https tailieuluatkinhte com ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT BÀI TẬP NHÓM MÔN HỌC PHẦN PHÁP LUẬT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN GV PGS TS Lê Thị Thu Thủy ĐỀ TÀI NHỮNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG KIN.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN: 2 1.1. Khái niệm công ty chứng khoán: 2 1.2. Đặc điểm của công ty chứng khoán: 3 1.3. Mô hình của công ty chứng khoán: 4 1.4. Chức năng của công ty chứng khoán: 5 1.5. Vai trò của công ty chứng khoán: 6 2. NHỮNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM: 7 2.1. Khái niệm hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán: 7 2.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán: 7 2.3. Những nguyên tắc hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán: 8 2.3.1. Những nguyên tắc chung trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán: 8 a. Nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán; quyền tự do giao dịch, đầu tư, kinh doanh và cung cấp dịch vụ về chứng khoán của tổ chức, cá nhân: 8 b. Nguyên tắc công bằng: 9 c. Nguyên tắc công khai, minh bạch: 9 d. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư: 9 e. Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về rủi ro: 9 f. Vụ án thực tiễn về vấn đề tuân thủ các nguyên tắc hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán – vụ án Trịnh Văn Quyết: 10 2.3.2. Những nguyên tắc đặc thù trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán: 13 a. Nguyên tắc công khai, công bằng, minh bạch và vì lợi ích của khách hàng: 13 b. Nguyên tắc bảo mật thông tin và bảo vệ tài sản của khách hàng: 15 3. NHỮNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TRÊN THẾ GIỚI: 18
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
BÀI TẬP NHÓM MÔN HỌC PHẦN: PHÁP LUẬT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
GV: PGS TS Lê Thị Thu Thủy
ĐỀ TÀI: NHỮNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HÀ NỘI – 2023
1
Trang 2MỤC LỤC
1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN: 2
1.1 Khái niệm công ty chứng khoán: 2
1.2 Đặc điểm của công ty chứng khoán: 3
1.3 Mô hình của công ty chứng khoán: 4
1.4 Chức năng của công ty chứng khoán: 5
1.5 Vai trò của công ty chứng khoán: 6
2 NHỮNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM: 7
2.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán: 7
2.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán: 7
2.3 Những nguyên tắc hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán: 8
2.3.1 Những nguyên tắc chung trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán: 8
a Nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán; quyền tự do giao dịch, đầu tư, kinh doanh và cung cấp dịch vụ về chứng khoán của tổ chức, cá nhân: 8
b Nguyên tắc công bằng: 9
c Nguyên tắc công khai, minh bạch: 9
d Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư: 9
e Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về rủi ro: 9
f Vụ án thực tiễn về vấn đề tuân thủ các nguyên tắc hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán – vụ án Trịnh Văn Quyết: 10
2.3.2 Những nguyên tắc đặc thù trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán: 13 a Nguyên tắc công khai, công bằng, minh bạch và vì lợi ích của khách hàng: 13
b Nguyên tắc bảo mật thông tin và bảo vệ tài sản của khách hàng: 15
3 NHỮNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TRÊN THẾ GIỚI: 18
Trang 33.1 Những nguyên tắc hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán ở
một số quốc gia trên thế giới: 18
3.1.1 Thị trường chứng khoán Mỹ: 18
3.1.2 Thị trường chứng khoán Châu Âu: 20
3.1.3 Thị trường chứng khoán Singapore: 20
3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: 21
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
3
Trang 4MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán có thể được hiểu là tổng hợp những mối quan hệ kinh tế phát sinh từviệc phát hành và trao đổi chứng khoán giữa các chủ thể khác nhau Thị trường chứng khoán là hạtnhân trung tâm của thị trường tài chính, là một loại thị trường vốn trung và dài hạn, nơi diễn ra cáchoạt động phát hành, trao đổi, mua, bán, chuyển nhượng chứng khoán nhằm mục đích lợi nhuận vàhoạt động theo các nguyên tắc đặc thù Các công ty chứng khoán là thành viên của thị trường chứngkhoán tập trung, được Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép hoạt động 1Thông qua cácnghiệp vụ của mình, công ty chứng khoán có vai trò quan trọng trong việc tác động đến sự pháttriển của thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung, là trung gian không thể thiếucho hoạt động của thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán thực hiện các hoạt động kinh doanh mang tính đặc thù, gồm một, một
số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ như môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán, Các hoạtđộng kinh doanh chứng khoán đó đều phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép vàphải tuân thủ các nguyên tắc theo pháp luật
Nguyên tắc kinh doanh của công ty chứng khoán không chỉ phải tuân theo những nguyên tắcchung của thị trường như tôn trọng các quyền của tổ chức, cá nhân, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tưhay nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về rủi ro mà còn phải tuân theo các nguyên tắc đặc thù tronghoạt động của công ty chứng khoán như nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch, vì lợi íchkhách hàng hay nguyên tắc bảo mật thông tin, bảo vệ tài sản của khách hàng
Các nguyên tắc trên đều được cụ thể hóa thông qua Luật chứng khoán năm 2019, các Nghịđịnh và Thông tư của Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan Có thể thấy, đây là lĩnh vực cần phảiđược quản lý và giám sát chặt chẽ Tuy nhiên, trong thực tiễn, còn xảy ra nhiều bất cập trong phápluật, nhiều hành vi vi phạm các nguyên tắc của các công ty chứng khoán gây ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của những nhà đầu tư cũng như gây ra những biến động trên thị trường chứng khoán Vìvậy, cần phải nghiên cứu và tìm hiểu, rút ra được các bài học để có thể giảm thiểu tình trạng này,hạn chế các rủi ro và bảo vệ nhà đầu tư nói riêng và phát triển thị trường chứng khoán nói chung.Bằng phương pháp phân tích, nghiên cứu và so sánh pháp luật, tài liệu nghiên cứu và đánh giá
vụ việc trong thực tế, ta có thể thấy các nguyên tắc đã được áp dụng ra sao và các vấn đề hiện naycần giải quyết là gì, từ đó đưa ra một số giải pháp để có thể khắc phục các tình trạng đó
1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN:
1.1 Khái niệm công ty chứng khoán:
1 PGS TS Lê Thị Thu Thủy (2017), Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
Trang 5Khái niệm về công ty chứng khoán được thể hiện khác nhau trong pháp luật của các quốc gia,
như theo Luật chứng khoán Trung Quốc năm 1988 quy định: “Công ty chứng khoán là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần làm nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán được quy định trong luật công ty và quy định của Điều 117, Luật chứng khoán,” việc thành lập công ty chứng
khoán phải được cơ quan giám quản chứng khoán của Quốc Vụ viện thẩm tra, phê chuẩn; nếu chưađược cơ quan giám quản chứng khoán của Quốc Vụ viện phê chuẩn thì không được kinh doanhnghiệp vụ chứng khoán
Hay theo Luật chứng khoán Liên minh Châu Âu năm 2004 thì quy định: ““Công ty chứngkhoán là pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân thực hiện các dịch vụ đầu tư kinh doanh chứngkhoán cho bên thứ ba như là nghiệp vụ của chính mình.”
Tại Việt Nam, khái niệm về công ty chứng khoán được thể hiện ở hai văn bản pháp luật sau:
Thứ nhất, theo Khoản 1, Điều 2, Thông tư 121/2020/TT-BTC, quy định về hoạt động của
công ty chứng khoán: “Công ty chứng khoán là doanh nghiệp được Ủy ban Chứng khoán Nhà nướccấp phép thực hiện một, một số nghiệp vụ theo quy định tại Khoản 1 Điều 72, các Khoản 1, 2, 3, 4,
5 Điều 86 Luật Chứng khoán.”
Thứ hai, theo Khoản 1, Điều 2, Nghị định 86/2016/NĐ-CP: “1 Công ty chứng khoán là
doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo pháp luật chứng khoán để thực hiện một, một số hoặctoàn bộ các nghiệp vụ: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứngkhoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và được cung cấp các dịch vụ tài chính theo quy định của phápluật chứng khoán.”
Qua những quy định trên về khái niệm công ty chứng khoán của pháp luật Việt Nam cũng như
pháp luật thế giới, ta có thể hiểu: Công ty chứng khoán là doanh nghiệp được thành lập dưới hình thức pháp lý nhất định để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh chứng khoán (bao gồm môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán) và cung cấp các dịch vụ tài chính liên quan 2
1.2 Đặc điểm của công ty chứng khoán:
Trong nền kinh tế thị trường, công ty chứng khoán là một doanh nghiệp đặc biệt, có nhiềuđiểm tương đồng với các loại hình doanh nghiệp khác, như đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận, có tênriêng, có trụ sở giao dịch ổn định, kinh doanh ngành nghề nhất định được pháp luật cho phép, Công ty chứng khoán còn là chủ thể kinh doanh đặc thù, là trung gian tài chính trên thị trườngchứng khoán Do đó, công ty chứng khoán còn có một số đặc điểm khác biệt so với các loại hìnhdoanh nghiệp khác như:
2 PGS TS Lê Thị Thu Thủy (2017), Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hà Nội.
5
Trang 6Thứ nhất, về hình thức tổ chức pháp lý của công ty chứng khoán Theo Khoản 2, Điều 71,
Luật chứng khoán 2019: “2 Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp.” Do đây là hai loại hình doanh nghiệp có tính phổ biến trong nền kinh tế thị trường,
có quy chế pháp lý về thành lập, tổ chức và hoạt động chặt chẽ Việc quy định như vậy không chỉnhằm đảm bảo độ tin cậy cao của các chủ thể trên thị trường chứng khoán, hạn chế các rủi ro vàthiệt hại ở mức tối đa
Thứ hai, về hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán Hoạt động kinh doanh của công
ty chứng khoán gắn liền với một loại hàng hóa rất đặc thù - chính là chứng khoán Chứng khoán làloại tài sản vô hình, được xác định bằng những thông tin do chủ thể phát hành cung cấp như các nhàphát hành, công ty niêm yết chứng khoán, Ủy ban chứng khoán nhà nước, công ty chứng khoáncung cấp, Đây là loại giấy tờ có giá, có thể chuyển nhượng từ chủ thể này sang chủ thể khác, xácnhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổchức phát hành Chứng khoán gắn liền với các quyền hợp pháp của chủ sở hữu, có tính sinh lời, tínhthanh khoản và tính rủi ro cao Chính vì những đặc điểm này, khiến hoạt động kinh doanh của công
ty chứng khoán có sự liên quan đến rất nhiều chủ thể trong quan hệ kinh tế như nhà đầu tư, nhà pháthành, các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán, các trung gian tài chính, về quyền và nghĩa vụliên quan Là hạt nhân trong mối quan hệ với các chủ thể khác trên thị trường chứng khoán và sựảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của các chủ thể cùng tham gia thị trường chứng khoán nóiriêng và đến sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán nói chung, công ty chứng khoánđóng vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển hay giải thể, phá sản của công ty; vừa giữ vị thếquan trọng trong nền kinh tế, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn trong hoạt động kinh doanh
Thứ ba, về pháp luật điều chỉnh và quản lý nhà nước đối với việc thành lập, tổ chức, hoạt
động của công ty chứng khoán Vì công ty chứng khoán là thành viên của thị trường chứng khoán,đóng vai trò trung tâm trên thị trường chứng khoán tập trung Đồng thời, là nhà đầu tư chứng khoánchuyên nghiệp trên thị trường, được thực hiện một, một số hay tất cả các nghiệp vụ kinh doanh tùytheo quy định pháp lý của thị trường chứng khoán từng quốc gia Nên, sẽ luôn khó tránh khỏi xảy racác tình trạng như tình trạng xung đột về lợi ích giữa nhà đầu tư và công ty chứng khoán hay tìnhtrạng thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư và công ty chứng khoán Dẫn đến các vi phạm nghiêmtrọng của công ty chứng khoán: Vi phạm đạo đức nghề nghiệp, không ưu tiên lệnh khách hàng trướclệnh của nhà đầu tư trong hoạt động môi giới chứng khoán, lạm dụng tiền và tài sản của khách hàngkhi chưa được cho phép, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư và xu hướng của thị trườngchứng khoán Để giải quyết các tình trạng tiêu cực này, cần đến sự điều chỉnh của pháp luật và sựquản lý của cơ quan nhà nước đối với việc thành lập, tổ chức, hoạt động của công ty chứng khoán
Trang 7Một là, về sự điều chỉnh của pháp luật Pháp luật chứng khoán (Luật chứng khoán) cùng các
ngành luật liên quan như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn liênquan, quy định nghiêm ngặt các yêu cầu, điều kiện về tài chính (việc góp vốn, vốn điều lệ, cơ cấu
cổ đông, thành viên góp vốn, ); về năng lực kinh doanh (trụ sở kinh doanh, cơ sở vật chất, điềukiện hạ tầng, ); về nhân sự (cơ cấu tổ chức và quản lý các cấp nhân viên, chi nhánh, chức vụ, ).Ngoài ra, yêu cầu công ty chứng khoán phải tuân thủ quy trình về kiểm soát nội bộ trong suốt quátrình hoạt động kinh doanh, phải tách bạch tiền và tài sản của khách hàng với tiền và tài sản củacông ty chứng khoán, phải công khai thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác cho khách hàng biết; đặcbiệt là khi công ty chứng khoán là một bên giao dịch với khách hàng
Hai là, về sự quản lý của cơ quan nhà nước đối với việc thành lập, tổ chức, hoạt động của công ty chứng khoán Hoạt động quản lý đối với công ty chứng khoán thường được thực hiện bởi
các cơ quan chuyên ngành trong lĩnh vực chứng khoán, thông qua các hoạt động thanh tra - giámsát sự tuân thủ pháp luật xuyên suốt quá trình hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán
và có quyết định xử phạt, xử lý kịp thời khi phát hiện các sai phạm, vi phạm Ở Việt Nam, cơ quan
có thẩm quyền thực hiện hoạt động này chính là Ủy ban chứng khoán nhà nước, đối với các quốcgia khác, cũng có những cơ quan quản lý tương ứng như: Ở Trung Quốc, có Ủy ban giám quảnchứng khoán; ở Hàn Quốc, có Bộ tài chính, ở Nhật Bản, có Ủy ban chứng khoán nhà nước (SESC),
ở Mỹ, có Ủy ban chứng khoán nhà nước (SEC),
Bên cạnh đó, còn có các tổ chức tự quản được công nhận, phân chia nhiệm vụ, quyền hạn cụthể trong việc quản lý thị trường chứng khoán: Quản lý người hành nghề trên thị trường chứngkhoán, quản lý thành viên bằng các quy chế, quy định pháp luật, quy tắc nghề nghiệp và đạo đứckinh doanh Điển hình là Sở giao dịch chứng khoán (SET) của Thái Lan, Hiệp hội các công tychứng khoán, Việt Nam - Hiệp hội kinh doanh chứng khoán (VASB), Trung tâm lưu ký chứngkhoán (VSD),
Tất cả những quy định này đều nhằm đảm bảo rằng công ty chứng khoán thực hiện đúng vaitrò, vị trí và hoạt động hiệu quả, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư cũng như các chủ thể khác trên thịtrường chứng khoán Cùng với đó là ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro xảy ra cho nhà đầu tư và đảm bảo
sự an toàn trong kinh doanh chứng khoán
1.3 Mô hình của công ty chứng khoán:
Hiện nay, trên thế giới có hai mô hình công ty chứng khoán phổ biến, đó là công ty chứngkhoán chuyên doanh và công ty chứng khoán đa năng
Đối với mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh, đây là mô hình mà hoạt động kinh
doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm
7
Trang 8nhận Các ngân hàng không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán Mô hìnhnày thường được áp dụng ở các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc Ưu điểm của mô hình này
là hạn chế được rủi ro của hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán pháttriển chuyên sâu vào lĩnh vực chứng khoán nhằm thúc đẩy thị trường phát triển, như có một số hạnchế như không thể tận dụng được lợi thế của ngân hàng về uy tín, lượng khách hàng cơ sở có quan
hệ với ngân hàng mạng hay mạng lưới, cơ sở vật chất để phát triển hoạt động trên thị trường chứngkhoán Dù vậy, trong thời gian gần đây, ở các quốc gia áp dụng mô hình đã có xu hướng giảm dầnhạn chế về kinh doanh chứng khoán đối với các ngân hàng thương mại và từng bước mở rộngquyền của ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường chứng khoán Mô hình này tương đối phổbiến ở Việt Nam do tỷ lệ các công ty chứng khoán hoạt động theo mô hình này chiếm tỷ lệ cao(74%), có thể kể đến một số ví dụ điển hình như: Công ty cổ phần chứng khoán SSI, Công tyTNHH chứng khoán Mirae Asset, Công ty cổ phần chứng khoán VNDIRECT,
Đối với mô hình công ty chứng khoán đa năng, sẽ thường được chia thành hai loại:
Một là, loại công ty chứng khoán đa năng một phần - các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán phải thành lập công ty con hoạt động độc lập, có tư cách pháp nhân, còn được gọi là mô hìnhngân hàng kiểu Anh
Hai là, loại công ty chứng khoán đa năng hoàn toàn - các ngân hàng thương mại được phép
kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm cùng với kinh doanh tiền tệ, còn được gọi là môhình ngân hàng kiểu Đức Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vựckinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư, tậndụng được lợi thế của mình như nguồn vốn, cơ sở vật chất, quan hệ rộng với khách hàng… Mặtkhác, ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng khoán.Nhưng ngược lại, sẽ khó phát triển được thị trường cổ phiếu, vì ngân hàng có xu hướng bảo thủtrong việc xác định thị trường mục tiêu và thích hoạt động cho tín dụng hơn là bảo lãnh phát hành
cổ phiếu, trái phiếu Đồng thời, các ngân hàng cũng dễ gây lũng đoạn thị trường và tạo các biếnđộng trên thị trường chứng khoán Điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tiền tệ củangân hàng do ngân hàng không tách biệt giữa hai loại hình kinh doanh này
Ở Việt Nam, có các công ty chứng khoán tiêu biểu theo mô hình này như Công ty cổ phầnchứng khoán MB (MBS), Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân hàng Thương mại cổphần Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam (BSC),
1.4 Chức năng của công ty chứng khoán:
Trang 9Với vai trò là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán, công tychứng khoán có những chức năng đặc trưng bao gồm:
Một là, tạo ra cơ chế huy động vốn Đây là chức năng chủ yếu của công ty chứng khoán góp
phần hỗ trợ các tổ chức phát hành chứng khoán huy động một cách tốt nhất vồn cần cho hoạt độngkinh doanh, đầu tư sản xuất và tạo cơ hội cho các nhà đầu tư tìm, lựa chọn được đối tác đầu tư đemlại hiệu quả lợi nhuận tốt nhất Bởi lẽ, bản thân các doanh nghiệp phát hành thì không tự mình bán
số chứng khoán phát hành cho nhà đầu tư mà cần thông qua tổ chức bảo lãnh - công ty chứngkhoán Còn Còn nhà đầu tư không muốn hoặc không thể tự mình mua chứng khoán mà phải thôngqua tổ chức trung gian có nghiệp vụ - công ty chứng khoán Vì vậy, công ty chứng khoán là nhữngchủ thể có nhiệm vụ làm trung gian, kết nối giữa bên phát hành chứng khoán và bên có nhu cầu đầu
tư chứng khoán, giữa bên có nhu cầu về vốn và bên có nhu cầu đầu tư các khoản tiền nhàn rỗi củamình để kiếm thêm lợi nhuận
Hai là, cung cấp cơ chế giá cho các khoản đầu tư Nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư có một sự
đánh giá đúng đắn cho các quyết định đầu tư của mình, ở mỗi thị trường, thông qua các hoạt độngnghiệp vụ kinh doanh khác nhau, công ty chứng khoán có những cách thức cung cấp cơ chế giá chocác khoản đầu tư của nhà đầu tư khác nhau Ví dụ, ở thị trường sơ cấp, khi thực hiện nghiệp vụ bảolãnh phát hành chứng khoán, chính là giai đoạn công ty chứng khoán thực hiện vai trò tạo cơ chếgiá chứng khoán thông qua hoạt động xác định và tư vấn giá phát hành hợp lý cho tổ chức pháthành Ở thị trường thứ cấp, qua hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư, công ty chứng khoán đã cungcấp cơ chế gia cho hoạt động của thị trường Hay ở thị trường giao dịch tập trung, trên cơ sở cáclệnh mua bán của thị trường đều phải thông qua các công ty chứng khoán, giá chứng khoán sẽ đượcxác định và đánh giá theo giá trị cung - cầu, từ đó định hướng các nhà đầu tư về xu hướng thịtrường và đưa ra những quyết định đúng đắn sau khi được tư vấn đầu tư và môi giới chứng khoán
Từ những nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, với tư cách là chủ thể trung gian và làcầu nối giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, công ty chứng khoán có thể tìm hiểu và thỏa thuận giágiữa các nhà đầu tư tiềm năng với tổ chức phát hành
Ba là, chức năng chuyển các chứng khoán ra tiền mặt và ngược lại Phương thức hữu hiệu
nhất để hạn chế tối đa các rủi ro và giảm thiểu thiệt hại trong quá trình đầu tư khi các nhà đầu tưmuốn chuyển chứng khoán ra tiền mặt và ngược lại chính là thông qua các công ty chứng khoán.Công ty chứng khoán đảm nhận nghiệp vụ này thông qua cơ chế giao dịch của thị trường; dù cónhân tố bên ngoài nào gây ảnh hưởng đến giá của chứng khoán thì giá trị của các khoản đầu tư nóichung tại thời điểm đó đều không giảm đi, đảm bảo nhà đầu tư sẽ không phải chịu thiệt hại đáng kểđối với giá trị các khoản đầu tư của mình
9
Trang 101.5 Vai trò của công ty chứng khoán:
Vai trò của công ty chứng khoán được thể hiện chính qua các nghiệp vụ của công ty chứngkhoán, từ các nghiệp vụ này, công ty chứng khoán có những tác động đáng kể đến sự phát triển lànhmạnh của thị trường chứng khoán nói riêng và của nền kinh tế nói chung Sau đây, là những vai tròtiêu biểu của công ty chứng khoán:
Một, làm cầu nối giữa cung - cầu chứng khoán, tạo kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian, tham gia hầu hết vào quá
trình luân chuyển của chứng khoán: Từ khâu phát hành trên thị trường sơ cấp đến khâu giao dịchmua bán trên thị trường thứ cấp Điển hình, ở thị trường sơ cấp, công ty chứng khoán là cầu nốigiữa nhà phát hành và nhà đầu tư, giúp các tổ chức phát hành huy động vốn Thông qua nghiệp vụbảo lãnh phát hành, nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán có vai trò trung gian môi giới trongmua, bán, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho nhà đầu tư và
tổ chức phát hành; là kênh dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Ở thị trường thứ cấp, công tychứng khoán là cầu nối giữa các nhà đầu tư, là trung gian chuyển các khoản đầu tư thành tiền vàngược lại Thông qua nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư, công ty chứng khoán đảm bảo nhu cầuchuyển đổi số vốn tạm thời nhàn rỗi thành các khoản đầu tư và ngược lại của nhà đầu tư, góp phầngiúp họ giảm thiểu thiệt hại về giá trị khoản đầu tư
Hai, góp phần điều tiết và bình ổn giá trên thị trường Khi thị trường chứng khoán có những
bị biến động hay lâm vào tình trạng khủng hoảng, thì không chỉ nền kinh tế bị ảnh hưởng mà cảquyền lợi của nhà đầu tư, của các công ty chứng khoán cũng đều bị ảnh hưởng Do đó, cần các công
ty chứng khoán có nghiệp vụ tự doanh phải dành ra một tỷ lệ vốn nhất định để mua chứng khoánvào khi giá giảm, bán chứng khoán dự trữ ra khi giá lên quá cao; nhằm điều tiết và bình ổn giá trênthị trường Nhằm góp phần tích cực vào sự duy trì và phát triển bền vững của thị trường chứngkhoán, tác động tốt đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường
Ba, vai trò cung cấp các dịch vụ cho thị trường chứng khoán Công ty chứng khoán thực
hiện tư vấn đầu tư, góp phần giảm chi phí giao dịch cho nhà đầu tư - thực hiện vai trò trung gianmua, bán chứng khoán giúp các nhà đầu tư giảm được chi phí trong từng giao dịch Cung cấp cơchế xác định giá cho các khoản đầu tư - thông qua Sở giao dịch và thị trường OTC - thị trườngchứng khoán qua quầy và xác định, tư vấn cho các tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý, qua
đó, cung cấp một cơ chế xác định giá nhằm giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xáccác khoản đầu tư của mình Đồng thời, công ty chứng khoán là tổ chức tham mưu cho tổ chức pháthành trong việc niêm yết chứng khoán trên sàn giao dịch chứng khoán và định giá chứng khoán khiphát hành, đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán Ngoài ra, công ty chứng khoán còn cungcấp một số dịch vụ khác hỗ trợ giao dịch chứng khoán: ứng tiền cho nhà đầu tư khi tiền thanh toán
Trang 11từ giao dịch bán chưa về tài khoản nhà đầu tư, hoạt động bảo quản và quản lý các công cụ tàichính,
Có thể nói, công ty chứng khoán giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường chứng khoán, là trung gian không thể thiếu cho hoạt động của thị trường chứng khoán.
2 NHỮNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM:
2.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán:
Theo Khoản 28, Điều 4, Luật chứng khoán 2019: “Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và cung cấp dịch vụ về chứng khoán theo quy định tại Điều 86 của Luật này.”
Có thể hiểu, hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán là việc công tychứng khoán thực hiện một, một số hoặc tất cả các nghiệp vụ bao gồm môi giới chứng khoán, tựdoanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và cung cấp cácdịch vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật chứng khoán.3
Trong đó, các nghiệp vụ được hiểu như sau: Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thựchiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoánmua, bán chứng khoán cho chính mình Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc cam kết với tổchức phát hành nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lạihoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết hoặc cố gắng tối đa để phân phối sốchứng khoán cần phát hành của tổ chức phát hành Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc cung cấp chokhách hàng kết quả phân tích, báo cáo phân tích và đưa ra khuyến nghị liên quan đến việc mua, bán,nắm giữ chứng khoán.4
2.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán:
Cũng như bất kỳ loại hình doanh nghiệp khác, công ty chứng khoán có những đặc trưng riêng tronghoạt động kinh doanh của minh xuất phát từ các yếu tố đặc thù về thị trường hàng hóa - thị trườngchứng khoán, về hàng hóa - chứng khoán và các nghiệp vụ kinh doanh:
Một, hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và thể hiện trong giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán Theo quy định tại Điều 71, Luật chứng khoán 2019 về đăng ký doanh nghiệp, đăng
ký kinh doanh, công ty chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện theo luật định, thực hiện các trình
3 PGS TS Lê Thị Thu Thủy (2017), Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hà Nội.
4 Điều 4, Luật chứng khoán 2019.
11
Trang 12tự, thủ tục để được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán và đăng kýdoanh nghiệp.
Hai, hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán là một ngành nghề thương mại đặc thù Hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán bao gồm hai
nhóm hoạt động: Hoạt động kinh doanh chính - môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu
tư và hoạt động kinh doanh phụ trợ - hoạt động gắn liền với hoạt động kinh doanh chính, thườngkhông phải xin cấp phép bởi cơ quan quản lý nhà nước Mọi hoạt động của công ty chứng khoánđều có mối liên hệ mật thiết và bổ trợ nhau Đồng thời, có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi íchcủa các nhà đầu tư: Nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài.5
Ba, hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán luôn hướng đến mục tiêu vì lợi nhuận Công ty chứng khoán trong các giao dịch, dịch vụ với khách hàng đều luôn hướng tới mục
tiêu thu được một số tiền nhất định, một khoản lợi nhuận, lợi ích cho công ty phát triển và vận hànhcũng như duy trì công ty
Bốn, hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán có đối tượng kinh doanh là tiền và chứng khoán Chứng khoán là loại hàng hóa có tính đặc thù của thị trường chứng khoán, có tính
sinh lời, tính thanh khoản và tính rủi ro cao Mỗi giao dịch chứng khoán vừa có thể đem đến nhữngkhoản lợi nhuận khổng lồ nhưng cũng có thể trở thành khoản nợ tài chính bất kỳ lúc nào trướcnhững sự chuyển biến trên giá thị trường chứng khoán Chứng khoán là giấy tờ có giá, xác nhận cácquyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức pháthành; vì vậy, những giá trị đi kèm với chứng khoán không chỉ là những giá trị có thể quy đổi thànhtiền tệ mà còn là những quyền lợi hợp pháp được gắn liền với từng loại chứng khoán được pháthành như quyền tham gia trực tiếp vào hoạt động quản lý, điều hành, giám sát hoạt động của công
ty, quyền hưởng lợi tức,
Năm, hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán được thực hiện với các khách hàng khác nhau Với sự đa dạng của các chủ thể đầu tư trên thị trường chứng khoán,
khách hàng của công ty chứng khoán có thể được chia thành các nhà đầu tư không chuyên nghiệp,nhà đầu tư chuyên nghiệp, nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Giữa công ty chứngkhoán và khách hàng là quan hệ song vụ, được khẳng định thông qua các hợp đồng văn bản; đâychính là căn cứ đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, nghĩa vụ và trách nhiệmtuân thủ pháp luật của công ty chứng khoán và là giới hạn nhằm hạn chế những xung đột về lợi ích
có thể xảy ra giữa hai bên
Sáu, hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán như nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch, bảo vệ
Trang 13quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư chứng khoán Đây là những nguyên tắc đặt nền tảng
cho các giá trị pháp lý, giá trị đạo đức trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán nóiriêng và thị trường chứng khoán nói chung Các nguyên tắc vừa là định hướng cho các quan điểm,
xu hướng phát triển trong quá trình hoạt động trong tương lai của công ty chứng khoán; vừa là hànhlang ranh giới về chuẩn mực pháp lý, đạo đức cho mọi nghiệp vụ được thực hiện Nhằm hạn chếcác hành vi cố ý sai phạm, vi phạm vì lợi ích riêng mà gây ảnh hưởng đến lợi ích chung, gây ra cácthiệt hại khó có thể phục hồi cho thị trường
2.3 Những nguyên tắc hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán: 2.3.1 Những nguyên tắc chung trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán:
Những nguyên tắc hoạt động kinh doanh chứng khoán không chỉ có những nguyên tắc đặc thù
mà còn phải áp dụng những nguyên tắc chung của thị trường chứng khoán Các hoạt động mua bánchứng khoán đều được dựa trên nguyên tắc chung của thị trường hàng hóa và nguyên tắc riêng củathị trường này Mọi chủ thể khi tham gia thị trường chứng khoán đều cần phải tuân thủ các nguyêntắc đó, cụ thể:
a Nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán; quyền tự do giao dịch, đầu tư, kinh doanh và cung cấp dịch vụ về chứng khoán của tổ chức, cá nhân:
Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 1, Điều 5, Luật chứng khoán 2019 Ngoài ra điềunày cũng được cụ thể hóa trong Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trongnhững ngành nghề mà pháp luật không cấm.” Theo đó, các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào thịtrường chứng khoán đều được pháp luật tôn trọng, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp như quyền
tự do mua bán chứng khoán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán Không ai có quyền “cưỡng ép”
họ tham gia các giao dịch, kinh doanh chứng khoán, nếu giao dịch có dấu hiệu bị cưỡng ép thì cóthể sẽ bị vô hiệu Đây là nguyên tắc quan trọng, giúp thị trường chứng khoán được phát triển vàdiễn ra trôi chảy, hiệu quả, tạo tâm lý yên tâm trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể Cácquyền về sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong hoạt động về chứng khoán đều được thực hiệntheo quy định chung của pháp luật dân sự, cụ thể tại Khoản 1 Điều 163 BLDS 2015: “Không ai cóthể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản”
Trang 14nhau đều có cơ hội ngang nhau trong một giao dịch trên thị trường Bên cạnh đó, quyền bình đẳngcòn được thể hiện trong việc mọi chủ thể đều có quyền được tiếp cận và chia sẻ thông tin, phải tuânthủ và chịu các chế tài nếu vi phạm pháp luật Nguyên tắc công bằng là cơ sở để đảm bảo nguyêntắc tự do cạnh tranh của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán, là động lực để nâng cao chấtlượng dịch vụ và đảm bảo cơ chế giá chứng khoán theo quy luật cung cầu Chính vì vậy, mọi chủthể đều có quyền bình đẳng với nhau và bình đẳng trước pháp luật, không có bất kỳ chủ thể haynhóm chủ thể nào được hưởng những ưu đãi khác theo pháp luật.
c Nguyên tắc công khai, minh bạch:
Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 2, Điều 5, Luật Chứng khoán 2019 Do hàng hóa giaodịch trên thị trường chứng khoán là hàng hóa đặc thù, khó xác định giá trị, vì vậy sự công khai,minh bạch trong hệ thống công bố thông tin là điều cần thiết Mọi quyết định mua, bán chứngkhoán của nhà đầu tư đều phải phụ thuộc vào các thông tin công khai trên thị trường, nên pháp luậtquy định các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủtrên các phương tiện thông tin đại chúng Cụ thể, các thị trường chứng khoán cần phải công khainhững thông tin về loại chứng khoán đang được bán ra, tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, sốlượng, giá cả, từng loại chứng khoán đã mua vào và bán ra Các thông tin càng được công bố côngkhai, minh bạch thì càng thu hút được nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán Từ đó giảmthiểu những rủi ro có thể xảy ra với nhà đầu tư, đồng thời giúp cơ quản quản lý nhà nước có thểgiám sát, kiểm soát các thông tin trên thị trường
d Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư:
Được quy định tại Khoản 3, Điều 5, Luật chứng khoán 2019 Các nhà đầu tư, đặc biệt là cácnhà đầu tư phổ thông thường được coi là yếu thế trong giao dịch do sự hạn chế trong khả năng tiếpcận các nguồn thông tin, nguồn vốn và tính chuyên nghiệp Khi những hành vi gian lận, trục lợi xảy
ra, họ sẽ là người chịu thiệt thòi nhất Vì vậy, pháp luật phải coi việc bảo vệ các nhà đầu tư là mộttrong những mục tiêu quan trọng nhất Một số cách thức để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư có thểthấy thông qua việc: Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho nhà đầu tư; xác định các yêu cầukhắt khe cho các chủ thể kinh doanh chứng khoán và thiết lập cơ chế, phương tiện giám sát thịtrường chứng khoán một cách hiệu quả Đây là một trong những nguyên tắc trọng tâm và được phápluật bảo vệ nghiêm ngặt Khi nhà đầu tư thấy quyền lợi của mình được bảo vệ bởi pháp luật, họ mới
có thể an tâm và sẵn sàng tham gia các hoạt động trên thị trường
e Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về rủi ro:
Trang 15Được quy định tại Khoản 4, Điều 5, Luật Chứng khoán 2019 Mặc dù mọi chủ thể tham giathị trường chứng khoán đều có quyền tự do kinh doanh, giao dịch, đầu tư và đều bình đẳng trướcpháp luật, nhưng đều trên nguyên tắc “lời ăn, lỗ chịu” Nghĩa là, các chủ thể đều phải tự chịu tráchnhiệm về rủi ro đối với các hành vi của mình, nhà nước không chịu rủi ro thay các chủ thể khi thamgia thị trường chứng khoán Khi đã chấp nhận tham gia vào các giao dịch trên thị trường chứngkhoán, đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư phải tìm hiểu kỹ pháp luật, quy luật thị trường, hiểu rõrằng đầu tư chứng khoán là một hình thức kinh doanh có rủi ro và chấp nhận các rủi ro có thể xảyra.
f Vụ án thực tiễn về vấn đề tuân thủ các nguyên tắc hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán – vụ án Trịnh Văn Quyết:
Về toàn cảnh của vụ án, từ ngày 1/9 đến ngày 10/1/2019, ông Trịnh Văn Quyết - cựu Chủ
tịch Tập đoàn FLC đã chỉ đạo Trịnh thị Minh Huế - cán bộ Ban kế toán Tập đoàn FLC, Trịnh thịThúy Nga - Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần chứng khoán BOS cùng nhiều người khác, mượnchứng minh thư nhân dân của 26 cá nhân thành lập 20 công ty Sau đó, mở 450 tài khoản tại 41công ty chứng khoán bao gồm 120 tài khoản ở Công ty cổ phần chứng khoán BOS và 330 tài khoản
ở công ty khác, thực hiện hành vi mua bán mã chứng khoán khối lượng lớn để chi phối thị trường,đặt lệnh mua, bán rồi lại hủy nhằm thao túng giá chứng khoán, đẩy giá cổ phiếu lên cao Tất cả đểnhằm tạo cung cầu giả, thao túng 6 mã chứng khoán bao gồm: FLC, ROS, ART, HAI, AMD, GAB.Khi giá cổ phiếu lên cao, ông Trịnh Văn Quyết chỉ đạo đặt lệnh bán 175 triệu cổ phiếu, khớp lệnh74,8 triệu cổ phiếu với giá cổ phiếu thời điểm bấy giờ là 22.586/đồng cổ phiếu mà không báo cáo,không công bố thông tin trước khi thực hiện giao dịch Qua giao dịch chui này, ông Trịnh VănQuyết hưởng lợi bất chính hơn 530 tỷ đồng
Thị trường chứng khoán đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau vụ án thao túng giá chứng khoánrúng động này: Làm thị trường giảm hàng chục điểm, nhiều cổ phiếu có giá rơi xuống mức kịchsàn, nhiều nhà đầu tư bị thiệt hại nặng nề Hàng loạt mã chứng khoán thuộc tập đoàn FLC bị nhàđầu tư bán tháo, nhiều cổ phiếu khác cũng giảm mạnh Để giải quyết vụ án, Ủy ban chứng khoánnhà nước đã có văn bản chỉ đạo Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HoSE) hủy bỏ giao dịch bán74,8 triệu cổ phiếu FLC ngày 10/1/2022 của ông Trịnh Văn Quyết, nhiều nhà đầu tư được hoàn tiền
đã mua Ngày 18/1/2022, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Quyết định số 34/QĐ-XPHC
về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối vớiông Trịnh Văn Quyết, phạt tiền 1,5 tỷ đồng đối với hành vi vi phạm hành chính - không báo cáo vềviệc dự kiến giao dịch và phạt bổ sung đình chỉ hoạt động giao dịch 5 tháng 6
6 Ủy ban chứng khoán nhà nước (2022), Quyết định số 34/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với ông Trịnh Văn Quyết, có hiệu lực kể từ ngày 18/01/2022.
15
Trang 16Trong vụ án này, đã có rất nhiều nguyên tắc trong hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán bị vi phạm:
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong hoạt động về
chứng khoán và thị trường chứng khoán; quyền tự do giao dịch, đầu tư, kinh doanh và cung cấpdịch vụ về chứng khoán của tổ chức, cá nhân Về quyền thực hiện các giao dịch chứng khoán, phápluật hiện hành không có giới hạn nào về việc nhà đầu tư tham gia thực hiện giao dịch trên thịtrường, kể cả đối với tổ chức, cá nhân trong nước hay nước ngoài Miễn nhà đầu tư đáp ứng đủ điềukiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi thì đều có thể tham gia vào thị trường chứng khoán.Đây là một trong biểu hiện của nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản tronghoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán; quyền tự do giao dịch, đầu tư, kinh doanh vàcung cấp dịch vụ về chứng khoán của tổ chức, cá nhân Điển hình hơn, là tại Khoản 1, Điều 5, Luật
chứng khoán 2019: “1 Tôn trọng quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán; quyền tự do giao dịch, đầu tư, kinh doanh và cung cấp dịch vụ về chứng khoán của tổ chức, cá nhân.” Và tại Khoản 1, Điều 6, Luật chứng khoán 2019:
“1 Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài tham gia đầu tư và hoạt động trên thị trường chứng khoán nhằm huy động các nguồn vốn trung hạn và dài hạn cho đầu tư phát triển.”
Tuy nhiên, lợi dụng chính những quyền cơ bản này của nhà đầu tư, ông Trịnh Văn Quyết đã
vẽ ra một kịch bản khá tinh vi, chi tiết và chỉ đạo nhiều người cùng tham gia để nâng giá cổ phiếucủa tập đoàn FLC lên mức cao nhất trên thị trường lúc bấy giờ, nhằm thu hút sự quan tâm của các
và đầu tư và thực hiện hành vi bán chui số cổ phiếu đã được ông cùng đồng phạm mua rẻ với mụcđích hưởng lợi bất chính
Sau đó, là lợi dụng tiếp việc nhà nước không cấm các chủ thể mua, bán chứng khoán bởi đây
là quyền cơ bản của các chủ thể trên thị trường chứng khoán; ông Trịnh Văn Quyết đã chỉ đạo việcdùng các khoản được mở để mua bán mã chứng khoán khối lượng lớn, đặt lệnh mua, bán rồi lại hủy
để chi phối xu hướng thị trường, tạo ra cung - cầu giả để đẩy giá cổ phiếu lên cao
Như vậy, ông Trịnh Văn Quyết đã vi phạm nghiêm trọng về những hành vi bị cấm trong hoạtđộng chứng khoán và thị trường chứng khoán được quy định tại Khoản 3, Điều 12 Luật Chứng
khoán 2019: “Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo; giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác mua, bán để thao túng giá chứng khoán; kết hợp hoặc sử dụng các phương pháp giao dịch khác hoặc kết hợp tung tin đồn sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch ra công chúng để thao túng giá chứng khoán.”
Trang 17Thứ hai, nguyên tắc công bằng Nguyên tắc này quy định cụ thể tại Khoản 2, Điều 5 Luật
chứng khoán 2019: “2 Công bằng, công khai, minh bạch.” Và tại Khoản 6, Điều 40, Luật chứng khoán 2019: “6 Công bố thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác và minh bạch hoạt động của công ty; bảo đảm cổ đông được tiếp cận thông tin công bằng.”
Theo các tình tiết của vụ việc, khi thực hiện hành vi chi phối thị trường, tạo ra cung cầu giả đểđẩy giá cổ phiếu lên cao, ông Trịnh Văn Quyết đã chỉ để cho người thân và các cá nhân, tổ chứcđồng phạm trong vụ việc được tiếp cận đến các thông tin về chứng khoán Đây là sự vi phạm ảnhhưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhà đầu tư - quyền được tiếp cận thông tin chính xác, trung thực,đầy đủ, cân xứng và kịp thời, dù là nhà đầu tư nhỏ hay lớn, nhà đầu tư không chuyên nghiệp haychuyên nghiệp, thì tất cả đều công bằng và như nhau Do đó, hành vi không công bố thông thông tintrước khi giao dịch cũng như việc cho phép người thân, các cá nhân, tổ chức đồng phạm được biếttrước thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc công bằngtrong hoạt động kinh doanh chứng khoán
Thứ ba, nguyên tắc công khai, minh bạch Theo Khoản 5, Khoản 6, Điều 41, Luật chứng
khoán 2019, có quy định với tư cách là thành viên hội đồng quản trị, “có trách nhiệm công khai các lợi ích liên quan, không được sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ của mình để tư lợi cá nhân hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác” và phải “báo cáo, công bố thông tin khi thực hiện giao dịch cổ phiếu của công ty theo quy định của pháp luật.”
Vì vậy, hành vi bán 74,8 triệu cổ phiếu FLC mà không báo cáo, không công bố thông tin khithực hiện giao dịch cổ phiếu công ty của ông Trịnh Văn Quyết chính là hành vi vi phạm nghiêmtrọng pháp luật chứng khoán và nguyên tắc hoạt động kinh doanh cơ bản, gây thiệt hại lớn cho cácnhà đầu tư và tạo nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến xu hướng thị trường chứng khoán Đây còn là hành
vi bị nghiêm cấm trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán được quy định tại
Khoản 1, Điều 12, Luật chứng khoán 2019: “1 Trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện hành vi gian lận, lừa đảo, làm giả tài liệu, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ về chứng khoán” - hành vi che giấu thông tin cần thiết tạo nên xu hướng cung - cầu ảo trên thị trường làm
ảnh hưởng đến các hoạt động về chứng khoán
Thứ tư, nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Hậu quả từ các chiêu trò
làm giá thao túng thị trường chứng khoán của những cá nhân trong vụ việc FLC khiến nhà đầu tưthua lỗ nặng nề, gây thiệt hại nghiệm trọng cho các nhà đầu tư trên thị trường Chẳng hạn, từ ngày1.12.2021 - 10.1.2022, nhóm ông Trịnh Văn Quyết đã sử dụng nhiều tài khoản để mua bán cổphiếu, đẩy giá cổ phiếu FLC từ 15.500 đồng lên 24.050 đồng/cổ phiếu ngày 10.1, trung bình 22.586
17