MỞ ĐẦUĐổi mới nhận thức và xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam là một yêucầu bức thiết của thời đại, của công cuộc đổi mới.. Thực tiễn 35 năm 1986-2021 đổi mới nhận thức của Đảng về c
Trang 1MỞ ĐẦU
Đổi mới nhận thức và xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam là một yêucầu bức thiết của thời đại, của công cuộc đổi mới Thực tiễn 35 năm (1986-2021) đổi mới nhận thức của Đảng về chính trị và xây dựng hệ thống chính trị ởViệt Nam cho thấy đây là một quá trình gian nan, đầy thử thách, là cuộc đấutranh giữa cái cũ - cái mới và cần sự vào cuộc của các cấp chính quyền, từ trungương đến địa phương Để đưa đất nước vượt qua thời kỳ khủng hoảng và ngàymột phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì, từng bước đổi mới trongnhận thức, trong xây dựng hệ thống chính trị nhằm giữ vững nguyên tắc, giữvững quyền lãnh đạo của Đảng, duy trì sự ổn định của đất nước
Sau 35 năm đổi mới, hệ thống chính trị ở nước ta đã có những thay đổitích cực, ngày càng phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, với nhiệm vụ xây dựng
và phát triển đất nước định hướng xã hội chủ nghĩa Những chuyển biến ấy đượcthể hiện trong một vài mặt sau: tổ chức bộ máy theo hướng ngày càng tinh gọn;chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trịđược điều chỉnh hợp lý, khoa học,… Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình xây dựng
hệ thống chính trị ở nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế Đó là: đổi mới hệ thốngchính trị còn lúng túng, chậm chạp; một số vấn đề về chức năng, nhiệm vụ củacác tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị còn chống chéo, bất hợp lý; tìnhtrạng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” của cán bộ, Đảng viên làm giảm sút niềm tincủa nhân dân
Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về quá trình đổi mới, xâydựng hệ thống chính trị ở Việt Nam là cần thiết, có giá trị lý luận và thực tiễncao, góp phần cung cấp thêm một góc nhìn chân thực về công cuộc đổi mới,đánh giá khách quan, tổng kết ưu – nhược điểm, từ đó rút ra những bài học kinhnghiệm và định hướng giải pháp đẩy mạnh quá trình đổi mới trong thời gian tới
Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về chính trị và xây dựng hệ thống chính trị của Việt Nam thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến 2021” làm đề tài tiểu luận.
Trang 2CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG QUÁ TRÌNH THAY ĐỔI NHẬN
THỨC CỦA ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ 1.1 Hoàn cảnh lịch sử
1.1.1 Tình hình kinh tế - chính trị trên thế giới
Sau Thế Chiến thứ II, tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp,những sự thay đổi to lớn Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tác độngmạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống Sự lớn mạnh của cuộc cách mạng này đãtạo cơ hội cho các nước rút ngắn quá trình phát triển và cũng tạo ra nhữngkhoảng cách giàu - nghèo Trong khi các nước tư bản chủ nghĩa phương Tâyphát triển nhờ sử dụng tốt các nguồn lực trong và ngoài nước, áp dụng hợp lýnhững thành tựu khoa học công nghệ để tạo ra bước phát triển trong sản xuất.Thì vào thời điểm đó, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa vẫn theo mô hìnhcông nghiệp hóa cổ điển, thiên về khai thác tài nguyên thiên nhiên thay vì chútrọng, đầu tư vào khoa học – công nghệ Hậu quả là các nước này rơi vào tìnhtrạng lạc hậu, bị bỏ xa so với sự phát triển mạnh mẽ của phương Tây, và phảitrả giá bởi sự trì trệ, suy thoái, khủng hoảng Do đó, để thoát khỏi tình trạngkhủng hoảng, cải tổ, cải cách và đổi mới đã trở thành xu thế khách quan ởnhiều nước xã hội chủ nghĩa
Từ cuối những năm 80 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, cục diệnthế giới có những sự thay đổi to lớn; chiến tranh lạnh kết thúc; Mỹ trở thànhsiêu cường và nuôi tham vọng về một trật tự thế giới mới – thế giới đơn cực.Các nước lớn một mặt hợp tác, thỏa hiệp, một mặt cạnh tranh gay gắt làmphức tạp hơn tình hình quan hệ quốc tế Khu vực châu Á – Thái Bình Dương
và Đông Nam Á phát triển năng động nhưng còn tiềm ẩn nhiều bất ổn, tranhchấp lãnh thổ, biển, đảo ngày càng gay gắt… Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên
Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội và phong trào công nhân quốc tế đi
Trang 3đến giai đoạn thoái trào Nguyên nhân là vì lãnh đạo các nước xã hội chủnghĩa này đã không sớm nhận thức được những bất cập đang tồn tại tronglòng xã hội, đến khi phát hiện, thay vì thực hiện cải cách, đổi mới, họ lại chọncon đường rời bỏ, đảo chính phản cách mạng, truất quyền lãnh đạo của ĐảngCộng sản, phá vỡ hoàn toàn thể chế chính trị đã được xây dựng trong nhiềuthập kỷ.
Trước những biến động phức tạp như vậy, hàng loạt các câu hỏi đượcđặt ra giữa các nước xã hội chủ nghĩa: kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường cóđối lập với chủ nghĩa xã hội hay không? Chủ nghĩa tư bản sẽ ra sao? Mô hìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu
có còn đúng với tất cả các nước? Tất cả những vấn đề đó đã tác động đến tưduy chính trị của các Đảng Cộng sản đang nắm quyền, trong đó có ĐảngCộng sản Việt Nam
1.1.2 Tình hình kinh tế - chính trị trong nước
Trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1996), mặc dù bị Mỹ áp dụng lệnhbao vây, cấm vận, nước ta vẫn cơ bản hoàn thành những nhiệm vụ của chặngđầu thời kỳ quá độ, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đạihóa Đầu năm 1988 nhiều vùng xuất hiện nạn đói và lạm phát còn ở mức393,8%, nhưng từ năm 1989 trở đi nước ta đã bắt đấu xuất khẩu được mỗinăm 1-1,5triệu tấn gạo; lạm phát giảm dần, đến năm 1990 còn 67,4% Việcthực hiện 3 chương trình kinh tế lớn đạt những tiến bộ rõ rệt Nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lýcủa Nhà nước bước đầu hình thành Đời sống của nhân dân được cải thiện,dân chủ trong xã hội được phát huy Quốc phòng, an ninh được giữ vững;hoạt động đối ngoại được mở rộng, đẩy lùi tình trạng vị bao vây, cô lập
Trong 10 năm tiếp theo (1996 – 2006), đây là giai đoạn đánh dấu bướcphát triển quan trọng của kinh tế thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Về cơ bản, tình hình đất nước ổn định; các khó khăn,
Trang 4thách thức dần được khắc phục; sản xuất phát triển, tốc độ tăng trưởng nhanh,đời sống nhân dân được cải thiện; chính trị - xã hội ổn định; vai trò, vị thế củađất nước được nâng lên.
Trong 15 năm trở lại đây (2006 – 2020), nước ta bước ra khỏi tìnhtrạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đạt tốc độ
tăng trưởng khá, đảm bảo an sinh xã hội Theo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, tốc độ tăng
tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 2016 - 2019 đạt khá cao, ở mứcbình quân 6,8%/năm Mặc dù năm 2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề củađại dịch Covid-19, thiên tai, bão lụt nghiêm trọng ở miền Trung nhưng tốc độtăng trưởng bình quân 5 năm 2016 - 2020 đạt khoảng 6%/năm và thuộc nhómcác nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới [1] Tuy nhiên, nền kinh tếvẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém và khó khăn, thách thức Kết quả phát triểnkinh tế - xã hội trên nhiều mặt vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế vàthiếu tính bền vững Tăng trưởng kinh tế thấp hơn mục tiêu kế hoạch đề ra,chưa thu hẹp được khoảng cách và bắt kịp các nước trong khu vực Sự gắn kếtgiữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh chưa thực sựchặt chẽ, hiệu quả Bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiềukhó khăn, thách thức; tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên một số địabàn còn diễn biến phức tạp Chưa tận dụng, khai thác tốt những cơ hội và điềukiện thuận lợi trong hội nhập quốc tế
Tình hình trong nước nêu trên tạo ra cả thuận lợi và thách thức, đặt ranhiều vấn đề mới, yêu cầu mới phức tạp hơn đối với sự nghiệp đổi mới, pháttriển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.2 Tư duy lý luận của Đảng về chính trị thời kỳ trước đổi mới và
từ năm 1986 đến nay
1.2.1 Tư duy lý luận của Đảng về chính trị thời kỳ trước đổi mới
Trang 5Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Báo cáo chính trịcủa Ban Chấp hành TW đã nêu rõ những hạn chế trong lĩnh vực tư tưởngtrong nhiệm kỳ Đại hội V.
“Trong lĩnh vực tư tưởng, đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận vàvận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh duy
ý chí, giản đơn hoá, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của chủnghĩa xã hội trong điều kiện nước ta mới ở chặng đường đầu tiên Chúng ta đã
có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thật sự thừa nhận nhữngquy luật của sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan; do đó, không chú ývận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương, chính sách kinh tế Chưachú ý đầy đủ việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của mình và nghiên cứukinh nghiệm của các nước anh em
Trong công tác tổ chức, khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm đổimới công tác cán bộ Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo vàquản lý các cấp còn theo một số quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúngđắn, mang nặng tính hình thức, không xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụchính trị và yêu cầu của công việc; cách làm lại thiếu quy hoạch, chưa chú ýlắng nghe ý kiến của quần chúng Công tác giáo dục và quản lý cán bộ, đảngviên thiếu chặt chẽ
Phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc mang nặng chủ nghĩa quan liêu,lời nói không đi đôi với việc làm, không tuân thủ quy trình làm việc và raquyết định Việc chỉ đạo, điều hành thường không tập trung, thiếu kiên quyết
và nhất quán Trong các đảng bộ và các cấp uỷ có sự vi phạm nguyên tắcLêninnít trong sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, tậpthể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùngcấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương
Về mặt tổ chức, đã để cho bộ máy nhà nước, bộ máy của Đảng và các đoàn thể phình ra quá lớn, chồng chéo và phân tán.” [2]
Trang 6Như vậy, trước thời kỳ đối mới, nước ta đã có những sai lầm về chínhsách kinh tế, chưa thấy hết sự cần thiết duy trì nền kinh tế nhiều thành phần;
là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vộichạy theo nguyện vọng chủ quan; hoạt động tư tưởng và tổ chức của Đảng đãkhông theo kịp yêu cầu của cách mạng
1.2.2 Tư duy lý luận của Đảng về chính trị thời kỳ đổi mới, từ năm
1986 đến nay
Đại hội VI đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, từ quan điểmcải tạo xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý kinh tế, công nghiệp hóa xã hội chủnghĩa, xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản, đổi mới chính sách xã hội…
Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sựthật”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm khắc kiểm điểm, phân tích nhữngsai lầm, khuyết điểm và đề ra đường lối đổi mới toàn diện, phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần, mở ra bước ngoặt mới trong công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ở Việt Nam
Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (3/1989)
đã chỉ rõ nguyên tắc của quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam là:
- Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa đã lựachọn mà thực hiện bằng hình thức mới, bước đi mới cho thích hợp hơn;
- Chủ nghĩa Mác – Lenin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hànhđộng của Đảng ta Bảo vệ trung thành, vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác –Lenin trong điều kiện mới;
- Đổi mới tổ chức, phương pháp và hoạt động của hệ thống chính trịnhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý củaNhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân làm tăng cường sức mạnh,hiệu lực của chuyên chính vô sản;
Trang 7- Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết đối với thắng lợi của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ củanhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nướcta;
- Kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vôsản [3, tr.12]
Như vậy, Đại hội VI là mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trongquá trình kế thừa và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổchức
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra vào tháng3/2021 vừa rồi, một lần nữa khẳng định nhiệm vụ: đẩy mạnh toàn diện, đồng
bộ công cuộc đổi mới là vô cùng cần thiết
Đại hội được tổ chức vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
ta thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu và nhiệm vụ được xác địnhtrong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; đất nước trải qua 35 năm tiến hành
công cuộc đổi mới, 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 Đại hội XIII có nhiệm vụ kiểm
điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII gắn với đánh giá tổng quát tiếntrình đổi mới; quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5, 10 năm tới vàtầm nhìn đến năm 2045; đánh giá việc thi hành Điều lệ Đảng khoá XII; kiểmđiểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII; bầu BanChấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.[4]
Đại hội XIII của Đảng có chủ đề “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp
Trang 8với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình,
ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Các thành tố trong chủ đề Đại hội XIII so
với Đại hội XII có một số điểm mới, bao gồm:
- Bổ sung xây dựng hệ thống chính trị vào nội dung xây dựng Đảngthành “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trongsạch, vững mạnh”
- Xác định rõ hơn “khát vọng phát triển đất nước” phồn vinh, hạnh phúc Đây thực sự là kỳ vọng của Nhân dân ta
- Xác định mục tiêu “đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước pháttriển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Trải qua 8 kỳ Đại hội, Đảng ta đã thể hiện tầm nhìn có tính nguyên tắc,sáng tạo trong giải quyết các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đồngthời khẳng định và kiên định chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh,phấn đấu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Những thành tựu và đường lốiđổi mới qua các kỳ đại hội đã trở thành bài học và kinh nghiệm quý báu gópphần vào kho tàng lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới
Trang 9CHƯƠNG 2:
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NHẬN THỨC CỦA
ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 2.1 Tổng quát kết quả đạt được sau 35 năm đổi mới
2.1.1 Thành tựu nổi bật trong đổi mới nhận thức lý luận
Qua 35 năm đổi mới, Đảng và nhân dân ta đã thu được nhiều kết quả vàthành tựu to lớn trên mọi mặt Thực tế đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạocủa đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo Thực tế đó cũngchứng tỏ sự trưởng thành về tư duy lý luận của Đảng ta, thể hiện tổng quát ởnhững thành tựu trong nhận thức lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong báo cáo tổng quan “Tổng kết quá trình đổi mới tư duy lý luậncủa Đảng từ 1986 đến nay” (2005), đồng chí Tô Huy Rứa đã chỉ ra những kếtquả tích cực sau hai thập niên đổi mới, như sau:
Thứ nhất, Đảng ta đã có được những nhận thức mới về chủ nghĩa Lenin; khảng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh; làm rõ về thời đạingày nay, về cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực và những saulầm của cải tổ dẫn tới sự đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và ĐôngÂu; nhận thức đúng về vai trò của lý luận đối với hoạt động lãnh đạo và nănglực cầm quyền của Đảng
Mác-Thứ hai, nhận thức về mô hình mục tiêu, bản chất và động lực của chủnghĩa xã hội “Đảng ta đã nêu rõ câu trả lời cho những câu hỏi tổng quát:CNXH là gì, xã hội XHCN mà chúng ta xây dựng là một xã hội như thế nào,
đi lên CNXH theo những đường hướng nào…? Sáu đặc trưng của xã hội
XHCN Việt Nam mà nhân dân ta xây dựng nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vừa nói lên bản chất của CNXH,
vừa nói lên tính hướng đích của công cuộc xây dựng CNXH” [5, tr.478]
Trang 10Thứ ba, nhận thức về thời kỳ quá độ và những đặc điểm của con đườngquá độ bỏ qua chế độ TBCN tiến lên CNXH của Việt Nam “Trên một mức
độ nào đó, đổi mới đã hình thành quan niệm lý luận về định hướng XHCN.Khái niệm này không chỉ biểu đạt quan điểm, nguyên tắc chính trị của đổimới với nỗ lực giữ vững định hướng XHCN, chủ động đề phòng nguy cơchệch hướng, không xa rời mục tiêu, lý tưởng và con đường XHCN mà chúng
ta kiên trì theo đuổi, mà còn chỉ ra những nhân tố đảm bảo giữ vững địnhhướng XHCN” [5, tr.484]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XIII của Đảng, Báo cáo chính trịcủa Ban Chấp hành Trung ương khóa XII cũng đã ghi nhận những kết quả nổibật sau 35 năm đổi mới nhận thức lý luận như sau:
Một là, dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy Chú trọngthực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai,minh bạch, trách nhiệm giải trình Người đứng đầu ở nhiều cấp uỷ đảng,chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyếtnhững bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến
bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực vàhiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp Bộ máy nhà nước bước đầu được sắp xếp lại theo hướng tinh gọngắn với tinh giản biên chế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
Ba là, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đượcđẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt Công tác xâydựng Đảng về tổ chức được thực hiện với quyết tâm chính trị cao, tập trungkiện toàn, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, có bướcchuyển biến thật sự Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới.Ban hành và thực hiện nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo củaĐảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng
Trang 11tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việc đổi mới phong cách, lề lốilàm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bướctiến bộ [4]
Sau 35 năm đổi mới, hệ thống chính trị của nền kinh tế kế hoạch hóa,tập trung, quan liêu, bao cấp đã từng bước chuyển dần sang hệ thống chính trịcủa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đổi mới và hội nhập quốc tế đã
và đang phát huy vai trò to lớn trong xây dựng và hoàn thiện nền dân chủXHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về dân
Nhiều vấn đề về lý luận về sở hữu; tính đa dạng và đan xen các hìnhthức sở hữu; hình thức sở hữu với các thành phần kinh tế; vai trò chủ đạo củakinh tế nhà nước; sở hữu tư nhân với sở hữu cá nhân; bóc lột và không bóclột; cạnh tranh và hợp tác; quản lý hành chính nhà nước với quản lý và quyền
tự do, tự chủ trong sản xuất kinh doanh theo pháp luật của các doanh nghiệp
và doanh nhân…chưa có được sự lý giải thấu đáo Thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, bất cập Năng lực xâydựng thể chế còn hạn chế; chất lượng luật pháp và chính sách trên một số lĩnhvực còn thấp Môi trường đầu tư kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, minhbạch Chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quảcác nguồn lực phát triển Thể chế phát triển, điều phối kinh tế vùng chưa đượcquan tâm và chậm được cụ thể hoá bằng pháp luật nên liên kết vùng còn lỏnglẻo