Bệnh đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp dai dẳng và giới hạn luồng khí, là hậu quả của những bất thường đường thở và/hoặc phế nang thường do phơi nhiễm với các phân tử hoặc khí độc hại
T Ổ NG QUAN
D ị ch t ễ COPD trên th ế gi ớ i
Nghiên cứu dịch tễ học COPD chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển do yêu cầu về thời gian, công sức và chi phí Trước đây, các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh không thống nhất giữa các quốc gia, cùng với sự khác biệt về địa lý, khí hậu, môi trường và phong tục tập quán, đã dẫn đến sự chênh lệch tỷ lệ mắc COPD trên toàn cầu.
Kết quả nghiên cứu về dịch tễ học COPD bị ảnh hưởng bởi phương pháp chọn mẫu, sự tham gia của đối tượng và chất lượng kỹ thuật đo chức năng thông khí Nghiên cứu tổng quan của Halbert RJ (2006) cho thấy tỷ lệ COPD qua phân tích gộp là 7,6%, viêm phế quản mạn chiếm 6,4%, và khí phế thũng chiếm 1,8% Tỷ lệ lưu hành COPD qua nghiên cứu sàng lọc là 8,9%, qua khai báo của bệnh nhân là 4,9%, qua chẩn đoán lâm sàng của bác sĩ là 5,2%, và kết hợp khám lâm sàng với chụp X-quang phổi là 13,7%.
Theo dự báo của WHO, đến năm 2020, COPD sẽ là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3, chỉ sau bệnh mạch vành và mạch não Tỷ lệ tử vong do COPD đã tăng từ 2,95 triệu người vào năm 2000 lên 3,17 triệu người vào năm 2015, khiến nó trở thành nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 toàn cầu Trong năm 2016, trong số 56,9 triệu ca tử vong trên toàn thế giới, COPD chiếm vị trí thứ 3 trong 10 nguyên nhân phổ biến nhất Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính của COPD, gây ra 7,1 triệu ca tử vong Dự báo cho thấy tỷ lệ tử vong do COPD sẽ tiếp tục gia tăng, trong khi các bệnh lý nhiễm trùng có xu hướng giảm.
Biểu đồ 1.1 Mười nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới [16]
Tại Hoa Kỳ, COPD là nguyên nhân tử vong đứng thứ ba, với khoảng 100.000 ca tử vong mỗi năm Năm 2010, có khoảng 15 triệu người trưởng thành (6,3%) được chẩn đoán mắc COPD, trong khi 12 triệu trường hợp tiềm ẩn vẫn chưa được phát hiện Tỷ lệ mắc COPD tăng theo độ tuổi, từ 3,2% ở nhóm 18-44 tuổi lên 11,6% ở người từ 65 tuổi trở lên Tổng chi phí hàng năm cho COPD được ước tính là rất cao.
2010 là 49,9 tỷ đô la Khả năng làm việc giảm xuống 8,6% liên quan đến COPD [17],[18],[19]
Bệnh COPD tại Nam Phi vẫn chưa được biết đến rộng rãi, với rất ít nghiên cứu dịch tễ liên quan Một phân tích tổng hợp từ 9 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc COPD dao động từ 4,1% đến 24,8%, tùy thuộc vào tiêu chí chẩn đoán Năm nghiên cứu sử dụng công nghệ thông tin y tế (CNTK) ghi nhận tỷ lệ mắc trung bình là 13,4%, trong khi các nghiên cứu khác dựa trên bộ câu hỏi và dấu hiệu lâm sàng cho kết quả thấp hơn, khoảng 4%.
Mười nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới
Nguyên nhân khác Bệnh tim thiếu máu Đột quỵ
Nhiễm khuẩn hô hấp dưới, ung thư phổi, phế quản và khí quản, cũng như HIV/AIDS và đái tháo đường, là những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng Tiêu chảy và tai nạn cũng góp phần vào tỷ lệ tử vong Năm 2015, nghiên cứu cắt ngang của Frederik van Gemert và cộng sự đã chỉ ra mối liên hệ giữa bệnh tim và tăng huyết áp.
Tại quận Masindi, Uganda, một nghiên cứu trên 588 người cho thấy tỷ lệ mắc bệnh COPD đạt 16,2%, không có sự khác biệt lớn giữa nam và nữ, với khoảng 40% bệnh nhân trong độ tuổi 30-40 Đáng chú ý, 31% nam giới và 74% nữ giới mắc COPD không liên quan đến khói thuốc lá Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân COPD tiếp xúc với nhiên liệu sinh khối, đặc biệt là phụ nữ nấu ăn từ 3 đến 5 giờ mỗi ngày trong nhiều năm Tại Pháp, nghiên cứu của Roche (2005) trên hơn 5000 người trên 45 tuổi cho thấy tỷ lệ COPD là 8,4%, trong đó 10,6% là nam và 6,7% là nữ.
Dự báo dịch tễ học về bệnh COPD cho thấy đến năm 2025, tỷ lệ mắc bệnh tại Pháp sẽ gia tăng đáng kể, đặc biệt ở nhóm GOLD 3-4 với mức tăng gấp 4 lần Tỷ lệ này cũng sẽ tăng 23% ở nữ giới và 21% ở nhóm người trên 75 tuổi.
Tại Anh vào năm 2011, khoảng 1,2 triệu người (2% dân số) đã được chẩn đoán COPD – lớn hơn đáng kể so với 835.000 người theo ước tính của
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đã trở thành bệnh phổ biến nhất tại Anh, chỉ sau hen phế quản, với tỷ lệ mắc tăng 27% trong giai đoạn 2004 – 2008 Mặc dù tỷ lệ mắc đã giảm và ổn định dưới 115.000 trường hợp chẩn đoán mới vào năm 2012, nam giới vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn và có tỷ lệ tử vong cao hơn so với phụ nữ COPD hiếm gặp ở người dưới 40 tuổi, nhưng ảnh hưởng đến 9% người trên 70 tuổi Tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất được ghi nhận ở Scotland và phía Bắc nước Anh, với gần 30.000 ca tử vong hàng năm, khiến COPD trở thành nguyên nhân gây tử vong thứ hai do bệnh phổi và thứ năm tại Anh Từ 2004 đến 2012, tỷ lệ tử vong vì COPD đã tăng, đứng thứ 3 tại Châu Âu Hàng năm, có hơn 140.000 người nhập viện vì đợt cấp COPD, chiếm hơn một triệu ngày điều trị nội trú, tương đương 1,7% tổng số ngày điều trị so với các bệnh khác.
Một nghiên cứu tại Trung Quốc trên 20.245 người từ 40 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ mắc bệnh COPD là 8,2%, với 12,4% ở nam và 5,1% ở nữ Tỷ lệ này cao hơn ở khu vực nông thôn, những người có tiền sử hút thuốc, lớn tuổi, chỉ số BMI thấp, tiếp xúc với bụi nghề nghiệp hoặc nhiên liệu sinh khối, và có tiền sử bệnh phổi thời thơ ấu.
Tình hình d ị ch t ễ COPD ở Vi ệ t Nam
Một nghiên cứu năm 2003 về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) tại 12 quốc gia thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã ước tính tỷ lệ mắc COPD ở những người từ 30 tuổi trở lên Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc COPD khác nhau rõ rệt giữa các quốc gia, với mức thấp nhất là 3,5% ở Hồng Kông và Singapore, 4,7% ở Úc, và 6,5% ở Trung Quốc.
Bản 6,1% và cao nhất ở Việt Nam với tỷ lệ 6,7% [27]
Nghiên cứu tại Khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai từ năm 1996 đến 2000 cho thấy trong số 3.606 bệnh nhân điều trị, tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán mắc COPD khi ra viện chiếm 25,1%, đứng đầu trong các bệnh lý về phổi Đáng chú ý, có 15,7% trong số này được chẩn đoán là tâm phế mạn.
Nghiên cứu dịch tễ của Ngô Quý Châu và cộng sự (2006) tại thành phố
Hà Nội, sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang trên đối tượng là 2583 người
Tỷ lệ mắc COPD ở người trên 40 tuổi tại 14 phường trong 7 quận là 4,7%, với 7,1% ở nam giới và 2,5% ở nữ giới Nghiên cứu của Phan Thu Phương (2010) cho thấy tỷ lệ mắc COPD ở dân cư ngoại thành Hà Nội và tỉnh Bắc Giang là 3,6%, trong đó nam giới chiếm 6,5% và nữ giới 1,2% Tương tự, nghiên cứu của Chu Thị Hạnh (2007) trên công nhân từ 40 đến 69 tuổi tại Hà Nội ghi nhận tỷ lệ mắc COPD là 3% (nam 4,5% và nữ 0,7%) Kết quả này thấp hơn so với các nghiên cứu khác tại Việt Nam, có thể do không bao gồm đối tượng người cao tuổi (trên 70 tuổi).
Theo điều tra dịch tễ COPD toàn quốc năm 2006 của Đinh Ngọc Sỹ, tỷ lệ COPD ở người từ 15 tuổi trở lên là 2,2%, trong đó nam giới chiếm 3,5% và nữ giới 1,1% Tỷ lệ này cao hơn ở khu vực nông thôn (2,6%) so với thành thị (1,9%) và thấp nhất ở miền Nam (1,0%) Đối với nhóm tuổi từ 40 trở lên, tỷ lệ COPD là 4,2%, với nam giới là 7,1% và nữ giới là 1,9% Khu vực nông thôn có tỷ lệ cao nhất (4,7%), trong khi miền Nam lại thấp nhất (1,9%) Một thách thức lớn trong chẩn đoán sớm COPD là có đến 38,4% bệnh nhân (205/534) không có triệu chứng như ho, khạc đờm hay khó thở, cho thấy tầm quan trọng của việc đo lường và phát hiện sớm bệnh.
CNTK ở nhóm nguy cơ cao là thật sự cần thiết [8]
Nghiên cứu của Nguyễn Viết Nhung và cộng sự (2015) chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh COPD ở người không hút thuốc tại Việt Nam và Indonesia là 6,8%, với 12,9% ở nam giới và 4,4% ở nữ giới Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc COPD cao hơn so với Indonesia, với 8,1% so với 6,3%, và tỷ lệ này cũng cao hơn ở khu vực thành thị so với nông thôn.
Nghệ An, tỉnh lớn nhất Việt Nam về diện tích và đứng thứ tư về dân số với hơn 3,3 triệu người, có mật độ dân cư phân bố không đồng đều Khu vực đồng bằng và ven biển có mật độ cao, trong khi vùng núi và núi cao lại thưa thớt do địa hình hiểm trở và giao thông khó khăn Cơ cấu dân số của tỉnh được phân chia thành 14,73% thành thị và 85,27% nông thôn Khoảng cách thu nhập giữa các khu vực cũng không đồng đều, dao động từ 1.800 – 2.500 USD/người ở thành thị.
1000 USD/người ở một số huyện miền núi (Nguồn “Cục Thống kê tỉnh Nghệ
Hệ thống y tế ở các tuyến cơ sở gặp nhiều khó khăn, với thiếu hụt nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính còn hạn chế, dẫn đến nhận thức của người dân về tác hại của bệnh này chưa đầy đủ.
Nghiên cứu của Dương Đình Chỉnh và cộng sự năm 2013 cho thấy tỷ lệ mắc COPD ở những người có yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, thuốc lào, ăn trầu, và sử dụng than củi là 6,42%, chủ yếu ở nam giới (83,13%) và nhóm tuổi trên 60 (59,81%) Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa xác định được tỷ lệ mắc COPD toàn tỉnh và chỉ phản ánh một phần thực trạng dịch tễ COPD tại Nghệ An.
Các YTNC c ủ a COPD
Các YTNC của COPD được chia thành hai nhóm: các yếu tố nội sinh (yếu tố chủ thể) và các yếu tố ngoại sinh (yếu tốmôi trường)
Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ra bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), với khoảng 15 - 20% người hút thuốc mắc bệnh này, theo Hội lồng ngực Hoa Kỳ (ATS) Đặc biệt, 80 - 90% bệnh nhân COPD có tiền sử nghiện thuốc lá.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng người hút thuốc có triệu chứng hô hấp, rối loạn hệ thần kinh trung ương và tỷ lệ tử vong cao hơn so với người không hút thuốc Triệu chứng ho và khạc đờm có thể xuất hiện ngay khi bắt đầu hút thuốc, trong khi triệu chứng tắc nghẽn đường thở thường chỉ xuất hiện sau 20 năm.
30 năm hút hoặc sau tuổi 50 [35] Vai trò của hút thuốc đối với nguy cơ mắc
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi bắt đầu hút thuốc, thời gian và mức độ hút, cũng như sự tương tác với các yếu tố môi trường và di truyền Khói thuốc lá chứa nhiều chất oxy hóa, gây ra viêm ở các đường thở lớn, nhỏ và nhu mô phổi Quá trình viêm này dẫn đến sự phá hủy cấu trúc của đường thở và nhu mô phổi, gây tắc nghẽn đường thở Viêm cũng xảy ra ở đường hô hấp của những người hút thuốc có chức năng hô hấp bình thường.
Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ra bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), và thời gian hút thuốc có liên quan trực tiếp đến tỷ lệ tử vong do bệnh này Nghiên cứu dịch tễ học tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa việc hút thuốc và sự xuất hiện các triệu chứng hô hấp, với những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh cao gấp nhiều lần.
Trong nhóm người mắc COPD, tỷ lệ người hút thuốc chiếm 65,5%, trong đó 54,94% hút hơn 15 bao-năm Những người hút thuốc có nguy cơ mắc COPD cao gấp 2 đến 5 lần so với những người không hút thuốc.
Hút thuốc lá vẫn phổ biến ở các nước phát triển, mặc dù số lượng người hút có xu hướng giảm chậm Ngược lại, tại các nước đang phát triển, số lượng người hút thuốc đang gia tăng nhanh chóng, với dự đoán đến năm 2030 sẽ có 10 triệu ca tử vong mỗi năm liên quan đến thuốc lá, trong đó một nửa là ở độ tuổi 35 - 69 Khoảng 82% người hút thuốc lá trên toàn thế giới sống ở các nước đang phát triển, và 17% dân số hút thuốc lá toàn cầu cư trú tại Ấn Độ Tại Ấn Độ, tỷ lệ hút thuốc lá là 28,5% ở nam giới và 2,1% ở nữ giới, trong đó 65% nam giới và 33% phụ nữ sử dụng thuốc lá cuộn (bidi).
Hút thuốc thụ động là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) Những người sống hoặc làm việc cùng với người hút thuốc có thể bị tích tụ khói thuốc lá trong phổi, dẫn đến nồng độ nicotine và carboxyhemoglobin trong máu tăng cao.
Những đối tượng hút thuốc thụđộng cũng mắc các triệu chứng hô hấp tương tựnhư hút thuốc lá chủđộng
Nghiên cứu tại Thụy Điển (2014) cho thấy có mối liên quan giữa COPD và hút thuốc thụ động ở người không hút thuốc lá, với 8,0% phơi nhiễm tại nhà và 14,7% phơi nhiễm cả hai nơi Tỷ lệ mắc COPD là 6,6%, trong đó GOLD 1-2 chiếm 3,4%, và tỷ lệ này tăng theo tuổi và thời gian phơi nhiễm Cụ thể, tỷ lệ COPD là 2,3% dưới 45 tuổi, 4,8% từ 46 - 65 tuổi và 15,4% trên 66 tuổi, không có sự khác biệt về giới tính Một nghiên cứu tại Hàn Quốc không tìm thấy sự khác biệt về tỷ lệ mắc COPD giữa những người tiếp xúc và không tiếp xúc với khói thuốc, cho thấy khói thuốc có thể không phải là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với sự tiến triển của COPD ở người không hút thuốc Tại Việt Nam, các nghiên cứu về hút thuốc lá thụ động còn hạn chế, có thể do khó khăn trong việc xác định thời gian và mức độ phơi nhiễm với khói thuốc.
Ô nhiễm môi trường và ô nhiễm trong gia đình
Mức độ ô nhiễm không khí đang gia tăng, với các khí thải từ chất đốt gia đình, xe cộ và nhà máy công nghiệp làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong Nghiên cứu tại Ấn Độ và Trung Quốc cho thấy, mật độ hạt bụi trong không khí (PM2.5, PM10) tăng 10 µg/m³ sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong lên 0,6%, cao hơn so với ảnh hưởng của nhiệt độ cao và nghèo đói Nghiên cứu của Doiron D và CS (2019) tại Anh chỉ ra rằng, sự gia tăng nồng độ PM10 và PM2.5 liên quan đến suy giảm chức năng phổi, với FEV1 giảm 83,13 mL và FVC giảm 73,75 mL, đồng thời tỷ lệ COPD cũng cao hơn ở những khu vực có mật độ ô nhiễm cao.
Ô nhiễm không khí, đặc biệt là PM2.5 và PM10, có thể đạt mức trên 5 µg/m³ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng phổi, đặc biệt là trong bệnh lý COPD Ở các nước đang phát triển, khoảng 50% dân số sử dụng khí tự nhiên hoặc các loại nhiên liệu như củi, rơm, và than đá để nấu ăn, dẫn đến ô nhiễm môi trường sống Mặc dù hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ra COPD, nhưng phơi nhiễm với chất đốt sinh khối đang trở thành yếu tố nguy cơ đáng chú ý, với khoảng 3 tỷ người trên toàn cầu tiếp xúc hàng ngày Nghiên cứu cho thấy chất đốt sinh khối có thể làm tăng viêm phổi và suy giảm phản ứng miễn dịch bẩm sinh, ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của phổi.
Tại Trung Quốc, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới gia tăng không phải do phơi nhiễm với khói thuốc lá, mà chủ yếu là do tiếp xúc với không khí ô nhiễm trong nhà từ việc sử dụng nhiên liệu rắn dễ cháy trong nấu ăn So với khu vực nông thôn, tình trạng này càng trở nên nghiêm trọng hơn.
Tỷ lệ mắc bệnh COPD ở Yunyan và Liwang là 9,4%, với tỷ lệ ở nữ giới tại nông thôn là 7,2% và thành thị là 2,5% Sử dụng chất đốt sinh khối ở Yunyan cao hơn nhiều so với Liwang, cụ thể là 88,1% so với 0,7% Phân tích đơn biến cho thấy có mối liên hệ đáng kể giữa COPD và phơi nhiễm khí đốt.
Tiếp xúc với khói và bụi nghề nghiệp
Yếu tố môi trường nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bệnh lý hô hấp, đặc biệt là COPD Nghiên cứu của Schilling và cộng sự vào những năm 1960 đã chỉ ra mối liên hệ giữa nghề nghiệp và khả năng mắc COPD, thông qua việc điều tra công nhân trong nhà máy sợi bông Kết quả cho thấy bụi bông là yếu tố nguy cơ tiềm ẩn của COPD Nhiều nghiên cứu sau đó cũng xác nhận mối liên quan chặt chẽ giữa COPD và yếu tố nghề nghiệp Một nghiên cứu tại Na Uy cho thấy những người làm việc trong môi trường tiếp xúc với quartz, khí metan, bụi nhôm, nghề hàn hoặc amiăng có tỷ lệ tắc nghẽn đường thở từ 2,3% đến 2,7%.
Tại Pháp, một nghiên cứu COPD liên quan tới nghề nghệp từ 2004 –
2012 tại 7 trung tâm với 1094 người cho kết quả: 4 nghề liên quan tới COPD cao nhất là thợ lò đúc (13,3%), gia công dụng cụ (10,8%), nông nghiệp
Nghiên cứu tại Châu Âu trong 20 năm qua cho thấy tỷ lệ mắc COPD ở nhóm phơi nhiễm với các yếu tố nghề nghiệp cao hơn so với nhóm không phơi nhiễm Cụ thể, phơi nhiễm với khí và khói có tỷ lệ odds ratio (OR) là 1,5 (95% CI 1,1-3,8), trong khi phơi nhiễm với thuốc trừ sâu có OR là 2,3 (95% CI 1,1-4,2) và bụi sinh học có OR là 1,6 (95% CI).
CI 1,1-2,3) và không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong nhóm ảnh hưởng của phơi nhiễm nghề nghiệp [47]
Nghiên cứu của Chu Thị Hạnh (2007) về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) trên công nhân tại một số nhà máy ở Hà Nội cho thấy rằng, những công nhân làm việc trong các phân xưởng sản xuất có tiếp xúc với bụi có tỷ lệ triệu chứng hô hấp cao hơn so với nhóm công nhân không tiếp xúc.
Sinh lý b ệ nh h ọ c COPD
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đặc trưng bởi những thay đổi sinh lý bệnh như tăng tiết nhầy, giảm chức năng tế bào lông chuyển, tắc nghẽn lưu lượng thở, giãn phế nang, rối loạn trao đổi khí, và tăng áp lực động mạch phổi Tình trạng tăng tiết nhầy và giảm chức năng tế bào lông chuyển dẫn đến triệu chứng ho và khạc đờm mạn tính, thường xuất hiện nhiều năm trước khi có các rối loạn về chức năng hô hấp Tuy nhiên, không phải tất cả bệnh nhân COPD đều có triệu chứng ho khạc đờm Hiện tượng tiết nhầy gia tăng do các đường dẫn khí bị kích thích mạn tính bởi khói thuốc và các chất khí độc hại, làm tăng số lượng tế bào có chân và gây phì đại tuyến dưới niêm mạc Các chất trung gian hóa học và proteinase có thể kích thích trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các receptor, dẫn đến hiện tượng tăng tiết nhầy.
Tắc nghẽn đường dẫn khí ở bệnh nhân COPD xảy ra do viêm, co thắt, và tăng tiết dịch rỉ viêm, cùng với hiện tượng tái cấu trúc không bình thường Những yếu tố này dẫn đến tăng kháng trở đường thở, làm giảm chỉ số FEV1 và tỷ lệ FEV1/FVC.
Tắc nghẽn đường thở gia tăng do sự phá hủy các phế nang, dẫn đến mất tính đàn hồi của phổi và giảm lực đàn hồi, từ đó làm giảm lưu lượng thở Hiện tượng này tạo ra các bẫy khí và tình trạng giãn phổi, gây giảm dung tích hít vào và dung tích cặn chức năng.
Sự thay đổi về giải phẫu đường thở, bao gồm tắc nghẽn đường thở, giãn phế nang và các biến đổi về mạch máu ở phổi, dẫn đến việc giảm khả năng khuếch tán khí và khả năng trao đổi khí tại các phế nang, đồng thời làm tăng khoảng chết.
Tăng áp lực động mạch phổi thường xảy ra ở giai đoạn nặng của COPD (giai đoạn 4) khi có hạ oxy máu nghiêm trọng (PaO2 < 8,0 kPa hoặc 60 mmHg) Ngay cả ở giai đoạn GOLD nhẹ hoặc ở những người hút thuốc lá, khí phế thũng có thể phát triển và gây ra những bất thường đáng kể trong lưu lượng máu động mạch phổi, dẫn đến tình trạng bệnh nặng hơn Tăng áp lực động mạch phổi là nguyên nhân chính dẫn đến tâm phế mạn, một biến chứng tim mạch nghiêm trọng của COPD.
Lâm sàng, c ậ n lâm sàng, ch ẩn đoán COPD
1.5.1 Bi ể u hi ệ n lâm sàng c ủ a COPD
Các triệu chứng cơ năng
Ho mạn tính là triệu chứng đầu tiên của bệnh, với ho có đờm xuất hiện ở 50% người hút thuốc trong 10 năm đầu Các triệu chứng này có thể thay đổi hàng ngày và xuất hiện trước khi có tắc nghẽn đường thở Trong giai đoạn ổn định, bệnh nhân thường ho khạc đờm nhầy, với số lượng đờm khác nhau Các triệu chứng thường nhiều hơn vào buổi sáng và ban ngày, với tỷ lệ lần lượt là 81,4% và 82,7%, so với 63,0% vào ban đêm Trong đợt cấp do bội nhiễm, bệnh nhân thường khạc đờm mủ, nhưng một số trường hợp có thể tiến triển mà không có triệu chứng ho khạc đờm Tại Việt Nam, tỷ lệ ho - khạc đờm là 72,2% - 70,8%, trong khi nhóm không có triệu chứng lâm sàng chiếm 13,9% Khó thở khi gắng sức, cảm giác tức ngực và thở hổn hển là những triệu chứng khiến bệnh nhân lo lắng, và khó thở cũng thường gặp trong các bệnh lý tim mạch Mức độ khó thở có thể dễ dàng đánh giá qua khả năng hoạt động hàng ngày hoặc theo thang điểm khó thở mMRC Đau ngực là triệu chứng phổ biến, nhưng các xét nghiệm tìm nguyên nhân thường âm tính ở bệnh nhân COPD.
Nghiên cứu năm 2016 cho thấy tỷ lệ đau ngực ở bệnh nhân COPD dao động từ 22% đến 54% Nguyên nhân gây đau ngực có thể bao gồm trào ngược dạ dày – thực quản, mất co giãn màng phổi, co thắt phế quản, yếu tố thần kinh và receptor cảm nhận đau, hoặc do biến dạng của lồng ngực và xương sườn Trong các đợt cấp của COPD, việc xác định nguyên nhân đau ngực là rất quan trọng, bao gồm tổn thương màng phổi, viêm phổi màng phổi, và tắc mạch phổi, để có thể điều trị kịp thời.
Sự giảm sút cân, ăn kém và suy nhược cơ là những triệu chứng thường thấy trong giai đoạn nặng của bệnh, đồng thời cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo các bệnh lý nghiêm trọng khác như lao hoặc ung thư phổi.
Khám lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe, nhưng các dấu hiệu chỉ mang tính chất gợi ý khi chẩn đoán COPD Các dấu hiệu thực thể thường xuất hiện muộn khi chức năng hô hấp đã suy giảm đáng kể Ở giai đoạn sớm của bệnh, khám phổi có thể bình thường; khi tắc nghẽn ở mức độ trung bình, có thể thấy lồng ngực hình thùng, gõ vang và rì rào phế nang giảm, theo nghiên cứu của Badgett.
RG (1993), dấu hiệu rì rào phế nang giảm có độ nhạy trung bình 67% và độ đặc hiệu trung bình 98% [77]
Trong giai đoạn nặng của bệnh, bệnh nhân có thể gặp khó thở nhiều, co kéo cơ hô hấp phụ, và khi khám phổi sẽ thấy rì rào phế nang giảm đáng kể, có thể kèm theo các âm thanh như ran rít, ran ngáy, ran ẩm và ran nổ Ở giai đoạn muộn, các dấu hiệu suy hô hấp mạn tính như tím môi, tím đầu chi, thở nhanh và co kéo cơ hô hấp phụ sẽ xuất hiện, cùng với các biểu hiện của suy tim phải Dấu hiệu Hoover, thể hiện qua việc giảm bất thường đường kính lồng ngực khi hít vào, là một triệu chứng điển hình ở bệnh nhân mắc COPD Nghiên cứu của Garcia-Pachon (2006) cho thấy dấu hiệu Hoover xuất hiện ở 45% bệnh nhân khi khám lâm sàng, đặc biệt phổ biến ở nhóm COPD giai đoạn rất nặng với tỷ lệ lên đến 76%.
Đo CNTK phổi (spirometry) là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán bệnh, đặc biệt là trong việc chẩn đoán sớm và xác định mức độ nặng nhẹ của bệnh Rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn sau test hồi phục phế quản (HPPQ) được xác định khi chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) nhỏ hơn 0,7 sau khi thực hiện test HPPQ với liều lượng 400 µg salbutamol hoặc 80 µg ipratropium.
Bệnh nhân COPD thường có kết quả test HPPQ âm tính, với chỉ số FEV1 tăng dưới 12% và dưới 200ml sau khi thực hiện test Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có kiểu hình chồng lấp giữa hen và COPD, kết quả test HPPQ có thể dương tính, với chỉ số FEV1 tăng từ 12% trở lên và từ 200ml trở lên, hoặc dương tính mạnh với FEV1 tăng từ 15% trở lên và từ 400ml trở lên.
FEV1 là chỉ số quan trọng trong việc đánh giá mức độ nặng nhẹ của COPD, theo dõi tiến triển lâm sàng, đánh giá đáp ứng điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mối tương quan giữa FEV1 và triệu chứng lâm sàng không phải lúc nào cũng tương xứng, do đó việc đánh giá triệu chứng thông qua thang điểm mMRC hoặc CAT và đánh giá nguy cơ đợt cấp là rất cần thiết.
Bệnh nhân mắc COPD có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong [84]
Bệnh nhân mắc COPD có nguy cơ cao mắc các bệnh lý tim mạch như thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, suy tim và tăng huyết áp, do các yếu tố nguy cơ chung như hút thuốc, tuổi cao và tình trạng kinh tế xã hội Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa suy giảm chức năng phổi và tỷ lệ mắc bệnh tim mạch, không phụ thuộc vào tình trạng hút thuốc và tuổi tác Finkelstein (2009) chỉ ra rằng bệnh nhân COPD có nguy cơ nhồi máu cơ tim cao gấp 2 lần và rối loạn nhịp tim gấp 2,4 lần so với nhóm không mắc COPD.
Các bất thường trên điện tâm đồ ở bệnh nhân COPD thường liên quan đến tăng áp lực động mạch phổi và các thay đổi giải phẫu như dày nhĩ phải, phì đại thất phải, P “phế”, trục phải và block nhánh phải Điện tâm đồ cũng có giá trị trong chẩn đoán rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim, giãn buồng tim, các bất thường dẫn truyền và phì đại thất trái Việc xác định các bất thường này rất quan trọng trong quản lý và điều trị bệnh nhân mắc COPD.
Chụp x-quang phổi là công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán và đánh giá các bệnh lý như ung thư phổi, giãn phế quản, và lao phổi Mặc dù chụp x-quang thường quy có độ nhạy không cao trong việc chẩn đoán COPD, nghiên cứu của Miniati và cộng sự vào năm 2008 cho thấy rằng các bác sĩ có kinh nghiệm có thể đạt được độ nhạy và độ đặc hiệu trên 90% trong việc chẩn đoán khí phế thũng mức độ vừa và nặng.
Các hình ảnh x-quang thường gặp bao gồm:
+ Hình ảnh dày thành phế quản: Trên phim x-quang phổi thấy dấu hiệu đường ray xe điện hoặc dấu hiệu hình nhẫn dương tính.
Hình ảnh phổi bẩn có liên quan đến viêm mạn tính và xơ hóa nhẹ, với thành phế quản dày tạo ra các hình ảnh đường ray và ống nhòm (hội chứng phế quản) Khi có bội nhiễm viêm phế nang xung quanh phế quản, xuất hiện các bóng, nốt mờ (hội chứng phế nang) và các ổ sáng hình ống, cùng với hình ảnh vòng tròn rõ ràng ở hai nền phổi Viêm xung quanh phế quản góp phần tạo nên hình ảnh phổi bẩn (dirty lung), mặc dù không đặc hiệu Nghiên cứu của Phan Thu Phương (2010) và Chu Thị Hạnh đã chỉ ra những mối liên hệ này.
(2007) cho thấy, hình ảnh phổi bẩn gặp tương ứng 88,9% và 51,6%, trường phổi quá sáng gặp 50,7% và 22,6% [30],[31]
Khi COPD ở giai đoạn nặng có tăng áp lực động mạch phổi, tâm phế mạn có thể gặp hình ảnh:
Trường phổi quá sáng với cơ hoành hạ thấp, hình ảnh cơ hoành có dạng bậc thang, khoang liên sườn giãn rộng Có thể quan sát thấy các bóng, kén khí hoặc nhánh động mạch thùy dưới phổi phải có đường kính lớn hơn 16mm.
+ Động mạch phổi ngoại vi thưa thớt tạo nên một vùng giảm động mạch kết hợp với hình ảnh căng giãn phổi
+ Hình ảnh động mạch phổi tăng đậm: mạch máu nhìn thấy rõ, tăng kích thước và phân bố sát tới vùng ngoại vi của phổi
Chụp cắt lớp vi tính:
Chụp cắt lớp vi tính (CT) có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn chụp x-quang trong việc phát hiện khí phế thũng, đặc biệt là với kỹ thuật chụp lớp mỏng 1 mm Tuy nhiên, CT không cần thiết cho chẩn đoán COPD thường quy và thường chỉ được chỉ định khi có biến chứng như viêm phổi, tràn khí màng phổi, hoặc khi cần sàng lọc ung thư phổi, chuẩn bị cho thủ thuật đặt van nội khí quản, phẫu thuật giảm thể tích phổi hoặc ghép phổi.
Chẩn đoán COPD nên được xem xét ở bệnh nhân có triệu chứng ho, khạc đờm mạn tính, và khó thở ngày càng nặng hơn, đặc biệt nếu có tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ Đo chức năng hô hấp là phương pháp chuẩn vàng để xác định chẩn đoán, với chỉ số FEV1/FVC dưới 0,7 không hồi phục sau khi thực hiện test HPPQ.
Chẩn đoán một số kiểu hình COPD
Các phương pháp nghiên cứ u d ị ch t ễ h ọ c
Trong y học có 2 loại phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp nghiên cứu mô tả và phương pháp nghiên cứu phân tích
Hình 1.3 Các phương pháp nghiên cứ u d ị ch t ễ h ọ c [99]
Nghiên cứu cắt ngang hiện nay được sử dụng phổ biến để kiểm định giả thuyết nhân - quả giữa yếu tố phơi nhiễm và bệnh, dựa trên kết quả nghiên cứu và bằng chứng có sẵn Ưu điểm của phương pháp này là thực hiện nhanh chóng và tiết kiệm chi phí, tuy nhiên, nhược điểm lớn là không xác định được trình tự thời gian giữa nguyên nhân và hậu quả, vì cả hai yếu tố đều được ghi nhận tại cùng một thời điểm.
Nghiên cứu can thiệp là một loại nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao trong y học, đòi hỏi thiết kế chặt chẽ và thực hiện nghiêm ngặt theo đề cương Vấn đề y đức cần được xem xét kỹ lưỡng, và việc lựa chọn nhóm chứng phải dựa trên môi trường sống và thể trạng của đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, cần cân nhắc các biện pháp đo lường và sự tuân thủ của các đối tượng nghiên cứu đối với biện pháp hoặc thuốc được nghiên cứu.
1.6.1 Nghiên c ứ u c ắt ngang trong điề u tra d ị ch t ễ h ọ c COPD
- Một mẫu nghiên cứu gồm các đối tượng thăm dò ngắn hạn để nắm bắt các hiện tượng có mặt khi điều tra
+ Lợi ích của phương pháp này hạn chế vì chỉ tìm được độ lưu hành của một quần thể trong một thời gian nhất định
+ Có thể là khởi đầu cho các phương pháp nghiên cứu dọc hay phương pháp bệnh - chứng
+ Có thểtìm được mối liên quan với một nguyên nhân hay tìm giả thuyết về nguyên nhân gây bệnh
- Phải tiêu chuẩn hóa các khám xét và kỹ thuật thăm dò.
- Soạn thảo bộ câu hỏi: đầy đủ, đơn giản, dễ hiểu
- Thăm khám bộ máy hô hấp: trình tự và tiêu chuẩn rõ ràng
- Đo CNTK, các test về thông khí
1.6.2 Nghiên c ứ u th ử nghi ệ m lâm sàng
Thử nghiệm lâm sàng là nghiên cứu can thiệp nhằm kiểm định giả thuyết về hiệu quả của thuốc hoặc phương pháp điều trị mới Trong các nghiên cứu phân tích dịch tễ học như nghiên cứu đoàn hệ và nghiên cứu bệnh chứng, việc thiết lập nhóm đối chứng là cần thiết Để giảm thiểu sai số, yếu tố ngẫu nhiên phải được tuân thủ, và các kỹ thuật “làm mù đôi” cũng cần được áp dụng.
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial) là một phương pháp dịch tễ học nhằm khảo sát tác động của một can thiệp cụ thể, thường liên quan đến điều trị bệnh Trong nghiên cứu này, các đối tượng được phân chia ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp và nhóm chứng, và kết quả được đánh giá thông qua việc so sánh sự khác biệt trước và sau khi thực hiện nghiên cứu.
Nghiên cứu của Jolly K và cộng sự (2018) đã thực hiện một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng với 577 bệnh nhân COPD có thang điểm mMRC từ 1 - 2 Nhóm can thiệp nhận được tư vấn qua điện thoại về cai thuốc lá, tăng cường hoạt động thể lực, quản lý điều trị bằng thuốc và lập kế hoạch hành động, trong khi nhóm chứng chỉ nhận tờ rơi về COPD Sau 6 tháng, kết quả cho thấy nhóm can thiệp có hoạt động thể chất tốt hơn, sử dụng thuốc kháng sinh ít hơn và kỹ thuật sử dụng ống hít hiệu quả hơn.
Vai trò c ủ a truy ề n thông giáo d ụ c s ứ c kh ỏ e
Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của mỗi người Hiểu biết về nguyên nhân và hậu quả của các hành vi có hại giúp cá nhân điều chỉnh hành vi và duy trì thói quen có lợi cho sức khỏe Truyền thông giáo dục sức khỏe chuyển đổi từ không biết sang hiểu biết, từ đó thúc đẩy hành động phòng tránh bệnh và xử trí điều trị kịp thời Kỹ năng giao tiếp trong truyền thông là yếu tố then chốt, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả can thiệp đối với cá nhân và tổ chức.
Truyền thông giáo dục sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức về sức khỏe, thay đổi thái độ và cải thiện thực hành sức khỏe của con người.
Nghiên cứu của Paul Hernandez (2013) chỉ ra rằng tại Canada, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về COPD rất phong phú, nhưng vẫn tồn tại nhiều khoảng trống trong việc chăm sóc giữa bác sĩ hô hấp và bệnh nhân, chủ yếu do sự khác biệt trong nhận thức về bệnh.
Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe bao gồm 2 phương pháp: trực tiếp và gián tiếp
Truyền thông gián tiếp sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, phát thanh, báo chí, và các hình thức viết bài, tin tức, ảnh Nó bao gồm cả pano, áp phích, băng rôn, tờ rơi, sách, sổ tay hướng dẫn, cũng như các nền tảng trực tuyến như internet, điện thoại và tin nhắn.
Truyền thông trực tiếp bao gồm các hoạt động như tư vấn cá nhân về sức khỏe, làm mẫu, thăm hộ gia đình, sinh hoạt câu lạc bộ, tập huấn, mít tinh, hội thảo, tuần hành, tọa đàm, hội trại, truyền thông lồng ghép, hội thi và lễ phát động.
Người mắc COPD cần áp dụng nhiều biện pháp thực hành như phục hồi chức năng hô hấp, cai thuốc, rèn luyện sức khỏe và chế độ ăn hợp lý Thuốc điều trị chủ yếu là thuốc giãn phế quản, cần sử dụng liên tục trong suốt thời gian bệnh, kể cả giai đoạn ổn định Việc thực hành đúng các bước sử dụng thuốc dạng hít không chỉ tăng hiệu quả điều trị mà còn tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng dụng cụ phân phối thuốc đường hô hấp gặp nhiều thách thức, với tỷ lệ bác sĩ và bệnh nhân sử dụng sai các bước quan trọng rất cao.
Các biện pháp can thiệp trong COPD nhằm giảm các yếu tố nguy cơ, ngăn ngừa tình trạng bệnh nặng lên, giảm số lần cấp cứu và nhập viện, đồng thời nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân Tại Mỹ, khoảng 20% bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD tái nhập viện trong vòng 30 ngày, và 34% trong vòng 90 ngày Nguyên nhân tái nhập viện chủ yếu do điều kiện y tế tại cơ sở không đáp ứng đủ nhu cầu của bệnh nhân, với 70,5% bệnh nhân cho biết lý do này.
Bệnh nhân COPD thường xuyên nhập viện do đợt cấp cần được đánh giá kỹ lưỡng về nguyên nhân, mức độ tắc nghẽn, chất lượng chăm sóc sức khỏe, độ tuổi và sự hiện diện của các bệnh đồng mắc để có thể can thiệp kịp thời.
Nghiên cứu thuần tập tại Đài Loan (2006) với 3015 bệnh nhân COPD cho thấy rằng những bệnh nhân được chăm sóc liên tục theo chỉ số chăm sóc liên tục COCI sẽ có tần suất nhập viện thấp hơn Các tác giả khuyến cáo rằng để giảm thiểu nguy cơ nhập viện trong tương lai, các chính sách y tế cần khuyến khích bác sĩ và bệnh nhân duy trì mối liên hệ lâu dài nhằm nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân ngoại trú.
Truyền thông giáo dục sức khỏe không chỉ quan trọng đối với bệnh nhân mắc COPD mà còn cần chú trọng đến gia đình và người chăm sóc Bệnh nhân thường phải đối mặt với các triệu chứng nghiêm trọng, dẫn đến hoạt động hạn chế, cách ly xã hội và chất lượng cuộc sống kém Gia đình cũng gặp nhiều thách thức và cần hỗ trợ về cả thể chất lẫn tinh thần Clare Gardiner (2010) nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ cho người mắc COPD, đồng thời cung cấp giáo dục và đào tạo cho các chuyên gia y tế, và tiếp tục nghiên cứu để phát triển các biện pháp chăm sóc tốt nhất.
Quản lý COPD tại cộng đồng
Việt Nam có tỷ lệ mắc và tử vong do COPD cao nhất thế giới, với khoảng 4,2% dân số trên 40 tuổi mắc bệnh và 37,5% trong số đó có triệu chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt hàng ngày Điều trị ngoại trú COPD ở giai đoạn ổn định là giải pháp hiệu quả, giúp giảm chi phí điều trị từ hơn 200 triệu đồng cho đợt cấp xuống chỉ còn khoảng 20 triệu đồng cho giai đoạn ổn định, tương đương với việc tiết kiệm 90% chi phí Do đó, việc xây dựng Đơn vị quản lý COPD ngoại trú đạt chuẩn tại tuyến quận/huyện là giải pháp kinh tế nhất để giảm gánh nặng đợt cấp COPD.
Việc thiết lập các đơn vị quản lý COPD thống nhất và chuẩn hóa mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc sẽ giúp bệnh nhân dễ dàng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng, từ đó giảm biến chứng và nâng cao chất lượng sống Để đạt được điều này, cần có sự chỉ đạo mạnh mẽ và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, các Hội chuyên ngành, cơ sở khám chữa bệnh, cán bộ y tế và sự tham gia tích cực của bệnh nhân.
Nghiên cứu về hành vi khám chữa bệnh ở Việt Nam cho thấy chỉ 5% bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị đúng cách, trong khi 29% chỉ đi khám bác sĩ khi có triệu chứng và 43% tự mua thuốc hoặc sử dụng theo đơn cũ Đặc biệt, có đến 89% người bệnh không được điều trị dự phòng Do đó, việc phát hiện sớm và quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) tại cộng đồng là một can thiệp cần thiết và có tính hiệu quả cao.
Nghiên c ứ u v ề tuân th ủ điề u tr ị c ủ a b ệ nh nhân m ắ c COPD
1.9.1 Khái ni ệ m, nghiên c ứ u tuân th ủ điề u tr ị đố i v ớ i COPD
Theo WHO, tuân thủ điều trị (medication adherence) là mức độ hành vi của bệnh nhân trong việc thực hiện đúng các khuyến cáo từ bác sĩ, bao gồm sử dụng thuốc, thay đổi chế độ ăn uống và lối sống Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò chủ động của bệnh nhân trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh cho chính mình.
Nghiên cứu toàn cầu cho thấy tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc xịt hít đường hô hấp tương đối thấp Cụ thể, trong nghiên cứu LASSYC với 795 bệnh nhân COPD, chỉ có 51% bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt Tại Đan Mạch, tỷ lệ tuân thủ điều trị đối với thuốc ICS/LABA dao động từ 29% đến 56%, thuốc LAMA từ 51% đến 68%, và thuốc LABA từ 25% đến 62%.
1.9.2 Các y ế u t ố ảnh hưở ng t ớ i tuân th ủ điề u tr ị COPD Đánh giá các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị cần phân tích nhiều khía cạnh bao gồm tuổi, giới tính, giáo dục, chủng tộc, tình trạng hút thuốc, số lượng thuốc dùng hàng ngày, giai đoạn bệnh hoặc chi phí điều trị [113] Đường dùng thuốc cũng là một yếu tố cần đặc biệt lưu ý, thuốc uống có tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với các thuốc dạng hít Nhiều nghiên cứu cho thấy, các loại bình xịt-hít khác nhau có tác động khác nhau tới tuân thủ điều trị Trong khi đó một nghiên cứu tại Pháp cho rằng, hình dạng bình, bộđếm liều và khả năng tái sử dụng thường được người bệnh lựa chọn [114]
Tác dụng phụ và giá cả cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị
Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều bệnh nhân ngừng sử dụng thuốc do tác dụng phụ hoặc phải dùng nhiều loại thuốc khác nhau Hơn nữa, bệnh nhân cũng có thể ngừng điều trị khi không thấy triệu chứng lâm sàng Do đó, việc tư vấn thường xuyên, giải thích rõ ràng về bệnh và phương pháp điều trị, cùng với việc theo dõi và giám sát bệnh nhân liên tục, đã được chứng minh là những biện pháp hiệu quả trong việc cải thiện tuân thủ điều trị.
1.9.3 Các bi ện pháp đánh giá tuân thủ điề u tr ị COPD Đánh giá tuân thủ điều trị là một thách thức trong đánh giá lâm sàng của bệnh nhân và trong nghiên cứu lâm sàng Việc sử dụng các phương pháp đánh giá tuân thủ khác nhau sẽ mang lại kết quả khác nhau Mặt khác, phần lớn các thuốc sử dụng cho COPD là dạng xịt-hít, việc tuân thủ khác với loại thuốc uống về liều lượng, đường dùng, thực hành đúng các bước sử dụng
Các biện pháp đánh giá hiện nay được chia thành hai loại: đánh giá chủ quan và đánh giá khách quan Đánh giá khách quan bao gồm các phương pháp như đếm liều dùng, quan sát trực tiếp, theo dõi đơn tái khám và định lượng nồng độ thuốc hoặc các chất chỉ điểm sinh học Mặc dù các phương pháp này thường cho kết quả chính xác hơn so với đánh giá chủ quan, nhưng chúng thường bị hạn chế do chi phí cao và khó áp dụng rộng rãi Phân tích cơ sở dữ liệu hồi cứu tiết kiệm thời gian và chi phí, nhưng cũng có thể không đảm bảo độ chính xác.
Mặc dù các biện pháp đánh giá chủ quan có thể dẫn đến tỷ lệ tuân thủ cao hơn thực tế, chúng vẫn thường được sử dụng trong đánh giá tuân thủ điều trị COPD nhờ vào tính dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian và chi phí Các biện pháp này bao gồm tự đánh giá qua bộ câu hỏi và ghi nhật ký sử dụng thuốc, trong đó, thang điểm tuân thủ điều trị Morisky là một công cụ đơn giản và phổ biến để hỏi bệnh nhân.
MMAS (Morisky Medication Adherence Scale) là một công cụ gồm 4 câu hỏi tự điền, giúp người bệnh xác định lý do thiếu tuân thủ điều trị Ban đầu, MMAS được áp dụng cho bệnh nhân tăng huyết áp, sau đó mở rộng để đo lường sự tuân thủ điều trị ở những bệnh nhân mắc bệnh mạn tính, bao gồm cả COPD Bốn câu hỏi đã được điều chỉnh để phù hợp với việc sử dụng thuốc hít, và các tác giả đã phát triển phiên bản 8 câu hỏi dành riêng cho chuyên ngành hô hấp, được áp dụng trong nhiều nghiên cứu.