốc;

4) Luật xuất cảnh, nhập cảnh của Hàn Quốc;

5) Luật xuất, nhập cảnh của Hoa Kỳ;

6) Luật quốc tịch Hoa Kỳ;

7) Luật xuất nhập cảnh của Indonesia;

8) Luật nhập cảnh, xuất cảnh và di trú của Cộng hòa Pháp;

9) Luật quốc tịch Cộng hòa Pháp;

10) Luật nhập tịch của Philippines năm 2000;

12) Luật cảnh sát Hoàng Gia Thái Lan;

13) Luật nhập cảnh, xuất cảnh của người nước ngoài của Trung Quốc năm 1986;

Văn bản pháp luật, tài liệu trong nước

14) Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001;

15) Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008;

20) Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

21) Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam năm 1992;

22) Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000;

23) Nghị định 21/2001/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000;

24) Nghị định số 73/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội;

25) Nghị định số 150/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/12/2005 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội;

26) Nghị định số 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp năm 2005;

27) Nghị định số 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 15/11/2010;

28) Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT/BCA-BNG ngày 3 tháng 1 năm 2012 của Bộ Công an –Bộ ngoại giao;

29) Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT/BCA-BNG ngày 12 tháng 5 năm 2009 của Bộ Công an –Bộ ngoại giao;

30) Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT/BCA-BNG ngày 30 tháng 1 năm 2007 của Bộ Công an –Bộ ngoại giao;

31) Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BCA-BNG ngày 29 tháng 1 năm 2002 của Bộ Công an –Bộ ngoại giao;

32) Thông tư số 45/2011/TT-BCA ngày 29/6/2011 hướng dẫn cấp giấy phép xuất nhập cảnh cho người nước ngoài thường trú tại Việt Nam không có hộ chiếu;

33) Quyết định số 679/2007/QĐ-BCA ngày 20/6/2007 kèm theo Quy chế cấp và quản lý Giấy phép xuất nhập cảnh;

34) Dũng Hiếu, “Ai quản lao động nước ngoài tại Việt Nam”, trên http://vneconomy.vn ngày 1 tháng 2 năm 2012;

35) ThS Cao Nhất Linh, “Bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động nước ngoài ở Việt Nam”, trên Tạp chí NCLP số 142, tháng 3 năm 2009;

36) “Hơn 27.000 người nước ngoài làm việc “chui” tại Việt Nam”, trên http://laodong.com.vn ngày 21 tháng 8 năm 2012;

37) Văn Kỳ, “Quản lý người nước ngoài ra vào trên biển còn lỏng lẻo”, trên http://m.tuoitre.vn ngày 13 tháng 12 năm 2012.

Ngày đăng: 02/05/2023, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w