Chu trình SS vô tính và hữu tính, xảy ra ở mèo– Mèo có thể bị nhiễm trứng nang trong đất hay bào nang khi ăn thịt chuột, chim có chứa nang giả T.. – Trong Tb ký chủ, chúng sinh sản bằng
Trang 3Phân môn Ký
sinh
ĐHYD TP.HCM
Trang 4Toxoplasma gondii là một loài động vật nguyên sinh sống
kí sinh, kí chủ chính là mèo, có thể gây bệnh ở người
- Ở người mà hệ miễn dịch còn nguyên vẹn thì nhiễm Toxoplasma cấp tính thường không thấy triệu chứng Ở người lớn và trẻ em, sự nhiễm KST mãn tính có thể dai dẳng cả đời, ít có hậu quả đối với ký chủ còn có khả
năng miễn dịch
- Riêng đối với bệnh nhân AIDS thì nhiễm Toxoplasma là
- Riêng đối với bệnh nhân AIDS thì nhiễm Toxoplasma là hiện tượng nhiễm cơ hội quan trọng nhất ở hệ thần kinh trung ương
Trang 51.1 Thể hoạt động:
– Hình liềm, 1 đầu to tròn, 1 đầu nhỏ hơn và hơi nhọn,
kích thước 5-7x1-3 µm Nhân to tròn nằm về phía đầu
to, bên trong nhân có nhân thể Ở đầu nhỏ có 1 cơ cấu giúp cho KST xâm nhập vào tế bào
– Thể hoạt động có 2 loại:
– Thể hoạt động có 2 loại:
Loại phát triển nhanh (tachyzoite), tăng sinh
nhanh chóng trong Tb và làm vỡ Tb ký chủ Thể này gặp trong gđ cấp tính của bệnh
Loại phát triển chậm (bradyzoite), ko làm vỡ Tb
ký chủ, cho ra nang giả Đặc trưng cho gđ mãn tính tồn tại lâu dài trong ký chủ
(Greek tachos = speed) (Greek brady = slow)
Trang 6Thể hoạt động phát triển
nhanh (tachyzoite)
Thể hoạt động phát triển
chậm (bradyzoite)
Trang 11– Sự tiến hóa của T gondii phức tạp gồm 2 chu trình:
Sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính
– Mèo và các động vật thuộc họ mèo là ký chủ vĩnh viễn,
ở mèo xảy ra chu trình đầy đủ gồm: sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính
– Người và các động vật máu nóng khác là ký chủ trung gian, ở người chỉ xảy ra chu trình vô tính
Trang 12Chu trình SS vô tính và hữu tính, xảy ra ở mèo
– Mèo có thể bị nhiễm trứng nang trong đất hay bào nang khi
ăn thịt chuột, chim có chứa nang giả T gondii
– Vào đến ruột mèo, trứng nang hay bào nang bị tiêu hóa vỡ ra, phóng thích thoa trùng Chúng trở thành thể hoạt động và
xâm nhập vào biểu mô ruột non, phân chia vô tính cho ra thể phân liệt
– Khi thể phân liệt vỡ ra, thể hoạt động lại đi xâm nhập vào Tb
– Khi thể phân liệt vỡ ra, thể hoạt động lại đi xâm nhập vào Tb khác để cho ra thể hoạt động mới hay thể giao bào ♀ và ♂
Sự kết hợp giữa giao bào ♀ ♂ sẽ cho ra trứng nang và đc thải
ra ngoài theo phân, trở thành tác nhân gây nhiễm.
– Từ lúc mèo ăn thịt đến lúc trứng nang xuất hiện trong phân
khoảng 7-24 ngày.
– Khi mới đc thải ra ngoại cảnh, trứng nang có 1 bào tử ngbào, sau đó thành 2 bào tử ngbào rồi thành 2 bào tử nang, mỗi bào
tử nang có 4 thoa trùng.
Trang 13Chu trình không đầy đủ, SS vô tính, xảy ra
trên nhiều ký chủ trung gian:
– Người bị nhiễm do nuốt phải trứng nang hoặc ăn phải bào
nang có trong thịt chưa nấu chín hoặc trong sữa, máu, nước tiểu của thú vật bị nhiễm.
– Vào đến ruột của ký chủ, các thoa trùng trong trứng nang hay bào nang đc phóng thích để đi ký sinh các Tb thuộc hệ võng
mô, não, cơ trở thành những dạng hoạt động mới
– Trong Tb ký chủ, chúng sinh sản bằng cách phân đôi, cho ra những thế hệ mới tăng nhanh dân số, đi xâm chiếm Tb mới,
gây nên thể cấp tính Gđ này gây nguy hiểm cho thai nhi, nếu người mẹ đang mang thai bị nhiễm T gondii
– Sau khi tiếp xúc với mầm bệnh, cơ thể bắt đầu sản xuất ra KT chống lại KST Dưới tác dụng của KT, KST giảm tốc độ ss, chui vào Tb tạo ra bào nang khởi đầu cho gđ mãn tính Nang đc bao bọc bởi 1 màng do chính KST tạo ra, có thể tồn tại rất lâu
mà ko có biểu hiện của bệnh và gây thể tái phát khi ký chủ bị suy giảm MD.
Trang 15– T gondii trên rất nhiều loài ĐV hữu nhủ và chim.
– Người chỉ là ký chủ tình cờ
– Bệnh do T gondii thường phổ
– Bệnh do T gondii thường phổ biến ở các xứ nóng ẩm có tập quán nuôi mèo, ăn thịt sống hay nấu không kỹ
Trang 16– Gây tổn thương ở tất cả các mô nhất là TK trung ương, võng mạc, hạch, cơ.
– Hiện tượng sinh sản xảy ra trong thời gian rất ngắn,
chúng được phóng thích ra ngoài có thời gian sống rất ngắn, sau đó chúng chui vào tế bào
– Kháng thể xuất hiện vào ngày thứ 7-10 sau khi nhiễm,
– Kháng thể xuất hiện vào ngày thứ 7-10 sau khi nhiễm, sau đó KST không phát tán vào máu nữa mà đóng kén trong các mô
– Ở người bị suy giảm miễn dịch thấy rất nhiều KST trong
mô Bệnh nhân bị AIDS thường bị thể não hoặc thể lan tỏa, các ổ hoại tử, thuyên tắc và bào nang có thể gặp ở tim, gan, phổi và não
Trang 20Bệnh do T gondii được chia làm 2 thể:
Thể mắc phải và thể bẩm sinh
Thể mắc phải:
– Đa số không nhận thấy bị nhiễm, giai đoạn cấp trôi qua không được phát hiện, chỉ được phát hiện bằng phản ứng huyết thanh dương tính hoặc khi có tổn thương ở mắt Phần lớn không xác định được thời điểm và nguồn lây.
– Thể hạch:
– Thể hạch:
Thời gian ủ bệnh từ 1-3 tuần Khoảng 15-20% BN có tam chứng: sốt, nổi hạch và mệt mỏi
Sốt vừa phải (từ 38 - 38.5 0 C) trong vài ngày rồi biến mất
Nổi hạch, hạch không to cứng nhưng không đau, di động xuất hiện ở vùng cổ và nách, trung thất, bụng kéo dài nhiều tháng.
Sau khi hạch biến mất, mệt mỏi vẫn kéo dài thêm một thời gian Bệnh nhẹ không có biến chứng, tự khỏi không cần điều trị.
Trang 21Thể bẩm sinh:
Viêm não- màng não- tủy sống
Thể ở mắt:
Chiếm đa số, khoảng 80% trường hợp bẩm sinh
– Trẻ bị viêm hắc võng mạc sắc tố, đa số là do KST tái
hoạt động sau khi bị nhiễm từ lúc còn trong bụng mẹ
– Bào nang vỡ, phóng thích KST vào máu gây ra những
đợt nhiễm trùng cấp tính và võng mạc bị tổn thương Tổn thương võng mạc có thể xuất hiện ngay từ khi
mới sinh ra nhưng phần lớn là di chứng muộn xuất
hiện khi đã lớn
– Trường hợp nặng, có thể gặp mắt nhỏ, cườm mắt, mắt
lé, rung mắt
Trang 22Bệnh Toxo trên BN bị suy giảm miễn dịch:
Bệnh nhân bị AIDS:
– T gondii là nguyên nhân phổ biến nhất trong viêm
não khu trú, là bệnh cơ hội thường gặp nhất ở bn bị AIDS
– Đa số là do sự tái hoạt động của KST
– – Triệu chứng điển hình là sốt, đau đầu kéo dài, suy Triệu chứng điển hình là sốt, đau đầu kéo dài, suy
nhược tâm thần và có dấu hiệu tổn thương khu trú– Trong thể bệnh T gondii lan tỏa có thể gặp KST ở
tim, gan, hệ TK trung ương và phổi
– Trong trường hợp sơ nhiễm, triệu chứng thường
gặp là khó chịu, đau đầu kéo dài và nổi hạch
Trang 23Bệnh nhân ghép cơ quan:
– Ở Bn chuẩn bị ghép cơ quan đặc như tim, gan, phổi phải làm huyết thanh chẩn đoán T.gondii trước khi phẫu thuật Vì nhiễm T.gondii là một biến chứng đe dọa tính mạng BN
– Triệu chứng là sốt, mất ý thức và suy hô hấp
– Triệu chứng là sốt, mất ý thức và suy hô hấp
– Truyền máu hiếm khi gây nhiễm T gondii do thời gian KST này ở trong máu ngắn, nguy cơ nhiễm lớn hơn nếu truyền bạch cầu
Trang 24Bệnh gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đối tượng khác nhau nên PP chẩn đoán phải thích hợp cho từng trường hợp
Bệnh mắc phải:
Tình trạng MD bình thường, mắc bệnh trong lúc mang thai (chẩn đoán bằng PP huyết thanh học cổ điển)
Thai nhi còn trong bụng mẹ bị nhiễm:
Chẩn đoán bằng siêu âm, XN nước ối, XN máu thai nhi.
Trang 25Thể bệnh mắc phải ở phụ nữ có thai:
– Chẩn đoán huyết thanh học:
Tìm kháng thể IgG, Ig M, IgA
– IgG: đã có tiếp xúc với bệnh
– IgG: đã có tiếp xúc với bệnh
– IgM: đặc hiệu
– IgA: mới nhiễm bệnh
Trang 26Bệnh Toxoplasma ở thai nhi:
Phát hiện thai nhi có nhiễm Toxoplasma hay không:
Siêu âm:
Từ tuần 14 trở đi,theo dõi nước báng và tỉ lệ bán cầu
não/não thất, kiểm tra hàng tháng.
XN máu thai nhi:
Tuần thứ 14, lấy nước ối Từ tuần 20-22, lấy máu thai nhi.Nếu thai nhi bị nhiễm thì sẽ có những biến đổi sau:
– Tăng Eosinophile
– Giảm tiểu cầu
– Tăng gamma GT
– Tăng LDH
– Tăng IgM toàn phần
– IgA và IgM ko qua đc hàng rào nhau thai chỉ có thể
phát hiện đc vào tuần lễ thứ 22 trở đi
Trang 27Bệnh Toxoplasma ở trẻ được sinh ra từ mẹ bị nhiễm
KST trong khi mang thai:
– Khi vừa sinh ra: Tìm KST trong nhau, máu cuống rốn, máu ngoại vi, tiêm truyền chuột, nuôi cấy trên tế bào
– Ngày thứ 5 hoặc 10: Tìm kháng thể IgM và IgA Nếu kết quả (+), cần làm lại sau 5 ngày, nếu vẫn (+) thì trẻ chắc chắn bị nhiễm
– – Cần khám LS, thần kinh, chụp X-quang sọ, soi đáy mắt.Cần khám LS, thần kinh, chụp X-quang sọ, soi đáy mắt
Bệnh Toxoplasma ở thể mắt:
– Khám đáy mắt: Sang thương đặc trưng ở đáy mắt
– Huyết thanh chẩn đoán: cho biết bn có miễn dịch hay chưa
– Tìm kháng thể trong dịch tiền phòng bàng kĩ thuật
khuếch đại DNA (PCR)
Trang 28– Để chẩn đoán nhiễm Toxoplasma gondii, xét nghiệm
huyết thanh học đã trở thành phương pháp thường qui
– Có thể chẩn đoán là nhiễm cấp tính Toxoplasma gondii
nhờ vào sự hiện hữu tức thời kháng thể IgG và IgM
kháng Toxoplasma trong huyết thanh của bệnh nhân Chuẩn độ IgG dương tính (>1/10 ) có thể phát hiện
ngay 2-3 tuần lễ sau khi nhiễm kí sinh trùng, cao nhất
6-8 tuần lễ rồi giảm dần nhưng vẫn duy trì mức cao suốt đời
– Trong một nghiên cứu, người ta thấy hơn 97% bệnh
nhân AIDS nhiễm Toxoplasma hiện hữu kháng thể IgG kháng kí sinh trùng trong huyết thanh mà không phát hiện ra kháng thể IgM
Trang 29Đối tượng cần được quan tâm điều trị là: phụ nữ có thai, bệnh Toxoplasma ở mắt và bệnh nhân AIDS:– Phụ nhu nữ có thai: điều trị bằng Rovamycine
– Bệnh Toxoplasma ở bệnh nhân AIDS:
• Dùng Pyrimethamine kết hợp với Acid folinic
• Sulfadiazine
• Sulfadiazine
• Nếu bị mẫn cảm với sulfamide thì thay bằng:
(pyrimethamine + clindamycin) hoặc (pyrimethamine+ clarithromycine)
– Bệnh Toxoplasma ở mắt:
Rovamycine
Fansidar
Corticoid
Trang 30– Chủ yếu phòng bệnh cá nhân, đặc biệt đối với phụ nữ có thai mà chưa có MD: ăn thịt chín, rửa rau sạch, vệ sinh tay trước khi ăn, tránh tiếp xúc với mèo.
– Đối với phụ nữ có thai cần theo dõi huyết thanh học
hàng tháng cho đến khi sinh Thực hiện sớm tìm IgG và IgM đc thực hiện ngay từ đầu thai kỳ
– Đối với những người đang dùng thuốc ức chế MD và bn AIDS có huyết thanh (+) với T gondii nên điều trị dự
phòng