Thời kỳđầu của văn hóa Đông Sơn, các cư dân người Việt cổ phát triển và giao lưutrong phạm vi hạn chế do đặc điểm rừng rậm nhiệt đới, sản vật và thức ăn dồidào nên chưa chịu ảnh hưởng nh
Trang 1MỞ ĐẦU
Việt Nam là một đất nước có bề dày lịch sử và văn hóa, điều này đượcthể hiện qua hình ảnh của nền văn hóa cổ trong đó tiêu biểu là nền văn minhsông Hồng với niên đại hàng nghìn năm Văn hóa Đông Sơn là một giai đoạntrong nền văn minh sông Hồng, kế thừa và phát triển từ Văn hóa Hòa Bình,Văn hóa Phùng Nguyên, Văn hóa Đồng Đậu và Văn hóa Gò Mun Văn hoáĐông Sơn có những nét độc đáo riêng đồng thời vẫn mang nhiều điểm đặctrưng của văn hoá vùng Đông Nam Á và nền Văn minh lúa nước Đây cũng
là thời kỳ ra đời nhà nước phôi thai đầu tiên của Việt Nam dưới hình thứccộng đồng làng và siêu làng Các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một nềnvăn hóa gồm nhiều di vật rất sớm Các công cụ bằng đồng, bằng đồ gốm cùngvới di chỉ những khu luyện đúc đồng thời xa xưa trên đất Việt cổ Thời kỳđầu của văn hóa Đông Sơn, các cư dân người Việt cổ phát triển và giao lưutrong phạm vi hạn chế do đặc điểm rừng rậm nhiệt đới, sản vật và thức ăn dồidào nên chưa chịu ảnh hưởng nhiều của các nền văn hóa ngoài Việc khai pháđồng bằng sông Hồng chưa đặt ra cấp thiết do dân cư chưa đông đúc và nhucầu kiếm sống và sinh hoạt chưa ra khỏi vùng trung du Bắc Bộ Chính yếu tố
đó đã giúp người Việt hình thành một cộng đồng có tính thuần nhất, họ chính
là tổ tiên của người Việt hiện đại
Việc tìm hiểu về văn hóa Đông Sơn, chính là tìm về cội nguồn củangười Việt cổ, tìm về nguồn gốc của văn hóa Việt Nam, là nhiệm vụ của mỗingười dân Việt Nam, phải biết rõ về vội nguồn của mình như Bác Hồ đã từngnói:
Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Trang 2Cũng bởi vậy mà nền văn hóa Đông Sơn trở thành nguồn cảm hứng và
là đề tài nghiên cứu khoa học của nhiều sinh viên trong các môn học tìm hiểu
về lịch sử nước nhà
Trang 3Đó là những di chỉ có tầng văn hóa dày được trải ra trên một khu vực rộnglớn, trong đó có rất nhiều hiện vật bằng đá, đồ gốm, đồ đồng, đồ thủy tinh…
1.2 Lịch sử phát hiện
Quá trình tìm ra văn hóa Đông Sơn: Năm 1924, ông Nguyễn Văn Lắm,một dân chài trên sông Mã đã tình cờ phát hiện được một số hiện vật bằngđồng lộ thiên bên bờ sông Mã Ông đã báo cho nhà chức trách lúc đó và quanchức Pháp đã cử một người Pháp tên là L.Paljot đến để giải quyết Do chỉ làviên quan thu thuế có chút ít hiểu biết và yêu thích đồ cổ, nên LPajot đã tổchức khai quật đầu tiên ở khu vực có hiện vật Đến năm 1934, nhà khảo cổhọc Hainơ Geldean đã đặt tên cho nhóm hiện vật bằng đồng thu lượm được ởvùng Đông Sơn (Thanh Hóa) là "Văn Hóa Đông Sơn” và H.Geldean đi đếnkết luận: Văn hóa Đông Sơn chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán và ảnh hưởng
Trang 4của văn hóa Hanstat là một nền văn hóa thuộc thời đại đồ đồng ở châu Âu
xa xôi Sau đó một số học giả Pháp như V.Goloubew, E.Cacghen, O.Janseđều có suy nghĩ, quan niệm như vậy Những quan niệm sai lầm của ngườiPháp được phát hiện và phản biện khi các học giả Việt Nam tập trung nghiêncứu văn hóa Đông Sơn từ năm 1965 và đặc biệt là trong các Hội nghị khoahọc về "Hùng Vương dựng nước" các năm 1971 - 1973
Văn hoá Đông Sơn ra đời là kết quả hội tụ của nhiều văn hoá rực rỡtrước văn hoá Đông Sơn thuộc thời đại đồng thau trong quá trình chiếm lĩnhvùng đồng bằng các con sông lớn ở miền bắc Việt Nam, chủ yếu là lưu vựcsông Hồng Phạm vi phân bố của nền văn hoá Đông Sơn trên cơ bản là trongphạm vi ở miền bắc Việt Nam Các cuộc nghiên cứu khảo cổ ở Việt Nam từnăm 1954 đến nay đã xác định được là nền văn hoá Đông Sơn với chủ nhân
là Âu Lạc cổ đã tồn tại được gần một thiên niên kỷ, từ cuối thời đại đồngthau sang thời kỳ thời đại đồ sắt Bước chuyển sớm nhất từ văn hoá QuỳChử, nền văn hoá trước Đông Sơn trên thực tế đã diễn ra ở đồng bằng sôngHồng Kết quả các xét nghiệm C.14 trên các mẫu tro than lấy từ tầng địa chấtĐông Sơn sâu nhất ở các khu Đồi Đà và Chùa Thông, tiêu biểu của vùngsông Hồng là 2704 90 (ZK 305) và 2655 90 (ZK 309) Như vậy người ta cóthể xác định được văn hoá Đông Sơn ở vùng này bắt đầu từ khoảng thế kỷVIII - VII trước Công Nguyên Ở vài nơi trong vùng, các chuyên viên khảo
cổ đã khai quật được những nông cụ bằng sắt và dấu tích của sự luyện sắttrong tầng lớp văn hóa Đông Sơn sớm Ở vùng sông Mã giai đoạn chuyển tiếp
từ Quỳ Chử sang Đông Sơn có phần muộn hơn, vào khoảng thế kỷ VII - VItrước Công Nguyên
1.3 Các loại hình văn hóa Đông Sơn
Loại hình sông Hồng: Địa bàn chủ yếu của loại hình này là vùng miềnnúi phía Bắc, vùng Trung du và đồng bằng Bắc bộ, với trung tâm là làng Cả
Trang 5(nay ở thành phố Việt Trì) Đặc trưng của loại hình là sự phong phú, đa dạng,mang nhiều sắc thái địa phương rõ rệt.
Trang 6Loại hình sông Mã: Địa bàn phân bố của loại hình chủ yếu thuộc lưuvực sông Mã, sông Chu, ranh giới phía Bắc của nó tiếp giáp với địa bàn củaVăn hóa Đông Sơn loại hình sông Hồng Trung tâm là làng Đông Sơn, ThanhHóa Đặc trưng của loại hình sông Mã mang đặc trưng của Văn hóa ĐôngSơn điển hình Đặc biệt những đồ đồng thuộc trung tâm Đông Sơn là tiêu chí
để nhận biết cho đồ đồng thuộc các loại hình địa phương khác hay để phânbiệt giữa Đông Sơn với những nền văn hóa kim khí khác
Loại hình sông Cả: Loại hình này được phát hiện lần đầu vào năm
1972 Trung tâm là làng Vạc (Nghĩa Đàn, Nghệ An) Đặc trưng cơ bản củaloại hình này là có sự giao lưu mạnh mẽ với văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung
và văn hóa Điền (Vân Nam, Trung Quốc), đồng thời cũng mang những nétđặc trưng riêng biệt, nằm trong tổng thể nhất quán của Văn hóa Đông Sơn
Trang 7CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG VÀ VỊ TRÍ CỦA NỀN VĂN HÓA ĐÔNG
SƠN 2.2 Đặc trưng của nền văn hóa Đông Sơn
2.2.1 Về phương thức sản xuất
Trong văn hóa Đông Sơn, sản xuất nông nghiệp lúa nước đã phát triểnmạnh mẽ, toàn diện và giữ vai trò chủ đạo trong đời sống, mặc dù nền kinh tếsăn bắn, hái lượm vẫn còn tồn tại với tư cách bổ trợ cho hoạt động sinh sốngcủa cư dân Đông Sơn Cùng với quá trình phát triển của văn hóa Đông Sơn,
cư dân người Việt cổ phải chinh phục những đầm lầy ven sông, ven biển để
mở rộng địa bàn cư trú và sản xuất Nhờ kinh nghiệm sản xuất được tích lũy
từ hàng nghìn năm trước, đến giai đoạn này người Đông Sơn đã biết làm thủylợi nhỏ, dẫn thủy nhập điền để tạo ra những đồng ruộng có mực nước phù hợpvới nhu cầu phát triển của cây lúa trong từng giai đoạn Bên cạnh nền nôngnghiệp dùng cây, bừa, làm cho đồng ruộng phì nhiêu, mẫu mỡ, họ đã biết bảnphần tăng vụ, tăng năng suất, trồng lúa 2 vụ một năm Qua áp dụng phươngpháp nghiên cứu bào tử phấn hoa và nghiên cứu các hạt giống lúa còn đượclưu giữ trong thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái), chúng ta có thể biết đượcngười Đông Sơn đã biết trồng các loại lúa nếp và lúa tẻ
Sự phát triển của nền văn minh sông Hồng ở thời đại đồng thau và sơ
kỳ sắt có quan hệ gắn bó với hoạt động địa mạo, địa lý tự nhiên và lịch sử tạolập, hình thành đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Theo các nhà Địa lý - Địa chất,tam giác châu Bắc Bộ có 3 thời kì hình thành, có định là Việt Trì, đáy là NinhBinh và Quảng Ninh Từ vùng Việt Trì đến Cổ Loa là vùng thượng - vùng cao– vùng đất tổ, đất cổ của người Đông Sơn, vùng này được tạo thành cũng vớiquá trình vận động kiến tạo của vỏ trái đất từ hàng chục triệu năm về trước,
nó là địa bàn xuất hiện các thành tựu văn hóa thuộc giai đoạn sớm của nềnvăn hóa Đông Sơn (Phùng Nguyên, Đống Đậu, Gò Mun) Phần trung và phần
hạ của tam giác châu Bắc Bộ được hình thành vào khoảng 2000 - 3000 năm
7
Trang 8cách ngày nay Từ khi lựa chọn cây lúa là loại lương thực chủ yếu, ngườiĐông Sơn đã phải tự vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, có nhiều phát minhsáng tạo để chinh phục các loài thủy quái ở vùng đầm lầy, khai thác các ôtrũng biến thành đồng ruộng Con trâu cày ruộng, con bò cày cạn Các loạigia cầm như gà, ngan, vịt và gia súc như trâu, bò, lợn, chó, mèo đã trởthành nguồn thực phẩm quan trọng của cư dân Đông Sơn Các nghề phụ nhưchăn nuôi, đánh cá, làm vườn cũng đã được hình thành ở giai đoạn này để hỗtrợ cho nền kinh tế sản xuất nông nghiệp Các nghề thủ công nghiệp cũng đặcbiệt phát triển ở thời kỳ này như nghề mộc, nghề làm đồ gốm, nghề dệt, nghềđan lát mây tre, nghề chế tác đá làm đồ trang sức Đó là những nghề rất cầnthiết giúp cho con người có thể định cư ở một vùng đất mới với những trangthiết bị, dụng cụ sinh hoạt mới không có sẵn trong tự nhiên Đặc biệt đồ gốmĐông Sơn mỗi vùng có phong cách riêng, có tiến bộ về sử dụng chất liệu, kỹthuật tạo hình, tạo dáng.
Nghề luyện kim đồng ở giai đoạn này phát triển đến trình độ cao Cácnhà khảo cổ đã phát hiện được nhiều dấu tích của xỉ than, xí quặng, lò nung
và một số hiện vật bằng đồng trong các tầng văn hóa Người thợ thủ công thờiĐông Sơn đã làm chủ được kỹ thuật luyện kim đồng thau, đó là hợp kim của
3 nguyên liệu chủ yếu là đồng, thiếc và chì, ngoài ra còn có các vi lượngvàng, vonfram Người Đông Sơn đã biết đúc các loại công cụ lao động (rìu,cuốc ), dụng cụ (đục, tràng, mâm, bát, dao găm, lục lạc, vòng tay, vòng cổ),
vũ khí (mũi tên đồng, kiếm, lưỡi qua ) Đỉnh cao của văn hóa Đông Sơnchính là trống đồng Đông Sơn Các nhà khoa học đã phát hiện được trên 130trống đồng cổ các loại, nhưng nổi tiếng nhất là trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng
Hạ Trống Đông Sơn được áp dụng các kỹ thuật dục, rèn, mài, cưa, khoan rấtphức tạp Trên trống đồng thể hiện hoa văn hình mặt trời, hình chim, hình bỏ,hình thuyền và các cảnh sinh hoạt của con người thời Đông Sơn Trống đồngĐông Sơn có giá trị cao về khoa học và nghệ thuật, nghiên cứu trống đồngĐông Sơn, chúng ta có thể hiểu biết về tư duy, tình cảm, phong tục tập quán
Trang 9của thời đại Đông Sơn Trống đồng là một nhạc khí của người Đông Sơn để
sử dụng trong những nghi lễ quan trọng như lễ hội mùa, lễ hội cầu mưa, lễhội cũng thần linh Trống cũng được sử dụng trong các cuộc chiến đấu, âmthanh của trứng vàng và có tác dụng thôi thúc quân sĩ, làm tăng thêm sĩ khígiúp con người có thể giao hòa với các thần linh Chỉ có tù trưởng bộ lạc hoặcthủ lĩnh các liên minh bộ lạc mới được sử dụng trống Trống còn là biểutượng của sự giàu sang, phú quý, tượng trưng cho sức mạnh và sự hội tụ tinhthần, tâm linh của một cộng đồng nhất định Văn minh Đông Sơn là nền vănminh thực vật, dấu tích rau đậu, củ quả, hạt phổ biến, yếu tố động vật mờnhạt Yếu tố sông nước ảnh hưởng đậm nét trong văn hóa Đông Sơn
2.2.2 Văn hóa sinh hoạt tinh thần
Từ tư duy kinh nghiệm hàng nghìn năm, người Đông Sơn đã phát triển
tư duy nhận thức của mình đến một trình độ cao Họ đã hình thành một vũ trụquan sơ khai, định vị mặt trời là trung tâm và có các hành tinh quay xungquanh Tư duy Âm - Dương lưỡng phân, lưỡng hợp đã được hình thành Có ýkiến cho rằng trống đồng Đông Sơn là một cuốn nông lịch của người ĐôngSơn Qua đó ta thấy mối quan hệ giữa Trời và Đất, giữa con người với thiênnhiên, giữa sông với núi, giữa Âm và Dương Tư duy toán học của ngườiĐông Sơn cũng phát triển cao Qua nghiên cứu cách sắp xếp các hoa văn hìnhhọc trên đồ gốm, giáo sư Hà Văn Tấn đã phân tích tư duy đổi xúng xuất hiện
từ thời Phùng Nguyên Ở đây xuất hiện các tư duy đối xứng gương và tưduy đối xứng lệch Tư duy hình học của người Đông Sơn cũng rất phát triển.Các loại hoa văn hình tròn, hình tam giác, hình thoi, hình bán nguyệt vànhững biến thể của nó đã được người Đông Sơn sử dụng rất thành thục và tàitình để tạo ra những dải trang trí mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt trên các đồgốm và đồ đồng Nhìn các dải trang trí chạy song song trên mặt trống đồngqua các vòng tròn đồng tâm và các băng trang trí bao quanh thân các môi, vò,bình gồm người ta liên tưởng tới quỹ đạo chuyển động của các thiên thể trong
9
Trang 10hệ mặt trời và nó cũng biểu hiện tư duy thời gian rất đa dạng của người ĐôngSơn Tư duy kỹ thuật đã phát triển trong cả lĩnh vực chế tác các đồ trang sứctinh xảo bằng đá mã não, đá thạch anh, thủy tinh và trong cả các lĩnh vực sảnxuất đồ gốm có kết cấu xương gồm chắc, trang tri dẹp Đặc biệt là kỹ thuậtchế tác trống đồng với nhiều đường nét uyển chuyển, nhiều hoa văn tinh tế.
Về nhận thức thế giới: người việt thời kỳ này đã có sự nhận thức thế giới vànhận thức chính mình bằng tư duy lưỡng phân: đàn ông- đàn bà, núi - biển,trời – đất, vũ trụ theo họ là trời tròn, đất vuông, trời che chở cho con người,đất nuôi dưỡng con người Về văn hóa nghệ thuật: Nghệ thuật âm nhạc, nghệthuật tạc tượng, nghệ thuật kiến trúc đã hình thành Đặc biệt trống đồng ĐôngSơn là sự phát triển vượt bậc, là 1 biểu tưởng văn hóa, cũng là 1 nghệ thuậtgiá trị đặc sắc Chữ viết Đông Sơn được chạm khắc trên các công cụ, vũ khíđồng thau, các đường nét còn sơ lược nhưng khúc triết, rõ ràng Ngoài ra,còn có các dạng văn tự khác viết trên đồ đá, đồ gốm Trong đó có loại hìnhvăn tự thắt nút dùng 1 số sợi dây có màu sắc khác nhau buộc lại thành các nútkhác nhau để trao đổi thông tin Về kỹ thuật quân sự: Vũ khí Đông Sơn rấtphổ biến, đa dạng về loại hình, độc đáo về hình dáng, phong phú về sốlượng Có thành quách với các bức thành kiên cố với hào sâu rộng cùng các
ụ, lũy để bảo vệ phòng thủ
Tín ngưỡng Đông Sơn phát triển đa dạng thể hiện thế giới tinh thần của
cư dân nông nghiệp lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa Người Đông Sơnphát triển tín ngưỡng vạn vật hữu linh, nghĩ là họ tin rằng mọi vật đều có linhhồn và họ tổn thờ tất cả mọi vật có tác động, ảnh hưởng đến cuộc sống củacon người Tiêu biểu nhất và đặc trưng nhất là tín ngưỡng thờ thần mặt trời.Hình ảnh mặt trời được thể hiện ở khắp mọi nơi, trên mặt trống đồng, trêntrang phục, trên kiến trúc nhà ở Người Đông Sơn tin rằng mặt trời là tối cao,
có khả năng chi phối mọi mặt của cuộc sống con người Người Đông Sơncòn phổ biến tín ngưỡng thờ nước, tín ngưỡng cầu mưa, thở các thế lực tựnhiên: Mây, mưa, sấm, chớp Hình tượng các đơn hoặc các đôi được gắn trên
Trang 11mặt trống đồng chứng tỏ người Đông Sơn đã thấy mối liên hệ giữa con cóckêu và hiện tượng trời mưa vào những ngày sau đó Biểu tượng trống đồng -Hinh mặt trời - Tượng các chứng tỏ mối liên hệ tâm linh của người Đông Sơnvới nguồn nước khi sử dụng trống đồng để làm lễ cầu mưa Tiếng trống trầnhùng ẩm vang là biểu tượng của tiếng sấm, hình tượng cóc là ước nguyện củatín ngưỡng cầu mưa Người Đông Sơn còn phát triển tín ngưỡng phồn thực,
đó là tín ngưỡng phổ biến của cư dân nông nghiệp cầu mong mùa màng bộithu, đời sống no đủ Trong thập đồng Đào Thịnh (Yên Bái) người ta phát hiệnđược nhiều hạt thóc giống và trên nắp thạp Đào Thịnh, người ta nhìn thấy 4cặp nam nữ đang nằm giao phối một cách rất hồn nhiên Trên trống đồngĐông Sơn, có nhiều trong gắn 4 cặp Cóc Đực – Cái ngay trên mặt trốngđồng, chứng tỏ người Đông Sơn có quan niệm về sự hài hòa âm - dương về
sự giao phối là động lực cho sự sinh sôi, phát triển của muôn loài Với hìnhảnh 4 cặp nam nữ hoặc 4 cặp cóc đang giao phối gắn trên các hiện vật bằngđồng linh thiêng được gắn với năng lượng vũ trụ có mặt trời ở giữa và 4 cặpnam nữ hay 4 cặp cóc là đại diện cho 4 hướng Bắc - Nam - Đông - Tây củatrời đất Đó không phải là những hành vi giao phối bình thường, mà nó đãđược linh thiêng hóa, đồng nghĩa với vũ trụ, trời đất và những khát vọng lớnlao của con người vào các đấng linh thiêng Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đãphát triển phổ biến ở thời kỳ Đông Sơn Họ không chỉ thờ tổ tiên sinh ra mình
mà còn thờ các vị thủ lĩnh bộ lạc, liên minh bị lạc, thờ vua Hùng
Lễ hội khá phong phú, thể hiện sắc thái riêng của văn hóa Việt Namnhư hội mùa, hội cầu nước, lễ hội khánh thành trống đồng Các phong tụcthể hiện được những sắc thái sinh hoạt văn hóa phong phú và đa dạng củangười Việt, gởi gắm lòng biết ơn với trời đất, cầu mong mưa thuận gió hòa
và thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc Các nghệ thuật âm nhạc, tạc tượng, chạmkhắc, kiến trúc, trang phục cũng được hình thành từ đây, được thể hiễn rõ quahọa tiết trên mặt trống đồng
11