DNNQD tại Chi cục thuế huyện Gia Lâm vẫn còn hạn chế trên nhiều mặt: từviệc thực hiện các khâu trong quy trình quản lý thu thuế như công tác tuyêntruyền hỗ trợ NNT, quản lý kê khai và kế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số : 60.34.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI BẰNG ĐOÀN
HÀ NỘI – 2012
1
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa họccủa tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tiễndưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Bằng Đoàn Các nội dung và kết quảnghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố dưới bất cứhình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận
Tác giả luận văn
Vũ Việt Hưng
i
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo
và cán bộ của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, những người đã nhiệt tìnhgiảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu và tạo điều kiện học tập chotôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo, PGS.TSBùi Bằng Đoàn, người đã luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi thựchiện nghiên cứu luận văn này
Trong quá trình thu thập tài liệu, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệttình của Ban lãnh đạo và cán bộ công chức Chi cục thuế huyện Gia Lâm.Cuối cùng, tôi xin gửi tới thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè nhữngtình cảm chân thành nhất và những lời chúc tốt đẹp nhất
Tác giả luận văn
Vũ Việt Hưng
ii
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục chữ viết tắt viii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi về không gian nghiên cứu 3
1.4.3 Phạm vi về thời gian nghiên cứu 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DNNQD 4
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với DNNQD 4
2.1.1 Một số vấn đề chung về DNNQD 4
2.1.2 Thuế và các sắc thuế áp dụng đối với DNNQD 7
2.1.3 Thu thuế và quản lý thu thuế đối với DNNQD 13
2.1.4 Đặc điểm của quản lý thu thuế đối với DNNQD 14
2.1.5 Yêu cầu về quản lý thu thuế đối với DNNQD 15
2.1.6 Nội dung quản lý thu thuế đối với DNNQD 19
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 27
iii
Trang 52.2.1 Một số kinh nghiệm về quản lý thu thuế đối với doanh
nghiệp ở nước ngoài và trong nước 27
2.2.2 Hệ thống các đề tài nghiên cứu liên quan 34
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
3.1.1 Khái quát chung về Chi cục thuế Gia Lâm 36
3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Chi cục thuế Gia Lâm 37
3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế Gia Lâm 40
3.1.4 Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu NSNN 43
3.2 Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 44
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 45
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 45
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với DNNQD tại Chi cục thuế Gia Lâm 46
4.1.1 Quá trình phát triển DNNQD trên địa bàn huyện Gia Lâm 46
4.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế 47
4.1.3 Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch thu thuế 56
4.1.4 Thực hiện các khâu trong quy trình quản lý thu thuế 58
4.1.5 Thực trạng hiện đại hoá quản lý thu thuế đối với DNNQD 78
4.2 Định hướng và mục tiêu hoàn thiện quản lý thu thuế đối với DNNQD của Chi cục thuế Gia Lâm 79
4.2.1 Định hướng 79
iv
Trang 64.2.2 Mục tiêu 81
4.3 Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế đối với DNNQD tại Chi cục thuế Gia Lâm 81
4.3.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý thu thuế 81
4.3.2 Thực hiện tốt các khâu trong quy trình quản lý thu thuế đối với DNNQD 83
4.3.3 Hiện đại hoá quản lý thu thuế đối với DNNQD 92
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
5.1 Kết luận 95
5.2 Kiến nghị 96
5.2.1 Kiến nghị với Nhà nước, Quốc hội 96
5.2.2 Với UBND huyện Gia Lâm và các ngành hữu quan khác 96
5.2.3 Với Cục thuế TP Hà Nội và Chi cục thuế huyện Gia Lâm 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
v
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu tổ chức lao động phân theo đội thuế 40
Bảng 3.2 Cơ cấu lao động phân theo ngạch công chức và chức danh 41
Bảng 3.3 Cơ cấu lao động phân theo trình độ và độ tuổi 42
Bảng 3.4 Kết quả thực hiện nhiệm vụ thu NSNN 43
Bảng 4.1 Tình hình phát triển DNNQD 46
Bảng 4.2 Số cán bộ theo bộ phận chức năng và trình độ 55
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện dự toán được giao 57
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện tuyên truyền hỗ trợ 59
Bảng 4.5 Ý kiến đánh giá của DN về công tác tuyên truyền hỗ trợ 60
Bảng 4.6 Kết quả đăng ký cấp mã số thuế đến ngày 31/12/2011 64
Bảng 4.7 Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế 69
Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra thuế tại trụ sở doanh nghiệp 71
Bảng 4.9 Ý kiến đánh giá của DN về công tác kiểm tra thuế 72
Bảng 4.10 Kết quả chống thất thu thuế đối với DNNQD 75
Bảng 4.11 Kết quả thu nợ đối với DNNQD 76
Bảng 4.12 Số nợ thuế của DNNQD 77
vi
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy ngành thuế 21
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ trọng số thu thuế NQD 44
Hình 4.1 Đồ thị tốc độ phát triển DNNQD 47
Hình 4.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý thu thuế 50
Hình 4.3 Biểu đồ tổng số thu thuế, phí, lệ phí 58
vii
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 101 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời
là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhànước Để duy trì sự tồn tại của mình, nhà nước cần có những nguồn tài chính
để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ Trungương đến địa phương, chi cho các công việc ban đầu thuộc chức năng của nhànước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạtầng, chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trướcmắt và lâu dài
Thuế, từ khu vực doanh nghiệp (DN) nói chung và từ khu vực doanhnghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) nói riêng, có vai trò rất quan trọng, vừa
là nguồn thu lớn của ngân sách nhà nước (NSNN), vừa là công cụ điều tiết vàđịnh hướng phát triển doanh nghiệp Để nâng cao vai trò của thuế, cần thiếtphải tổ chức quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanhnghiệp ngoài quốc doanh
Cùng với việc cải cách hệ thống thuế thời gian qua, quản lý thu thuế đốivới các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong cả nước đã được đổi mới cănbản trên nhiều mặt, từ pháp luật, chính sách, quy trình, thủ tục đến quản lý thuthuế và ở tất các cấp từ Trung ương đến địa phương Kết quả là, thu thuế từkhu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng về số lượng, đổi mới về cơ cấunguồn thu, đồng thời củng cố và nuôi dưỡng được các nguồn thu Theo số liệuthống kê hiện hành, số thu từ doanh nghiệp trong cả nước chiếm trên 71%tổng thu nội địa của NSNN hàng năm Trong đó, số thu từ DNNQD chiếmtrên 41%, số thu của đối tượng này gấp nhiều lần số thu từ đối tượng khác nhưcác hộ kinh doanh cá thể
Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, quản lý thu thuế đối với
Trang 11DNNQD tại Chi cục thuế huyện Gia Lâm vẫn còn hạn chế trên nhiều mặt: từviệc thực hiện các khâu trong quy trình quản lý thu thuế như công tác tuyêntruyền hỗ trợ NNT, quản lý kê khai và kế toán thuế, kiểm tra thuế, quản lý nợ
và cưỡng chế nợ thuế đến ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức bộ máy thuthuế Những hạn chế trong quản lý thu thuế đối với DNNQD đã góp phần làmcho tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế, gian lận thuế của các doanh nghiệpngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Gia Lâm khá phức tạp
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tếhiện nay, số lượng, loại hình và quy mô DNNQD ngày càng tăng Vì thế,nguồn thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Gia Lâm cónhiều biến động về quy mô, cơ cấu và tính chất các nguồn thu Điều đó, đặt rayêu cầu đổi mới quản lý thu thuế từ khu vực DNNQD Hơn nữa, việc thu thuế
từ khu vực này rất phức tạp, có nhiều đặc thù, đòi hỏi phải đổi mới hơn nữaquy trình, thủ tục và nâng cao trình độ quản lý của cán bộ thuế
Xuất phát từ những thực tế trên, việc nghiên cứu để tìm giải pháp tăngcường công tác quản lý thu thuế đối với các DNNQD tại Chi cục thuế GiaLâm là vấn đề quan trọng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay Với ý nghĩa
đó, chúng tôi tiến hành chọn và nghiên cứu đề tài " Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội" làm luận văn thạc sỹ.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận vàthực tiễn có liên quan để đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý thu thuếđối với DNNQD tại Chi cục thuế huyện Gia Lâm
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế đối với loạihình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trang 12Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với doanhnghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Gia Lâm.
Đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý thu thuế đối với doanhnghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Gia Lâm phù hợp với điềukiện mới
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thu thuế đối vớiDNNQD tại Chi cục thuế Gia Lâm, bao gồm các nội dung cơ bản như tổ chức
bộ máy quản lý thu thuế, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạchthu thuế, ứng dụng công thông tin trong quản lý thu thuế, thực hiện các khâutrong quy trình quản lý thu thuế theo chức năng: tuyên truyền hỗ trợ NNT; kêkhai và kế toán thuế; kiểm tra thuế; quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn giới hạn trong lĩnh vực quản lý thuthuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.4.2 Phạm vi về không gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Chi cục thuế huyện Gia Lâm trựcthuộc Cục thuế thành phố Hà Nội
1.4.3 Phạm vi về thời gian nghiên cứu
Việc nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý thu thuế gắn với giai đoạn pháttriển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc phân tích thực trạngquản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuếGia Lâm được thực hiện từ năm 2007 đến năm 2011
Trang 132 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU
THUẾ ĐỐI VỚI DNNQD
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với DNNQD
2.1.1 Một số vấn đề chung về DNNQD
2.1.1.1 Khái niệm và phân loại DNNQD
DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổnđịnh, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đíchthực hiện các hoạt động kinh doanh
DNNQD là tổ chức kinh tế do cá nhân, tổ chức đầu tư vốn thành lập và
tổ chức quản lý theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện cáchoạt động kinh doanh
Khu vực DNNQD bao gồm các doanh nghiệp tồn tại dưới hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần (CTCP), công ty hợpdanh và doanh nghiệp tư nhân (DNTN), do một hay nhiều người đứng ra làmchủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình (hữu hạn hay vô hạn) vềmọi hoạt động của doanh nghiệp
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty TNHH có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thànhviên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp (trách nhiệmhữu hạn) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân số lượng thành viên khôngquá 50 và không được quyền phát hành cổ phiếu
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ
sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn của doanh nghiệp và cũngkhông được quyền phát hành cổ phiếu
Công ty cổ phần
Trang 14Doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành cổ phần, số lượng cổ đôngtối thiểu là ba và chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản kháctrong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Công ty cổ phần có quyềnphát hành chứng khoán ra công chúng.
Doanh nghiệp tư nhân
Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằngtoàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
2.1.1.2 Đặc điểm của DNNQD
DNNQD bao gồm các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bằngnguồn vốn của cá nhân hoặc một số cá nhân đóng góp, theo cơ chế thị trường
vì mục tiêu lợi nhuận
Thứ nhất, DNNQD mang tính sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do tư
nhân quản lý và phân phối lợi nhuận, hiệu quả sản xuất gắn liền với quyền lợi
cá nhân người sản xuất
Thứ hai, mục tiêu lớn nhất trong kinh doanh là lợi nhuận, họ có thế sẵn
sàng bằng bất kỳ giá nào để kiếm được thật nhiều lợi nhuận với nhữngphương án kinh doanh táo bạo và mạo hiểm Do vậy nhiều khi gây hậu quảxấu cho xã hội DNNQD thường tự phát và khó quản lý, không ít cơ sở kinhdoanh trái phép, kinh doanh không kê khai nộp thuế, trốn thuế, lợi dụng hoáđơn chứng từ xin hoàn thuế sai quy định
Trang 15Thứ ba, tổ chức các cơ sở DNNQD phần lớn là quy mô nhỏ do vốn ít,
cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt, dễ dàng thích ứng nhanh với sự thay đổi của môitrường kinh doanh Nhân viên thường đảm nhận công việc theo kiểu đa năng,chi phí nhân công thấp
Với những đặc điểm trên, DNNQD ngày càng được khuyến khích vàđảm bảo môi trường thuận lợi để phát triển Tuy vậy, khuyến khích phát triểnkhu vực này không đồng nghĩa với việc buông lỏng quản lý Do vậy, hệ thốngpháp luật phải được thể chế hoá đầy đủ, rõ ràng cả tầm vĩ mô và vi mô để cóthể phát huy tối đa mặt tích cực và hạn chế đến mức thấp nhất mặt tiêu cựccủa DNNQD trong cơ chế thị trường
2.1.1.3 Vai trò của DNNQD đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, DNNQD là thành phần kinh tế không thểthiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ, tương xứng với tiềm năng và đónggóp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát triển nền kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách, điềukiện thuận lợi để khu vực này phát huy được vai trò của mình trong tình hìnhkinh tế hiện nay
Sự phát triển của DNNQD đã và đang tiếp tục có những đóng góp tíchcực và vô cùng quan trọng cần thiết trong công cuộc phát triển đất nước
Góp phần quan trọng để tạo ra thành tựu tăng trưởng kinh tế chung, đổimới bộ mặt kinh tế xã hội, tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ cho xã hội
Là lĩnh vực chính thu hút lao động xã hội, tạo công ăn việc làm chongười lao động
Giải phóng sức lao động và huy động tối đa các nguồn lực trong dân cưvào công cuộc phát triển kinh tế
Tạo môi trường cạnh tranh, nâng cao tính năng động hiệu quả cho nềnkinh tế Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.2 Thuế và các sắc thuế áp dụng đối với DNNQD
Trang 162.1.2.1 Khái niệm và vai trò của thuế
Dưới giác độ thu tài chính nhà nước: thuế là hình thức thu chủ yếu của
NSNN Thuế là hình thức đóng góp nghĩa vụ theo luật định của các tổ chứckinh tế và dân cư cho Nhà nước bằng một phần thu nhập của mình
Dưới giác độ pháp luật: thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các pháp
nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước, phát sinh trên cơ sở vănbản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàntrả trực tiếp cho đối tượng nộp
Trên giác độ người nộp thuế: thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc
mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luậtđịnh để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụNhà nước Nói cách khác, thuế là hình thức động viên, phân phối lại sảnphẩm xã hội và thu nhập quốc dân do các tổ chức và cá nhân tạo ra để hìnhthành quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Từ khái niệm thuế nêu trên cho thấy: thuế là một phần thu nhập của tổchức, cá nhân từ các hoạt động kinh tế; thuế là một nghĩa vụ cơ bản của mỗi
tổ chức và cá nhân do luật định và có tính bắt buộc; quyền lợi của người nộpthuế là được hưởng phúc lợi từ các dịch vụ công, từ việc thực hiện chức năng,vai trò của Nhà nước
Thuế có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Vai trò đó thểhiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, thuế là khoản thu chủ yếu của NSNN, bảo đảm tích luỹ và
tiêu dùng, thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội Để duy trì hoạt động của bộmáy nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, nhà nước phải
có đủ nguồn lực tài chính Trên thực tế, nguồn lực tài chính quốc gia có thể cóđược bằng nhiều con đường như: vay nợ, bán tài sản quốc gia, thu nhập từhoạt động kinh tế, thu thuế Trong các khoản thu đó, thuế vẫn là nguồn thu
cơ bản, lâu dài và chiếm tỉ trọng chủ yếu Trên thực tế, ở hầu hết các quốc gia,thuế chiếm khoảng 90% thu NSNN và chiếm từ 15-30% GDP Ở Việt Nam
Trang 17hiện nay, thuế chiếm hơn 90% tổng thu NSNN hàng năm, tương đương mứchuy động 20% GDP Trên cơ sở đó, thuế đã góp phần bảo đảm ngân sáchquốc gia, góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hộinhư tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, bảo đảm tiến bộ và công bằng xãhội.
Thứ hai, thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nền kinh
tế thị trường, bên cạnh những ưu thế thì có không ít các khuyết tật Để hạnchế các khuyết tật đó, nhà nước phải tăng cường chức năng quản lý điều tiếtnền kinh tế bằng các công cụ như thuế Bằng việc xây dựng đúng đắn cơ cấu
và mối quan hệ giữa các loại thuế, xác định hợp lý biểu thuế, thuế suất, chế độmiễn giảm, hoàn thuế có thể điều tiết trên hai mặt: một mặt khuyến khích,nâng đỡ các hoạt động kinh doanh cần thiết, có lợi; mặt khác thu hẹp, kìmhãm ngành hàng cần hạn chế Sở dĩ như vậy, vì thuế có tác động hữu hiệu đốivới bất cứ sản phẩm hàng hoá nào cả trên phương diện sản xuất và tiêu dùng
Thứ ba, thuế góp phần bảo đảm công bằng xã hội Hệ thống thuế cải
cách trong cơ chế mới đã được áp dụng thống nhất không phân biệt giữa cácthành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư, điều đó thể hiện sự bình đẳng củathuế Với chính sách điều tiết thu nhập, người có thu nhập cao phải chịu thuếcao hơn để điều tiết cho các đối tượng có thu nhập thấp thông qua trợ cấp,phúc lợi xã hội và các hình thức khác Nhờ đó, góp phần giảm khoảng cáchgiàu nghèo, hỗ trợ cho các người nghèo, người tàn tật, người mất khả nănglao động và người dân vùng khó khăn
2.1.2.2 Các sắc thuế cơ bản áp dụng đối với doanh nghiệp ở Việt Nam
Theo quy định pháp luật hiện hành, hầu hết các sắc thuế hiện có đều liênquan đến doanh nghiệp ngoài quốc doanh như: thuế giá trị gia tăng (GTGT),thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế môn bài, thuế thu nhập cá nhân(TNCN), thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu Dưới đây chỉ xem xét một số sắc thuế liên quan nhiều và có
Trang 18nguồn thu lớn từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Thuế GTGT: là thuế tiêu dùng, tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông đếntiêu dùng
Đối tượng của thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinhdoanh và tiêu dùng
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất
Hiện nay, ở nước ta áp dụng hai phương thức tính thuế GTGT:
Phương pháp khấu trừ áp dụng cho các đối tượng kinh doanh, cácdoanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanhnghiệp tư nhân, công ty cổ phần, hợp tác xã và các tổ chức kinh doanh khácthực hiện chế độ sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ theo quy định
Phương pháp tính trực tiếp áp dụng đối với các cá nhân sản xuất, hoạtđộng trong nước và các tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt namkhông theo luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam chưa thực hiện đầy đủ cácđiều kiện về kế toán, hoá đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phươngpháp khấu trừ, các cơ sở kinh doanh mua bán vàng, bạc, đá quý
GTGT là phần giá trị mới tăng thêm được tạo ra trong sản xuất kinhdoanh Giá trị này được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất vàtiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng Thuế GTGT làmột loại thuế gián thu, người tiêu dùng (sử dụng hàng hoá, dịch vụ) là ngườichịu thuế, doanh nghiệp là người “thu hộ” Do vậy, trong quản lý thu thuế đốivới doanh nghiệp ngoài quốc doanh cần kiểm tra tính chính xác trong kế toánthuế và ngăn chặn việc chiếm dụng thuế
Thuế GTGT là công cụ có hiệu quả trong việc động viên nguồn thu choNSNN Tính đến năm 2010; số thuế GTGT từ SXKD chiếm tỷ trọng cao nhất(so với các loại thuế khác) trong tổng thu NSNN (khoảng 28,1%) và chiếm45,5% trong tổng thu từ DN Thuế GTGT được áp dụng ở nước ta từ 1/1/1999
Trang 19thay cho thuế doanh thu trước đây (sắc thuế này hiện đã có trên 120 quốc gia
áp dụng) [5].
Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế tiêu dùng, đánh vào một số hàng hoá,
dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục do Nhà nước quy định, được tính căn cứvào giá cả và thuế suất (giá tính thuế là giá chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt).Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá nhập khẩu cộngvới thuế nhập khẩu Đây là một loại thuế gián thu, thuế này chỉ liên quan đếncác DN có kinh doanh các hàng hoá, dịch vụ trong danh mục do Nhà nướcquy định
Thuế TTĐB mang tính chất là thuế gián thu áp dụng đối với tám loạihàng hoá và bốn hình thức dịch vụ (quy định trong luật thuế TTĐB) được sảnxuất trong nước và nhập khẩu không thuộc loại thật cần thiết cho nhu cầu đờisống thiết yếu nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng cho NSNN,hạn chế sản xuất, nhập khẩu và tiêu dùng nhiều các mặt hàng này
Những cơ sở sản xuất mặt hàng chịu thuế TTĐB phải nộp thuế TTĐB
và không phải nộp thuế GTGT Thuế TTĐB chỉ nộp một lần tại khâu sản xuất(đối với hàng hoá sản xuất trong nước), khâu nhập khẩu (đối với hàng hoánhập khẩu hoặc ở khâu cung ứng dịch vụ (đối với dịch vụ chịu thuế)
Căn cứ tính thuế TTĐB là giá tính thuế của hàng hoá dịch vụ chịu thuế vàthuế suất Theo quy định hiện hành, biểu thuế TTĐB có mức thuế suất cao gồmmười hai mức thuế suất khác nhau từ 15% đến 100% được phân theo loại hànghoá và dịch vụ Đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB, thuế suất thuếTTĐB không phân biệt hàng hoá nhập khẩu hay hàng hoá sản xuất trong nước.Thuế tiêu thụ đặc biệt là nguồn thu quan trọng của NSNN, là công cụquan trọng thực hiện mục đích hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hàng hoá vàdịch vụ được coi là đặc biệt, thực hiện tái phân phối thu nhập của các tầng lớp
có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội Hiện nay, số thuế tiêu thụ đặcbiệt từ sản xuất kinh doanh nội địa chiếm khoảng trên 13,5% trong tổng thu
Trang 20NSNN, chiếm 11,9 % trong tổng thu từ DN [5].
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): là thuế trực thu, đánh vào thu
nhập chịu thuế của các DN Thuế TNDN là một sắc thuế quan trọng nhất củathuế trực thu Mọi tổ chức có hoạt động SXKD có thu nhập đều là đối tượngnộp thuế TNDN Số thuế được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế và thuếsuất Thu nhập chịu thuế được xác định bao gồm: thu nhập từ hoạt độngSXKD hàng hoá, dịch vụ và các khoản thu nhập khác trong kỳ tính thuế, kể
cả thu nhập từ hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ ở nước ngoài Thuế suất
do Nhà nước quy định Do đặc điểm của thuế TNDN là muốn xác định thunhập chịu thuế phải mở sổ sách kế toán theo dõi nên việc kê khai nộp thuế vàquyết toán thuế TNDN được phân định theo mức độ thực hiện chế độ kế toán.Thuế TNDN được sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tưnhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội, là một trong các nguồn thu quantrọng của NSNN và là công cụ có hiệu quả để Nhà nước thực hiện các mụctiêu kinh tế xã hội trong từng giai đoạn Hiện nay, thuế TNDN chiếm tỷ trọngkhá cao khoảng 26,1% so với các loại thuế khác trong tổng thu NSNN và
chiếm 46,1% trong tổng thu từ DN[5].
Thuế tài nguyên: là loại thuế đánh vào việc khai thác và sử dụng tài
nguyên thiên nhiên Thuế này phụ thuộc vào số lượng tài nguyên thực tế khaithác, giá tính đơn vị tài nguyên và thuế suất Thuế này chỉ liên quan đến các
DN khai thác tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản
Thuế tài nguyên là công cụ để quản lý, kiểm soát, hướng dẫn, điều tiếtcác hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệmôi trường sinh thái và động viên một phần thu nhập cho NSNN Số thuế tàinguyên chiếm tỷ trọng không lớn trong số thu NSNN hàng năm khoảng
4,93% tổng thu NSNN và chiếm 8,52 % trong tổng thu từ DN[5].
Thuế môn bài: là lệ phí đăng ký kinh doanh được tính theo năm Mức
thuế được áp dụng theo số tuyệt đối và được phân biệt theo hai nhóm: tổ chức
Trang 21kinh tế và hộ kinh doanh cá thể Đối với DN (tổ chức) thì mức môn bài đượcquy định từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng tuỳ theo mức vốn đã đăng kýtrong giấy phép kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư.
Thuế môn bài mang tính chất là thuế trực thu, động viên sự đóng góptrực tiếp của cơ sở kinh doanh, tạo được một nguồn thu quan trọng cho nhucầu chi tiêu của NSNN ngay từ đầu mỗi năm khi các nguồn thu khác chưanhiều Thuế môn bài có tác dụng kiểm kê, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, cócăn cứ phân loại quy mô doanh thu lớn, vừa, nhỏ để áp dụng biện pháp quản
lý thu thuế thích hợp
Thuế môn bài áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có thực tế kinhdoanh Thuế thu mỗi năm một lần và chủ yếu thu vào đầu năm Những cơ sởkinh doanh hoạt động trong sáu tháng đầu năm phải nộp mức thuế môn bài cảnăm Nếu bắt đầu hoạt động trong sáu tháng cuối năm thì nộp 50% mức thuế
cả năm
Số thuế môn bài chiếm ít khoảng 0,24% trong tổng thu NSNN và chiếm1,24% trong tổng thu từ DN Đây là loại thuế có tính chất lệ phí và liên quan
đến tất cả các DN [5].
Thuế nhập khẩu là thuế áp dụng với hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu,
biên giới Việt Nam; hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới và hànghóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa nhập khẩu Đối tượng chịuthuế nhập khẩu là hàng hóa: Hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới ViệtNam; Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan.Khu phi thuế quan là khu vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, có ranhgiới địa lý xác định, được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chínhphủ…Tổ chức, cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế,nộp thuế nhập khẩu
Thuế xuất khẩu là thuế áp dụng với hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu,
biên giới Việt Nam; hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới và hàng
Trang 22hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa xuất khẩu Đối tượng chịuthuế xuất khẩu là hàng hóa: Hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu, biên giới ViệtNam; Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan Khuphi thuế quan là khu vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, có ranh giới địa
lý xác định, được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Ngoài ra, còn một số khoản thu khác đối với DN như thuế bảo vệ môitrường, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền thuê đất … Những khoản thunày chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng thu từ DN
Mỗi sắc thuế nêu trên có phương pháp quản lý cụ thể khác nhau Tuynhiên, do khuôn khổ có hạn nên luận văn không đi sâu vào quản lý từng sắcthuế mà chỉ đề cập đến quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốcdoanh nói chung
2.1.3 Thu thuế và quản lý thu thuế đối với DNNQD
Theo nghĩa hẹp, thu thuế là một trong bốn khâu cơ bản của hoạt độngthuế nhà nước, bao gồm: tuyên truyền, hỗ trợ; kê khai thuế, tính thuế; thu-nộpthuế; thanh tra, kiểm tra thuế Theo đó, thu thuế là việc thu-nộp tiền thuế vàoNSNN được thực hiện bởi các cơ quan chức năng thu thuế
Theo nghĩa rộng, thu thuế bao gồm một “chuỗi” công việc có liên quanmật thiết với nhau nhằm đảm bảo cho tiền thuế - nghĩa vụ thuế của DN đượcthực hiện, được thu vào NSNN
Quản lý thu thuế là một bộ phận của quản lý nhà nước về thuế Quản lýnhà nước về thuế nói chung là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêmchỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của chính đối tượng nộp thuế
và sự hỗ trợ của cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước có liên quan
Quản lý thu thuế đối với DNNQD là hoạt động quản lý của Nhà nước mà
cơ quan thuế là đại diện để tổ chức hướng dẫn, điều hành, giám sát việc thực thipháp luật về thuế đối với các DNNQD nhằm động viên nguồn thu vào NSNN Đối với cán bộ thuế, quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuếDNNQD nói riêng bao gồm ba hoạt động riêng biệt, liên tiếp nhau: xác định
Trang 23đối tượng nộp thuế, xác định số thuế phải nộp và thu thuế Chức năng chủ yếucủa quản lý ở đây là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các hình thức phạt theoluật thuế để răn đe những đối tượng nộp thuế vi phạm Đồng thời, quản lý thuthuế cũng đảm bảo bên thứ ba có giao dịch mua bán hay cung cấp dịch vụ vớiđối tượng nộp thuế phải báo cáo đầy đủ, trung thực các giao dịch kinh tế cóphát sinh thuế nộp NSNN theo quy định của luật.
Hoạt động thu thuế đối với DNNQD bao gồm các khâu: đăng ký thuế,
xử lý tờ khai và kế toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế, quản lý nợ thuế,cưỡng chế nợ thuế, thanh tra, kiểm tra thuế
Trên phạm vi cả nước, quản lý thu thuế đối với DNNQD bao gồm các hoạtđộng: hoạch định mục tiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành quy trình thủtục, đề ra giải pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, sắp xếp tổ chức bộmáy và nhân sự để thực hiện các khâu công việc
Theo Luật quản lý thuế (có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007), cơ quanthuế quản lý thu thuế theo bốn chức năng chính: tuyên truyền, hỗ trợ ngườinộp thuế; kê khai và kế toán thuế; quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; thanh tra,kiểm tra với các quy trình để phục vụ cho quản lý thu thuế nói chung hayquản lý thu thuế đối với DNNQD nói riêng
2.1.4 Đặc điểm của quản lý thu thuế đối với DNNQD
Đặc điểm của quản lý thu thuế đối với DNNQD xuất phát từ đặc điểm củaNNT - các DNNQD và được thể hiện trên các mặt sau:
Một là, các DNNQD là nhóm DN không có vốn đầu tư của Nhà nước
hoặc DN có vốn của nhà nước dưới 50% vốn pháp định
Hai là, các DNNQD là nhóm NNT với nhiều loại hình đa dạng như:
Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, DN có vốn đầu tư nướcngoài, DN tư nhân (DNTN), hợp tác xã (HTX) So với nhiều NNT khác nhưcác cá nhân kinh doanh, thuế từ các DNNQD khá tập trung, có số thu khá lớn,thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nội địa Do vậy, quản lý thu thuế
Trang 24đối với DNNQD được đặc biệt quan tâm và đặt ưu tiên hàng đầu Hầu hết cơquan thuế các nước đều rất chú trọng việc quản lý nhóm NNT này.
Thực tế ở Việt Nam qua số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, khối
DNNQD luôn đóng góp gần 50% tổng thu NSNN cả nước hàng năm [47].
Ba là, DNNQD là nhóm DN có trình độ tổ chức cao hơn, chặt chẽ hơn
các hộ kinh doanh cá thể và cá nhân Hầu hết, các DNNQD thực hiện chế độ
kế toán, hoá đơn, chứng từ Theo chế độ hiện hành, các DNNQD đều phải mở
sổ sách kế toán và hạch toán kế toán theo chế độ quy định, thực hiện nghĩa vụthuế theo phương pháp kê khai thuế
Bốn là, DNNQD có phạm vi kinh doanh rộng hơn và mức độ phức tạp
cao hơn so với đối tượng là hộ cá thể Ngày nay, nhiều DNNQD có phạm vikinh doanh toàn cầu Vì vậy, việc kiểm soát chi phí và thu nhập khi tính thuế
là hết sức phức tạp Thủ đoạn trốn thuế của một số DNNQD lớn rất bài bảnkhông như các DNNQD nhỏ hoặc cá nhân kinh doanh (mà chủ yếu là bằngcách gian lận hoá đơn hay bán hàng không xuất hoá đơn) Các DNNQD nàyluôn xuất trình đủ hoá đơn, chứng từ và hạch toán rất đúng quy định Nhưng,đằng sau những số liệu chuẩn hóa đó là cả một kế hoạch trốn thuế hết sức tinh
vi Do đó, quản lý thu thuế đối với DNNQD đòi hỏi đội ngũ cán bộ có trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cao, nhiều kinh nghiệm Có như vậy mới phát hiệnđược các thủ thuật trốn thuế, tránh thuế hết sức tinh vi của các đối tượng này
Từ đó, đề xuất hoàn thiện chính sách hoặc xử lý đối tượng vi phạm
2.1.5 Yêu cầu về quản lý thu thuế đối với DNNQD
Để đạt hiệu quả cao trong thu thuế nói chung và thu thuế đối vớiDNNQD nói riêng cần phải đáp ứng các yêu cầu như thu đúng: đúng quyđịnh, đúng phương pháp, đúng đối tượng; thu đủ: đủ theo chế độ, chính sách;Thu kịp thời vào NSNN theo đúng Luật và yếu tố vô cùng quan trọng khôngthể thiếu đó là nuôi dưỡng nguồn thu, luôn tạo điều kiện để DNNQD có thểphát triển SXKD từ đó tạo nguồn thu ngày càng tăng cho NSNN
Trang 25Trong quản lý thu thuế không được bỏ sót đối tượng nộp thuế Muốnđạt được yêu cầu đó phải kết hợp nhiều yếu tố: văn hoá, tâm lý, kinh tế, hànhchính, pháp luật, thực hiện dân chủ, công khai NNT để động viên tự giác đăng
ký nộp thuế, phát hiện đối tượng trốn thuế để xử lý theo Pháp luật Đồng thời,
tổ chức thu thuế đúng pháp luật, đảm bảo "thu đúng thu đủ, thu kịp thời vàongân sách nhà nước"
Việc quản lý thu thuế đối với DNNQD cần phải đảm bảo các yêu cầu cơbản sau:
Một là, bảo đảm đúng luật, đúng quy định
Trước hết, phải tuân thủ quản lý theo Luật quản lý thuế Tất cả các sắcthuế đều phải theo trình tự, thủ tục các nội dung của quản lý thu thuế theo luậtđịnh, gồm:
Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế
Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
Quản lý thông tin về người nộp thuế
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Ngoài những quy định chung của Luật, cần thực hiện những quy định dongành thuế ban hành Về cơ bản, mỗi nội dung quản lý thuế đều được quyđịnh chi tiết bằng các quy trình và bất cứ cơ quan thuế nào cũng phải thựchiện đúng quy định của quy trình Các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế hiệnnay bao gồm:
Quy trình quản lý đăng ký thuế
Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế
Quy trình hoàn thuế
Trang 26Quy trình miễn thuế, giảm thuế
Quy trình quản lý thu nợ thuế
Quy trình cưỡng chế nợ thuế
Quy trình kiểm tra thuế
Quy trình thanh tra thuế
Quy trình kiểm tra hoá đơn
Hai là, bảo đảm tăng nguồn thu cho NSNN, đồng thời nuôi dưỡng nguồn thu
Mục đích đầu tiên của quản lý thu thuế là thu cho NSNN để bảo đảmnguồn tài chính duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước
Mặt khác, thu thuế không phải một lần, hay một kỳ nào đó mà nó đượclặp đi lặp lại cùng với sự tồn tại và phát triển của người nộp thuế Vì thế, nếukhông nuôi dưỡng nguồn thu thì vô hình chung làm cạn kiệt nguồn thu vàNhà nước khó có thể đảm bảo nguồn thu từ thuế Như vậy, thì khó có thểtrang trải được các nhu cầu chi tiêu để duy trì bộ máy nhà nước và thực hiệncác chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Để nuôi dưỡng nguồn thu, quản lý thu thuế phải giải quyết được đúngcác yêu cầu thu đúng, thu đủ Đồng thời, giải quyết tốt mọi chính sách ưu đãi,miễn, giảm, hoàn thuế, tháo gỡ khó khăn và tạo mọi điều kiện cho người nộpthuế duy trì tốc độ tăng trưởng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Ba là, bảo đảm tính khoa học và khách quan trong quản lý thu thuế.
Tính khoa học thể hiện ở chỗ là phải dựa vào nền tảng lý luận vữngchắc, phù hợp với quy luật khách quan Tính khoa học trong quản lý thuế cầnđược tuân thủ từ khâu xây dựng hệ thống tổ chức quản lý thuế cho đến hoạtđộng quản lý thu thuế
Khi xây dựng hệ thống tổ chức quản lý thuế, trước tiên cần phải nghiêncứu đến những nhân tố tác động như: trình độ phát triển của nền sản xuất (baogồm cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất), tính chất và đặc điểm củangành thuế; mối quan hệ giữa quản lý tập trung thống nhất và phân cấp quản
Trang 27lý trong ngành thuế, quan hệ song trùng lãnh đạo giữa ngành dọc và ngànhngang đối với hệ thống tổ chức quản lý thuế, trình độ trang bị công nghệ, cơ
sở vật chất cho hoạt động quản lý và trình độ của cán bộ quản lý thuế Sau đó,phải bảo đảm những yêu cầu có tính nguyên tắc như: số lượng cấp quản lý tối
ưu nhằm bảo đảm tính linh động và phù hợp với thực tế; loại trừ hiện tượngchồng chéo, trùng lắp hoặc không có người phụ trách tức là tuân thủ nguyêntắc một bộ phận của hệ thống tổ chức có thể đảm nhiệm một hoặc một số chứcnăng nhiệm vụ Song, mỗi chức năng nhiệm vụ không thể bố trí cho hai hoặcnhiều bộ phận khác nhau của hệ thống quản lý thuế
Về hoạt động quản lý thuế cụ thể, phải luôn luôn tìm ra những điều đãphù hợp, những điều chưa phù hợp trong quy định để bổ sung, sửa đổi chophù hợp Tính khoa học thể hiện rõ nhất ở sự vận động, hiện đại hoá và hoànthiện của quản lý thuế, bằng hoạt động quản lý thuế cụ thể hàng ngày, người
ta kiểm nghiệm lại quy định của luật pháp, của các quy trình nghiệp vụ và cả
hệ thống tổ chức bộ máy để tiến hành cải cách và hiện đại hoá, với xu hướng
áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống thuế điện tử trong một hệthống hoàn hảo của chính phủ điện tử, quốc gia điện tử
Tính khách quan thể hiện ở chỗ người quản lý phải tự giác tuân thủ mọiquy định về quản lý thuế, đối xử công bằng với mọi đối tượng của quản lýthuế, tránh áp đặt, chủ quan, duy ý chí Chẳng hạn, cần bảo đảm công bằnggiữa khu vực quốc doanh và khu vực ngoài quốc doanh, giữa tổ chức với cánhân, giữa DN lớn với DN vừa và nhỏ, giữa DN trong nước và nước ngoài
Bốn là, bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả trong quản lý thu thuế.
Bảo đảm tính hiệu lực thể hiện ở chỗ kết quả quản lý thu thuế so vớimục tiêu đề ra phải cao Theo đó, mọi DN đều tuân thủ và tiền thuế được nộpvào NSNN đúng, đủ, kịp thời
Bảo đảm tính hiệu quả nghĩa là bảo đảm tỉ lệ giữa chi phí quản lý thuế
so với kết quả thuế thu được là thập nhất Suy rộng ra, chi phí quản lý thuếbao gồm chi phí xã hội, tức là bao gồm cả chi phí của DN và chi phí của Nhà
Trang 28nước cho cơ quan thuế Để quản lý thuế có hiệu quả thì phải cải cách các thủtục hành chính theo hướng đơn giản hoá, dễ thực hiện và cơ quan thuế phải tổchức phù hợp để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho DN chi phí cho việc đăng ký,
kê khai, nộp thuế là ít nhất, đồng thời tránh mọi hành vi đặt thêm thủ tục tráivới quy định, sách nhiễu, gây phiền hà cho DN
2.1.6 Nội dung quản lý thu thuế đối với DNNQD
2.1.6.1 Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế là một nội dung quan trọng trong quản
lý thu thuế đối với DN Việc tổ chức bộ máy quản lý thu thuế không chỉ ảnhhưởng tới việc thực thi chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế, mà còn tác độnglớn tới chi phí quản lý thuế, năng lực của bộ máy và những vấn đề khác
Bộ máy quản lý thuế nói chung và quản lý thu thuế nói riêng có thểđược tổ chức theo nhiều cách khác nhau: theo NNT, theo sắc thuế, theo chứcnăng quản lý thuế và kết hợp giữa các hình thức đó
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo NNT: dựa trên cơ sở đặc
thù của NNT theo ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế, loại hình DN, tổ chức
và cá nhân nộp thuế Theo đó, các bộ phận chủ yếu của bộ máy quản lý thuthuế tập trung quản lý theo từng loại đối tượng Mỗi bộ phận nghiệp vụ và cáccán bộ thuế thực hiện tất cả các khâu trong quản lý thuế và thu tất cả các loạithuế của NNT Theo mô hình này, bộ máy ngành thuế thường chồng chéochức năng, khó chuyên sâu nên hiệu quả quản lý thấp Ở Việt Nam, trước khi
có Nghị định 281/HĐBT (năm 1990), có ba cơ quan thu độc lập, gồm CụcThu quốc doanh, Cục thuế công thương nghiệp và Vụ Thuế nông nghiệp Vềthực chất, đây là mô hình tổ chức quản lý theo NNT Ngoài ra, việc tổ chức các
bộ phận quản lý thu như phòng quản lý thu thuế các DNNQD, phòng quản lý thucác DN có vốn nước ngoài từ sau khi có các luật thuế năm 1990 cũng thể hiện
rõ mô hình quản lý thu thuế theo NNT
Mô hình tổ chức quản lý thu thuế theo sắc thuế: các bộ phận chủ yếu của
bộ máy thu thuế được định hướng chủ yếu vào từng sắc thuế Theo đó, một bộ
Trang 29phận thuế thực hiện quản lý thu một hoặc một số sắc thuế Mô hình này được
áp dụng ở Việt Nam giai đoạn sau năm 1990 Theo đó, các bộ phận quản lýthuế như: phòng thuế GTGT, phòng thuế TNDN, phòng thuế nông nghiệp
Mô hình này có ưu điểm là bảo đảm tính phù hợp và chuyên môn hoá sâu đốivới từng sắc thuế Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là nặng tính khép kín,chuyên quản, chồng chéo về chức năng, bộ máy cồng kềnh, chi phí quản lýthuế cao, đặc biệt là khi có nhiều sắc thuế như hiện nay
Mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo chức năng của cơ quan thuế: theo
mô hình này, mỗi bộ phận của cơ quan thuế được bố trí thực hiện một chứcnăng nhất định trong số các chức năng: tuyên truyền - hỗ trợ NNT, kê khai -
kế toán thuế, cưỡng chế - quản lý nợ, thanh tra - kiểm tra Mô hình này có ưuđiểm là tăng cường tính chuyên sâu theo chức năng, tạo điều kiện để kiểmsoát lẫn nhau tốt hơn, đơn giản hoá bộ máy, giảm chi phí quản lý Tuy nhiên,
mô hình này khó áp dụng trong điều kiện khi mà trình độ hiểu biết pháp luật
và ý thức tuân thủ pháp luật của NNT còn thấp Ngoài ra, nếu phối hợp giữacác bộ phận không tốt thì quản lý thuế sẽ thiếu đồng bộ, thậm chí có thể dẫnđến bế tắc trong hoạt động quản lý thuế
Trong cả nước, từ khi thực hiện Quyết định 291TC/TCT (năm 1993) củaTổng cục thuế, việc tổ chức bộ máy quản lý thuế theo chức năng đã được đặt
ra Theo đó, việc quản lý thu thuế được chuyên môn hoá theo ba nhóm chứcnăng: quản lý NNT, tính thuế và phát hành thông báo thuế, thanh tra thuế
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thu thuế kết hợp: là mô hình kết hợp
một phần theo chức năng, một phần theo NNT và một phần theo sắc thuế.Việc kết hợp các hình thức đó cho phép phát huy được ưu thế và khắc phụcđược phần nào hạn chế của mỗi mô hình nêu trên Ở Việt Nam, mô hình kếthợp được áp dụng từ lâu, đặc biệt là từ khi có Quyết định 218/2003/QĐ-TTg.Theo đó, việc tổ chức bộ máy quản lý thu thuế vừa dựa vào chức năng (tuyêntruyền - hỗ trợ NNT, kê khai - kế toán thuế, cưỡng chế - quản lý nợ, thanh tra
- kiểm tra), vừa theo NNT (theo loại hình DN), vừa theo loại sắc thuế (thuế
Trang 30TNCN) nhằm vừa chuyên môn hoá theo chức năng vừa đảm bảo tập trung chỉđạo nghiệp vụ hành thu theo nhóm NNT
Mô hình này thích hợp với giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế thông báo
thuế sang cơ chế tự khai-tự nộp thuế
Từ khi Luật quản lý thuế được ban hành và có hiệu lực từ ngày01/07/2007, tổ chức bộ máy ngành thuế được tổ chức theo Quyết định số
115/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ [26] Mô hình tổ chức bộ máy
giai đoạn này có những đặc điểm chính như sau (Hình 2.1)
Nguồn: Tổng cục thuế
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy ngành thuế
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế theo phương thức kết hợp, trong
đó đặc biệt chú trọng các chức năng được hình thành theo Quyết định
CHÚ THÍCH
Chỉ đạo trực tiếp Hướng dẫn và chỉ đạo theo chức năng
Trang 31115/2009/QĐ-TTg Theo đó, tổ chức bộ máy được xây dựng theo mô hìnhquản lý chủ yếu theo chức năng và có thêm bộ phận quản lý thuế TNCNnhằm phục vụ cho công tác chỉ đạo nghiệp vụ Luật Thuế TNCN có hiệu lực
từ tháng 01 năm 2009 Để phù hợp với Luật quản lý thuế, tại Tổng cục thuế ,các Ban quản lý thuế theo NNT đã bị xoá bỏ, thay vào đó là các Vụ mới gồm:
Vụ Kê khai và kế toán thuế, Vụ Kiểm tra nội bộ, Vụ Quản lý nợ và cưỡng chế
nợ thuế, Vụ Cải cách và hiện đại hoá
2.1.6.2 Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch thu thuế
Quá trình xây dựng kế hoạch là hết sức cần thiết, là cơ sở để thực hiệncác chương trình phát triển kinh tế xã hội Do đó, cần phải xác định đượctương đối lượng vốn có thể huy động được bằng thuế để bố trí, sử dụng, gópphần giải quyết cân đối ngân sách
Quản lý thu thuế phải thông qua hệ thống các bộ máy như KBNN, Ngânhàng, hệ thống chính quyền các cấp Do đó, kế hoạch thu thuế được duyệt làmmục tiêu phấn đấu và cơ sở pháp lý mang tính pháp lệnh cho các ngành, cáccấp thực hiện Vì vậy, việc xây dựng kế hoạch thu thuế phải thận trọng, cócăn cứ khoa học và thực tiễn, đảm bảo vừa mang tính tiên tiến để khai thácnguồn thu, tăng thu cho NSNN, vừa mang tính hiện thực phù hợp với khảnăng của nền kinh tế và sức đóng góp của DN
Việc xây dựng kế hoạch thu thuế dựa trên số lượng, quy mô, ngành nghềkinh doanh của NNT, của từng địa phương cũng như cả nước Trên cơ sở đó
mà hình thành kế hoạch thu thuế hàng năm và chia nhỏ theo kỳ thu thuế
Sau khi kế hoạch thu thuế được xác lập, cơ quan thuế tổ chức thực hiện
kế hoạch trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, bố trí thêm nguồnlực khi cần thiết, đặc biệt là sắp xếp lại tổ chức nếu cần, bố trí cán bộ và nhânviên Việc tổ chức thực hiện kế hoạch thu thuế có ý nghĩa quan trọng trong việchoàn thành nhiệm vụ thu thuế của ngành thuế ở địa phương
2.1.6.3 Thực hiện các khâu trong quy trình quản lý thu thuế
Trang 32Quy trình quản lý thu thuế là toàn bộ các khâu công việc được các bộphận thuộc cơ quan thuế thực hiện theo một trình tự nhất định, với những mốcthời gian nhất định, nhằm bảo đảm cho việc chuyển tiền thuế của NNT vàoNSNN một cách thuận tiện, nhanh chóng, đúng pháp luật.
Quy trình quản lý thu thuế là một nội dung rất quan trọng trong hànhchính thuế, là một bộ phận cấu thành của hệ thống thuế Tất cả các cuộc cảicách thuế của các nước trên thế giới trong những năm gần đây đều quan tâmxây dựng quy trình quản lý thu thuế trên cơ sở tổ chức bộ máy và trang thiết
bị hiện đại
Các khâu trong quy trình quản lý thu thuế hiện nay được phân chia theochức năng quản lý thuế gồm: tuyên truyền - hỗ trợ người nộp thuế; kê khai và
kế toán thuế; thanh tra, kiểm tra; quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Dưới đây
là một số nội dung cụ thể của các khâu này
Một là, tuyên truyền - hỗ trợ người nộp thuế.
Trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, cơ quan thuế chuyển đổi từ việcchủ yếu sử dụng quyền lực để quản lý sang hỗ trợ, phục vụ để người nộp thuếthực hiện đúng nghĩa vụ thuế Cơ quan thuế nhìn nhận người nộp thuế nhưkhách hàng, các đối tượng phục vụ của mình Do đó, trên cơ sở chủ động nắmbắt nhu cầu của người nộp thuế, cơ quan thuế tổ chức tuyên truyền, hỗ trợ sátvới yêu cầu, đặc điểm của từng nhóm NNT (chẳng hạn như theo thành phầnkinh tế, theo ngành kinh tế, theo quy mô) với những hình thức hỗ trợ phongphú, đa dạng phù hợp và chất lượng tốt
Để nâng cao chất lượng hỗ trợ người nộp thuế, việc thực hiện công tác
hỗ trợ phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung, cách thức hỗ trợ trong cảnước Do đó, cơ quan thuế Trung ương (Tổng cục thuế) có nhiệm vụ xâydựng kế hoạch hàng năm về công tác hỗ trợ, xây dựng các quy trình, sổ taynghiệp vụ Tổng cục thuế có nhiệm vụ xây dựng và phát hành các tài liệu, ấnphẩm hướng dẫn và hỗ trợ sử dụng trên toàn quốc để đảm bảo tính thống nhất khi
Trang 33giải đáp, hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân nộp thuế ở các địa phương khácnhau Đồng thời, để tăng cường chất lượng công tác hỗ trợ, cần phải xây dựngđược các tiêu chuẩn phục vụ người nộp thuế như tiêu chuẩn về thời gian trả lờiđiện thoại, thời gian trả lời văn bản, mức độ chính xác của nội dung trả lời…Tại các Cục thuế địa phương, bộ phận hỗ trợ có nhiệm vụ triển khai cácchương trình kế hoạch do Trung ương đề ra, thực hiện việc tuyên truyền hỗtrợ cho người nộp thuế trên cơ sở các tài liệu do Trung ương xây dựng phùhợp với điều kiện của từng địa phương Các điểm hỗ trợ, tiếp xúc người nộpthuế ở các Cục thuế phải thuận tiện và thống nhất về mô hình trên toàn quốc.
Hai là, kê khai và kế toán thuế.
Khâu kê khai và kế toán thuế được thực hiện trên nguyên tắc cơ quanthuế giả thiết rằng các NNT đều tự giác và thực hiện tốt nghĩa vụ kê khai, nộpthuế Khi NNT đã tự tính thuế, tự nộp tờ khai và nộp thuế theo quy định củaLuật thuế, cơ quan thuế sẽ xử lý ngay các tờ khai và chứng từ nộp thuế nhậnđược Trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế, công tác xử lý tờ khai, chứng từ nộpthuế và kế toán thuế phải đáp ứng được các yêu cầu:
Thứ nhất, nhận và xử lý các tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế nhanh
chóng, chính xác với sự trợ giúp hiệu quả của công nghệ thông tin, đảm bảochi phí nguồn lực thấp nhất, không gây phiền hà cho người nộp thuế
Thứ hai, thu thập được dữ liệu để theo dõi tình hình thực hiện và cung
cấp thông tin cho các khâu quản lý tiếp theo: phải theo dõi được tờ khai thuếcủa người nộp thuế từ tờ khai đầu tiên, qua các tờ khai điều chỉnh (nếu có)đến tờ khai cuối cùng, các lỗi người nộp thuế đã mắc, qua đó, cơ quan thuế cóthể có biện pháp xử lý phù hợp như: hướng dẫn người nộp thuế tránh các lỗi
đã mắc trong kê khai nếu việc mắc lỗi là do chưa hiểu rõ; hoặc xem xét sửađổi mẫu tờ khai nếu tờ khai chưa phù hợp; hoặc đó là dấu hiệu để xem xét,lựa chọn các trường hợp thanh tra nếu việc mắc lỗi mang tính lặp đi lặp lạimột cách cố ý
Trang 34Thứ ba, hạch toán đầy đủ, trung thực, chính xác, kịp thời nghĩa vụ thuế
của người nộp thuế và theo dõi thanh toán thuế nhằm tăng cường đôn đốcngười nộp thuế kê khai, nộp thuế vào NSNN, đảm bảo tính nợ thuế của ngườinộp thuế theo từng khoản thuế phải nộp
Ba là, thanh tra, kiểm tra thuế.
Trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế, đồng thời với việc tập trung nguồnlực đảm bảo tuyên truyền, hướng dẫn cho NNT, cơ quan thuế tăng cườngcông tác thanh tra, kiểm tra việc kê khai, nộp thuế nhằm phát hiện, xử lý kịpthời, nghiêm minh những hành vi gian lận, trốn thuế và đảm bảo công bằng vềviệc thực hiện nghĩa vụ thuế
Trong nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra thuế, cơ quan thuế tiến hành thanhtra, kiểm tra trên cơ sở thu nhập được đủ các thông tin cần thiết về người nộpthuế để phân tích, đánh giá rủi ro, từ đó lựa chọn đúng đối tượng cần thanhtra, xác định đúng vấn đề, phạm vi cần thanh tra
Để thực hiện quản lý thuế theo kỹ thuật phân tích rủi ro, cơ quan thuếcần phải có đầy đủ thông tin về người nộp thuế trong một khoảng thời giannhất định Các thông tin đầy đủ, kịp thời và tin cậy, được chuẩn hoá, thốngnhất trong toàn ngành, được xử lý tập trung ở Trung ương và cơ quan thuế cáccấp ở địa phương đều có thể cùng khai thác, sử dụng để đáp ứng yêu cầu lập
kế hoạch, giám sát chỉ đạo cấp trung ương đối với hoạt động quản lý thuế củatoàn ngành, cũng như hoạt động quản lý trực tiếp người nộp thuế của cơ quanthuế địa phương
Bộ phận thanh tra tại Tổng cục thuế chịu trách nhiệm xây dựng cácchuẩn mực phương pháp thanh tra, xây dựng hệ thống đánh giá rủi ro và các tiêuchí lựa chọn đối tượng để thanh tra và lập kế hoạch thanh tra trên toàn quốc
Bộ phận thanh tra tại các Cục thuế địa phương có nhiệm vụ triển khai kếhoạch thanh tra do Tổng cục thuế đề ra Việc thanh tra phải thực hiện theođúng các quy định của Tổng cục thuế
Trang 35Bốn là, quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế.
Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế là một trong những chức năng quantrọng của công tác quản lý thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế Một trongnhững tiêu thức để đánh giá hiệu quả bộ máy quản lý là thông qua số thuế nợthu được Cơ quan thuế phải đảm bảo về cơ sở pháp lý (có đầy đủ thẩm quyền
và sự phối hợp của các cơ quan có liên quan) để thực hiện chức năng cưỡngchế thu nợ thuế, phải có bộ máy chuyên trách thực hiện chức năng quản lý nợ
và cưỡng chế nợ thuế
Cơ quan thuế phải theo dõi được số nộp cho số thuế phát sinh và số nộpcho nợ tồn đọng của NNT theo từng loại thuế Qua đó xác định được tínhchất, mức nợ, tuổi nợ của từng món nợ thuế để có biện pháp thu nợ phù hợpnhằm giảm các khoản nợ có mức nợ và tuổi nợ cao
Công tác thu nợ được thực hiện khoa học với sự hỗ trợ của hệ thốngmáy tính, theo quy trình được chuẩn hoá, như lập hồ sơ thu nợ đối với từngtrường hợp, lựa chọn đối tượng để thu trên cơ sở phân tích mức độ rủi ro Cóthể áp dụng từ những biện pháp thu nợ đơn giản như gọi điện thoại, gửi thôngbáo nhắc nhở NNT, đến các biện pháp cưỡng chế nặng hơn như khấu trừ tiềntrong tài khoản ngân hàng, phong toả tài khoản, yêu cầu cơ quan Hải quanphong toả hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, kê biên và bán đấu giá tài sản Tại Trung ương, bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế bao gồm cácnhóm chính với nhiệm vụ như nghiên cứu trình trạng nợ đọng thuế, xây dựng
kế hoạch thu, xây dựng chiến lược quy trình cưỡng chế thu, xây dựng sổ taynghiệp vụ, chương trình đào tạo; chỉ đạo hướng dẫn, giám sát và đánh giá kếtquả thực hiện của các Cục thuế và Chi cục thuế
Tại các địa phương, các Cục thuế có nhiệm vụ triển khai các kế hoạch thu
nợ do Trung ương đề ra Công tác thu nợ được thực hiện theo quy trình đượcchuẩn hoá như lập các hồ sơ thu nợ đối với từng trường hợp (hồ sơ thu nợ baogồm các thông tin về tình trạng nợ thuế, tình hình tài chính, kinh doanh, các đối
Trang 36tác giao dịch chính của người nộp thuế…) Trên cơ sở đó, tiến hành phân loạingười nộp thuế theo mức độ rủi ro để lựa chọn trường hợp thu nợ theo thứ tự ưutiên đảm bảo cân đối với nguồn lực của cơ quan thuế.
Giữa các chức năng của cơ quan thuế, trong điều kiện áp dụng cơ chế tự kêkhai, tự nộp thuế, có quan hệ chặt chẽ với nhau và được hoàn thiện theo hướngtăng cường tính tự giác, ý thức tự tuân thủ pháp luật thuế của NNT trong việcthực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Một số kinh nghiệm về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nước ngoài và trong nước
2.2.2.1 Kinh nghiệm về quản lý thu thuế ở nước ngoài
Khảo sát kinh nghiệm nước phát triển như Australia, nước có điều kiệngần tương đồng với Việt Nam như Indonesia và nước có nền kinh tế chuyểnđổi như Hungari với mục đích tìm hiểu những cải cách và hướng hoàn thiệnquản lý thu thuế nói chung và quản lý thuế đối với DN nói riêng trên nhữngnội dung chủ yếu sau:
Một là, đăng ký thuế.
Ở bất kỳ một quốc gia nào, DN tiến hành kinh doanh đều phải đăng
ký thuế Đây là bước đầu tiên để cơ quan thuế quản lý được NNT Hiệnnay, hầu hết các quốc gia đều đưa hệ thống mã số NNT áp dụng trong việcđăng ký thuế
Đối với Indonesia, trong thời hạn một tháng kể từ khi tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh, các DN đều phải đăng ký thuế tại cơ quan thuế cấpquận, huyện để được cấp mã số thuế Tổng số đối tượng nộp thuế GTGT, TNDN
là 2,8 triệu, trong đó có 812.782 DN Việc đăng ký và cấp mã số thuế vẫn thực
hiện theo phương pháp truyền thống (bằng giấy) [29].
Đối với Hungari, năm 1996, thực hiện cấp mã số cho tất cả NNT Ngoài
ra, cơ quan thuế phải phối hợp với các cơ quan khác để nắm các thông tin liên
Trang 37quan đến việc quản lý thu thuế như đăng ký về dân số, đăng ký về tổ chức có
tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân, đăng ký về đất đai tài sản
khác [30].
Đặc biệt, đối với Australia, với phương châm coi NNT là khách hàng,
cơ quan thuế đã đưa nhiều hình thức để giúp khách hàng của mình dễ dàngđăng ký thuế như: việc đăng ký thuế của NNT thông qua Internet chiếm gần25%, thông qua hệ thống điện tử tại các đại lý thuế là 38%, thông qua giấy tờ
là 38%
Cả nước có 3,7 triệu DN, trong đó có 2,2 triệu DN đăng ký nộp thuếhàng hoá và dịch vụ (tương tự thuế giá trị gia tăng - các DN có doanh thu từ50.000$/năm trở lên thì phải đăng ký nộp thuế hàng hoá và dịch vụ, nhữngđối tượng có doanh thu dưới 50.000$/năm thì không thuộc đối tượng nộp thuếhàng hoá và dịch vụ mà chỉ nộp thuế thu nhập) Đối tượng này sau khi đăng
ký được cấp mã số thuế DN [28].
Hai là, công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT.
Ở nhiều quốc gia, bộ phận dịch vụ hỗ trợ NNT được thành lập ở tất cảcác cơ quan thuế để tăng cường trợ giúp cho đối tượng nộp thuế dưới nhiềuhình thức khác nhau, nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao vàkịp thời cho NNT, giúp DN thực hiện tốt nghĩa vụ thuế
Ở Indonesia, Tổng cục thuế cung cấp thông tin qua trang thông tin điện
tử của ngành (trang website), hỗ trợ trực tiếp, trả lời bằng văn bản, hướng dẫnhoặc toạ đàm trên đài tiếng nói hoặc truyền hình, phát hành các ấn phẩm, tờrơi Đặc biệt, có chế độ tờ khai thuế xanh (áp dụng cho NNT chấp hành tốtnghĩa vụ thuế) Các DN này sẽ được ưu đãi hoàn thuế nhanh trong vòng mộttuần khi được hoàn thuế GTGT Đồng thời, có điều lệ quy định rõ tráchnhiệm của cán bộ thuế và NNT trong trường hợp cán bộ thuế hướng dẫn hoặc
tư vấn cho NNT sai chính sách [29].
Ở Hungari, các hình thức dịch vụ hỗ trợ NNT chia tách thành các dịch
Trang 38vụ cụ thể như: dịch vụ trả lời qua điện thoại không mất tiền, truy cập thông tinqua Website, phần mềm kiểm tra việc tính thuế trên Internet và bằng đĩaquang, giảng bài và tư vấn trực tiếp, ban hành sổ tay về thuế, xuất bản tạp chí
chuyên ngành thuế [30].
Ở Australia, dịch vụ hỗ trợ NNT rất phong phú và hiện đại Việc quản lýthu thuế trên cơ sở phân NNT loại theo mức độ tuân thủ: nhóm một - đốitượng phản ứng hoặc trốn thuế; nhóm hai - đối tượng chỉ nộp thuế khi cơquan thuế ép buộc; nhóm ba - đối tượng không muốn nộp thuế nhưng vẫn nộpđúng; nhóm bốn - đối tượng luôn mong muốn làm đúng
Theo sự phân loại nói trên, chiến lược cung cấp dịch vụ cho các đốitượng nộp thuế cũng rất khác nhau Đối với nhóm một, cơ quan thuế gặp trựctiếp theo hình thức “một đối một”, NNT bắt buộc phải đến các quầy dịch
vụ Đối với nhóm hai, cơ quan thuế thực hiện gặp trực tiếp “một đối một”
có hẹn ước Đối với nhóm ba, cơ quan thuế thực hiện chương trình giáodục và thông tin "một với nhiều người" Đối với nhóm cuối cùng, NNT tựphục vụ thông qua các dịch vụ thông tin được cơ quan thuế cung cấp dưới nhiềuhình thức Hiện ở nước này, có hai mươi trung tâm cung cấp dịch vụ thông tin của
cơ quan thuế đặt tại các thành phố lớn, nơi tập trung phần lớn đối tượng nộp thuế
Ba là, thanh tra, kiểm tra.
Tại Indonesia, thanh tra được phân ra nhiều loại: thanh tra tại cơ quan thuế,thanh tra tại cơ sở; thanh tra thường xuyên, thanh tra chứng cứ ban đầu; thanh tra
đặc biệt (được thực hiện khi DN có sự bất thường) [29].
Từ năm 2002 đến nay, thanh tra thuế được ưu tiên tập trung vào DN quy
mô vừa trở lên Việc thanh tra các DN lớn phải được chấp thuận của Tổng cụctrưởng Tổng cục thuế
Ở Hungari, cơ quan thuế chia đối tượng nộp thuế thành năm nhóm để cóchiến lược và kế hoạch thanh tra, kiểm tra Chẳng hạn, đối với đối tượng nộpthuế lớn (DN lớn), việc kiểm tra được thực hiện mỗi năm một lần Việc thanhtra thuế được thực hiện 5 năm/lần Cơ quan thuế có quyền thanh tra, kiểm tra
Trang 39việc thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế từ 5 năm trở về trước, kể
cả kiểm tra bên thứ ba có liên quan [30].
Bốn là, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế
Các nước nói trên đều ứng dụng CNTT trong quản lý thuế từ khâu đăng
ký thuế (cấp mã số thuế), xử lý tờ khai thuế, theo dõi thu nộp, xác định cáctiêu chí đánh giá rủi ro, giúp cơ quan thuế lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểmtra, đối chiếu thuế đầu vào, thuế đầu ra trong thanh tra, kiểm tra thuế giá trịgia tăng, dịch vụ điện tử cho các DN, lập báo cáo và cung cấp thông tin, traođổi thông tin với các cơ quan có liên quan và phục vụ cho quản lý nội bộngành Ở với Australia, hệ thống CNTT trong quản lý thuế rất hiện đại: hệthống quản lý được nối mạng toàn quốc và có sự đối chiếu thông tin một cách
tự động Nếu là các công ty đa quốc gia thì phải có sự trao đổi thông tin vớicác nước có công ty mẹ hoặc công ty con ở nước đó Các dữ liệu trên tờ khaithuế được nhập vào máy tính, đối chiếu thông tin sau đó được xử lý hoàn toàn
tự động Có 77% tờ khai cập nhật và được xử lý tự động, còn 23% tờ khaiphải bổ sung hoặc làm rõ một số thông tin Máy tính có thể xử lý nhiều nộidung khác nhau, kể cả việc điều chỉnh các tờ khai của các đối tượng nộp thuế
có hình thức kế toán khác nhau [28].
Năm là, kê khai thuế qua mạng Internet.
Tại Indonesia, Tổng cục thuế bắt đầu áp dụng kê khai thuế qua mạng từtháng 7/2002 Việc kê khai thuế qua mạng được áp dụng trước hết đối với tờkhai thuế GTGT của các DN trong tháng có từ 500 hoá đơn trở lên Việc kêkhai thuế qua mạng đã đem lại nhiều lợi ích cho cơ quan thuế và NNT
Tại Hunggari, các NNT có thể tải mẫu tờ khai thuế trên mạng và thựchiện kê khai thuế Chương trình sẽ tự động kiểm tra lỗi tờ khai và tự động báolỗi để DN sửa lỗi, hoàn chỉnh tờ khai trước khi gửi cơ quan thuế Hiện tại, cókhoảng 3000 DN lớn của nước này đang thực hiện kê khai thuế qua mạng Tại Australia, dịch vụ kê khai thuế qua mạng được giới thiệu từ năm
1990 và trước hết được áp dụng cho các đại lý thuế, cho đến nay đã phát triển
Trang 40ở trình độ cao và phạm vi rộng Đây là một chương trình được ưu tiên hàngđầu của cơ quan thuế Australia và được mở rộng liên tục mỗi năm Chươngtrình này đã mang lại nhiều lợi ích cho cả cơ quan thuế như giảm được khốilượng lớn về giấy tờ và công việc nhập dữ liệu, tiết kiệm được nhân lực để bốtrí cho các khâu quản lý khác, cung cấp số liệu chính xác, kịp thời Còn NNTtiết kiệm được thời gian, chi phí.
2.2.2.2 Kinh nghiệm về quản lý thu thuế ở trong nước
Kinh nghiệm quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh
Cục thuế tỉnh Quảng Ninh là một trong bốn tỉnh được áp dụng thí
điểm cơ chế "tự khai tự nộp" từ năm 2004 Các nội dung công việc thực
hiện cụ thể bao gồm:
Về tổ chức bộ máy: thành lập Phòng thí điểm thực hiện cơ chế "tự khai,
tự nộp", cơ cấu của Phòng được chia thành 4 tổ (như cơ quan thuế thu nhỏ):
Tổ Tuyên truyền và hỗ trợ NNT; Tổ Xử lý tờ khai và tổng hợp; Tổ Theo dõi,đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế; Tổ Thanh tra, kiểm tra thuế
Thực hiện các khâu công việc trong quy trình quản lý thuế: tuyên truyền
hỗ trợ NNT; xử lý tờ khai và tổng hợp; đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế;thanh tra, kiểm tra
Kết quả triển khai thực hiện cơ chế "tự khai, tự nộp" đã đạt được cácmục tiêu như: nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế và tự chịu tráchnhiệm trước pháp luật của các DN; đảm bảo số thu NSNN đạt dự toán và tănghơn so với cùng kỳ; cơ quan thuế thực hiện được cải cách thủ tục hành chính,
bộ máy quản lý thuế được sắp xếp và hoạt động theo chức năng chuyên sâucủa ngành thuế
Từ ngày 01/7/2007, cơ chế “tự khai - tự nộp” được thực hiện chínhthức theo Luật quản lý thuế Cục thuế tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện cơchế này với các nội dung:
Tổ chức lại bộ máy quản lý thuế: gồm 12 phòng và thực hiện chức năng