BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG CỦA TỔ CHỨC VÌ SAO VĂN HÓA TỔ CHỨC GIÚP ĐỊNH HƯỚNG VÀ HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA NHÂN VIÊN CỦA TỔ CHỨC BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌ.
Trang 1BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
TÊN ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG CỦA TỔ CHỨC VÌ SAO VĂN HÓA
TỔ CHỨC GIÚP ĐỊNH HƯỚNG VÀ HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ, HÀNH
VI CỦA NHÂN VIÊN CỦA TỔ CHỨC
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Văn hóa tổ chức
Mã phách:.……….
Hà Nội – 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
1 Cơ sở lý thuyết về đặc trưng của tổ chức 3
1.1 Khái niệm tổ chức 3
1.2 Đặc trưng của tổ chức 5
1.2.1 Mục tiêu của tổ chức 5
1.2.2 Cơ cấu của tổ chức 6
1.2.3 Quyền lực trong tổ chức 8
1.2.4 Con người và các nguồn lực 10
1.2.5 Môi trường tổ chức 11
2 Vì sao văn hóa tổ chức giúp định hướng và hình thành thái độ, hành vi của nhân viên của tổ chức 12
2.1 Khái niệm văn hóa tổ chức 12
2.2 Văn hóa tổ chức giúp định hướng và hình thành thái độ, hành vi của nhân viên của tổ chức 13
2.2.1 Văn hóa tổ chức giúp định hướng và hình thành thái độ của nhân viên13 2.2.2 Văn hóa tổ chức giúp định hướng và hình thành hành vi của nhân viên .14
3 Liên hệ thực tiễn văn hóa tổ chức tại Công ty Vinamilk 16
PHẦN KẾT LUẬN 19
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trong đời sống xã hội, con người bị ảnh hưởng bởi nền văn hoá trong đó họsống, nó bao gồm những giá trị, niềm tin, thái độ và những hành vi mong đợi Cũngnhư xã hội, ở phạm vi hẹp hơn, một cơ quan tổ chức cũng có nền văn hoá riêng gọi
là văn hoá tổ chức, đó là một trong những yếu tố rất quan trọng mà nhà quản lý cầnxây dựng và duy trì để đƣa đơn vị của họ phát triển hiệu quả và bền vững Văn hoá
tổ chức càng phát triển thì việc thực hiện chức năng của bộ máy quản lý càng đầy
đủ và rõ ràng hơn, uy tín của bộ máy quản lý do đó cũng đƣợc nâng lên Vì thếtrong giai đoạn hiện nay việc xây dựng và phát triển văn hoá tổ chức là vấn đề đƣợcquan tâm hàng đầu ở các tổ chức
Văn hóa tổ chức là môi trường sống của nhân viên trong mỗi công ty, giúphình thành tư duy, tạo cảm xúc và cố gắn kết mọi người theo mục tiêu chung Vănhóa tổ chức là sợi dây nối dài và làm tăng giá trị của từng cá nhân riêng lẻ; là tài sảnrất giá trị mà mỗi tổ chức cần phải phát huy Văn hóa tổ chức tạo ra lợi thế cạnhtranh, là giá trị vô hình giúp khách hàng phân biệt doanh nghiệp Văn hóa tổ chức
có thể được dùng đo lường hiệu quả hoạt động của tổ chức Trong cuộc chiến về lợithế cạnh tranh bền vững, xây dựng đội ngũ nguồn nhân lực gắn kết với tổ chức luôn
là mục tiêu tối cao của doanh nghiệp, giúp tổ chức nâng cao lợi thế cạnh tranh.Theo các chuyên gia nghiên cứu về quản trị nhân lực, mục tiêu của doanh nghiệpkhó đạt được nếu người lao động gắn kết hời hợt và năng suất lao động chưa cao;đặc biệt là những nhân viên xuất sắc (tài năng) cần phải được ưu tiên hàng đầu, bởinhững nhân viên xuất sắc được coi là những tài sản quý giá của tổ chức Sự gắn kếtnhân viên là một yếu tố chính đóng góp vào năng suất của tổ chức, hiệu quả và sựtồn tại lâu dài của tổ chức Các tổ chức nhân viên gắn kết cao có xu đạt được doanhthu và lợi nhuận lớn hơn Trong nhiều phương thức để nâng cao sự gắn kết nhânviên với tổ chức, Văn hóa tổ chức được coi là công cụ quan trọng và hiệu quả Vănhóa tổ chức mạnh sẽ là nền tảng để nâng tầm uy tín và vị thế của doanh nghiệp;giúp doanh nghiệp giảm mâu thuẫn, xung đột và là chất keo dính vô hình giúp
Trang 4người lao động tâm huyết gắn kết với tổ chức Nhiều khía cạnh văn hóa tổ chứcđược xem xét, tuy nhiên sự phù hợp của các nghiên cứu này tại Việt Nam lại là mộtvấn đề khi mà văn hóa Việt Nam có những đặc trưng riêng và khác lạ so với thếgiới
Để làm rõ hơn về về việc xây dựng các tổ chức và tầm quan trọng của vănhóa tổ chức, tôi xin chọn đề tài: “: Phân tích đặc trưng của tổ chức Vì sao văn hóa
tổ chức giúp định hướng và hình thành thái độ, hành vi của nhân viên của tổ chức”
Trang 5- Y học cho rằng trong sinh vật đơn bào, các tế bào đơn lẻ thực hiện tất cảcác chức năng sống, nó hoạt động một cách độc lập Tuy nhiên, sinh vật đa bào(nhiều bào) có mức độ khác nhau của tổ chức cơ thể của chúng Các tế bào cá nhân
có thể thực hiện chức năng cụ thể và cũng làm việc cùng nhau vì lợi ích của toàn bộ
cơ thể Các tế bào trở nên phụ thuộc vào nhau - Từ quan niệm của y học cho thấy
tổ chức chỉ có ở sinh vật đa bào, các tế bào phụ thuộc vào nhau vì lợi ích của toànbộ;
- Nhân loại học khẳng định từ khi xuất hiện loài người, tổ chức xã hội loàingười cũng đồng thời xuất hiện Tổ chức ấy không ngừng hoàn thiện và phát triểncùng với sự phát triển của nhân loại Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể củacon người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới mộtmục tiêu xác định của tập thể đó Như vậy, tổ chức là tập thể, có mục tiêu, nhiệm vụchung;
Ngay trong những chuyên ngành khoa học có giao thoa về đối tượng, phạm
vi nghiên cứu cũng có những cách tiếp cận, cắt nghĩa khác nhau về “Tổ chức”, cụthể là:
Trang 6- Theo Chester I Barnard, thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay
nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức 2 Nhưvậy theo lý thuyết quản trị công, để hình thành tổ chức phải có từ hai người trở lên(điều kiện về chủ thể) và các hoạt động của họ được kết hợp với nhau một cách có ýthức Quản trị công nhấn mạnh đến hai yếu tố là chủ thể và nguyên tắc hoạt độngcủa tổ chức (sự kết hợp có ý thức của các chủ thể) khi nhận thức về khái niệm tổchức
- Luật học (khoa học luật dân sự) gọi tổ chức là pháp nhân để phân biệt vớithể nhân (con người) là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Theo quy định tạiĐiều 84 Bộ luật Dân sự thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ cácđiều kiện sau: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độclập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danhmình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Luật học nhấn mạnh đến cácđiều kiện thành lập tổ chức và các yêu cầu đảm bảo hoạt động của tổ chức;
- Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là “tập thểcủa con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tớimột mục tiêu xác định của tập thể đó”3 Quan niệm về tổ chức theo Khoa học tổchức và quản lý có nhiều điểm tương đồng với Luật học, Quản trị công ở chỗ đềuxác định tổ chức thuộc về con người, là của con người trong xã hội; vì là tổ chứccủa con người, có các hoạt động chung do vậy mục tiêu của tổ chức là một trongnhững điều kiện quan trọng, không thể thiếu của tổ chức;
- Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước” địnhnghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm
vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của
tổ chức)4 Quan niệm của những người làm công tác tổ chức nhà nước có nhiềuđiểm tương đồng với khoa học quản lý, luật học trong đó nhấn mạnh tới mục tiêuchung, nguyên tắc hoạt động của tổ chức (điều phối một cách có ý thức) Điểm mớiquan trọng của quan niệm này về tổ chức thể hiện ở ý nói về phạm vi của tổ chức,
Trang 7mỗi tổ chức có phạm vi hoạt động khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố chức năng,nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu, nguồn lực của tổ chức đó Các yếu tố này là nhữngđiều kiện của tổ chức
- Trên phương diện ngôn ngữ: Tuỳ theo ngữ cảnh, tính chất, yêu cầu, mụcđích… có thể sử dụng các thuật ngữ: cơ quan, đơn vị, pháp nhân, công ty, hội…thay thế thuật ngữ tổ chức Sự đa dạng trên phương diện ngôn ngữ còn thể hiện ởviệc thuật ngữ tổ chức được dùng với các chức năng khác nhau như: là danh từ, làđộng từ, là tính từ (tiếng Anh Organization là danh từ, khác với Organize là động
- Có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu xác định;
- Được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợpvới quy định pháp luật
Nếu nhất thiết phải đưa ra một định nghĩa về tổ chức thì đó là tập hợp củacon người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu xácđịnh; được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp vớiquy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định
và hành động để đạt đến mục tiêu chung
Trang 81.2 Đặc trưng của tổ chức
1.2.1 Mục tiêu của tổ chức
Mục tiêu của tổ chức: là cái đích mà tổ chức mong muốn để đại tới là vấn đềquan trọng hàng đầu đối với sự hình thành và phát triển của tổ chức Trong tổ chứcngoài mục tiêu chung còn có các loại mục tiêu thành phần, các mục tiêu của cánhân, của các đơn vị cấu thành Mục tiêu của tổ chức, phải được xác định rõ ràng,
ổn định nhưng không phải là bất biến mà mục tiêu có tính tương đối Mục tiêu đượcxác định khi thành lập tổ chức và được phát triển bổ sung cùng với sự trưởng thànhcủa tổ chức Mục tiêu là một sự mong muốn, đòi hỏi phải xác định trên cơ sở khoahọc và biết cách để đạt được Nếu một mục tiêu đã được xác định ra mà không đạtđược thì nhà quản lý phải xem xét trên 2 giác độ xem xét lại mục tiêu có phù hợp tổchức hay không, xem xét lại cơ cấu, tổ chức nội lực bên trong Sự thay đổi của mụctiêu thường bắt đầu từ đối tác có liên quan sự mong muốn của nhà quản lý hay donhững nguyên nhân về chính trị Bất kỳ một tổ chức nào muốn hoạt động tốt cũngphải đề ra mục tiêu hết sức rõ ràng cho mình Xác định được mục tiêu xác đáng, rõràng đòi hỏi phải có sự phân tích và lựa chọn từ một khối lượng lớn những yếu tố,nhân tố diễn ra trong môi trường hoạt động tương lai
Tổ chức có các mục tiêu sau:
- Mục tiêu ban đầu: là mục tiêu khởi điểm khi hình thành tổ chức
- Mục tiêu phát triển: là mục tiêu được hình thành và phát triển theo quá trìnhhình thành và phát triển của tổ chức
- Mục tiêu chiến lược: là mục tiêu tổng quát mang tầm vĩ mô đó là những gìđặt ra cho tổ chức trong tương lai
- Mục tiêu dài hạn: là những kết quả mong muốn đề ra trong một khoảng thờigian dài, mục tiêu đúng hạn là mục tiêu trong một thời gian vừa phải và còn có mụctiêu ngắn hạn
Trang 91.2.2 Cơ cấu của tổ chức
Cơ cấu của tổ chức: được hiểu như là cấu trúc bên trong và mối quan hệ giữacác cá nhân, bộ phận cấu thành tổ chức nhằm đảm bảo cho tổ chức vận hành và đạtđược mục tiêu của tổ chức
Tổ chức có cách sắp xếp khác nhau như sắp xếp các yếu tố bộ phận nằmngang, theo thứ bậc hay còn gọi là thẳng đứng và sắp xếp theo khu vực địa lý.Nhưng trên thực tế thì không có một tổ chức nào lại sắp xếp tổ chức theo sách màthường là sự kết hợp của các cách sắp xếp đó để có một cơ cấu hợp lý khắc phụcphù hợp với môi trường mà tổ chức đang hoạt động
Việc lựa chọn cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào các yếu tố như:
- Chiến lược phát triển của tổ chức vì một tổ chức có chiến lược phát triểnlớn thì cơ cấu tổ chức phải phù hợp
- Quy mô tổ chức gắn liền với cơ cấu tổ chức
- Yếu tố công nghệ mà tổ chức áp dụng thì tuỳ vào mô hình sản xuất hìnhthức sản xuất mà có thể có những cơ cấu hợp lý
- Yếu tố môi trường nếu thiếu yếu tố này thì tổ chức không thể hợp như khimôi trường ổn định, thì xác định quy mô của tổ chức đơn giản
- Yếu tố quyền hạn, sức mạnh của tổ chức đối với tổ chức khác nghĩa là nếuquyền lực tập trung thì tổ chức có một dạng cơ cấu phân công nếu quyền hạn của tổchức được mở rộng với sự tham gia của nhiều người thì lại tổ chức khác
Việc xác định cơ cấu tổ chức phải được tiến hành theo các bước sau:
- B1: Xem xét đánh giá lại mục tiêu của tổ chức để làm cơ sở xác định cơ cấu
Trang 10- B2: xác định các hoạt động cần thiết để đạt mục tiêu đó.
- B3: Phân loại các hoạt động thành nhóm vì đây là công việc quan trọng,trong trường là sắp xếp của hoạt động có tiêu chí chung giống nhau thành mộtnhóm
- B4: thiết lập các mối quan hệ quyền hạn và trách nhiệm giữa các yếu tố cấuthành của tổ chức, thông thường phải trả lời được các câu hỏi “tôi là ai? Tôi phảibáo cáo tới ai”, “nhân báo cáo từ ai”
- B5: Vẽ sơ đồ cơ cấu tổ chức và điều chỉnh lại
Các loại cơ cấu tổ chức:
+ Mô hình cơ cấu cứng nhắc, hay là mô hình máy móc cơ học đây là loại môhình được nhiều tổ chức sử dụng và nó là loại mô hình truyền thống có nét đặctrưng là thiếu mối quan hệ ngang, mà chủ yếu là theo chiều dọc, mang tính tập trungquyền lực tổ chức, sự kiện mang tính thứ bậc, các kênh giao tiếp dược chính thứchoá
+ Mô hình cơ cấu tổ chức có linh hoạt, mô hình này được khá nhiều tổ chức
áp dụng và mang lại thành công hơn mô hình cứng nhắc cơ học Và mô hình này cómột nét đặc trưng là sự khác biệt theo chiều ngang không cao, phối hợp cả ngangdọc, nhiệm vụ qua sự chấp nhận, giao tiếp không chính thức, sự chính thức hoákhông cao phân quyền quyết định
+ Mô hình cơ cấu trực tuyến hay thẳng đứng, có nghĩa là các yếu tố cấuthành sắp xếp theo chiều ngang Là loại hình tổ chức đơn giản, tồn tại từ lâu, chỉ cócấp trên, cấp dưới trực tiếp Mỗi nhà điều hành thực hiện quyền lực trực tuyến đốivới thuộc địa Lãnh đạo mang tính trực tuyến, mỗi người phải báo cáo với mộtngười Loại tổ chức thích hợp với quy mô nhỏ ổn định
Trang 11+ Mô hình cơ cấu tổ chức theo chức năng Mô hình này áp dụng triệt để theomục tiêu phân công lao động, theo chuyên môn hoá là mô hình tổ chức thích hợpcho một phân xưởng, một bộ phận sản xuất.
+ Mô hình cơ cấu tổ chức theo ma trận: đây là loại hình tổ chức áp dụng cho
tổ chức ở giai đoạn phát triển mạnh, có nhiều hoạt động thay đổi
+ Mô hình cơ cấu tổ chức thường sử dụng trong tổ chức kinh tế là mạng thìthiết kế tổ chức này dựa trên những thành tựu KHCN và liên kết mạng thông tin nội
bộ, loại v này có thể khai thác những lợi thế của mạng thông tin nội bộ và toàn cầu.Nhưng ngược lại tổ chức phải chỉ ra các khoản phí lớn
+ Mô hình cơ cấu tổ chức theo quan điểm bộ máy thư lại: bộ máy trở lại là
bộ phận thực hiện chức năng của Chính phủ hay không phải Chính phủ quyền hạn
để thực thi nhiệm vụ hàng ngày được phân chia giữa các bộ phận khác nhau
1.2.3 Quyền lực trong tổ chức
Quyền lực của tổ chức được xem xét trên hai phương diện là thẩm quyềncủa tổ chức và các điều kiện đảm bảo cho các quyết định của tổ chức (bao gồm cảcủa các cá nhân có thẩm quyền trong tổ chức đó) được thực thi Đây là hai nộidung, hai mặt căn bản cần được xem xét đồng thời, với ý nghĩa quan trọng như nhaukhi bàn về quyền lực của tổ chức Thực tế cho thấy có không ít những trường hợpcác quyết định của cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước không được thực thinghiêm chỉnh, điều này làm giảm hiệu lực của các quyết định và như vậy đồngnghĩa với việc không đảm bảo quyền lực của các cơ quan, tổ chức nhà nước
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi bàn về thẩm quyền của các tổ chức,nhất là các cơ quan trong bộ máy nhà nước
Cơ sở, căn cứ hình thành quyền lực của tổ chức được tiếp cận nghiên cứu vớicác giác độ khác nhau theo đó có những lý giải tương thích Ví dụ: cơ sở để hìnhthành quyền lực của các tổ chức là văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm
Trang 12quyền (bao gồm cả văn bản của cá nhân người có thẩm quyền của cơ quan đó) quyđịnh về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức - Đó là cơ sở pháp lý hình thành quyền lựccủa tổ chức Hoặc quyền lực của tổ chức được hình thành từ quá trình tổ chức thựchiện quyền lực với các cơ chế khác nhau như: phân quyền, ủy quyền, phân cấp thẩmquyền - Đó là các căn cứ để hình thành quyền lực của tổ chức.
Các điều kiện đảm bảo cho quyền lực của tổ chức cũng bao gồm nhiềunhóm như: điều kiện về pháp lý (tổ chức được quyền ban hành loại văn bản gì, hiệulực về thời gian, không gian, đối tượng áp dụng); điều kiện về nhân lực; điều kiện
về cơ sở vật chất; điều kiện về tài chính, kinh phí hoạt động…
Một số nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực của tổ chức bao gồm: tậpquyền; phân quyền; tản quyền; phân cấp; ủy quyền Do giới hạn của bài viết, phầnnày tác giả bàn sâu thêm về yếu tố “kỹ thuật” của nguyên tắc tập quyền và phânquyền, cụ thể là:
- Một trong những nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tổ chức chính là mức độtập quyền hay mức độ quyền hạn được phân chia nhiều hay ít cho các cấp quản trịthấp hơn Phân quyền là xu hướng phân tán các quyền ra quyết định trong một cơcấu tổ chức Trong trường hợp ngược lại, xu hướng quyền lực tập trung vào taynhững nhà quản trị cấp cao mà không hoặc rất ít được giao phó cho cấp thấp hơn,
đó là biểu hiện của sự tập quyền
Lý luận và thực tiễn thực hiện phân quyền cho thấy mức độ phân quyền cànglớn khi:
- Số lượng các quyết định được đề ra ở cấp thấp hơn ngày càng nhiều
- Các quyết định được đề ra ở cấp thấp hơn ngày càng quan trọng Ví dụ nhưkhoản chi tiêu được cấp thấp hơn duyệt chi càng lớn