1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TL đặc điểm làng người việt truyền thống và những biến đổi văn hóa làng trong giai đoạn hiện nay

20 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề TL đặc điểm làng người việt truyền thống và những biến đổi văn hóa làng trong giai đoạn hiện nay
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại Báo cáo đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 36,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Đất nước ta đang trên đà phát triển ngày một giàu và đẹp hơn. Các giá trị truyền thống và văn hóa truyền thống vẫn luôn được lưu giữ và được phát triển. Làng truyền thống Việt Nam vẫn giữ được những nét riêng trước kia của mình. Từ quan hệ láng giềng, người Việt có truyền thống đoàn kết, gắn bó yêu thương. Tình yêu xóm làng, quê hương được đẩy lên cao là tình yêu quốc gia, đất nước. Từ văn hóa truyền thống Việt Nam, sự đoàn kết đã vượt ra khỏi phạm vi của làng xã chạm đến phạm vi đất nước, dân tộc. Điều đó đã tạo nên những truyền thống làng người Việt tốt đẹp, mang những giá trị nhân văn được phát triển đến tận ngày nay. Không nằm ngoài sự phát triển của đất nước mà ở các làng người việt truyền thống, các làng quê cũng có nhiều sự thay đổi để bắt kịp sự phát triển của đất nước. Nhiều làng nghề truyền thống vẫn giữ được thương hiệu sản phẩm nổi tiếng như: dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, gốm Bầu Trúc, gốm Bình Dương; Chằm nón lá An Hiệp… Trong những năm gần đây, một số làng nghề truyền thống đã cải tiến kỹ thuật, công nghệ, đầu tư cơ sở vật chất, nguồn nhân lực nên sản phẩm ngày càng được thị trường, người tiêu dùng trong nước và nước ngoài ưa thích, tiêu thụ với số lượng lớn. Trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, việc phát huy những giá trị của làng truyền thống là quy luật vận động tất yếu của văn hóa đương đại trong việc kế thừa và phát triển văn hóa dân tộc. Văn hóa của làng Việt truyền thống đang bị xâm hại bởi các chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng… làm nảy sinh các vấn đề về ý thức cộng đồng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Vậy nên, đề tài “Đặc điểm làng người Việt truyền thống và những biến đổi văn hóa làng trong giai đoạn hiện nay” sẽ thể hiện rõ được những nét độc đáo của làng người Việt truyền thống, tầm quan trọng và tính bức thiết trong những biến đổi văn hóa làng ở giai đoạn hiện nay.  

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta đang trên đà phát triển ngày một giàu và đẹp hơn Các giá trị truyền thống và văn hóa truyền thống vẫn luôn được lưu giữ và được phát triển Làng truyền thống Việt Nam vẫn giữ được những nét riêng trước kia của mình

Từ quan hệ láng giềng, người Việt có truyền thống đoàn kết, gắn bó yêu thương Tình yêu xóm làng, quê hương được đẩy lên cao là tình yêu quốc gia, đất nước Từ văn hóa truyền thống Việt Nam, sự đoàn kết đã vượt ra khỏi phạm vi của làng xã chạm đến phạm vi đất nước, dân tộc Điều đó đã tạo nên những truyền thống làng người Việt tốt đẹp, mang những giá trị nhân văn được phát triển đến tận ngày nay

Không nằm ngoài sự phát triển của đất nước mà ở các làng người việt truyền thống, các làng quê cũng có nhiều sự thay đổi để bắt kịp sự phát triển của đất nước Nhiều làng nghề truyền thống vẫn giữ được thương hiệu sản phẩm nổi tiếng như: dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, gốm Bầu Trúc, gốm Bình Dương; Chằm nón lá An Hiệp… Trong những năm gần đây, một số làng nghề truyền thống đã cải tiến kỹ thuật, công nghệ, đầu tư cơ sở vật chất, nguồn nhân lực nên sản phẩm ngày càng được thị trường, người tiêu dùng trong nước và nước ngoài ưa thích, tiêu thụ với số lượng lớn

Trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, việc phát huy những giá trị của làng truyền thống là quy luật vận động tất yếu của văn hóa đương đại trong việc kế thừa và phát triển văn hóa dân tộc Văn hóa của làng Việt truyền thống đang bị xâm hại bởi các chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng… làm nảy sinh các vấn đề về ý thức cộng đồng, an ninh chính trị và trật

tự an toàn xã hội

Vậy nên, đề tài “Đặc điểm làng người Việt truyền thống và những biến đổi văn hóa làng trong giai đoạn hiện nay” sẽ thể hiện rõ được những

Trang 2

nét độc đáo của làng người Việt truyền thống, tầm quan trọng và tính bức thiết trong những biến đổi văn hóa làng ở giai đoạn hiện nay

Trang 3

CHƯƠNG I: VĂN HÓA LÀNG NGƯỜI VIỆT TRUYỀN THỐNG

1.Văn hóa làng xã Việt Nam là gì ?

Văn hóa làng xã là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một cộng đồng người dân sống trong một không gian địa lý làng xã xác định, ổn định, làm nên một xã hội chứa đựng cả văn học, nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin

Văn hóa làng xã mang bản sắc của một lối sống cộng đồng, là nơi mà quyền lợi của người này được gắn bó với quyền lợi của người khác và với quyền lợi của cộng đồng Văn hóa làng xã được thể hiện ở các sản phẩm văn hóa làng dưới dạng thiết chế là đình, chùa, đền, miếu, bến nước, và ở dưới dạng thể chế như các phong tục, tập quán, lối sống, các lễ Tết và lễ hội, nghệ thuật dân gian và các trò chơi…

2.Đặc trưng của văn hóa làng xã Việt Nam

Hai đặc trưng cơ bản bao trùm xuyên suốt của văn hóa làng xã truyền thống Việt Nam chính là: tính cộng đồng và tính tự trị Tính cộng đồng và tính tự trị trong làng xã Việt Nam là hai đặc trưng gốc rễ, chúng chính là nguồn gốc sản sinh ra hàng loạt những ưu điểm và nhược điểm trong tính cách của người Việt Nam

2.1 Tính cộng đồng

Tính cộng đồng là 1 trong những bản tính nguyên thủy của con người Con người từ thời "ăn lông ở lỗ" đã sống thành 1 cộng đồng, tập thể từ đó tạo

đk thuận lợi cho việc truyền đạt các kĩ năng sinh tồn, kích thích cho quá trình tiến hóa

Trang 4

Tính cộng đồng chú trọng nhấn mạnh vào sự đồng nhất: cùng họ là đồng tộc , cùng tuổi là đồng niên , cùng nghề là đồng nghiệp , cùng làng là đồng hương…

Do đồng nhất (giống nhau- “cùng hội cùng thuyền”, “cùng cảnh ngộ”) cho nên người Việt Nam luôn sẵn sàng đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, coi mọi người trong cộng đồng như anh chị em trong nhà: “tay đứt ruột xót”,

“chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách”… Do đồng nhất (giống nhau) cho nên người Việt Nam luôn có tính tập thể rất cao, gắn bó với tập thể, hòa đồng vào cuộc sống chung của tập thể Sự đồng nhất (giống nhau) cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ -bình đẳng bộc lộ trong nguyên tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp, theo giáp

Mặt khác, lại cũng chính do đồng nhất (giống nhau) mà ở người Việt Nam, ý thức về con người cá nhân bị thủ tiêu: Người Việt rất ít xưng tôi, mà luôn hòa tan vào các mối quan hệ xã hội: với người này xưng em , với người kia là cháu , với người khác nữa là anh/chị… ; thậm chí thích dùng đại từ ngôi thứ nhất số nhiều ta (ta với mình) Cách giải quyết xung đột theo lối hòa cả làng là hết sức phổ biến Điều này khác hẳn với truyền thống văn hóa phương Tây, nơi con người được rèn luyện ý thức về cá nhân từ khi còn nhỏ, đến tuổi thành niên, con người đã hoàn toàn sống tách biệt khỏi gia đình; chính vì vậy

mà khi về già người phương Tây thường cô đơn, còn cụ già Việt Nam thì sum vầy trong tình cảm của đàn con cháu

Sự đồng nhất (giống nhau) còn dẫn đến chỗ người Việt Nam hay có thói dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể: Nước trôi thì bèo trôi, Nước nổi thì thuyền nổi Tệ hại hơn nữa là tình trạng Cha chung không ai khóc, Lắm sãi không ai đóng cửa chùa… Cùng với thói dựa dẫm, ỷ lại là tư tưởng Cầu an (an phận thủ thường) và cả nể, làm gì cũng sợ rút dây động rừng nên có việc gì thường chủ trương đóng cửa bảo nhau…

Trang 5

Một nhược điểm trầm trọng thứ ba là thói cào bằng, đố kị, không muốn cho ai hơn mình (để cho tất cả đều đồng nhất, giống nhau!): Xấu đều hơn tốt lỏi; Khôn độc không bằng ngốc đàn; Chết một đống còn hơn sống một người… Để cho tất cả đều “như nhau”, một thời, đã có không ít những cơ quan, xí nghiệp điềm nhiên treo cao khẩu hiệu: Tất cả dàn hàng ngang cùng tiến!

Những thói xấu có nguồn gốc từ tính cộng đồng này khiến cho ở Việt Nam, khái niệm “giá trị” trở nên hết sức tương đối (nó khẳng định đặc điểm tính chủ quan của lối tư duy nông nghiệp): Cái tốt, nhưng là tốt riêng rẽ thì trở thành xấu (khôn độc không bằng ngốc đàn); ngược lại, cái xấu, nhưng là xấu tập thể thì trở nên bình thường

2.2 Tính tự trị

Tính tự trị là một đặc điểm lớn của làng xã Việt Nam truyền thống, đó

là “tự điều chỉnh-tự điều khiển của làng xã trong quá trình vận động của kinh

tế xã hội Tự điều chỉnh, tự điều khiển là ít chịu sự can thiệp trực tiếp của các cấp chính quyền bên trên, là sự vận hành đa tuyến của xã hội dân sự”

Thực ra hiện nay ở Việt Nam không có xã hội tự trị, 1 xã hội đòi hỏi trình độ dân trí tương đối cao của người dân Ở Việt Nam đã từng có mô hình

xã hội tự trị, đó là làng Hiện nay vẫn còn nhiều làng nhưng mô hình căn bản thì ko còn giống như thời kỳ phong kiến Thời đó, dân làng hình thành trong tâm tưởng sự tôn kính đối với những giá trị thuộc về cộng đồng, sự tôn kính

đó lớn hơn sự sợ hãi đối với phép tắc, luật lệ Vì vậy mà có câu “phép vua thua lệ làng”

Tính tự trị chú trọng nhấn mạnh vào sự khác biệt khởi đầu là sự khác biệt của cộng đồng (làng, họ) này so với cộng đồng (làng, họ) khác Sự khác biệt – cơ sở của tính tự trị- tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi làng, mỗi tập thể hoạt động độc lập với tập thể khác, phải tự lo liệu lấy mọi việc Vì

Trang 6

phải tự lo liệu, nên con người Việt Nam có truyền thống cần cù, có tính chịu thương chịu khó đầu tắt mặt tối, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời Nó cũng tạo nên nếp sống tự cấp tự túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình; mỗi nhà có vườn rau, chuồng gà, ao cá tự đảm bảo nhu cầu về ăn, có bụi tre, rặng xoan, gốc mít tự đảm bảo nhu cầu về ở

Mặt khác, cũng chính do sự nhấn mạnh vào sự khác biệt – cở sở của tính tự trị - mà người Việt Nam có thói xấu là óc tư hữu, ích kỉ: bè ai người ấy chống; Ruộng ai người ấy đắp bờ; Ai có thân người ấy lo, ai có bò người ấy giữ; Thân trâu trâu lo, thân bò bò liệu… Óc tư hữu ích kỉ này sinh ra từ tính tự trị của làng xã Việt và đã luôn bị chính người Việt phê phán: Của mình thì giữ

bo bo, của người thì để cho bò nó ăn; Của người bồ tát, của mình buộc lạt…

Thói xấu thứ hai có nguồn gốc từ tính tự trị là óc bè phái, địa phương cục bộ: Làng nào biết làng ấy, chỉ lo vun vén cho địa phương mình: trống làng nào làng ấy đánh; thánh làng nào làng ấy thờ; trâu ta ăn cỏ đồng ta; Ta về

ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn…

Một biểu hiện thứ ba của tính khác biệt - cơ sở của tính tự trị là óc gia trưởng, tôn ti: Tính tôn ti, sản phẩm của nguyên tắc tổ chức nông theo huyết thống, tự thân nó không phải là xấu, nhưng khi nó gắn liền với óc gia trưởng, tạo nên tâm lí quyền huynh thế phụ, áp đặt ý muốn của mình cho người khác trong quan hệ xã hội, tạo nên tư tưởng thứ bậc vô lí Sống lâu lên lão làng; Áo mặc không qua khỏi đầu, thì nó trở thành một lực cản đáng sợ cho sự phát triển xã hội, nhất là khi mà thói gia đình chủ nghĩa, một nhược điểm sinh đôi cùng óc gia trưởng, vẫn đang là một căn bệnh lan tràn trong xã hội

Đặc điểm môi trường sống quy định đặc tính tư duy Cả hai quy định tính cách của dân tộc Lối tư duy tổng hợp và biện chứng của người nông nghiệp lúa nước, như ta đã biết, dẫn đến sự hình thành nguyên lí âm dương và lối tư duy nước đôi Cho nên tính cách dân tộc Việt Nam thường mang tính chất nước đôi: Người Việt đồng thời vừa có tinh thần đoàn kết tương trợ lại

Trang 7

vừa có óc tư hữu, ích kỉ và thói cào bằng, đố kị; vừa có tính tập thể hòa đồng lại vừa có óc bè phái, địa phương; vừa có nếp sống dân chủ bình đẳng lại vừa

có sự thủ tiêu vai trò cá nhân; và có tính cần cù và nếp sống tự cấp tự túc lại

và có thói dựa dẫm, ỷ lại Tất cả những cái tốt và cái xấu ấy cứ đi thành từng cặp và đều tồn tại ở người Việt Nam; bởi lẽ tất cả- cái tốt và cái xấu ấy- đều bắt nguồn từ hai đặc trưng gốc trái ngược nhau là tính cộng đồng và tính tự trị (phạm vi làng xã)

Tùy lúc tùy nơi mà mặt tốt hoặc mặt xấu sẽ được phát huy: khi con người đứng trước những khó khăn lớn, những nguy cơ đe dọa sự sống còn của

cả cộng đồng thì cái nổi lên sẽ là tinh thần đoàn kết và tính tập thể; nhưng khi nguy cơ ấy qua đi rồi thì có thể là thói tư hữu và óc bè phái, địa phương lại nổi lên

3 Vai trò của văn hóa làng xã đối với sự phát triển của nông thôn ngày nay

Văn hóa làng xã có một vai trò rất quan trọng trong đời sống của người nông dân Việt Nam Ngày nay, ở các vùng nông thôn trong cả nước, các thiết chế văn hóa, các phong tục tập quán vẫn còn là một bộ phận không thể thiếu trong sinh hoạt cộng đồng

Trong bối cảnh đất nước hội nhập, không chỉ ở các đô thị lớn mà khắp các vùng nông thôn trong cả nước cũng phải tạo những bước chuyển biến Vậy trong quá trình đó, văn hóa làng xã với những giá trị mang tính truyền thống đã tác động như thế nào đối với sự phát triển của nông thôn ngày nay? Trước đây, để làm lúa nước, người Việt Nam tụ họp thành làng với tổ chức rất chặt chẽ và khép kín Nguyên tắc tối thượng của xã hội nông nghiệp lúa nước là ổn định để tồn tại Muốn ổn định thì tốt nhất là mỗi người phải ngồi yên một chỗ, mọi người hợp lại thành một cộng đồng gắn kết ở yên trong một làng, hình thành nên một quan điểm sống “trâu ta ăn cỏ đồng ta” Cung cách làm ăn của làng tiểu nông, lối sống tiểu nông có được sự cần cù, nhẫn nại đi

Trang 8

liền với an phận nhưng thiếu đi sự táo bạo dám mạo hiểm phiêu lưu để lập nghiệp Quan niệm của người nông dân ngày trước: chỉ cần “còn ao rau muống còn đầy chum tương” là đã có thể yên tâm mọi việc Con người dễ bằng lòng với cái hiện có, dễ thỏa hiệp, ngại “rút dây thì động rừng”, cho nên chủ trương “cơm sôi nhỏ lửa”, “một điều nhịn là chín điều lành” đã trở thành một quan niệm sống của đa số người nông dân Ngoài ra, trong ứng xử, để tránh xáo trộn thì có gì “đóng cửa bảo nhau”; để khỏi mất lòng nhau thì ứng

xử phải khéo léo, không nhất thiết là có sao nói vậy Quản lý theo kiểu lãnh đạo tập thể, lấy lệ làng làm chuẩn mực Đó là hệ giá trị tối ưu mà một xã hội nông nghiệp lúa nước đã xây dựng được cho mình Song khi bước vào hội nhập, chuyển sang một xã hội đô thị và công nghiệp thì những giá trị ấy không còn thích hợp Không những không còn thích hợp, nó còn là lực cản cho sự phát triển và nguyên nhân của những sai lầm Để hội nhập, cần phải thoát ra khỏi những hạn chế của tư duy văn hóa làng xã Đất nước ta là đất nước của nền nông nghiệp Tuy nhiên, đến nay, nền nông nghiệp của ta so với các nước tiên tiến trên thế giới thì vẫn là nền nông nghiệp còn lạc hậu Một hệ quả của nền nông nghiệp lạc hậu lâu đời và văn hóa làng xã là nếp suy nghĩ cạn hẹp, chưa “nhìn xa trông rộng” Gánh nặng tâm lý “trâu ta ăn cỏ đồng ta” nhìn từ khía cạnh tiêu cực, đây chính là thứ xiềng xích về tư tưởng, không cho bung ra Tâm lý “trâu ta ăn cỏ đồng ta” ngăn chặn mọi sự đổi mới, vươn xa, hạn chế những khát vọng giải phóng cá nhân để tự đặt mình vào những điều kiện mới kích thích và phát huy năng lực mới, cổ vũ sự sáng tạo Hương ước

và tập quán, một mặt giúp gìn giữ bảo lưu những giá trị thuần phác và tốt đẹp của văn hóa làng xã, nhưng mặt khác lại đưa mỗi cá nhân vào các lối mòn quen thuộc

Xã hội nông nghiệp lạc hậu kéo dài triền miên, không mấy đổi thay về

kỹ thuật sản xuất, không chuyển nổi sang sản xuất hàng hóa ấy đã sản sinh và lưu giữ những nét tiêu cực trong tính cách con người nông dân Việt Nam, điều ấy bộc lộ rõ khi đất nước chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 9

Cung cách làm ăn và thói quen ứng xử của xã hội tiểu nông luyện cho con người lối tư duy “năng nhặt chặt bị” và khuyến khích sự “khéo tay, hay làm” Theo cách nhìn thông thường thì đó là những thói quen tốt của con người

“hay lam hay làm” “Cần cù, nhẫn nại” vốn là nét đức hạnh mà các bậc cha

mẹ muốn rèn dạy cho con cháu Nhưng, từ một cách tiếp cận khác, có thể thấy rằng cũng chính nét “đức hạnh” ấy sẽ kìm giữ con người trong khuôn khổ cũ, thói quen cũ, mà xa lạ với sự canh tân, không dám vứt bỏ thói quen đã thành nếp sống, không dám vứt bỏ cách làm cũ, nếp tư duy quen thuộc để vươn xa hơn, chí ít là cũng đạt được năng suất lao động cao hơn Năng suất thấp của sản xuất nông nghiệp lạc hậu “giật gấu vá vai” không tạo ra thặng

dư, không có tích lũy Vì, chỉ “năng nhặt chặt bị” thì không thể có cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ

Trang 10

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VĂN HÓA LÀNG VIỆT NAM

HIỆN NAY

1 Sự thay đổi của văn hóa làng trước và sau thời kì đổi mới

1.1 Văn hóa làng trước thời kì đổi mới

Đặc điểm của làng xã cổ truyền là tự trị, tự quản Nhà nước chỉ can thiệp vào làng xã trong việc thu thuế, bắt lính; xử lý những vụ án hình sự, hay những vụ tranh chấp dân sự làng không hòa giải được; can thiệp khi có dịch bệnh lớn…còn lại thuộc quyền tự trị, tự quản của các làng xã

Cơ cấu tổ chức làng xã xưa đơn giản nhưng chặt chẽ, hệ thống tổ chức gồm Hội đồng hương chính và Lý trưởng do dân làng tự bầu, Nhà nước phê chuẩn, nếu vị chức sắc nào thực hiện trách nhiệm kém cỏi hay có sai phạm, dân làng sẽ bầu người khác thay thế Làng có đội ngũ tuần phiên, có trách nhiệm bảo vệ an ninh, trật tự trong làng và ngoài đồng Hầu hết hương ước các làng đều quy định, nếu tuần phiên lơ là để trộm đục tường, khoét vách ăn trộm hay gặt trộm lúa ngoài đồng, tuần phiên bị phạt và đền cho gia đình mất trộm 100% số tài sản thiệt hại

Hương ước nhiều làng quy định, khi họp Hội đồng ở đình làng, dân làng có quyền đến dự, ai có điều gì thắc mắc có quyền chất vấn, Hội đồng có trách nhiệm giải trình rõ ràng Tuy nhiên, hương ước cũng quy định người chất vấn phải có thái độ đúng mực, ai say rượu nói càn có thể bị phạt

Có hương ước còn quy định, ai mất gà, mất buồng cau, buồng chuối mà

đi chửi rong trong làng, làm “mất phong thể của làng” thì bị xử phạt Nói về

xử phạt, điều đặc biệt là ai vi phạm cũng bị phạt, nhưng những người dân thường bị phạt nhẹ, còn những người có chức sắc, có chữ nghĩa thì bị phạt nặng hơn nhiều lần

Do tính chất tự trị, tự quản cao như thế nên người ta đánh giá làng xã

cổ truyền Việt Nam “như một nước cộng hòa thu nhỏ”, với những thiết chế

Ngày đăng: 01/05/2023, 11:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w