Tính tất yếu của đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp côngnhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộcViệt Nam; đại biểu trung thành
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính tất yếu của đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp côngnhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộcViệt Nam; đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dânlao động và của cả dân tộc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 là sảnphẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân vàphong trào yêu nước Việt Nam; là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dântộc và đấu tranh giai cấp Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩđại của cách mạng Việt Nam; chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lốicứu nước ở Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới cho cách mạng Việt Nam
Từ khi ra đời, Đảng đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn và trựctiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi Thực tiễn khẳngđịnh sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọithắng lợi của cách mạng Việt Nam Tìm hiểu quá trình Đảng lãnh đạo phongtrào dân chủ (1936 - 1939) có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu,học tập Lịch sử Đảng, công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng của Đảng
Với ý nghĩa đó, tôi đã chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo phong trào dân chủ (1936 - 1939)” làm tiểu luận hết môn Lịch sử Đảng.
2 Những công trình nghiên cứu có liên quan
- TS Nguyễn Thị Hảo (2020), Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945), Nhà xuất bản Lý luận chính trị Cuốn sách gồm
4 chương trình bày Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất
và Đảng lãnh đạo cao trào cách mạng 1930 - 1931; Đảng lãnh đạo phục hồi
hệ thống tổ chức, quần chúng đấu tranh và Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ nhất của Đảng; Đảng lãnh đạo cuộc vận động dân chủ; Đảng lãnh đạocao trào cách mạng giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa Tháng Tám
Trang 2- Phạm Hồng Tung (2008), Lịch sử cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ ở Việt Nam (1936 - 1939), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Tác phẩm khảo cứu về tất cả các cuộc vận động vì quyền dân sinh, dân chủtrong thời kỳ 1936 - 1939 Qua đó nghiên cứu quá trình hình thành, nội dungchiến lược và sách lược của Đảng đối với cuộc vận động này
- Đại học Tổng hợp Hà Nội (1965), Lịch sử Việt Nam hiện đại Thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939, đã nghiên cứu cụ thể về tình hình kinh tế, văn
hóa, đời sống, xã hội của Việt Nam những năm 1936 - 1939 Những chuyểnbiến chính trị quốc tế ảnh hưởng đến Việt Nam Các phong trào đấu tranh vàvận động dân chủ của giai cấp công nhân và liên minh công nông trong giaiđoạn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của đề tài
Đề tài làm rõ những vấn đề cơ bản về hoàn cảnh lịch sử, chủ trươngcủa Đảng cũng như các phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ, ý nghĩa vàkinh nghiệm lịch sử của Đảng lãnh đạo phong trào dân chủ thời kỳ 1936-1939
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng ta giai đoạn 1936 - 1939
- Xác định và đánh giá các phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ giaiđoạn 1936 - 1939
- Xác định ý nghĩa và kinh nghiệm lịch sử của Đảng thông quagiai đoạn 1936 - 1939
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 34.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Đảng lãnh đạo phong trào dân chủ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đảng lãnh đạo phong trào dân chủ giai đoạn 1936 - 1939
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cở sở lý luận
Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm, nghị quyết của Đảng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài
sử dụng có chọn lọc phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành vàliên ngành; đặc biệt chú trọng các phương pháp phân tích - tổng hợp; lôgíc
- lịch sử, so sánh, thống kê, tổng kết thực tiễn, điều tra khảo sát
6 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm: phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận và danh mục tàiliệu tham khảo
Trang 4Chương 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN
1936 - 1939 1.1 Hoàn cảnh lịch sử
1.1.1 Tình hình thế giới
Mặc dù từ giữa những năm 30 của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảngkinh tế thế giới (1929 - 1933) đã kết thúc, nhưng hậu quả của nó vẫn còn tácđộng nặng nề đến nhiều nước tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn trong lòng mỗinước tư bản và mẫu thuẫn giữa các nước đế quốc ngày càng gay gắt
Vì thế, từ năm 1929 - 1933, ở 15 nước tư bản chủ nghĩa đã nổ ra 18000cuộc bãi công với sự tham gia của 8,5 triệu người [8, tr.100] Do những hậuquả nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế, giai cấp tư sản thống trị ở nhiềunước không thể duy trì nền thống trị của chúng bằng chế độ đại nghị và nềndân chủ tư sản như cũ Chúng chuyển sang nền chuyên chính phát xít -một nền chuyên chính độc tài, tàn bạo, hiếu chiến, dã man - nhằm xóa bỏ mọiquyền tự do, dân chủ dù là đơn sơ, thực hành khủng bố trắng đối với bất cứ
cá nhân nào, lực lượng nào chống lại nó, bóc lột thậm tệ giai cấp công nhân
và nhân dân lao động
Trong giới tư bản lúc này xuất hiện 2 xu hướng: Xu hướng 1 (Anh,Pháp, Mỹ) còn khá vững vàng nên họ sử dụng những biện pháp chủ nghĩađộc quyền tư bản nhà nước đẩy lùi khủng hoảng kinh tế, chấn động chính trị;
Xu hướng 2 (tiêu biểu là Đức, Nhật) lao vào con đường phát xít hóa bộ máynhà nước Chúng lập thành một chế độ khủng bố công khai, thủ tiêu cácquyền tự do, dân chủ; thiết lập một bộ máy độc tài
Chủ nghĩa phát xít xuất hiện và thắng thế ở một số nơi như: phátxít Hít-le ở Đức, Phrăngcô ở Tây Ban Nha, Mútxôlôni ở Ý và phái sỹ quantrẻ ở Nhật Bản Chế độ độc tài được thiết lập là một nền chuyên chính khủng
Trang 5bố công khai của những thế lực phản động nhất Chúng xóa bỏ mọi quyền tự
do dân chủ tư sản, đàn áp, tiêu diệt mọi lực lượng và tổ chức chính trị đối lập.Chúng thi hành chính sách xâm lược, bành trướng và nô dịch các nước khác
Trước họa phát xít và nguy cơ chiến tranh đe dọa, hủy diệt loài người,yêu cầu bức thiết của nhân loại là chống phát xít, chống chiến tranh, bảo
vệ hòa bình Đáp ứng yêu cầu đó, tháng 7/1935, Đại hội lần thứ VIIQuốc tế Cộng sản được triệu tập tại Matxcơva với 65 đoàn đại biểu thay mặtcác Đảng Cộng sản từ khắp nơi trên thế giới về dự họp Đoàn đại biểu ĐảngCộng sản Đông Dương dự Đại hội có đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn ThịMinh Khai, Hoàng Văn Nọn Tổng Bí thư Lê Hồng Phong được bầu làm
Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản
Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản giải quyết nhiều vấn đề quantrọng của phong trào cộng sản quốc tế, trong đó có các vấn đề thiết yếu sau:
- Xác định kẻ thù nguy hiểm, trước mắt của nhân dân thế giới lúc nàykhông phải là chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa đế quốc nói chung, mà là chủnghĩa phát xít
- Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thếgiới chưa phải là đấu tranh đánh đổ toàn bộ chủ nghĩa tư bản, thiết lập chuyênchính vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà là đấu tranh chống chủnghĩa phát xít, chống chiến tranh, giành dân chủ và bảo vệ hòa bình
- Về công tác tổ chức, thiết lập khối liên minh giữa giai cấp công nhân
và giai cấp nông dân thế giới, trên cơ sở đó thành lập Mặt trận nhân dân rộngrãi
- Đối với các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, xây dựng Mặt trận thốngnhất chống đế quốc, Mặt trận đó có tầm quan trọng đặc biệt trong công cuộcđấu tranh của mỗi nước ở thời điểm này
Trang 6Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, phongtrào đấu tranh chống phát xít của nhân dân thế giới dâng lên mạnh mẽ.
Tháng 1/1936, Mặt trận nhân dân chống phát xít ở Pháp được thànhlập; tháng 4/1936, Đảng Cộng sản Pháp giành thắng lợi lớn trong cuộc tổngtuyển cử; tháng 6/1936, chính phủ phái “tả” đã lên cầm quyền, thi hànhmột số chính sách tiến bộ, trong đó có những chính sách đối với ĐôngDương như thả chính trị phạm, thành lập Ủy ban điều tra tình hình thuộc địa
ở Bắc Phi và Đông Dương, thi hành một số cải cách xã hội cho người laođộng
1.1.2 Tình hình trong nước
Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 và cuộc khủng bốtrắng kéo dài sau Cao trào cách mạng 1930 - 1931 cùng với những thủđoạn vơ vét bóc lột nặng nề của đế quốc Pháp làm cho nhân dân lao độngnước ta phải chịu những tai họa trên tất cả các mặt của đời sống Các tầng lớpdân nghèo, tiểu thương, tiểu chủ, công chức nhỏ,… cũng rất lao đao khổ cực
Cả đến những nhà tư sản, địa chủ hạng nhỏ và vừa, do chính sách kinh doanhđộc quyền của tư bản Pháp và nạn cho vay nặng lãi của nhà băng ĐôngDương, nên buôn bán cũng bị thua lỗ, không trả nổi nợ cho nhà băng, bị tíchbiên tài sản Trong khi đó, bọn cầm quyền Đông Dương, tay chân của phát xít
ở Pháp, ra sức bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ, kéo dài chính sáchkhủng bố đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta
Tình hình trên đây làm cho nhân dân Việt Nam bao gồm nhiều giaicấp, tuy có quyền lợi khác nhau, càng thêm căm thù bè lũ thực dân, tư bảnđộc quyền Pháp và đều có nguyện vọng chung trước mắt về những quyền lợidân sinh dân chủ, trừ một nhúm tư sản mại bản và đại địa chủ cam tâm làmtôi tớ cho bọn cuớp nước Vì thế, yêu cầu cải cách và cải thiện đời sống nhândân là một đòi hỏi bức thiết đối với mọi giai cấp và tầng lớp xã hội, kể cả bộphận tầng lớp trên
Trang 7Lúc này cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng đã được khôi phục dựa trêntrận địa cách mạng cơ bản được tạo ra khá vững chắc trong thời kỳ 1932-1935 Đây là một yếu tố rất quan trọng, quyết định bước phát triển của cáchmạng thành một cao trào mới.
1.2 Chủ trương của Đảng
1.2.1 Chủ trương mới của Đảng
Ngày 26/7/1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị tạiThượng Hải, Trung Quốc do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì, có đồng chí
Hà Huy Tập, đồng chí Phùng Chí Kiên dự, nhằm “sửa chữa những sai lầm”trước đó và “định lại chính sách mới” dựa theo những nghị quyết của Đại hộiQuốc tế Cộng sản lần thứ VII [1, tr.37] Đồng chí Hà Huy Tập là Tổng Bí thưcủa Đảng từ tháng 8/1936 - 3/1938
Trước những chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt
là chủ trương chuyển hướng chiến lược của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộngsản, Hội nghị đề ra những chủ trương mới, đó là:
- Tính chất và xu hướng phát triển của cách mạng ở Đông Dươngvẫn là “Cách mạng tư sản dân quyền phản đế và điền địa - lập chính quyềncủa công nông bằng hình thức Xô Viết, để dự bị điều kiện đi tới cách mạng
xã hội chủ nghĩa” [5, tr.139] Yêu cầu cấp thiết trước mắt của nhân dân ta lúcnày là tự do, dân chủ, cải thiện đời sống
- Xác định kẻ thù trước mắt nguy hại nhất của nhân dân Đông Dươngcần tập trung đánh đổ trong lúc này là bọn phản động thuộc địa và tay sai củachúng
- Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Đông Dương là chống phát xít,chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự
do, dân chủ, cơm áo và hòa bình Kẻ thù chủ yếu trước mắt của nhândân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng
Trang 8- Về khẩu hiệu đấu tranh, tạm thời chưa nêu “Đánh đổ đế quốcPháp” và “Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày”, mà nêu “Tự
do, dân chủ, cơm áo và hòa bình”
- Về đoàn kết quốc tế: Phải đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân vàĐảng Cộng sản Pháp “ủng hộ Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp” để cùngnhau chống bọn phát xít ở Pháp và bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương
- Về hình thức tổ chức và biện pháp đấu tranh: Tổ chức, đấu tranh côngkhai và nửa công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp, nhằm làm cho Đảng mởrộng sự quan hệ với quần chúng, giáo dục, tổ chức và lãnh đạo quầnchúng đấu tranh
1.2.2 Nhận thức mới của Đảng
Cùng với việc đề ra chủ trương cụ thể, trước mắt để lãnh đạophong trào dân chủ 1936-1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt vấn đềnhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế và điền địa Chỉ thị của
Ban Trung ương Gửi các tổ chức của Đảng (26/7/1936) chỉ rõ: “Ở một xứ
thuộc địa như Đông Dương, trong hoàn cảnh hiện tại, nếu chỉ quan tâm đến
sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp, có thể nảy sinh những khó khăn để
mở rộng phong trào dân tộc” [5, tr.74]
Đảng cũng thể hiện một số nhận thức mới về xử lý mối quan hệgiữa hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền Trong văn
kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới (10/1936), Đảng nêu quan điểm:
“Cuộc dân tộc giải phóng không nhất thiết phải kết chặt với cuộc cách mạngđiền địa Nghĩa là không thể nói rằng: muốn đánh đổ đế quốc cần phải pháttriển cách mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đề điền địa thì cần phải đánh
đổ đế quốc Lý thuyết ấy có chỗ không xác đáng” “Nói tóm lại, nếu pháttriển cuộc tranh đấu chia đất mà ngăn trở cuộc đấu tranh phản đế thì phải lựachọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng của một dântộc mà đánh cho được toàn thắng” [5, tr.152] Với văn kiện này, Trung ương
Trang 9Đảng đã nêu cao tinh thần đấu tranh, thẳng thắn phê phắn quan điểm chưa
đúng và bước đầu khắc phục hạn chế trong Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10/1930 Đó cũng là nhận thức mới, phù hợp
với tinh thần trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tại Hội nghịthành lập Đảng (2/1930) và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc củaNguyễn Ái Quốc
Trang 10Chương 2 PHONG TRÀO ĐẤU TRANH ĐÒI TỰ DO, DÂN CHỦ GIAI ĐOẠN
1936 - 1939
2.1 Phong trào Đông Dương đại hội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào vận động dân chủ diễn ra trênquy mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia với nhữnghình thức đấu tranh phong phú Phong trào đấu tranh công khai, rộng lớn đầutiên trong năm 1936 là phong trào Đông Dương đại hội
Sau khi được thành lập, chính phủ Mặt trận nhân dân tiến bộPháp quyết định sẽ thả chính trị phạm, thi hành một số cải cách xã hội cho laođộng và thành lập một Ủy ban điều tra tình hình Đông Dương
Nhân việc Quốc hội Pháp cử phái đoàn sang điều tra tình hình ĐôngDương, Đảng chủ trương phát động một phong trào đấu tranh công khai, mởđầu bằng hình thức vận động “Ủy ban trù bị Đông Dương đại hội” nhằm thuthập nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, tiến tới triệu tập Đại hội ĐôngDương Một mặt, Đảng kêu gọi các đảng phái và tổ chức chính trị - xã hộithống nhất hành động, từng bước hình thành mặt trận; mặt khác, Đảng cùngcác tổ chức đó động viên các tầng lớp nhân dân nêu nguyện vọng, lập thànhbản dân nguyện gửi tới phái đoàn điều tra, đòi nhà cầm quyền phải mở rộngquyền tự do dân chủ và thực hiện những biện pháp thiết thực để cải thiện đờisống nhân dân
Tháng 8/1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản ĐôngDương gửi bức thư ngỏ cho Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng Lập hiến, cácđảng cách mạng, các nhóm cải lương dân chủ, các hội ái hữu, các tổchức công - nông - binh, phụ nữ, sinh viên, người buôn bán, các báo chí,các tổ chức quần chúng và toàn thể nhân dân Đông Dương Đây là văn bản
Trang 11tuyên bố công khai đầu tiên quan điểm và thái độ của Đảng Cộng sản ĐôngDương đối với Đông Dương Đại hội Bức thư nêu 12 yêu cầu được coi
là nội dung chương trình hành động của Mặt trận nhân dân phản đế: (1) Đại
xá tất cả tù chính trị… các nhà cách mạng bị kết án được tự do (2) Tự dongôn luận, tự do hội họp, đi lại, tự do tín ngưỡng, khai hóa (3) Bỏ chế độphân biệt người bản xứ và các luật lệ tàn bạo (4) Cải tổ hội đồng kinh tế lýtài Đông Dương, cải tổ các viện dân biểu (5) Luật lao động, ngày làm 8 giờ,tuần lễ làm 40 giờ… (6) Định lương tối thiểu cho mỗi hạng lao động vàcứu tế cho người thất nghiệp (7) Bình đẳng giữa người Pháp và người bản
xứ trong công việc và hưởng thụ (8) Bỏ thuế dân và các thứ thuế khác Bỏchế độ làm công ích (9) Bãi bỏ các thứ độc quyền rượu, muối… cấm bánthuốc phiện (10) Trục hồi các công chức Pháp và bản xứ tham nhũng, hối
lộ (11) Truyền bá giáo dục, cưỡng bức học tiếng mẹ đẻ trong các lớp dự bị.(12) Giải phóng phụ nữ Nam nữ bình quyền [6, tr.82]
Tháng 1/1937, Chính phủ Pháp cử Giuytxtanh Gôđa làm phái viên điềutra sang Đông Dương Tiếp đó toàn quyền mới là Brêviê đến Đông Dươngnhậm chức, nhân cơ hội đó Đảng phát động quần chúng đấu tranh, đưa nhữngyêu sách đòi quyền dân sinh, dân chủ Đây là dịp để tập hợp, biểu dương lựclượng , đưa quần chúng lên mặt trận đấu tranh
Dưới sự hướng dẫn của Đảng, chỉ trong một thời gian ngắn, phong tràonhân dân hưởng ứng Đại hội Đông Dương lan nhanh từ Nam ra Bắc.Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào quần chúng, giới cầm quyềnPháp buộc phải nhượng bộ Nhượng bộ lớn của Chính phủ Pháp là ra sắclệnh ân xá chính trị phạm ở Đông Dương Ngay cuối năm 1936, hàng nghìnchính trị phạm được ra khỏi nhà tù
2.2 Sử dụng báo chí công khai