Hỗ trợ của gia đình với phụ nữ bị trầm cảm trong khi mang thai và sau sinh...85... Trên thế giới đã có một số nghiên cứu tổng hợp các yếu tố nguy cơ ảnhhưởng đến trầm cảm trong khi mang
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, một huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Đông Anh thuộc vùng quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và du lịch đã được Chính phủ và thành phố phê duyệt, đồng thời là đầu mối giao thông quan trọng kết nối Hà Nội với các tỉnh phía Bắc.
Huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 18.230 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 9.785 ha Huyện bao gồm 1 thị trấn Đông Anh và 23 xã, cùng với 85 làng văn hóa, trong đó có 35 làng văn hóa cấp thành phố Dân số huyện đạt trên 331.000 người, với tỷ lệ dân cư đô thị chiếm 11% Nguồn thu nhập chính của người dân chủ yếu từ nông nghiệp và buôn bán nhỏ, chiếm 80%.
Huyện Đông Anh có hai bệnh viện chính là Bắc Thăng Long và đa khoa Đông Anh, nơi mà phần lớn phụ nữ đến khám thai và sinh con Theo thống kê năm 2013, có tới 11.600 phụ nữ đã lựa chọn hai bệnh viện này để thực hiện việc khám thai và sinh nở.
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9/2013 đến tháng 12/2017.
- Thời gian thu thập số liệu định lượng từ tháng 5/2014 đến tháng 8/2015.
- Thời gian thu thập số liệu định tính từ tháng 6/2014 đến tháng11/2015.
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào phụ nữ mang thai dưới 22 tuần và theo dõi họ từ 4-12 tuần sau sinh Theo định nghĩa của WHO, phụ nữ sinh con từ 22 tuần đến dưới 37 tuần được coi là sinh non Việc lựa chọn phụ nữ mang thai dưới 22 tuần là cần thiết để thu thập thông tin, vì sinh non là một yếu tố liên quan đến trầm cảm sau sinh.
Chúng tôi đã chọn tất cả các phụ nữ mang thai dưới 22 tuần và theo dõi họ từ 4 đến 12 tuần sau khi sinh Mỗi phụ nữ tham gia sẽ trải qua 4 cuộc phỏng vấn, bao gồm lần tiếp nhận, khi thai được 30-34 tuần, sau 24-48 giờ sau sinh, và sau 4-12 tuần sau sinh.
- Sống ở địa bàn huyện Đông Anh trong thời gian thu thập số liệu từ tháng 5/2014 đến tháng 11/2015.
- Đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu. b Tiêu chuẩn loại trừ:
- Thai phụ không có hộ khẩu thường trú tại địa điểm nghiên cứu hoặc di chuyển khỏi địa điểm nghiên cứu trong thời gian nghiên cứu.
- Thai phụ không có khả năng trả lời câu hỏi (do bị bệnh lý tâm thần hoặc bị bệnh lý khác).
- Thai phụ đăng ký sinh con tại nơi khác, không sinh tại 2 bệnh viện ở huyện Đông Anh là địa bàn nghiên cứu.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Nghiên cứu định lượng này áp dụng thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc, bắt đầu từ giai đoạn phụ nữ mang thai dưới 22 tuần cho đến 4-12 tuần sau khi sinh.
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua các cuộc phỏng vấn sâu và quan sát, nhằm mục đích hiểu rõ hơn về trải nghiệm của phụ nữ mắc trầm cảm cùng với những yếu tố liên quan từ góc độ văn hóa và xã hội.
(2) Tìm hiểu hành vi tìm kiếm dịch vụ hỗ trợ của phụ nữ khi có các dấu hiệu, triệu chứng trầm cảm.
Nghiên cứu định lượng đã phỏng vấn 1337 phụ nữ từ khi mang thai dưới 22 tuần đến 4-12 tuần sau sinh để đạt được mục tiêu 1 và 2 Đồng thời, nghiên cứu định tính phỏng vấn 20 phụ nữ nhằm giải thích thêm cho kết quả định lượng và bổ sung thông tin còn thiếu Mục đích của nghiên cứu định tính là mô tả chi tiết hơn về dấu hiệu trầm cảm, hành vi tìm kiếm hỗ trợ, nguyên nhân trầm cảm và những khó khăn mà phụ nữ gặp phải trong quá trình tìm kiếm hỗ trợ khi có dấu hiệu trầm cảm, nhằm đạt được mục tiêu 3.
Dưới đây là bảng tóm tắt về thiết kế nghiên cứu và công cụ nghiên cứu theo mục tiêu nghiên cứu như sau:
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp phương pháp nghiên cứu
Cỡ mẫu Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin Địa điểm phỏng vấn
Thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc
- 7 thai phụ và 13 phụ nữ sau sinh có dấu hiệu trầm cảm
- Sử dụng bộ câu hỏi của WHO.
- Thang đo trầm cảm EPDS
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp phụ nữ.
- PVS: Dựa vào bản hướng dẫn PVS
Giai đoạn 1 bắt đầu thu thập số liệu khi thai phụ có tuổi thai dưới 22 tuần thông qua phỏng vấn tại hai bệnh viện đa khoa Đông Anh và Bắc Thăng Long, hoặc tại trạm y tế xã (TYTX).
- Giai đoạn 2: Khi thai phụ được 30-34 tuần thai: phỏng vấn nhà riêng hoặc TYTX.
- Giai đoạn 3: 24h-48h sau sinh: phỏng vấn tại 2 bệnh viện.
- Giai đoạn 4: 4-12 tuần sau sinh: phỏng vấn tại nhà riêng hoặc TYTX.
- Phỏng vấn tại các hộ gia đình.
Thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc
- Sử dụng bộ câu hỏi của WHO
- Thang đo trầm cảm EPDS
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp phụ nữ.
- Giai đoạn 1: Phỏng vấn tại 2 bệnh viện đa khoa Đông Anh và Bắc Thăng Long và trạm y tế xã (TYTX)
- Giai đoạn 2: Phỏng vấn nhà riêng và TYTX.
- Giai đoạn 3: phỏng vấn tại 2 bệnh viện
- Giai đoạn 4: 4-12 tuần sau sinh: Phỏng vấn tại nhà riêng và TYTX. Mục tiêu
- 7 thai phụ và 13 phụ nữ sau sinh có dấu hiệu
- PVS: Dựa vào bản hướng dẫn PVS
- Phỏng vấn tại các hộ gia đình và TYTX.
Cỡ mẫu Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin Địa điểm phỏng vấn trầm cảm
Chọn mẫu nghiên cứu
2.4.1 1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng a Cỡ mẫu cho so sánh tỷ lệ trầm cảm trong khi mang thai và sau sinh
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước tính so sánh hai tỷ lệ (tỷ lệ trầm cảm trong khi mang thai và sau khi sinh):
- p1: Tỷ lệ mắc trầm cảm trong khi mang thai (theo điều tra thử 100 thai phụ ở Đông Anh, Hà Nội, p1=0,05).
- p2: Tỷ lệ mắc trầm cảm sau sinh (theo điều tra thử 100 phụ nữ ở Đông Anh, Hà Nội, p2=0,09).
- : Xác suất của việc phạm phải sai lầm loại II (=0,05).
- Z 2 (,): được tra từ bảng thu được giá trị (Z 2 (,)).
Sau khi áp dụng công thức tính toán, cỡ mẫu nghiên cứu được xác định là 1051 thai phụ Để đảm bảo tính chính xác, chúng ta cộng thêm 20% để phòng trường hợp bỏ cuộc, dẫn đến tổng số là 1261 thai phụ Cuối cùng, cỡ mẫu được làm tròn thành 1300 thai phụ.
Nghiên cứu đã chọn 1337 thai phụ đạt tiêu chuẩn và tiến hành phỏng vấn lần đầu, trong đó có 63 thai phụ không tham gia các lần phỏng vấn tiếp theo do không còn đủ tiêu chuẩn (chuyển nơi ở, sảy thai hoặc chết mẹ) Cuối cùng, 1274 phụ nữ hoàn thành 4 cuộc phỏng vấn, đây là cỡ mẫu được sử dụng để phân tích số liệu Chi tiết về việc mất đối tượng qua các giai đoạn được mô tả trong sơ đồ 2.1.
Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính là 20 phụ nữ cho PVS, được chọn mẫu chủ đích từ 1274 phụ nữ ở mẫu nghiên cứu định lượng
Tiêu chuẩn để chọn các phụ nữ cho nghiên cứu định tính từ mẫu của nghiên cứu định lượng: là những phụ nữ có điểm EPDS ≥10.
Mất đối tượng: n$ Thay đổi địa điểm sinh
Từ chối tham gia Đẻ non
4- 12 tuần sau sinh n = 1,274 Điều tra ban đầu
Mất đối tượng: n( Chuyển nơi ở
Từ chối tham gia Sảy thai
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ đối tượng tham gia nghiên cứu
Chọn toàn bộ phụ nữ mang thai 7 thì được định nghĩa là rối loạn lo âu.
Bản hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm gồm 3 phần (chi tiết bản hướng dẫn được trình bày ở phụ lục 2):
Phần I Bản đồng thuận tham gia nghiên cứu
Phần II Nội dung của bản hướng dẫn phỏng vấn sâu
- Phụ nữ giới thiệu bản thân thông qua câu chuyện về cuộc đời của họ
- Quá trình mang thai và hỗ trợ từ gia đình trong khi mang thai
- Lo lắng hay mối quan tâm nào khi đang mang thai không
- Trải nghiệm của phụ nữ về trầm cảm và bạo lực
- Hành vi tìm tiếm những hỗ trợ và những khó khăn trong quá trình tìm kiếm hỗ trợ của phụ nữ
Phần III Kết thúc cuộc phỏng vấn
Xử lý và phân tích số liệu
Dữ liệu được làm sạch trước khi nhập vào hệ thống Tất cả phiếu được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1, với quy trình nhập liệu được thực hiện hai lần bởi hai nhóm khác nhau Sau đó, nghiên cứu sinh tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên 5% dữ liệu đã nhập từ hai nhóm để đối chiếu với thông tin từ phiếu điều tra.
Sau khi nhập liệu xong, bộ số liệu được chuyển sang phần mềm STATA 12 để làm sạch và tiến hành phân tích.
Phương pháp phân tích thống kê mô tả được sử dụng để tổng hợp thông tin về dấu hiệu trầm cảm trong thai kỳ và sau sinh Mối liên quan giữa hai biến được đánh giá thông qua kiểm định χ2 với mức ý nghĩa α= 0,05.
Mô hình hồi quy đa biến Logistics được áp dụng để phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố và trầm cảm trước và sau sinh, nhằm kiểm soát ảnh hưởng của các yếu tố nhiễu Trong nghiên cứu, 10 biến số liên quan đến trầm cảm trong thai kỳ và 10 biến số cho trầm cảm sau sinh được đưa vào mô hình, dựa trên các mối liên hệ đã được xác định trong kiểm định hai biến Theo khuyến cáo của các nhà thống kê, ngưỡng p