Danh mục Viết tắt ADA Hiệp định Chống bán phá giá APHIS Dịch vụ Kiểm duyệt Sức khỏe Cây trồng và Vật nuôi US CEN Ủy ban Tiêu chuẩn hóa Châu Âu DRU Thỏa thuận về Giải quyết Tranh chấp FAO
Trang 1Các Rào cản đối với Thương mại Tự do
Các hàng rào phi thuế quan tại Liên minh Châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ
Trang 2© David Hanson 2000
Bản quyền tác phẩm được bảo hộ Không được phép xuất bản, lưu trữ, tuyên truyền nội dung của cuốn sách dưới bất cứ hình thức hoặc cách thức nào, dưới dạng in ấn hay chế bản điện tử, sao chép, ghi âm hoặc các hình thức khác nếu không có sự cho phép của Nhà xuất bản
Edward Elgar Publishing, Inc
William Pratt House
9 Dewey Court
Northampton
Massachusetts 01060
USA
Bản ghi của cuốn sách này có tại Thư viện Anh
Số quản lý thư viện: 2009936740
ISBN 978 1 84720 247 5
In ấn và được bán bởi MPG Books Group, Vương quốc Anh
Trang 3Mục lục
4 Các vấn đề tranh chấp trong thực tiễn thương mại tại Hoa Kỳ 59
6 Các vấn đề tranh chấp trong thực tiễn thương mại tại EU 112
8 Các vấn đề tranh chấp trong thực tiễn thương mại tại Nhật Bản 147
Trang 4Danh mục Bảng biểu
1.1 Tầm quan trọng ngày càng lớn của thương mại trong nền kinh tế quốc gia 9 1.2 Tầm quan trọng của EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ đối với thương mại toàn cầu: 2004 11 2.1 Số liệu các vụ tranh chấp thương mại liên quan đến 3 nước (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) 28
4.1 Các vấn đề trong chính sách thương mại Mỹ trong năm 2002 và 2007 60 4.2 Các vấn đề mới nổi năm 2007, không được nêu trong năm 2002 83 4.3 Các vấn đề trong chính sách thương mại Hoa Kỳ đưa ra vào năm 2002 và
6.1 Các vấn đề trong thực tiễn thương mại EU trong năm 2002 và 2007 113
6.3 Các vấn đề đưa ra vào năm 2002 và đã được giải quyết trước 2007 125
8.1 Các vấn đề trong thực tiễn thương mại Nhật Bản trong năm 2002 và 2007 148 8.2 Các vấn đề trong thực tiễn thương mại Nhật Bản mới nổi năm 2007 148 8.3 Các vấn đề được đưa ra trong năm 2002 mà không nảy sinh trong năm 2007 162 9.1 Tổng hợp số liệu các vụ kiện tranh chấp thương mại 165
9.4 Thời hạn và kết quả của các vụ kiện tranh chấp trong WTO 176
9.9 Vấn đề thương mại theo đối tượng và hiệp định quốc tế 183 9.10 Các biện pháp tự do hóa thương mại và số liệu đơn kiện thương mại 185
Trang 5Danh mục Viết tắt
ADA Hiệp định Chống bán phá giá
APHIS Dịch vụ Kiểm duyệt Sức khỏe Cây trồng và Vật nuôi (US) CEN Ủy ban Tiêu chuẩn hóa Châu Âu
DRU Thỏa thuận về Giải quyết Tranh chấp
FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực
FCC Ủy ban Truyền thông Liên bang (Hoa Kỳ)
FDA Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (Hoa Kỳ)
GATS Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
GPA Hiệp định về Mua sắm Chính phủ
HLS An ninh Nội địa (Hoa Kỳ)
IPPC Hội đồng Bảo vệ Thực vật Quốc tế
IPPC Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật
IPR Quyền Sở hữu Trí tuệ
METI Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (Nhật Bản)
MFN Nguyên tắc Đãi ngộ Tối huệ Quốc
NCSCI Trung tâm Tiêu chuẩn và Chứng nhận Quốc gia
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Quốc tế
OIE Tổ chức Dịch tễ Động vật Quốc tế
OSHA Cơ quan Quản lý An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp (Hoa Kỳ) SCM Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng
SPS Các tiêu chuẩn Vệ sinh và Kiểm dịch Động Thực vật
TBT Các Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại
USTR Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 71
1 Tình thế lưỡng nan của thương mại tự do
Nhận thấy rằng những mối quan hệ trong lĩnh vực thương mại và các nỗ lực kinh tế cần được tiến hành trên cơ sở nhằm nâng cao mức sống, đảm bảo trạng thái toàn dụng lao động và sự gia tăng
ổn định của thu nhập thực tế cùng với nhu cầu thực tế, khai thác triệt để các nguồn lực của xã hội,
mở rộng sản xuất và tăng cường trao đổi hàng hóa,
Mong muốn đóng góp cho những mục tiêu trên bằng cách tham gia vào những thỏa thuận đôi bên cùng có lợi, nhằm giảm đáng kể thuế quan và những rào cản thương mại khác, đồng thời loại bỏ
sự phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế,
Thông qua Đại diện Thương mại của mình, các bên đã nhất trí những điều khoản sau đây:
(Lời tựa, Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (1947),
www.wto.org/english/docs_e/legal_e/gatt47_01_e.htm)
1 GIỚI THIỆU CHUNG
Vào ngày 01/01/1948, đại diện của 23 quốc gia tham gia Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Lao động tại Marrakesh, Morocco, đã đi đến một kết luận thành công với việc ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Tuy nhiên, thật không may, Thượng viện Hoa Kỳ đã từ chối thông qua Hiệp định này và nó trở thành một văn bản vô hiệu về mặt pháp lý Tổ chức Thương mại Quốc tế, cơ quan được đề xuất để thực thi Hiệp định này đã không được thành lập
May mắn thay, Tổng thống Truman đã quyết định thực thi GATT như luật đất đai Kết quả thật ngoạn mục Các quốc gia trên thế giới đã tiến hành đàm phán để cắt giảm thuế quan sau rất nhiều vòng đàm phán đa phương trong vòng 50 năm qua Hiệp định GATT vô hiệu trước đây đã được thay thế bởi tổ chức hùng mạnh hơn rất nhiều WTO - Tổ chức Thương mại Thế giới Một loạt thỏa thuận giữa các quốc gia không chỉ bó hẹp trong những quy định thương mại mà mở rộng với nhiều vấn đề khác đã được đưa lên bàn đàm phán, bao gồm từ vấn đề sở hữu trí tuệ đến bảo vệ sức khỏe động vật Thương mại quốc tế đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực
Tuy nhiên, cộng đồng quốc tế có thể nhận thấy các hạn chế của những hỗ trợ chính trị đối với thương mại tự do Cả Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Ngân hàng Thế giới đều chỉ ra những ảnh hưởng ngày một lớn của những rào cản thương mại phi thuế quan đối với thương mại
quốc tế (theo Laird và Yearts, 1988, Laird và Yeats, 1990) Các quốc gia trên thế giới đang chuyển
sang sử dụng Thủ tục Giải quyết Tranh chấp của WTO để giải quyết các tranh chấp quốc tế Tính thuyết phục và đối kháng trong những tranh chấp này đang ngày càng trở nên nghiêm ngặt Vòng đàm phán Doha gần đây nhất đã thất bại và các quốc gia không thể đi đến bất cứ sự đồng thuận lớn
nào (New York Times, 2008, tr.1) Liệu có phải động lực thúc đẩy tự do hóa thương mại đã không còn
nữa?
Trang 8Tình th
2 VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI TỰ DO
2.1 Luận đề: Thương mại là quan trọng
Hầu hết các nhà kinh tế đều đồng tình với luận đề trên Các chính sách kinh tế nên được thực hiện
nhằm tối đa hóa phúc lợi quốc gia Thước đo phúc lợi lại là giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất
và tiêu dùng tại quốc gia đó Mở rộng thương mại nên hướng đến gia tăng các phúc lợi kinh tế Sự
phát triển kinh tế này tuân thủ theo quy luật tối ưu Pareto Tất nhiên sẽ có kẻ thắng người thua, tuy
nhiên phần được của người thắng sẽ lớn hơn phần mất của người thua Nếu tính trung bình, tất cả sẽ
“được” nhiều hơn
Trường phái chính sách liên quan tới phân tích này có thể được gọi là “thương mại tự do cổ điển”
Đối với các quốc gia áp dụng trường phái thương mại tự do cổ điển này, mục tiêu quan trọng nhất là
tự do hóa thương mại Thặng dư và thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa không phải là vấn đề quá
quan trọng Tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ dần dẫn tới sự cân bằng giữa các nguồn lực đầu ra và đầu vào
tại một quốc gia Đồng thời, người thắng kẻ thua sẽ được đánh giá thông qua thanh toán chuyển giao
nội bộ (Krugman, 1997)
Nếu phân tích này là đúng đắn thì các quốc gia nên ủng hộ thương mại tự do Rất ít chính sách công
có thể mang lại lợi ích cho tất cả mọi người Trên thực tế, một nhà kinh tế học có thể kết luận rằng
mở rộng thương mại đã đóng góp cho 1/3 tăng trưởng kinh tế toàn cầu kể từ Chiến tranh Thế giới II
Mở rộng thương mại cũng khuyến khích những yếu tố khác như cải tiến sản xuất hay cắt giảm chi phí
sản xuất (Baier và Bergstrand, 2001)
Rất dễ dàng để nhận ra những nguyên nhân dẫn đến mối tương quan giữa thương mại và phát triển
kinh tế Nếu không có thương mại, tất cả chúng ta đều phải tự cung tự cấp mọi mặt hàng chúng ta
cần Không có trường học, không có xe hơi, không có McDonalds; cuộc sống sẽ trở nên không thể
chịu đựng nổi Thương mại cho phép chúng ta chuyên môn hóa vào những lĩnh vực mà chúng ta có
thể sản xuất hiệu quả nhất Khi chúng ta sử dụng các hàng hóa và dịch vụ mà người khác cung cấp,
họ cũng có thể sử dụng các hàng hóa và dịch vụ của chúng ta
Mọi người đều có những lĩnh vực mà mình có thể sản xuất tương đối hiệu quả hơn so với người khác
Thông qua các thị trường, chúng ta có cơ hội để tập trung vào lợi thế cạnh tranh của mình Nếu Trung
Quốc có thể sản xuất những dụng cụ nhà bếp tốt hơn chúng ta, hãy để cho họ sản xuất và làm chủ thị
trường mặt hàng đó Ngược lại, họ sẽ tiêu thụ ngũ cốc của chúng ta, mặt hàng mà chúng ta có lợi thế
cạnh tranh hơn Như vậy, tất cả mọi người đều sẽ được hưởng lợi từ việc chuyên môn hóa thông qua
các thị trường
Lợi thế kinh tế theo đầu tư vốn cũng đóng vai trò rất quan trọng Ở quy mô lớn, quá trình công
nghiệp hóa đang dần thay thế sức lao động bằng máy móc Lao động chân tay là chi phí cận biên:
lượng sản xuất càng lớn, chi phí nhân công càng nhiều Kết quả là, hầu như không có lợi thế kinh tế
theo quy mô đối với sản phẩm sản xuất bằng tay Chi phí có xu hướng tăng tương đối tỉ lệ thuận cùng
với sản lượng
Trang 9Tình th
Máy móc là một dạng đầu tư vốn Khoản chi phí dành cho một máy ép khuôn gần như không thay
đổi, bất kể khi nó dùng để sản xuất ra một sản phẩm duy nhất hay hàng nghìn sản phẩm cùng loại
Kết quả là, sẽ có lợi thế kinh tế theo quy mô trong đầu tư vốn Chi phí trên mỗi sản phẩm sẽ ngày
càng giảm nếu khuôn máy được sử dụng để sản xuất hàng ngàn sản phẩm thay vì chỉ sản xuất 10 sản
phẩm Tuy nhiên, người ta sẽ không sản xuất nhiều sản phẩm như vậy trừ khi biết rõ có thị trường đủ
lớn để tiêu thụ hết số sản phẩm đó và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Chi phí của chiếc máy ép
khuôn càng cao, thị trường càng phải lớn thì mới có thể thu lại lợi nhuận từ khoản đầu tư này
Lợi thế kinh tế từ đổi mới đang trở nên cần vốn hơn bao giờ hết cùng với sự gia tăng chóng mặt của
chi phí phát triển Không thể cân nhắc phát triển nhà máy sản xuất chip máy tính hiện đại hay máy
bay thương mại loại lớn nếu các sản phẩm này không thể tiêu thụ trên thị trường quốc tế Như vậy, có
thể rút ra một quy tắc như sau: nếu các thị trường không tiếp tục mở rộng thì sẽ khó có thể tăng đầu
tư vào những công nghệ mới nhằm giảm giá thành và tăng chất lượng sản phẩm (Ostry, 1997)
Marketing và vòng đời sản phẩm cũng là một thành tố quan trọng quyết định sự cần thiết của thương
mại tự do và mở rộng thị trường Giá cả và lợi nhuận có xu hướng giữ ở mức cao đối với những sản
phẩm mới và có ít sự cạnh tranh Tỷ suất lợi nhuận sẽ giảm dần khi xuất hiện các đối thủ cạnh tranh
cùng tham gia vào thị trường sản phẩm này
Một phản ứng thường gặp? Tìm kiếm lợi nhuận mới với sản phẩm mới Các doanh nghiệp phát triển
sản phẩm mới có thể tìm kiếm một thị trường ngách mà các đối thủ cạnh tranh của họ vẫn chưa khai
thác đến Tập trung vào thị trường ngách cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó đang tiếp cận
một phân khúc thị trường tiềm năng nhỏ hơn Tuy nhiên, bù lại, các doanh nghiệp thường cố gắng
mở rộng thị trường sang nước ngoài Có thể đưa ra một kết luận chung khác: nếu phạm vi thương mại
không được mở rộng, sẽ rất khó khăn để tìm kiếm những thị trường ngách cho các sản phẩm chuyên
dụng, đặc thù
Sự kết hợp của những công nghệ mới đắt tiền, chi phí phát triển gia tăng cùng với các yêu cầu khắt
khe của thị trường đã thúc đẩy những đòi hỏi về vốn cho phát triển sản phẩm mới trên rất nhiều lĩnh
vực sản xuất Chi phí cận biên của việc sản xuất một chiếc xe hơi mới là khá nhỏ; mất khoảng 10h
lao động để sản xuất thêm một chiếc xe mới (Womack, Jones và Roos, 1997) Tuy nhiên, chi phí bình
quân lại cao hơn rất nhiều Chi phí này còn bao gồm cả chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí hoạt
động của doanh nghiệp Các loại chi phí này thường khá cao Các kỹ sư thiết kế những mẫu xe hơi
mới cần phải cân bằng giữa yêu cầu bắt buộc của chính phủ về sự an toàn, yêu cầu của thị trường
nhiên liệu với những yêu cầu của thị trường về các loại phương tiện với kiểu dáng cuốn hút, tiện
nghi, đáng tin cậy và tiết kiệm Quá trình phát triển những chiếc xe hơi thỏa mãn tất cả những yêu
cầu trên tốn kém khoản chi phí rất lớn
Do chi phí để phát triển sản phẩm mới là rất cao, các nhà sản xuất xe hơi đã hình thành nên những
liên minh quốc tế để chia sẻ các thiết kế và công nghệ Các nhà máy sản xuất xe hơi mới sẽ tốn kém
Trang 10Tình th
hàng tỷ đô la Do vậy, những khoản đầu tư này sẽ chỉ được cân nhắc khi các nhà sản xuất có thể bán
sản phẩm của mình trên thị trường toàn cầu
Sức ép tìm kiếm thị trường ngách và chi phí vốn tăng cao cho thiết kế, phát triển và sản lượng có khả
năng còn lớn hơn trong tương lai Do đó, đầu tư vốn cần thiết để cạnh tranh trong sản xuất sẽ tiếp tục
tăng Và kết quả là sức ép mở rộng thị trường và củng cố sự vững mạnh của doanh nghiệp chắc chắn
sẽ còn tiếp tục tăng trong tương lai
Cuối cùng, thương mại có thể sẽ làm giảm lợi ích quốc gia trong chiến tranh và khai thác vùng đất
mới trên thế giới (Barbieri và Levy, 1999; Hegre, 2000; Anderton và Carter, 2001a, 2001b; Barbieri
và Levy, 2001; Dorussen, 2002) Friedman (1999) đã chỉ ra rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã đặt ra
những hạn chế nhất định của nó Nếu một quốc gia muốn thịnh vượng, quốc gia đó cần phải tuân theo
những luật chơi nhất định Một trong số đó là duy trì sự hòa bình với các nước láng giềng Những nhà
kinh doanh đã đặt tương lai doanh nghiệp mình gắn liền với thương mại và đầu tư quốc tế sẽ có xu
hướng phản đối những yêu cầu chính trị đòi hỏi chấm dứt quan hệ với các đối tác thương mại Logic
này đã được kiểm chứng thực nghiệm khi Liên minh Châu Âu được thành lập một phần nhằm chấm
dứt những cuộc chiến không ngừng trong Châu Âu (Fischer, 2000)
2.2 Phản đề: Chính phủ hạn chế thương mại
Thực tế có thể không ủng hộ thương mại tự do Rất nhiều nhà kinh tế học đã bỏ qua một thực tế rằng
mở rộng thương mại có xu hướng thúc đẩy cạnh tranh kinh tế và trong cạnh tranh chắc chắn sẽ có
người được kẻ mất (Schumpeter, 1950) Nỗi đau và sự mất mát của kẻ “mất” thường tập trung và dễ
nhận thấy hơn, trong khi niềm vui của người “được” lại thường có tính lan tỏa và nhẹ nhàng hơn Rất
nhiều người có thể sẽ hưởng lợi từ mức giá thấp của Wal-Mart Tuy nhiên, lợi ích mà những người
này nhận được dường như còn khá khiêm tốn, và họ cũng không lên tiếng nhiều về những lợi ích này
Trong khi đó, mất mát từ sự thành công của Wal-Mart có thể là sự đóng cửa của cửa hàng Sears gần
đó (giả thuyết) Những nhân công của cửa hàng này sẽ bị mất việc làm, và chắc rằng họ sẽ không
mấy đồng tình hay ủng hộ cho thương mại tự do
Quan điểm của “Chủ nghĩa Trọng thương” đã trở thành mục đích cuối cùng của những nỗ lực của
chính phủ nhằm giảm thiểu những thiệt hại gây ra bởi thị trường tự do, cạnh tranh và xáo trộn kinh tế
Mục tiêu của chính phủ đã trở thành chính sách bảo hộ các doanh nghiệp nội địa thay vì gia tăng
phúc lợi quốc gia Mối quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp và chính phủ nên được khuyến khích
Xuất khẩu và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thậm chí được khuyến khích hơn là nhập khẩu và tiếp
nhận đầu tư Thặng dư thương mại sẽ được tích trữ để sử dụng cho những mục tiêu chiến lược của
chính phủ và doanh nghiệp thay vì sử dụng cho nhập khẩu nhằm cải thiện mức sống của người dân
Chính phủ thường có xu hướng tổ chức theo quan điểm khuyến khích chủ nghĩa trọng thương Nếu
xem xét hình thức cơ bản nhất của chính phủ, phần lớn ngân sách của chính phủ đều đến từ việc đánh
thuế thương mại Nguồn thu từ thuế sẽ được sử dụng để tài trợ cho khả năng thanh toán thuế trong
tương lai Khoản ngân sách thặng dư sau đó có thể được dùng để phục vụ cho những mục đích khác
Trang 11Tình th
của chính phủ Chi phí thu thuế có thể được cắt giảm nếu chính phủ tạo ra các ưu đãi cho nhóm
doanh nghiệp tư nhân
Các chươn trình của chính phủ thường có khuynh hướng hạn chế thương mại Về mặt chính trị, lợi
thế sẽ nghiêng về bên nào mạnh hơn và được tổ chức tốt hơn Dước sức ép kinh tế, các bên thường sử
dụng những mối quan hệ chính trị để bù đắp cho những thiếu hụt về sức mạnh thị trường Công nhân
muốn có luật điều chỉnh mức lương tối thiểu, người tiêu dùng muốn có những tiêu chuẩn an toàn cho
sản phẩm, các nhà sản xuất nội địa muốn được bảo hộ bằng thuế quan còn người nông dân lại thường
mong muốn được trợ cấp Tất cả những chính sách trên đều tạo ra những hạn chế cho thương mại tự
do Chính phủ cũng làm thu hẹp lợi ích của thương mại Thuế quan hạn chế thương mại thông qua
chuyển dịch nguồn lực từ nền kinh tế trao đổi sang nền kinh tế chỉ huy Nếu thị trường không tự vận
động, các bên tham gia thị trường sẽ cảm thấy không thỏa đáng và hài lòng với những kết quả của thị
trường
Cách thức tổ chức chính phủ thường khuyến khích sự quan tâm vào một số ít những người tâm huyết
hơn là một số đông những người bình thường, ngay cả khi sự phát triển của nền kinh tế thường gắn
liền với lợi ích của số đông những người bình thường Có thể tồn tại một nghịch lý ở đây Phá bỏ một
cam kết nhỏ trong thương mại tự do có thể là một sự giải tỏa đáng kể cho một bộ phận nhỏ tâm
huyết, với thiệt hại nhỏ với số đông những người bình thường Tuy nhiên, một chính phủ can thiệp
quá nhiều để bảo vệ nền kinh tế của họ trước những thiệt hại mà thương mại tự do có thể gây ra, cũng
đồng nghĩa với việc sẽ làm mất đi chính những lợi ích vốn có của thương mại
Trong lịch sử, ủng hộ thương mại tự do là một điều dị thường Ngay từ khi văn minh nhân loại mới
hình thành và phát triển, các quốc gia lớn mạnh đã sử dụng vũ lực quân sự để chiếm giữ đất đai nhằm
giành lấy những đặc quyền về thương mại Động lực chính để Alexander Đệ Nhất chinh phục một
phần lớn của thế giới có lẽ là để tăng nguồn thu thuế và tăng nhân lực cần thiết phục vụ cho quân đội
của mình, đồng thời cũng mở rộng thị trường giúp các thương gia người Macedonian và người Hi
Lạp có thể buôn bán dễ dàng hơn Có lẽ cũng chính nguyên do ấy đã khiến nước Anh xâm chiếm Ấn
Độ và biến đất nước này thành nơi cung cấp nguyên liệu và nhân công rẻ mạt cho mẫu quốc, đồng
thời cũng chính là một thị trường tiêu thụ được đảm bảo cho các nhà sản xuất nước Anh
Một vài nhà nghiên cứu tranh luận rằng thương mại không thể mang lại hòa bình (Barbieri, 2002;
Barbieri và Levy, 2002) Tuy nhiên, thực tế vấn đề này có vẻ khá phức tạp Thương mại giữa các
quốc gia có nền thương nghiệp tương đương nhau càng tăng thì sẽ mang lại mâu thuẫn càng lớn Tuy
vậy, tăng cường thương mại giữa các quốc gia có nền thương nghiệp không tương đương nhau có vẻ
như sẽ không dẫn tới nhiều mâu thuẫn
Các kết luận này phù hợp với mô hình của thuyết trọng thương Thực chất chủ nghĩa trọng thương về
mặt nào đó chính là sự tăng cường quyền lực quốc gia Do vậy, các nhà lãnh đạo có xu hướng vẫn
chấp nhận sự lệ thuộc về mặt kinh tế khi không còn sự lựa chọn nào khác, và vẫn có thể tận hưởng
Trang 12Tình th
quyền lực của họ khi họ nắm quyền lực trong tay Mặc dù vậy, sự bình đẳng có thể còn dẫn đến nhiều
mâu thuẫn lớn hơn (Conybeare, 1987)
Như vậy, chúng ta có hai mô hình cho chính sách thương mại quốc gia Các giả thuyết đặt ra có ảnh
hưởng nhất định đến việc giải quyết những tranh chấp thương mại Những chính phủ đi theo giả
thuyết của trường phái tân cổ điển về lợi ích của thương mại tự do, sẽ cố gắng giải quyết các tranh
chấp thương mại trong thời gian sớm nhất có thể Thương lượng có thể được dựa trên một lời đề nghị
ngầm hiểu rằng “chúng tôi sẽ thực hiện tự do hóa thương mại nếu các bạn cũng chấp nhận tiến hành
tự do hóa”
Ngược lại, những chính phủ theo chủ nghĩa trọng thương, công khai hay ẩn ý, sẽ không mấy vội vàng
trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến sự hạn chế nhập khẩu Điều này còn phụ thuộc vào
liệu những thiệt hại từ việc khiếu nại đối với các nhà xuất khẩu có lớn hơn lợi ích mà những hạn chế
thương mại này có thể mang lại cho nền kinh tế nội địa hay không
2.3 Tổng hợp: Chính sách thương mại phản ánh sự cân bằng giữa mối quan ngại về kinh tế và
chính trị
Giả thuyết đặt ra: các quốc gia thường có xu hướng bao quát thị trường tự do như một chính sách
chung khi họ bắt buôc phải thực thi trong từng trường hợp cụ thể Có thể sẽ dẫn tới một sự chuyển
hướng sang chủ nghĩa trọng thương hàm ẩn, đặc biệt khi các chi phí kinh tế và chính trị thấp Việc
thay đổi các trường hợp có thể làm thay đổi sự cân bằng giữa thương mại và chế độ bảo hộ
Trước Chiến tranh Thế giới II, các cuộc đàm phán thuế quan thường dựa trên cơ sở đàm phán song
phương Chính phủ Hoa Kỳ có thể chấp nhận cắt giảm thuế quan đối với sản phẩm da giày nếu
Canada hạ mức thuế đối với sản phẩm bít tất Điều này dẫn đến một sự khác biệt lớn trong việc phân
loại và mức thuế suất áp dụng cho cùng một mặt hàng tại những quốc gia khác nhau “Thiết lập thuế
quan” đang dần trở thành một nghề nghiệp hấp dẫn
Cấu trúc của những cuộc đàm phán thuế quan quốc tế thường ủng hộ mức thuế quan cao một cách
tinh vi Nếu cả Hoa Kỳ và Canada cùng đàm phán về mức thuế quan áp dụng với một sản phẩm thì
các nhà sản xuất sản phẩm đó tại cả hai quốc gia đều sẽ vận động hành lang để có thêm nhiều sự bảo
hộ hơn Vận động hành lang để sản phẩm có giá thấp hơn thông qua cạnh tranh thương mại quốc tế sẽ
là quá nhỏ và quá yếu để đạt được hiệu quả
Giai đoạn từ năm 1914 đến 1948 là cơ hội cho sự phát triển của những hàng rào thương mại chính
Mặc dù Hòa Kỳ không tham gia vào Chiến tranh Thế giới I cho tới năm 1917, những mâu thuẫn
trong nội bộ Châu Âu đã dẫn tới những rào cản lớn đối với thương mại, đặc biệt là thương mại đồng
minh với Đức (Polanyi, 1944)
Môi trường chính trị tại Hoa Kỳ sau Chiến tranh Thế giới I diễn ra khá biệt lập với thế giới bên ngoài
Một ví dụ điển hình là việc Chính phủ Hoa Kỳ từ chối tham gia vào Hội Quốc Liên, một tổ chức đã
được ủng hộ bởi chính Tổng thống Hoa Kỳ Một ví dụ khác liên quan trực tiếp đến vấn đề đang thảo
Trang 13Tình th
luận của chúng ta chính là sự ban hành luật thuế Smoot Hawley vào năm 1930 (Schaffer, Earle và
Agusti, 2008, tr 272) Mục đích của luật thuế này chính là bảo vệ nền công nghiệp Hoa Kỳ khỏi sự
cạnh tranh quốc tế trong giai đoạn đầu của Đại Suy Thoái Thuế quan được đẩy lên mức cao nhất
trong lịch sử Hoa Kỳ (Schaffer, Earle và Agusti, 2008, tr 256) Mức thuế áp dụng với các sản phẩm
công nghiệp lên tới 60% theo giá trị (ad valorem) vào năm 1938 (Irwin, 1999)
Có thể dự đoán rằng các đối tác thương mại của Hoa Kỳ cũng tiến hành trả đũa bằng cách tăng mức
thuế của họ đối với những sản phẩm nhập khẩu của Hoa Kỳ Rắc rối còn nhân đôi bởi sự thiếu thanh
khoản trên phạm vi toàn cầu Các khoản chi cho chiến trang đã gần phá hủy nền kinh tế Anh Các
ngân hàng Mỹ, nắm giữ rất nhiều vốn vay đã rút lui khỏi thị trường quốc tế Điều này đã dẫn đến một
sự suy giảm đáng kể trong thương mại quốc tế Khủng hoảng kinh tế hậu chiến tranh đã nhanh chóng
trở thành Đại Suy Thoái (Rolfe và Burtle, 1973)
Đạo luật Hiệp định Thương mại Nhiều Bên năm 1934 đã trao cho tổng thống quyền đàm phán cắt
giảm thuế quan giữa các bên và đề nghị nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc vô điều kiện cho các quốc
gia khác (Schaffer, Earle và Agusti, 2008, tr.272) Điều này đã giúp cải thiện phần nào tình thế hỗn
độn lúc đó Nếu Hoa Kỳ dành cho Canada nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc, mức thuế quan của Hoa
Kỳ áp dụng với các sản phẩm Canada sẽ không cao hơn mức thuế suất thấp nhất đối với cùng sản
phẩm này từ các quốc gia khác
Thúc đẩy sự thịnh vượng quốc gia thông qua thương mại quốc tế đã trở thành một điểm mấu chốt
trong chiến lược của các nước thuộc phe Đồng minh sau Chiến tranh Thế giới II Hoa Kỳ và Anh đã
có thể giữ Liên Xô tránh khỏi Tây Âu trong suốt thời kỳ chiến tranh Tuy vậy, để chống lại Chủ
nghĩa Cộng sản thời kỳ hậu chiến tranh đòi hỏi Châu Âu phải có một sự phục hồi kinh tế nhanh
chóng Điều này lại đòi hỏi đẩy mạnh tiến trình tự do hóa thương mại Sự phát triển của Cộng đồng
Than và Thép Châu Âu và sau đó là Cộng đồng Kinh tế Châu Âu đã khởi nguồn cho quá trình tự do
hóa thương mại trong nội bộ Châu Âu
Sự phát triển phức tạp của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại là bước tiến quan trọng
trong việc tự do hóa thương mại trên phạm vi toàn cầu Những nguyên tắc của GATT 1947 đã được
áp dụng thông qua hàng loạt những vòng đàm phán đa quốc gia Kết quả thu được thực sự rất ấn
tượng Số lượng các quốc gia thành viên đã tăng từ 23 lên 123 thành viên Thuế quan áp đặt với hơn
50,000 mặt hàng đã được đàm phán giảm với tổng giá trị trên 200 tỷ USD mỗi năm (Wikipedia,
2008) Chẳng hạn như, tại Hoa Kỳ, mức thuế trung bình áp dụng cho hàng hóa công nghiệp đã giảm
khoảng 5% theo giá trị (Irwin, 1995) Với rất nhiều mặt hàng điện tử, Hoa Kỳ đã đàm phán theo
hướng cắt giảm thuế quan của Hoa Kỳ xuống mức 0 để đổi lại các quốc gia khác cũng xóa bỏ thuế
quan đối với mặt hàng này (WTO, 1996)
GATT đã được điều chỉnh nhiều lần Phiên bản hiện tại đã được thông qua cùng với sự thành lập của
Tổ chức Thương mại Thế giới WTO Hiệp định này bao gồm rất nhiều những hiệp định đặc thù cho
Trang 14Tình th
từng khu vực sẽ được trình bày dưới đây Tuy nhiên, phần lớn các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định
vẫn được giữ nguyên
Sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 1995 đã dẫn tới hàng loạt những cuộc đàm phán về
các thỏa thuận thương mại đa quốc gia mới và sự mở rộng của những cuộc đàm phán thương mại đã
thành công trước đó
Kết quả từ tự do hóa thương mại, quyền lực ngày càng tăng của các Chính phủ Châu Á và sự xuất
hiện của những công nghệ mới làm giảm đáng kể chi phí di chuyển nhân công, hàng hóa và thông tin
đã mang lại những kết quả đầy ấn tượng Thương mại gia tăng với tốc độ tăng trưởng vượt xa kết quả
đầu ra cả toàn nền kinh tế Ví dụ, xem xét tầm quan trọng của thương mại hàng hóa quốc tế ngày
càng đóng vai trò quyết định đối với nền kinh tế quốc gia Mức độ thâm nhập thương mại được đo
bằng tổng giá trị các hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu chia cho GNP Số liệu minh họa được thể hiện
trong bảng 1.1
Thật không may, những nhu cầu chính trị đối với thương mại tự do dường như đang giảm dần Chiến
tranh lạnh đã không còn nữa Liên bang Nga đã dần hội nhập với hệ thống thương mại toàn cầu
Những lo ngại về sự thù địch bên ngoài và nguy cơ chiến tranh toàn cầu dường như đã không còn tồn
tại Nhu cầu chính trị về việc sử dụng thương mại tự do như một hệ tư tưởng toàn cầu đã trở nên
không cần thiết Liên minh Châu Âu đã giành được những lợi thế của chủ nghĩa thực dân, cùng với
sự gia tăng về an ninh và quyền lực chính trị thông qua việc đưa các quốc gia Đông Âu vào Liên
minh Những sự phát triển này diễn ra song song tại phương Tây với sự phát triển của các tổ chức
NAFTA, CAFTA-DR và MERCOSUR Sự thất bại của vòng đàm phán Doha và sự gia tăng của
những rào cản thương mại phi thuế quan có thể cho thấy sự thay đổi đang diễn ra trong thực tiễn
chính trị ngày nay
Thương mại tự do không tốt tuyệt đối “Các hàng rào thương mại phi thuế quan” đã gia tăng nhanh
chóng cùng với tốc độ gia tăng của những cuộc đàm phán quốc tế nhằm giảm những hàng rào thuế
quan và phi thuế quan Vào năm 1980, Ngân hàng Thế giới WB đã cho biết khoảng 40% thương mại
quốc tế của Hà Lan chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các hàng rào phi thuế quan (Laird và Yeats,
1990; tham khảo Laird và Yeats, 1988)
Rà soát các rào cản thương mại quốc gia tại 3 nước sẽ cho thấy các nước này phá vỡ sự cân bằng giữa
thương mại tự do và chế độ bảo hộ Nếu muốn tiếp cận vấn đề nhằm tìm phương án tốt nhất để giải
quyết tình hình này, trước hết cần phải hiểu rõ sự khác nhau giữa các mô hình phi thuế quan
Việc tìm kiếm những nguyên nhân dẫn tới các rào cản thương mại quốc tế tại nhiều quốc gia khác
nhau cần bao gồm việc phân tích mỗi chính phủ khác nhau đã làm những gì để phá vỡ mức cân bằng
giữa nhu cầu bảo hộ về chính trị và nhu cầu tự do hóa nền kinh tế
Bảng 1.1 Tầm quan trọng ngày càng lớn của thương mại đối với nền kinh tế quốc gia
Trang 15Ghi chú: Đơn vị tính: tỷ USD
Nguồn: Tóm tắt thống kê của Hoa Kỳ, tái bản lần thứ 101,năm 1980, bảng 1583, tr 907; tái bản lần thứ 110, năm 1990,
bảng 1446, tr 849; tái bản lần thứ 120, năm 2000, bảng 1364, tr.831; Dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới WB trên
internet)
3 CÂU HỎI VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Để có thể hiểu cặn kẽ mối cân bằng giữa thương mại tự do và chủ nghĩa bảo hộ đã bị phá vỡ như thế
nào tại một quốc gia nhất định, không những cần phải nghiên cứu chính sách thương mại của quốc
gia đó mà còn phải xem xét kỹ những tranh chấp thương mại Các chính sách của những quốc gia đã
tham gia ký kết Hiệp định GATT thường thể hiện sự ủng hộ kinh tế học tân cổ điển và thương mại tự
do Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy thực tế lại khá khác biệt khi dư luận quốc tế lên tiếng bất bình về
việc quốc gia đó đang vi phạm chính sách chung Liệu những sự vi phạm này có phổ biến hay không?
Liệu các quốc gia vi phạm có tìm cách sửa đổi để thúc đẩy thương mại tự do? Hay các quốc gia này
sẽ tìm mọi cách để bảo hộ những ngành công nghiệp nội địa đến cùng? Trả lời được những câu hỏi
trên sẽ làm sáng tỏ rất nhiều điều về thực tiễn thực hiện tự do hóa thương mại tại các quốc gia này
Phân tích sau đây sẽ cung cấp thực trạng chủ nghĩa bảo hộ mà Chính phủ Mỹ, EUvà Nhật Bản chống
lại nhau trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2007 Mục đích của phân tích này là từ thực tế của từng
Trang 16Tình th
quốc gia, khu vực cụ thể, có thể đưa ra được những kết luận thú vị về thực trạng và tiến trình đàm
phán thương mại quốc tế nói chung
Các tác giả cũng đưa ra một số lý do cho việc tập trung nghiên cứu Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản Trước
hết, các quốc gia và khu vực này đóng vai trò lãnh đạo về mặt chính trị và luật pháp trong hệ thống
luật lệ thương mại quốc tế Đồng thời, đây cũng là những nền kinh tế hàng đầu trên thế giới Theo
Bảng 1.2, ba quốc gia và khu vực này đóng góp tới trên 60% thương mại toàn cầu Hơn nữa, các quốc
gia đang phát triển thường có xu hướng giao thương nhiều hơn đối với những quốc gia phát triển; và
Mỹ, Nhật, EU chính là những nền kinh tế phát triển lớn nhất hiện nay
4 PHÂN LOẠI CÁC VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI
Chúng ta sẽ cùng nhìn tổng thể về những vấn đề thương mại trong tranh luận giữa 3 chính phủ trên
trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2002 đến 2007 Xem xét tất cả những vấn đề thương mại trong
khoảng thời gian này sẽ giúp chúng ta có thể biết những vấn đề nào đã được giải quyết, vấn đề nào
vẫn còn tồn tại và vấn đề mới nổi Những vấn đề vẫn còn tồn tại là những vấn đề được đưa ra cả
trong năm 2002 và 2007 Những vấn đề đã được giải quyết là những vấn đề được nêu trong năm
2002 nhưng không còn trong năm 2007 Và những vấn đề mới nổi là những vấn đề được đưa ra vào
năm 2007 nhưng chưa hề được nhắc tới trong năm 2002 Xem xét những tương đồng và khác biệt
trong các vấn đề của mỗi quốc gia sẽ mang đến sự hiểu biết sâu sắc về những loại rào cản thương mại
vốn được các quốc gia áp dụng mạnh và tương đối bền trước áp lực quốc tế
Việc phân loại các vấn đề thương mại phụ thuộc vào các mức độ đánh giá Chỉ những vấn đề thực sự
tạo ra các rào cản thương mại mới được xem xét Một số vấn đề được đặt ra trong cả ba nguồn tư liệu
cùng với cảnh báo rằng chính phủ sẽ kiểm soát phát triển để biết liệu những rào cản thương mại có
xuất hiện trong tương lai không Phân tích của chúng ta sẽ không bao gồm những vấn đề nêu trên mà
chỉ bao gồm những rào cản thương mại được thực hiện từ quyết định của chính phủ trung ương
Chính quyền tại cả Hoa Kỳ và EU có sự chia sẻ quyền lực rất quan trọng cho các hệ thống chính
quyền địa phương Do vậy, những vấn đề thương mại chỉ liên quan đến địa phương sẽ không được
đưa vào phân tích này Sau cùng, quyết định liệu những vấn đề tại các quốc gia này giống hay khác
nhau, và liệu những vấn đề này đã được giải quyết trong giai đoạn 2002 – 2007 hay chưa đều liên
quan tới các mức độ đánh giá
Trang 18Tình th
Bộ máy chính quyền của EU sau đây sẽ được gọi là “Chính phủ Châu Âu” Cách gọi này hoàn toàn
phù hợp với vai trò lãnh đạo của EU trong việc thiết lập những chính sách thương mại đối ngoại với
các quốc gia thành viên; đồng thời cũng giúp thuận tiện về mặt thuật ngữ Cách gọi này không có ý
định ám chỉ EU như một chính quyền tối cao hay như một tổ chức liên chính phủ giữa các quốc gia
thành viên
Nhóm tác giả muốn xem xét triển vọng cho việc dỡ bỏ một số rào cản thương mại thông qua đàm
phán quốc tế Điểm khác biệt giữa những vấn đề thương mại tồn tại dai dẳng, những vấn đề đã được
giải quyết hay những vấn đề mới nổi là gì? Những điểm khác nhau nào giữa các chính phủ đã dẫn tới
những điểm khác biệt trên? Những câu trả lời cho các câu hỏi trên, dù chưa hoàn toàn đầy đủ song
cũng có thể mang lại cho chúng ta một viễn cảnh về thương mại trong tương lai, liệu chúng ta có thể
hi vọng một nền thương mại toàn cầu tự do, hay tương lai sẽ là sự tái diễn của những khối thương
mại riêng biệt và sự cạnh tranh gay gắt về những đặc quyền thương mại Để có cái nhìn sâu hơn về
vấn đề này có thể tham khảo Trotman (2004)
Nhóm tác giả cũng chú trọng vào kết quả so sánh giữa những loại rào cản thương mại mà 3 chính phủ
này áp dụng Chính phủ Nhật Bản sử dụng những những loại rào cản thương mại khác thế nào so với
chính phủ Hoa Kỳ? Liệu có sự giống nhau giữa những khiếu nại của Hoa Kỳ và EU giành cho thương
mại và đầu tư của Nhật Bản? Những so sánh này sẽ giúp chúng ta đánh giá các chính phủ này nhìn
nhận thương mại thế giới ra sao và phản ứng như thế nào
Nguồn thông tin chủ yếu là từ những báo cáo được công bố chính thức bởi cả ba chính phủ trên về
những hạn chế thương mại và đầu tư hai quốc gia còn lại áp dụng Đại sứ và tất cả nhân viên lãnh sự
quán thường xuyên bàn luận với chính phủ của họ về những vấn đề thương mại Trong nhiều trường
hợp, những vấn đề này thường được giải quyết nhanh chóng và ít gây tranh cãi nên không trở thành
tâm điểm của dư luận xã hội Ngược lại, những vấn đề này sẽ trở thành chủ đề bàn tán của công
chúng nếu các chính phủ công khai khiếu nại thương mại Các chính phủ thường không công khai
những khiếu nại về chính sách thương mại của các quốc gia đồng minh trừ khi những vấn đề này thực
sự quan trọng và không dễ giải quyết thông qua những cuộc đàm phán thương lượng kín giữa hai
bên
Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) chịu trách nhiệm đại diện cho Chính phủ Hoa Kỳ
trong những cuộc đàm phán quốc tế về thuế quan và những rào cản thương mại và đầu tư khác
USTR xuất bản Báo cáo thường niên về Rào cản Thương mại Quốc tế, cung cấp những phân tích về
những hàng rào thương mại của các quốc gia khác Phân tích trong bài này cũng sẽ căn cứ một phần
trên những báo cáo của USTR về hàng rào thương mại và đầu tư mà EU và Nhật Bản áp dụng; bao
gồm những tình huống cụ thể mà các hạn chế thương mại và đầu tư này khá vô lý và gây ra nhiều
phiền toái đối với thương mại Hoa Kỳ Điều này cũng không cần thiết phải dựa trên luận cứ rằng các
hạn chế thương mại trên đã vi phạm những thỏa thuận quốc tế
Trang 19Tình th
Báo cáo của USTR thường có tầm quan trọng về mặt chính trị và ngoại giao Trong Chương 4, chúng
ta sẽ thảo luận sâu hơn về tuyên bố gây tranh cãi của Hoa Kỳ trong điều luật “Super 301” về quyền
đơn phương áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại đối với quốc gia nào sử dụng rào cản
thương mại Để Hoa Kỳ áp dụng điều luật “Super 301”, các vụ việc này phải được liệt kê trong Báo
cáo thường niên của USTR
Tại Nhật Bản, hàng năm Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp cũng công bố Báo cáo Tuân thủ
Hiệp định Thương mại của các đối tác thương mại lớn Thông tin sử dụng trong nghiên cứu này lấy
số liệu trong các báo cáo về Hoa Kỳ và EU từ năm 2002 đến năm 2006 Báo cáo năm 2006 được bổ
sung thêm báo cáo 2007 về các ưu tiên đàm phán thương mại của Nhật Bản Những bản báo cáo này
chủ yếu tập trung vào những vụ việc mà đối tác thương mại của Nhật Bản áp dụng những biện pháp
vi phạm các hiệp định quốc tế Các phân tích pháp lý trong các báo cáo này thực sự rất hữu ích Mặc
dù vậy, nhóm tác giả chúng tôi đã đưa ra kết luận chung rằng trong rất nhiều trường hợp, những hiệp
định quốc tế liên quan đều được diễn giải với phạm vi đủ rộng để bao hàm hầu hết đặc quyền thương
mại của Nhật Bản
Tại EU, Tổng vụ Thương mại lưu giữ hồ sơ về rào cản thương mại quốc tế trong Dữ liệu Tiếp cận
Thị trường (Liên minh Châu Âu, Tổng vụ Thương mại, không chính thức) Cơ sở dữ liệu này bao
gồm rất nhiều “thẻ hồ sơ” Mỗi “thẻ hồ sơ” mô tả về một loại hình rào cản thương mại và các nhà
xuất khẩu Châu Âu có thể gặp phải, đặc biệt tập trung vào thương mại hơn là đầu tư Các thẻ hồ sơ
thường xuyên được cập nhật và sẽ được xóa khỏi cơ sở dữ liệu nếu vấn đề thương mại này đã được
giải quyết
Tổng vụ Thương mại kêu gọi các thương nhân Châu Âu duy trì việc đăng tải những khiếu nại trong
hoạt động thương mại với nước ngoài lên website của Tổng vụ Các nhà phân tích kinh tế của Tổng
vụ sẽ tìm hiểu và nghiên cứu những khiếu nại này Nếu những khiếu nại này hợp lệ, một thẻ hồ sơ về
vấn đề thương mại đó sẽ được đưa vào cơ sở dữ liệu và sẽ được đưa ra chương trình nghị đang diễn
ra của EU về đàm phán thương mại quốc tế
Mỗi thẻ hồ sơ đều được đánh số duy nhất Hai chữ số đầu tiên của thẻ hồ sơ thể hiện hai số cuối của
năm phát sinh vấn đề Các thẻ hồ sơ này cũng được sắp xếp theo ngày mới nhất mà nội dung của hồ
sơ được sửa đổi bổ sung Chẳng hạn, thẻ hồ sơ 960048 về việc áp đặt “Phí Gia công Hàng hóa”
(Merchandise Processing Fee) của Hoa Kỳ Ngày cập nhật mới nhất được ghi trong thẻ hồ sơ là
21/11/2006 Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng vụ việc này được đưa ra từ năm 1996 và cho đến
tháng 11 năm 2006 vẫn chưa giải quyết xong Những vụ việc nêu ra trong các thẻ hồ sơ có đánh số
seri 02xxxx hoặc thấp hơn và có ngày cập nhật vào năm 2006 hoặc muộn hơn sẽ được phân loại là
những vấn đề còn tồn tại và chưa được giải quyết
Trang 20Tình th
Những tranh chấp thương mại nghiêm trọng có thể được xem xét thông qua Quy trình Giải quyết
Tranh chấp trong WTO Các quốc gia trên thế giới đều rất sốt sắng thúc đẩy việc thay đổi các chính
sách thương mại thông qua thủ tục này Điều này sẽ được trình bày cụ thể tại chương tiếp theo
Nhóm tác giả sẽ cùng xem xét các vụ tranh chấp tại WTO trong giai đoạn từ 2002 đến 2007, trong đó
các quốc gia Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản khởi kiện lẫn nhau về những vi phạm các hiệp định thương
mại quốc tế Các vụ việc xảy ra từ năm 2002 đến 2004 sẽ được coi như thuộc năm 2002 Các vụ việc
diễn ra giữa năm 2006 và 2007 sẽ được đưa vào nhóm những vụ việc mới xảy ra
Với mục đích phân loại thời gian của các vụ việc đưa ra trong Dữ liệu Tiếp cận Thị trường (năm
2002 và/hoặc năm 2007), các thẻ hồ sơ thuộc năm 2002, 2003, 2004 hoặc sớm hơn sẽ được phân loại
vào nhóm năm 2002 Các thẻ thuộc năm 2005, 2006, 2007 sẽ được coi như thuộc năm 2007 Dựa
theo ngày của thẻ về vụ Phí Gia công Hàng hóa của Hoa Kỳ, vụ việc này sẽ được phân loại vào cả
nhóm năm 2002 và năm 2007 để phân tích
Thật không may, không có báo cáo nào công bố về lập trường của EU về những vấn đề được giải
quyết trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2007 Các thẻ hồ sơ liên quan đã được xóa khỏi Dữ liệu Tiếp
cận Thị trường Như vậy, nó có thể dẫn tới một sự thiếu sót khi tính đến những tranh chấp đã được
giải quyết với Hoa Kỳ và Nhật Bản Vấn đề này sẽ được đề cập đến trong Chương 9
Để thuận tiện cho việc so sánh, các vấn đề thương mại liệt kê trong 4 nguồn dữ liệu trên sẽ được sắp
xếp lại theo những tiêu chí chung nhất định Hệ thống phân loại bao gồm 3 loại chính với các tiểu
mục như sau:
1 Các vấn đề tranh chấp liên quan đến việc nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Các tiểu mục bao
gồm:
a Các vấn đề tranh chấp về quản lý thương mại: bao gồm quản lý hành chính thủ tục thương
mại quốc tế bao gồm việc thu các loại phụ phí liên quan, đồng thời cũng bao gồm các loại
thuế, hạn ngạch thuế quan và hệ thống phân loại hàng hóa liên quan Trên thế giới có những
hệ thống quốc gia về hài hóa hóa với định nghĩa và phân loại thuế quan rất rộng Tuy nhiên,
định nghĩa trong phân loại thuế quan lại thường chung chung và dẫn đến những mập mờ,
không rõ ràng trong việc phân loại Mặc dù cuốn sách này đề cập chủ yếu đến các loại hàng
rào phi thuế quan, các vấn đề liên quan đến thuế cũng được cân nhắc vì một số lý do nhất
định Những tranh chấp về thuế được trình bày trong cuốn sách này là rất ít, và thường liên
quan đến việc mức thuế đã thỏa thuận có được áp dụng hay không, chứ không đề cập đến việc
mức thuế được thông qua là quá cao hay quá thấp
b Các vấn đề tranh chấp liên quan đến mua sắm chính phủ Những hạn chế rõ ràng đối với
thương nhân nước ngoài và dành quyền cho các doanh nghiệp trong nước chắc chắn là một
rào cản đối với thương mại quốc tế Các yêu cầu khác về tiêu chuẩn của thương nhân và/ hoặc
Trang 21Tình th
dành đặc quyền cho một bên nhất định (không đề cập đến quốc tịch) có thể cũng dẫn tới hạn
chế sự tham gia của nước ngoài vào thị trường mua sắm chính phủ
Ngoài Mỹ, thực trạng thị trường sản phẩm y dược bị chi phối bởi những người mua thuộc hệ
thống y tế quốc gia là rất phổ biến Những yêu cầu về tiêu chuẩn của thương nhân, các thủ tục
đầu thầu và chính sách giá cả thường hạn chế sự tham gia của những doanh nghiệp nước
ngoài
c Yêu cầu về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật Hầu hết các nước phát triển đều có
hệ thống kiểm dịch tại biên giới và ngăn chặn các loại động thực vật có khả năng chứa các
loại ký sinh gây bệnh du nhập vào quốc gia đó Các yêu cầu về vệ sinh áp dụng với động vật
Các yêu cầu về kiểm dịch áp dụng với thực vật
d Các vấn đề tranh chấp về tiếp cận thị trường dịch vụ Sự tham gia của các cá nhân vào thị
trường dịch vụ giáo dục, tài chính, pháp lý và y tế thường được điều chỉnh bởi thủ tục cấp
giấy phép Các doanh nghiệp muốn mở ngân hàng, cung cấp nguồn lực hoặc đầu tư vào giao
thông vận tải hay truyền thông cũng cần thông qua thủ tục cấp giấy phép hay cho phép của
nhà nước Những yêu cầu này cũng dẫn tới sự hạn chế sự tham gia của các công ty nước
ngoài vào những lĩnh vực này
e Các vấn đề tranh chấp liên quan đến chính sách phòng vệ thương mại (các biện pháp tự vệ,
chống trợ cấp, chống bán phá giá) GATT cho phép các quốc gia tự bảo vệ quyền lợi của các
doanh nghiệp trong nước trước hành vi bán phá giá của các đối thủ nước ngoài Với những
doanh nghiệp bị đẩy khỏi thị tường quốc tế, những quy định trên có thể là một hình thức của
rảo cản thương mại
2 Các vấn đề tranh chấp liên quan đến các quy định thương mại nội địa Các tiểu mục bao gồm:
a Các vấn đề tranh chấp liên quan đến yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn Các quy định của
chính phủ về thiết kế sản phẩm, sản xuất hoặc vận hành thường bao gồm sự phát triển và áp
dụng các yêu cầu kỹ thuật và/hoặc tiêu chuẩn Để tìm hiểu về phân tích các hệ thống quan
trọng, tham khảo Zuckerman (1997)
Tiêu chuẩn là sự mô tả một số khía cạnh của sản phẩm hay quy trình đã được phát triển bởi
khu vực tư nhân trên cơ sở tự nguyện để sử dụng chung nhằm đạt được một số mục tiêu nhất
định Ví dụ của tiêu chuẩn là ISO 9000 Yêu cầu kỹ thuật là một tập hợp các yêu cầu quản lý
một số khía cạnh của sản phẩm hay quy trình được phát triển bởi chính phủ Sự tuân thủ là
cần thiết
Trang 22Tình th
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Quốc tế OECD đã tổng hợp kết quả của hàng loạt cuộc điều tra
về thái độ của nhà xuất khẩu đối với những hàng rào thương mại (OECD, 2003) Từ góc nhìn
của nhà xuất khẩu, các rào cản nghiêm trọng nhất thường dựa trên sự khác biệt quốc tế trong
các yêu cầu về chứng từ hàng hóa và phát triển hàng hóa quốc gia (OECD, 1999) Chẳng hạn
như, tại hoa Kỳ, logo UL thường được coi như sự chỉ dẫn về một sản phẩm an toàn Trong khi
đó, EU lại sử dụng nhãn CE Mặc dù hệ thống nhãn hiệu UL và CE đảm bảo mức độ so sánh
về độ an toàn của sản phẩm, hai hệ thống này lại được cấu tạo dựa trên những tiêu chí, chiến
lược hoàn toàn khác nhau Do vậy, những nhà sản xuất Hoa Kỳ muốn xuất khẩu sản phẩm của
họ sang thị trường EU sẽ cần phải tìm hiểu kỹ và nắm rõ về hệ thống nhãn hiệu CE
Tại Hoa Kỳ, các quy định điều chỉnh đưa ra bởi Cơ quan Quản lý Môi trường (EPA) thường
bao gồm các yêu cầu kỹ thuật Sự phân biệt giữa tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật đang ngày
một mờ nhạt bởi chính phủ hiện nay đang có xu hướng quy định bắt buộc tuân theo các tiêu
chuẩn giống như đối với các yêu cầu kỹ thuật
Những sự khác biệt quốc gia trong tiêu chuẩn và các yêu cầu kỹ thuật có thể dẫn tới những
rào cản lớn đối với thương mại quốc tế Ví dụ, Hoa Kỳ là quốc gia lớn duy nhất áp dụng yêu
cầu kỹ thuật sử dụng hệ thống đo lường của Anh Tất cả các quốc gia còn lại đều sử dụng hệ
đo lường mét Sự khác biệt này đã gây ra cản trở thương mại
b Các vấn đề tranh chấp liên quan đến quy định điều chỉnh dược phẩm và các thiết bị y tế
Phần lớn các chính phủ đều đặt ra quy định cho việc đưa loại dược phẩm mới hay thiết bị y tế
mới vào thị trường nội địa Việc sử dụng những sản phẩm này có thể dẫn đến những rủi ro
nghiêm trọng về mặt sức khỏe Quá trình rà soát nói chung là để hiểu rõ những rủi ro có thể
gặp phải và đảm bảo rằng những lợi ích mà những sản phẩm này mang lại lớn hơn những rủi
no của nó Đây là một nhiệm vụ tương đối phức tạp, do vậy quá trình xem xét có thể rất tốn
kém và mất nhiều thời gian Các tranh chấp thương mại thường xảy ra khi chính phủ nước
nhập khẩu từ chối chấp nhận những dữ liệu và chứng nhận sản phẩm mà chính phủ nước xuất
khẩu đã cung cấp
c Các vấn đề tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Hầu hết các quốc gia đều thừa
nhận tính pháp lý của bằng sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm, quyền tác giả và bí quyết kinh
doanh Tuy nhiên, thực tế lại tồn tại sự khác biệt trong việc định nghĩa và thực thi những
quyền này ở mỗi quốc gia, và điều này lại là một sự cản trở đối với thương mại Sự khác biệt
của mỗi quốc gia trong luật pháp sở hữu trí tuệ và sự thực thi luật pháp cũng chính là một mối
quan ngại lớn của những nhà xuất khẩu trong bản tóm lược điều tra kinh doanh của OECD
(OECD, 2003) Xuất khẩu đến những quốc gia có vi phạm luật sở hữu trí tuệ thường khá dễ
dàng, thậm chí còn được khuyến khích Tuy nhiên, kết quả thu được lại là một sự mất mát thị
trường nghiêm trọng khi các loại hàng nhái hàng giả từ những nước này sẽ được xuất khẩu
ngược trở về những quốc gia sản xuất hàng thật với một số lượng lớn hơn rất nhiều
Trang 23Tình th
d Các vấn đề liên quan đến những quy định kinh doanh Tồn tại một số vấn đề liên quan đến
việc quản lý quá trình thương mại có ảnh hưởng đến nhiều loại hàng hóa riêng biệt khác nhau
Vấn đề này sẽ được thảo luận khi chúng ta so sánh sự phát triển và giải quyết các vấn đề
thương mại tại từng quốc gia Những quy định này bao gồm việc áp thuế thu nhập từ nước
ngoài và sự thất bại trong việc áp dụng các quy định về kinh doanh minh bạch rõ ràng và
không phân biệt đối xử Nạn tham nhũng, hối lộ chính là rào cản thương mại lớn thứ 3 theo
nhận định của hầu hết các nhà xuất khẩu trong nghiên cứu điều tra của OECD (OECD, 2003)
Quy trình hải quan có thể rất mất thời gian và tốn kém khi những cán bộ hải quan cố tình kéo
dài những thủ tục hành chính rườm rà để gây khó khăn cho các bên xuất nhập khẩu Vấn đề
mà những nhà xuất khẩu có đạo đức sẽ phải đối mặt có thể còn nhân đôi lên nếu như chính
phủ nước họ có quy định hình phạt cho việc tham gia vào những hoạt động tham nhũng, hối
lộ tại nước ngoài
3 Các vấn đề tranh chấp liên quan đến các quy định và hoạt động xúc tiến xuất khẩu Bao gồm:
a Các vấn đề liên quan đến hạn chế xuất khẩu Rất nhiều quốc gia hạn chế xuất khẩu một số
mặt hàng nhất định Nguyên nhân có thể là để tránh sự thiếu hụt mặt hàng đó trong nước hoặc
để bảo vệ những công nghệ quan trọng của quốc gia Kết quả của sự gia tăng thương mại
quốc tế là rất nhiều nền kinh tế đang trở nên phụ thuộc vào những mặt hàng xuất khẩu từ các
quốc gia khác
b Các vấn đề liên quan đến trợ cấp xuất khẩu Vấn đề này bao gồm trợ cấp trực tiếp, chẳng
hạn như thanh toán cho xuất khẩu, và bù đắp cho những ngành hàng xuất khẩu, chẳng hạn
như cho nợ thuế đánh vào hoạt động xuất khẩu
5 TÍNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
Sự cân bằng giữa thương mại tự do và chủ nghĩa trọng thương sẽ bị ảnh hưởng bởi cơ cấu tổ chức
chính trị Ai sẽ là người quyết định một vấn đề, họ sẽ thực hiện những cam kết nào và kết quả sẽ ảnh
hưởng ra sao? Những yếu tố trên sẽ có ảnh hưởng đến việc lựa chọn quyết định Thường tồn tại hai
mức độ nghiên cứu quá trình chính trị Một trong số đó là “hiến pháp”: những mô hình bền vững
trong việc tổ chức ra quyết định là gì? Mức độ thứ hai là “chính trị”: những thay đổi gần đây trong
các điều kiện kinh tế và chính trị của một quốc gia sẽ ảnh hưởng thế nào đến gánh nặng đặt trên vai
những nhà hoạch định chính sách?
Các bên đều có lợi thông qua thương mại không phải là động lực duy nhất của hành vi xã hội Từ
trước đến nay, mỗi người chúng ta đều hành động để thúc đẩy sự hòa hợp trong xã hội và xóa bỏ sự
áp bức của chính quyền Mặc dù vậy, ẩn dưới hành động kiếm tìm hòa hợp trong xã hội lại là sự kỳ
vọng của rất nhiều người về việc mỗi chúng ta liên hệ với nhau như thế nào Những mô hình “văn
Trang 24Tình th
hóa” này sẽ ảnh hưởng đến việc điều hành kinh doanh và tổ chức doanh nghiệp Trên thực tế, có thể
nói những mô hình này đã tạo nên một cái khung cơ bản nhất cho toàn bộ hệ thống xã hội Mô hình
văn hóa doanh nghiệp tại mỗi quốc gia là rất nhau và điều này ảnh hưởng rất lớn đến những khác biệt
trong năng lực kinh tế của từng nước Do vậy, nếu muốn tìm hiểu nguyên nhân cho sự khác nhau của
các rào cản thương mại của các quốc gia, cần thiết phải nắm rõ về những khác biệt trong văn hóa của
các nước đó
6 KẾT LUẬN
Trong phần trên, chúng ta đã thảo luận về việc những quyết định và chính sách của chính phủ thường
phản ánh văn hóa và cơ cấu tổ chức quản lý Điều này dẫn đến một câu hỏi về bản chất của các rào
cản thương mại thường liên kết thế nào với ba Chính phủ mà chúng ta nghiên cứu (Hoa Kỳ, EU, Nhật
Bản) Chúng ta muốn biết rằng những lợi ích nội địa nào dẫn tới việc sử dụng hàng rào thương mại
Liệu những hàng rào này có được sử dụng hiệu quả hay không? Nếu không, liệu có khả năng cho
thương mại tự do tồn tại? Để hiểu rõ về những vấn đề trên, cần phải nghiên cứu những vấn đề đó
trong bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội Liệu các chính phủ có thúc đẩy loại hình bảo hộ cụ thể
nào? Chỉ riêng việc tìm kiếm những hình thức hạn chế thương mại mà chính phủ khuyến khích có thể
làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề
Việc so sánh những khiếu kiện thương mại và cách thức giải quyết sẽ trở nên thú vị hơn nhiều nếu có
thể gắn kết các vấn đề này với sự khác biệt giữa ba Chính phủ trên Nhiều câu hỏi được đặt ra: tại sao
những tranh chấp thương mại này xuất hiện, các ảnh hưởng dài hạn của chúng và có thể giải quyết
chúng như thế nào Để trả lời những câu hỏi trên, cần thiết phải xem xét kỹ các vấn đề sau: sự phản
hồi của mỗi quốc gia, bản chất của những tranh chấp này và quá trình phối hợp hài hòa giữa các
chính sách thương mại Những vấn đề chung trên có thể dẫn đến một số những câu hỏi cụ thể hơn Ví
dụ:
1 Thắc măc về sự phản hồi của mỗi quốc gia lại dẫn đến câu hỏi liệu những khiếu nại thương mại
xảy ra giữa ba nền kinh tế này có xu hướng rơi vào một kiểu mẫu cụ thể nào không Có bằng
chứng nào cho thấy những người đứng đầu của mỗi nên kinh tế có xu hướng chú trọng vào một
lợi ích cụ thể trong việc chống lại cạnh tranh nước ngoài, hoặc trong việc thúc đẩy việc tiếp cận
các thị trường nước ngoài? Nếu có thì tại sao? Liệu có bất cứ mối quan hệ nào giữa những quan
ngại thương mại của chính phủ và bất kỳ sức ép nào đó trong kinh tế hay chính trị của nước đó?
2 Thắc mắc liên quan đến bản chất của những tranh chấp đặt ra câu hỏi liệu có bất cứ khía cạnh
cụ thể nào của quá trình thương mại quốc tế thường xuyên gây ra tranh chấp Các chính phủ
trên thế giới dường như đang chú trọng hơn vào những vấn đề về môi trường Liệu những tranh
chấp thương mại xảy ra vì sự phát triển của những chương trình mới đang ảnh hưởng đến
thương mại quốc tế? Liệu những vấn đề này có được đề cập đến trong Hiệp định GATT, hay
Trang 25Tình th
những vấn đề này cho thấy một thực tiễn là các quốc gia phải đàm phán ký kết thêm những
hiệp định khác?
3 Quan ngại về quá trình điều phối các chính sách kinh tế đặt ra câu hỏi về các loại tranh chấp
thương mại thường xảy ra, loại nào dễ giải quyết và phương án giải quyết nào là tốt nhất Tìm
số liệu tổng hợp về những tranh chấp xảy ra và những tranh chấp đã được giải quyết là hết sức
cần thiết Qua đó, chúng ta có thể ước lượng xem tốc độ giải quyết tranh chấp có nhanh hơn tốc
độ xảy ra tranh chấp mới Nếu vậy, chúng ta có thể đang bước vào một thời kỳ bình ổn với sự
mở rộng về thương mại Tuy nhiên, nếu các tranh chấp thương mại mới xảy ra nhiều và nhanh
hơn tốc độ giải quyết những tranh chấp đó, chúng ta có thể nhận ra rằng nhu cầu thực hiện tự
do hóa thương mại của những nhà lãnh đạo đang giảm dần
Ba vấn đề trên có liên quan mật thiết đến nhau Nếu cùng xem xét những phản hồi của chính phủ với
quá trình hài hòa các chính sách, câu hỏi đặt ra là ảnh hưởng của sự khác biệt các quá trình chính
sách quốc gia trong sự thành công và thất bại của quá trình hài hòa hóa thương mại.Chính phủ không
phải là một thực thể đơn nhất Những cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề quốc tế thường
có cái nhìn khác về thương mại quốc tế so với đại diện những doanh nghiệp đang đối mặt với sự cạnh
tranh quốc tế ngày càng gia tăng Vậy ai sẽ tham gia vào quá trình hoạch định chính sách gây ảnh
hưởng đến thương mại quốc tế? Liệu những quá trình này sẽ bị chi phối bởi những người ủng hộ
thương mại hay những người phản đối thương mại? Quan sát sự gia tăng của những hạn chế thương
mại phản ánh bản chất đặc biệt của quá trình chính sách có thể cho thấy tự do hóa thương mại trong
tương lai sẽ đòi hỏi những đàm phán ngoại giao mạnh mẽ hơn nữa tại Geneva Chúng ta có thể sẽ cần
suy nghĩ lại quá trình ra quyết định của các chính phủ
Chùng ta sẽ xem xét đồng thời bản chất của các tranh chấp cùng với quá trình hài hòa hóa chính sách
thương mại Liệu bản chất của hiệp định có dẫn tới tranh chấp hay xích mích giữa các quốc gia? Hãy
xem xét các hiệp định quốc tế về thuế quan và các thuật ngữ thuế Đây là một vấn đề hết sức phức
tạp Tuy nhiên, cam kết của chính phủ trong những hiệp định liên quan lại rất cụ thể Liệu điều này sẽ
làm gia tăng hay giảm bớt mối bất hòa giữa các quốc gia? Ngược lại, những cam kết của chính phủ
trong những lĩnh vực như các quy định về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (SPS) có thể rất
chung chung, thường chỉ bao gồm một lời hứa sẽ sử dụng những bằng chứng khoa học khi đưa ra
những quyết định về SPS Liệu sự mơ hồ trong ngôn ngữ có khiến cho những tranh chấp này trở nên
khó giải quyết hơn? Nếu vậy, sẽ cần thiết phải tiếp tục phát triển một sự đồng thuận quốc tế về các
căn cứ thực tế của những tranh tranh chấp này
Trong phạm vi giới hạn của cuốn sách này, nhóm tác giả sẽ chỉ đưa ra những khuyến nghị thay vì cố
gắng đi đến một kết luận cụ thể Mặc dù vậy, để có thể làm được điều đó, chúng ta vẫn cần phải
nghiên cứu hệ thống các hiệp định quốc tế hiện hành (Chương 2), các mô hình đưa ra quyết định
Trang 26Tình th
quốc gia (Chương 3,5 và 7) và các tranh chấp thương mại thực tế tại mỗi nền kinh tế (Chương 4, 6 và
8) Chúng ta sẽ quay trở lại những câu hỏi trên khi nghiên cứu những ảnh hưởng đối với thương mại
quốc tế trong Chương 9 và 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anderton, C và J Carter (2001a), “Ảnh hưởng của chiến tranh đến thương mại: Loạt bài nghiên cứu
có thời gian gián đoạn”, Tạp chí Nghiên cứu Hòa Bình, 38(4), tr 445-457
Anderton, C và J Carter (2001b), “Về sự gián đoạn của thương mại do chiến tranh: Phản hồi bài viết
của Barbieri và Levy”, Tạp chí Nghiên cứu Hòa Bình, 38(5), tr 625-628
Baier, S và J Bergstrand (2001), “Sự phát triển của thương mại quốc tế: thuế quan, chi phí vận
chuyển và thu nhập”, Tạp chí Kinh tế Quốc tế, 53(1), tr 1-27
Barbieri, K (2002), Ảo tưởng tự do: Liệu thương mại có thúc đẩy hòa bình? Ann Arbor, NXB Đại
học Michigan
Barbieri, K và J Levy (1999), “Ngủ quên trước đối thủ: ảnh hưởng của chiến tranh với thương mại”,
Tạp chí Nghiên cứu Hòa Bình, 36(4), tr 463-479
Barbieri, K và J Levy (2001), “Liệu chiến tranh có cản trở thương mại? Bài phản hồi cho Anderton
và Carter”, Tạp chí Nghiên cứu Hòa Bình, 38(5), tr 619-624
Conybeare, J (1987), Chiến tranh thương mại: Lý thuyết và thực hành của cạnh tranh thương mại
quốc tế, New York, NXB Đại học Columbia
Dorussen, H (2002), “Thương mại và xung đột trong mô hình đa quốc gia: Lời phản biện”, Tạp chí
Nghiên cứu Hòa Bình, 39(1), tr.115-118
Liên minh Châu Âu EU, Tổng vụ Thương mại (không thường xuyên), Cơ sở Dữ liệu Tiếp cận Thị
trường, website: http://madb.europa.eu/madb_barriers/barriers_select.htm, ngày truy cập 30/05/2009
Fischer, Thomas (2000), Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và sự toàn cầu hóa của thương mại thế giới:
Đồng minh hay Đối thủ? Westport, Quorum Books
Friedman, T (1999), Chiếc Lexus và Cây Oliu, New York, Farrar, Straus và Giroux
Hegre, H (2000), “Sự phát triển và nền hòa bình tự do: Cần những gì để trở thành một quốc gia mở
cửa thương mại?”, Tạp chí Nghiên cứu Hòa Bình 37(1), tr 5-30
Irwin, D (1999), “Bối cảnh lịch sử của chính sách thương mại Hoa Kỳ”, Phòng Nghiên cứu Kinh tế
Quốc gia, website: www.nber.org/reporter/winter99/irwin.html, ngày truy cập 28/05/2009
Trang 27Tình th
Krugman, P (1997), Pop Internationalism, Cambridge, MA, NXB MIT
Laird, S và A Yeats (1988), Những xu hướng của hàng rào phi thuế quan tại các nước đang phát
triển, Washington, Ngân hàng Thế giới WB
Laird, S và A Yeats (1990), Phương pháp định lượng cho phân tích các hàng rào thương mại, New
York, NXB Đại học New York
Thời báo New York (2008), “Đàm phán thương mại toàn cầu sụp đổ”, 30/07/2008, phần 1
OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), Đảng Lao động của Ủy ban Thương mại (1999),
“Đánh giá chi phí để thương nhân quốc tế đáp ứng những yêu cầu quy định”, TD/TC/WP(99)
8/FINAL
OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), Đảng Lao động của Ủy ban Thương mại (2003),
“Tổng quan về các rào cản phi thuế quan: các phát hiện từ cuộc điều tra kinh doanh hiện tại”,
TD/TC/WP(2002) 38/FINAL, Paris: OECD
Ostry, S (1997), “Toàn cầu hóa, chính sách trong nước và sự cần thiết của các hệ thống hài hòa”,
trong L Waverman, W Comanor và A Goto (eds) Chính sách cạnh tranh trong nền kinh tế toàn
cầu: Các phương thức hợp tác, London, Routledge
Polanyi, K (1944), Sự chuyển đổi mạnh mẽ, New York, Farrar và Rinehart
Rolfe, S và J Burtle (1973), Vòng quay khổng lồ: Hệ thống tiền tệ thế giới, một sự tái diễn, New
York, Quadrangle
Schaffer, R., B Earle và F Agusti (2008), Luật kinh doanh quốc tế và môi trường của nó (tái bản lần
thứ 7), Ohio: Tây Nam Cengage
Schumpeter, J (1950), Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội và Chế độ dân chủ, New York, Harper
Trotman, L (2004), “WTO: những mâu thuẫn thể chế”, trong M Moore (ed.) Vòng Đàm phán Doha
và hơn thế nữa: Tương lai của hệ thống thương mại đa phương, Cambridge, NXB Đại học
Cambridge, tr 19-25
Liên hợp quốc (2004), Niên giám Thống kê Thương mại Quốc tế, tập II
Đại diện thương mại Hoa Kỳ, Báo cáo về Rào cản thương mại quốc tế (thường niên), Washington,
website: www.ustr/gov/Document_Library/Reports_Publications/Section_Index.html, ngày truy cập
30/05/2009
Trang 28Tình th
Wikipedia (2008), “Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại”, website:
http://en.wikipedia.org/wiki/General_Agreement_on_Tariffs_and_Trade, ngày truy cập 30/05/2009
Womack, J., D Jones và D Roos (1997), Cỗ máy làm thay đổi thế giới: Câu chuyện của Sản xuất
tinh gọn (Lean Manufacturing), New York, NXB Tự Do
WTO (1947), Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại
WTO (1996), “Tuyên bố Bộ trưởng về thương mại các sản phẩm công nghệ thông tin”, website:
www.wto.org/english/docs_e/legal_e/itadec_e.htm, ngày truy cập 30/05/2009
WTO (n.d.), “Giải quyết tranh chấp: các cuộc tranh chấp”, website:
http://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/find_dispu_cases_e.htm, ngày truy cập 30/05/2009
Zuckerman, Amy (1997), Tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế: Thị thực để bước vào Thị trường Thế
giới, ISO 9000, Nhãn hiệu CE, QS-9000, SSM, ISO 1400, Q 9000, Các hệ thống Tiêu chuẩn Hoa Kỳ,
Châu Âu và Toàn cầu, New York, Amacon
Trang 2923
1 GIỚI THIỆU CHUNG
Thương mại quốc tế không diễn ra một cách tự phát Một hệ thống các hiệp định quốc tế phức tạp đã bắt đầu được phát triển từ năm 1945 nhằm bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của thị trường hàng hóa
và dịch vụ quốc tế Ngay cả khi những điều khoản của các hiệp định này không trực tiếp đề cập đến các vấn đề thương mại cụ thể, chúng vẫn thể hiện sự kỳ vọng của cộng đồng quốc tế về thương mại
tự do và những mối quan hệ liên chính phủ Trong một vài trường hợp, những khiếu nại của một trong ba quốc gia trên (Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU) đối với hai quốc gia còn lại chỉ có thể được hiểu cặn
kẽ khi dẫnchiếu tới những hiệp định quốc tế này
Vòng đàm phán Uruguay chính là giai đoạn mà những đàm phán thương lượng quốc tế có nhiều tham vọng nhất Hiệp định cuối cùng đưa ra trong vòng đàm phán này được ký kết ngày 15/04/1994 Tổng cộng có khoảng 60 hiệp định được thông qua trong suốt quá trình của đàm phán này 15 hiệp định quan trọng nhất đã được liệt kê trong phụ lục của Hiệp định thành lập WTO Bên cạnh đó là hàng loạt những hiệp định thương mại đa phương được ký kết giữa một số thành viên WTO, cùng với rất nhiều quyết định Bộ trưởng đơn phương của các nước Chương này sẽ tập trung vào 15 hiệp định đã được đính kèm trong phụ lục của Văn kiện Cuối cùng (WTO, 1994k)
Số liệu, phạm vi và chi tiết của những hiệp định này có thể cho thấy sự phức tạp của thị trường quốc
tế Thực trạng này liên quan đến một vấn đề đã được đề cập đến trong Chương 1: liệu các thể chế và thủ tục ủng hộ thương mại quốc tế đến mức mà các vấn đề chính trị và những quy định mà các chính sách của chính phủ đặt ra có ảnh hưởng đến thương mại quốc tế?
Mọi người có thể để ý rằng các hiệp định tại Vòng Đàm phán Uruguay nói chung thường liên quan đến những hành động của chính phủ gây ảnh hưởng đến quá trình nhập khẩu Những rà soát của chúng tôi về thực trạng tranh chấp thương mại sẽ cho thấy rằng nhiều vấn đề tran chấp xuất phát từ việc áp dụng những biện pháp điều chỉnh trực tiếp trong nội địa Nguyên nhân và hệ quả của sự không nhất quán sẽ được thảo luận trong Chương 10
Trang 302 CÁC HIỆP ĐỊNH KHUNG
2.1 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
Hiệp định GATT đầu tiên (WTO, 1947) đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc đầu tiên là
sự ưu tiên sử dụng thuế quan hơn là hạn ngạch Tất cả những hạn chế nhập khẩu từ một quốc gia thành viên khác của GATT đều dựa trên thuế quan, các loại phí và lệ phí khác Hiệp định cũng hàm ý rằng hạn ngạch sẽ dần bị loại bỏ (GATT, Điều XI)
Hiệp định này cũng đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử Một khi sản phẩm được thông quan tại cửa khẩu, sản phẩm đó cũng sẽ được đối xử như đối với các hàng hóa khác trong nước (GATT, Điều III) Các quy định của chính phủ trong quản lý sản xuất, xử lý và sử dụng các sản phẩm không nên nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước Tuy nhiên, việc mua sắm của chính phủ nhằm phục
vụ cho các mục tiêu riêng của chính phủ không bắt buộc phải tuân thủ yêu cầu này (GATT, Điều III, mục 8a)
Có thể điều khoản quan trọng nhất là điều khoản không phân biệt đối xử giữa các thành viên của GATT Mọi quốc gia thành viên đều phải áp dụng nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc đối với các thành viên khác của GATT “Mọi ưu đãi, đặc quyền, hoặc sự miễn trừ mà một nước thành viên dành cho bất kỳ sản phẩm nhập khẩu từ hoặc xuất khẩu đến một quốc gia cũng sẽ được dành cho mọi quốc gia thành viên khác một cách vô điều kiện” (GATT, Điều I)
Điều khoản này dẫn đến hai hệ quả quan trọng nhất Thuế quan được cắt giảm do tất cả quốc gia đều được hưởng mức thuế quan thấp Hơn nữa, mọi sự cắt giảm thuế quan sau đó cần phải được thương lượng qua các vòng đàm phán đa phương bởi sự cắt giảm mức thuế đối với một quốc gia cũng sẽ tự động áp dụng với các quốc gia thành viên khác Các vòng đàm phán thương mại dẫn đến sự cắt giảm mạnh mẽ hàng rào thuế quan đã đề cập trong Chương 1 tạo nên sự thành công cho sự áp dụng Điều I của GATT
Hiệp định GATT cũng đưa ra miễn trừ cho phép không áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử Những ngoại lệ cho các quốc gia thành viên đưa ra những biện pháp nhằm bảo vệ quy tắc đạo đức xã hội, bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người, động vật và cây trồng, liên quan đến việc nhập khẩu vàng bạc, hoặc liên quan đến sự bảo tồn những nguồn tài nguyên đang cạn kiệt (GATT, Điều XX)
Hiệp định GATT cũng cho phép các quốc gia thành viên áp dụng mức thuế quan đặc biệt trong trường hợp nước xuất khẩu bán phá giá hàng hóa Bán phá giá được định nghĩa là bán hàng với mức giá “thấp hơn mức giá hàng hoá so sánh tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu” (GATT, Điều VI) Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế Quốc gia áp dụng mức thuế chống bán phá giá trước hết phải chứng minh rằng có thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất nội địa (Điều 6a) Mức thuế chống bán phá giá bị giới hạn bởi biên độ phá giá Những điều khoản tương tự cũng hạn chế việc áp dụng thuế đối kháng, mức thuế do nước nhập khẩu áp đặt đối với hàng hóa được trợ cấp bởi quốc gia xuất khẩu
Trang 3125
Cuối cùng, Hiệp định GATT cho phép các cuộc đàm phán thương lượng và sự tổ chức của các liên minh thuế quan và các khu vực tự do thương mại Tuy nhiên, “mục đích của liên minh thuế quan hay của khu vực tự do thương mại là để thúc đẩy thương mại giữa các thành viên của liên minh hay khu vực, không phải là để tạo thêm rào cản thương mại đối với quốc gia thành viên khác của GATT” (GATT, Điều XXIV)
Những thành quả mà Hiệp định GATT đạt được thật ấn tượng Trong vòng hơn 50 năm qua,mức thuế quan đã được cắt giảm mạnh mẽ Chẳng hạn tại Hoa Kỳ, mức thuế trung bình của các mặt hàng công nghiệp đã giảm gần 5% tính theo giá trị (Irwin, 1995) Quan điểm đàm phán của Hoa Kỳ trong rất nhiều mặt hàng điện từ là sử dụng thuế quan “không đổi không”: Mỹ giảm thuế xuống mức 0 để đổi lại các quốc gia khác cũng xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đối với mặt hàng này (WTO, 1996b)
Hiệp định GATT đã được điều chỉnh sửa đổi một vài lần Sự mở rộng toàn diện nhất của các hiệp định thương mại quốc tế là vòng đàm phán Uruguay 1986-1994 (WTO, 1994k) Văn kiện Cuối cùng của Vòng Đàm phán Uruguay đã chọn lọc những điểm tối ưu nhất của Hiệp định GATT để thành lập nên Tổ chức Thương mại Thế giới và sự đúc kết của 15 hiệp định chung khác về những lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên, những nguyên tắc cơ bản của GATT vẫn được giữ nguyên cho đến nay
2.2 Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO
Bước đột phá lớn của Vòng Đàm phán Uruguay năm 1994 chính là việc thông qua thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới Đây là sự phát triển của Tổ chức Thương mại Quốc tế trước đó, vốn được kỳ vọng để thực thi Hiệp định GATT đầu tiên
WTO có ba chức năng chính: đóng vai trò là tổ chức trung gian trong đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế; là nơi lưu giữ các hiệp định quốc tế có tác động đến thương mại; và là tổ chức thực hiện thủ tục giải quyết các tranh chấp (WTO, n.d.c)
Cơ cấu tổ chức của WTO bao gồm ba cấp độ chính Hơn 150 thành viên của WTO tham gia vào tất
cả cấp tổ chức Tuy nhiên, mức độ tham gia và phạm vi của vấn đề thì khác nhau tùy theo các cấp độ
tổ chức Các thành viên WTO định kỳ tổ chức Hội nghị Bộ trường để thảo luận những vấn đề có tính chất quan trọng Giữa những kỳ Hội nghị Bộ trưởng, các thành viên của WTO tham gia vào Đại Hội đồng, Cơ quan Giải quyết Tranh chấp và Cơ quan Rà soát Chính sách Thương mại Sự khác biệt trong tổ chức và chức năng của những cơ quan này phản ánh sự khác biệt trong trách nhiệm của từng
cơ quan Cả Cơ quan Giải quyết Tranh chấp và Cơ quan Rà soát Chính sách Thương mại đều phải báo cáo lên Đại Hội đồng (WTO, n.d.c.)
2.3 Thủ tục giải quyết tranh chấp
Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (1947) đã đặt ra một hệ thống cơ bản cho việc giải quyết tranh chấp thương mại Điều XXIII, “Vô hiệu hóa hoặc làm suy giảm”, chỉ rõ rằng nếu bất cứ bên nào tin rằng “mọi quyền lợi mang lại… từ Hiệp định này… bị làm suy giảm… do kết quả của…
Trang 32sự thất bại của một thành viên khác trong việc thực hiện đúng những nghĩa vụ theo Hiệp định này”, bên đó nên gửi yêu cầu tham vấn đến bên vi phạm nhằm gợi ý một số phương thức giải quyết vấn đề Nếu sự thương lượng giữa hai bên không thể giải quyết tranh chấp thì vấn đề này sẽ được đưa ra cho các bên ký kết Hiệp định GATT Các bên ký kết hiệp định sẽ có trách nhiệm nghiên cứu vụ việc và đưa ra khuyến nghị cho hai bên tranh chấp Nếu vấn đề này thực sự nghiêm trọng, những bên bị vi phạm có thể đình chỉ bất cứ nhượng bộ nào đối với bên vi phạm theo quy định trong GATT (Điều XXIII)
Tuy nhiên, có thể nói rằng hệ thống giải quyết tranh chấp này đã không thể thực thi Các quốc gia vi phạm Hiệp định GATT không bắt buộc phải tham gia vào quá trình này Quyết định của Hội đồng không có trọng lượng đối với cả luật quốc gia và luật quốc tế Bên thắng kiện không thể thực thi những quyết định có lợi cho họ, chẳng hạn như áp mức thuế cao hơn đối với hàng nhập khẩu từ nước
vi phạm, cho đến khi những quyết định này được thông qua bởi Hội đồng Bộ trưởng của GATT Theo quy định ban đầu của GATT, tất cả các quốc gia thành viên trong Hội đồng, bao gồm cả bên vi phạm cũng có quyền phủ quyết lại các quyết định của Hội đồng Sự tham gia và tuân thủ các quyết định của Hội đồng có tính chất tự nguyện (Schaffer, Earle và Agusti, 2008, tr 229)
Do quy trình giải quyết tranh chấp đa phương theo Hiệp định GATT không đủ mạnh, các quốc gia thành viên có xu hướng tìm đến những biện pháp giải quyết đơn phương nhằm bảo vệ cách hiểu của
họ đối với các quyền quy định trong GATT Điều này đặc biệt đúng với trường hợp của Hoa Kỳ Sự chống đối của quốc tế đối với những tuyên bố đơn phương áp dụng các điều khoản của GATT sẽ được thảo luận kỹ lưỡng tại Chương 4 Vấn đề nằm ở chỗ, sự tuân thủ của các bên đối với các hiệp định đa phương chính là cốt lõi của GATT Nếu các quốc gia thành viên đơn phương thực thi các điều khoản này, họ hoàn toàn có thể hiểu và diễn giải các quy định trong GATT theo cách có lợi cho hành động và quyền lợi của họ
Sự thông qua Cơ chế Giải quyết Tranh chấp trong WTO (WTO n.d.b) đã đẩy mạnh quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế liên quan đến cách diễn giải và áp dụng các hiệp định thương mại quốc tế (WTO, 1994k, Annex 2) Những tranh chấp quốc tế liên quan đến sự tuân thủ của các quốc gia với GATT giờ đây sẽ được chuyển lên các ủy ban, hay “Ban Hội thẩm”, bao gồm đại diện của những quốc gia không liên quan đến vụ tranh chấp đó Ban Hội thẩm được thành lập bởi Đại Hội đồng WTO, cơ quan có trách nhiệm điều hành quá trình tiếp theo Kết quả là, bên vi phạm không còn quyền phủ quyết đối với thủ tục giải quyết tranh chấp đã có hiệu lực Quy trình giải quyết được thực hiện thay mặt Cơ quan Giải quyết Tranh chấp, bao gồm tất cả các thành viên của WTO (Shaffer, Earle và Agusti, 2008, tr 293-294)
Quy trình giải quyết tranh chấp sẽ được tiến hành khi một quốc gia thành viên yêu cầu tham vấn với các thành viên WTO về một tranh chấp thương mại Một hồ sơ DS được mở ra với một yêu cầu chính thức gửi đến Cơ quan Giải quyết Tranh chấp Tuy nhiên, bên khởi kiện có thể yêu cầu tạm hoãn cuộc họp của Ban Hội thẩm nếu tranh chấp đó có thể giải quyết bằng phương thức khác Nếu các bên liên quan không báo cáo tranh chấp đã được giải quyết trong vòng 60 ngày, bên khởi kiện có thể yêu cầu
Trang 3327
họp Ban Hội thẩm Một Ban Hội thẩm bao gồm từ 3 đến 5 thành viên được chỉ định bởi Đại Hội đồng Mỗi bên đều có quyền phản đối sự chỉ định thành viên Ban Hội thẩm của Đại Hội đồng khi có những lý do thỏa đáng
Ban Hội thẩm giải quyết tranh chấp có trách nhiệm đánh giá khách quan tình hình thực tế và quyết định bên nào là bên vi phạm quy định của WTO Các quyết định được đưa ra dựa trên những chứng
cứ thực tế và những luận cứ pháp lý của các bên Ban Hội thẩm giải quyết tranh chấp cũng có thể tham khảo ý kiến khoa học và kỹ thuật của các chuyên gia bên ngoài Các nước khác nếu thực sự quan tâm đến vấn đề tranh chấp cũng có thể yêu cầu quyền được trình bày trước Ban Hội thẩm Ban Hội thẩm phải đưa ra báo cáo bằng văn bản của vụ kiện và gửi đến Cơ quan Giải quyết Tranh chấp trong vòng 6 tháng
Nếu bên thua kiện muốn kháng án, họ có thể tiếp tục khiếu nại lên Cơ quan Phúc thẩm Cơ quan này gồm những thành viên được chỉ định với nhiệm kỳ 4 năm Cơ quan Phúc thẩm chỉ giải quyết những
vụ kiện đã có phán quyết của Ban Hội thẩm nhưng các bên liên quan không chấp thuận
Dù các bên có chấp thuận, hay đệ đơn kháng án, phán quyết của Ban Hội thẩm vẫn sẽ bao gồm khuyến nghị về những biện pháp mà bên thắng sẽ được áp dụng đối với bên thua do đã vi phạm các quy đinh quốc tế Phán quyết của Ban Hội thẩm sẽ được thực hiện nếu được đa số thành viên WTO
bỏ phiếu chấp thuận Nếu phán quyết đã được thông qua, bên vi phạm sẽ được cho một khoảng thời gian nhất định để tuân thủ phán quyết này Nếu bên vi phạm không tuân thủ các điều khoản của phán quyết, một trọng tài sẽ được chỉ định để nêu rõ khoảng thời gian thực hiện Nếu bên vi phạm vẫn không thực hiện phán quyết trong khoảng thời gian này, bên bị vi phạm có thể tiến hành những biện pháp trả đũa đối với bên vi phạm Mục đích là để bù đắp cho bên thắng những thiệt hại xảy ra do sự
vi phạm các quy định GATT của bên thua Các biện pháp trả đũa này có thể kéo dài cho đến khi bên
vi phạm chấp nhận tuân theo đúng những quy định của WTO (WTO n.d.b)
Quy trình và Thủ tục Giải quyết Tranh chấp WTO được sử dụng khá thường xuyên Tổng số 397 vụ tranh chấp đã được đệ trình lên WTO trong khoảng thời gian 13 năm từ 1994 đến 2007 Hoa Kỳ là quốc gia có liên quan đến nhiều vụ tranh chấp thương mại qua WTO nhất, ở cả tư cách bên khiếu nại
và bên bị khiếu nại Chúng ta sẽ thảo luận một số vụ tranh chấp tại WTO trong những chương tiếp theo Tần suất khiếu nại lên WTO của 3 chính phủ mà chúng ta đang nghiên cứu (Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU) được trình bày trong Bảng 2.1 Với Châu Âu, số liệu trong bảng này chỉ bao gồm những vụ tranh chấp mà có sự tham gia của Liên minh Châu Âu (với tư cách là bên nguyên đơn hay bị đơn), không bao gồm những vụ kiện liên quan đến từng quốc gia thành viên EU riêng biệt
3 CÁC HIỆP ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ NHẬP KHẨU
Nguyên tắc cơ bản của GATT đã được bổ sung bởi việc thông qua hàng loạt những hiệp định liên chính phủ khác về chính sách và thực tiễn thương mại Các điều khoản của phần lớn những hiệp định này liên quan đến những tranh chấp thương mại được đề cập đến trong cuốn sách này
Trang 34Cuốn sách sẽ tập trung vào những thất bại trong nỗ lực tự do hóa thương mại Tuy nhiên, việc chính phủ các nước đàm phán ký kết những hiệp định này đã nói lên chính những cam kết của các nước này đối với thương mại tự do Cái nhìn toàn diện giữa những thành công và thất bại trong quá trình tự do hóa thương mại cần phải bao quát cả những hiệp định đang hiệu quả (hầu như không xuất hiện tranh chấp, khiếu nại thương mại liên quan đến những hiệp định này), cũng như những hiệp định đang là đối tượng của mâu thuẫn và tranh chấp quốc tế
Quá trình đàm phán thương mại quốc tế góp phần đem đến sự cần thiết của Cơ chế Giải quyết Tranh chấp Những điều khoản của các hiệp định quốc tế cần phải đủ rộng để bao quát được những tình huống ngẫu nhiên có thể dự báo trước hay những cách nhìn nhận đa chiều gây tranh cãi Do vậy, cố gắng tránh những điểm mâu thuẫn với cách diễn giải mập mờ, không rõ nghĩa thường là một chiến lược đàm phán hiệu quả Một khi hiệp định đã được thông qua, những khác biệt có thể được xóa bỏ thông qua đàm phán hoặc tranh tụng, nếu cần thiết Tranh chấp về một vài điều khoản sau khi hiệp định đã có hiệu lực có thể coi là một khoản chi phí chấp nhận được nhằm duy trì cam kết đa phương
về rất nhiều vấn đề khác mà các bên đã đồng thuận
Bảng 2.1 Số liệu các vụ tranh chấp thương mại liên quan đến 3 quốc gia (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản)
Ấn Độ Thái Lan Argentina Guatemala Honduras Hàn Quốc Mexico Australia Chile
Na Uy Peru
Trang 3529
Comlumbia Ecuador New Zealand Uruguay Tổng số
Ấn Độ Mexico Hàn Quốc Thái Lan Argentina Australia Chile Trung Quốc New Zealand Đài Loan Aruba Columbia Costa Rica Ecuador Indonesia Malaysia
Na Uy Philippines Thụy Sĩ Venezuela Tổng số
Nguồn: Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (n.d.d)
Tóm lại, phần lớn hiệp định thương mại quốc tế quy định các bên ký kết thực hiện những chính sách thương mại được đánh giá theo những tiêu chí như có tính“hợp lý” hay “hài hòa quốc tế” Những hiệp định dựa trên những điều khoản như vậy không thực sự quy định rõ các quốc gia ký kết phải làm những gì Tuy nhiên, những hiệp định như thế này lại có thể mang lại sự đồng thuận quốc tế về sự
Trang 36quản lý chinh sách thương mại cùng với một sự cam kết khá mơ hồ về việc sẽ làm rõ hơn nội dung của những tiêu chí đánh giá này trong những cuộc đàm phán sắp tới Rất nhiều tranh chấp thương mại được thảo luận sau đây có thể được coi như những loạt đạn bắn ra trong những “trận chiến đàm phán” của các quốc gia thành viên Trong phần cuối của cuốn sách, chúng ta sẽ quay trở lại với vấn
đề liệu quy trình giải quyết tranh chấp này có phải con đường tốt nhất để đi đến những đàm phán có lợi hay không
Một số hiệp định đề cập đến thủ tục nhập khẩu và quy trình hải quan Những hiệp định này không trực tiếp liên quan đến các vấn đề trình bày trong cuốn sách này WTO có chính sách chung về việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại thông qua việc khuyến khích các quốc gia thành viên đơn giản hóa, hài hòa hóa và tăng cường sự minh bạch trong hệ thống thương mại của họ Một số hiệp định trước đó đã không đạt được những nỗ lực này
Hiệp định về Quy tắc xuất xứ (WTO 1994g) đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nỗ lực quốc tế
để phát triển những nguyên tắc chung xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu Hiệp định về Trị giá Hải quan năm 1994 (WTO 1994d) có mục đích thống nhất thực tiễn quốc gia trong quá trình tính toán giá trị tính thuế dựa trên cơ sở giá trị giao dịch Hiệp định về Giám định hàng hóa trước khi gửi hàng (WTO 1994f) nhằm ngăn chặn việc nước nhập khẩu sử dụng các yêu cầu giám định hàng hóa trước khi gửi hàng để phân biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu Hiệp định này yêu cầu các quy định về giám định hàng hóa phải được thực hiện một cách không phân biệt đối xử Hiệp định cũng xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa bên xuất khẩu và các cơ quan giám định Hiệp định về Thủ tục cấp phép nhập khẩu (WTO, 1994e) yêu cầu bên nhập khẩu phải có giấy phép của chính phủ Cả Hoa Kỳ, EU hay Nhật Bản đều không thực hiện cấp phép nhập khẩu
Một số hiệp định lại đề cập đến nhiều khía cạnh của chính sách quốc gia về các biện pháp tự vệ và chống bán phá giá Hiệp định về thi hành Điều VI của GATT (Chống bán phá giá), (WTO, 1994c; Schaffer, Agusti và Earle (2008) tr.358-362) định nghĩa “bán phá giá” là việc các hàng hóa xuất khẩu được bán với giá thấp hơn mức giá thông thường Mức giá tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu được coi là mức giá thông thường Các quy định của GATT đều nghiêm cấm hành động bán phá giá (Schaffer, Agusti và Earle, 2008, tr 358; Hiệp định Chống bán phá giá Điều 2.1) Các quốc gia chịu thiệt hại do hành vi bán phá giá của nhà xuất khẩu nước khác có thể áp dụng mức thuế trừng phạt đối với những hàng hóa bán phá giá này
Hiệp định đầu tiên về chống bán phá giá được đưa ra trong Vòng Đàm phán Tokyo của GATT Hiệp định mới dựa trên cơ sở của hiệp định tại Tokyo đã được đưa ra đàm phán trong Vòng Đàm Phán Uruguay Trước khi áp dụng bất cứ biện pháp nào, các quốc gia phải chứng minh về hành vi bán phá giá của đối phương và những thiệt hại mà hành động này gây ra cho ngành sản xuất nội địa Hiệp định Chống Bán phá giá mới (ADA) đã thắt chặt hơn những điều khoản trong Hiệp định Tokyo về yêu cầu trên Hiệp định mới cũng làm rõ mối quan hệ giữa những biện pháp của chính phủ nước nhập khẩu và những biện pháp quốc tế thông qua Quy trình và Thủ tục Giải quyết Tranh chấp của WTO
Trang 3731
Quy định mới về thủ tục điều tra chống bán phá giá yêu cầu các bên liên quan phải có cơ hội để viện dẫn các chứng cứ của mình Những cuộc điều tra này sẽ không thể áp đặt biện pháp nếu biên độ phá giá nhỏ hơn 2% so với giá trị hàng hóa thông thường, hoặc nếu giá trị hàng hóa phá giá nhỏ hơn 3% tổng giá trị nhập khẩu của hàng hóa đó vào nước khởi xướng điều tra
Hiệp định Chống bán phá giá (ADA) mới được điều chỉnh bao gồm những quy định về việc xác định liệu hàng hóa đó có bị bán phá giá thật hay không Quy định mới chỉ rõ cách thức so sánh giữa giá trị xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng hóa đó (ADA, Điều 2.2 và 2.4) Có những trường hợp không thể xác định mức giá thông thường một cách trực tiếp Hiệp định này đã quy định cách đưa ra một mức giá dự tính hay mức giá thiết lập sau đó Việc tính toán về bán phá giá, hàng hóa tương đương và biên độ phá giá cần phải chú ý đế những khác biệt giữa thị trường các nước trong các yêu
tố chi phí và nhu cầu để có thể đi đến một sự so sánh công bằng
Quốc gia nhập khẩu cũng phải chỉ rõ hành động bán phá giá của nước xuất khẩu đã gây thiệt hại đến sản xuất những mặt hàng cùng loại trong nước (ADA, Điều 3.5) Ngành sản xuất nội địa được định nghĩa là ngành sản xuất những mặt hàng cùng loại Nói cách khác, sẽ là không đủ nếu chỉ chứng minh được rằng hành động bán phá giá chỉ gây thiệt hại đến một nhóm doanh nghiệp nhỏ Những cuộc điều tra chống bán phá giá chỉ được xét đến nếu nó gây thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất nội địa
Mức thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng trên những mặt hàng tương tự với sản phẩm bị điều tra
và có cùng xuất xứ từ quốc gia xuất khẩu đó Mức thuế chống bán phá giá bị giới hạn bởi biên độ phá giá
Một điều khoản mới yêu cầu các quốc gia thực hiện quy định trong điều tra chống bán phá giá hay áp dụng các biện pháp chống bán phá giá lên những sản phẩm bị điều tra phải gửi thông báo chi tiết và kịp thời đến Ủy ban Thực thi Chống bán phá giá Ủy ban này là một cơ quan của WTO, có chức năng cung cấp cho tất cả các bên liên quan cơ hội để tham khảo mọi vấn đề liên quan đến hành động chống bán phá giá Mọi biện pháp chỉ được phép áp dụng tối đa trong vòng 5 năm, trừ khi chứng minh được rằng hành động bán phá giá sẽ tiếp tục gây thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nếu các biện pháp trừng phạt được xóa bỏ
Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (SCM) (WTO, 1994j) được xây dựng dựa trên Hiệp định về Diễn giải và Áp dụng Điều VI, XVI và XXIII của GATT được đàm phán trong Vòng Tokyo
Hiệp định này đã định nghĩa trợ cấp là những lợi ích mà chính phủ cấp cho một doanh nghiệp hay một ngành sản xuất nội địa thông qua hỗ trợ về thu nhập và giá cả, cung cấp ngân quỹ, tiền trợ cấp, cấp tín dụng với lãi suất thấp, không thu thuế, cung cấp vốn đầu tư, hàng hóa và dịch vụ, hoặc có thể bằng cách mua hàng hóa và dịch vụ với mức giá cao hơn thị trường
Hiệp định SCM chỉ áp dụng đối với trợ cấp có tính riêng biệt, được định nghĩa là loại trợ cấp chỉ được cấp cho doanh nghiệp, hoặc một nhóm doanh nghiệp nằm trong phạm vi quyền hạn của chính
Trang 38quyền cấp trợ cấp Chẳng hạn, một điều khoản thuế có lợi cho các doanh nghiệp vận tải biển của Hoa
Kỳ thường sẽ không được coi là trợ cấp riêng biệt vì cơ quan thuế vụ Hoa Kỳ IRS không có quyền hạn đối với ngành hàng hải Trợ cấp cho tàu hàng được cấp bởi cơ quan quản lý hàng hải Hoa Kỳ (Marad) sẽ được coi là trợ cấp riêng biệt bởi Marad chịu trách nhiệm phát triển ngành hàng hải Hoa
Kỳ
Trợ cấp riêng biệt được phân loại trong Hiệp định SCM thành 3 nhóm Nhóm trợ cấp bị cấm bao gồm tất cả những chính sách có khả năng tạo ra trợ cấp ưu tiên sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu hoặc trợ cấp xuất khẩu
Nhóm trợ cấp có thể đối kháng là những trợ cấp không bị cấm, nhưng có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đối với lợi ích của các quốc gia thành viên Thiệt hại nghiêm trọng được định nghĩa là thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa của quốc gia khác, hoặc sự suy giảm của những lợi ích mà các quốc gia thành viên vốn được hưởng theo quy định của GATT Thiệt hại nghiêm trọng được thừa nhận khi trợ cập vượt quá 5% giá trị hàng hóa Chính phủ nào dành trợ cấp cho doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm chứng minh rằng trợ cấp đo không gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho nước khiếu nại
Các quốc gia thành viên gặp các vấn đề liên quan đến nhóm trợ cấp có thể đối kháng có thể đệ trình vấn đề lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO Nếu cơ quan này kết luận rằng trợ cấp thực sự gây thiệt hại nghiêm trọng, bên vi phạm sẽ phải hoặc rút lại trợ cấp hoặc xóa bỏ những tác động ngược chiều
Nhóm trợ cấp mang lại lợi ích cho xã hội sẽ không thể bị kiện theo các điều khoản của Hiệp định về Trợ cấp Nhóm này bao gồm những trợ cấp nhằm thúc đẩy sự mở rộng của tri thức, trợ cấp dành cho những khu vực khó khăn và trợ cấp dành cho doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu mới về môi trường Một quốc gia thành viên nếu tin rằng nhóm trợ cấp không thể bị kiện này vẫn gây ra những thiệt hại đáng kể thì có thể đệ trình xin ý kiến giải quyết vấn đề
Nếu quốc gia thành viên nhận thấy trợ cấp nước ngoài thuộc nhóm bị cấm, hoặc nhóm có thể đối kháng, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với lợi ích kinh tế quốc gia thì có thể áp dụng mức thuế đối kháng lên các hàng hóa nhập khẩu với mức thuế đúng bằng giá trị trợ cấp Mọi yếu tố kinh tế liên quan phải được xét đến trong quá trình xác định về trợ cấp và những ảnh hưởng của nó
Trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp ưu tiên sử dụng hàng nội địa thay thế nhập khẩu là loại trợ cấp bị cấm hoàn toàn theo Hiệp định này Một trong những trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp căn cứ vào kết quả xuất khẩu Trợ cấp thay thế xuất khẩu là việc ưu tiên sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước thay vì sử dụng hàng hóa, dịch vụ nước ngoài Một quốc gia nhập khẩu có thể khởi kiện lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp trong WTO nếu phát hiện hàng nhập khẩu có trợ cấp mà không cần phải chứng minh có thiệt hại tại quốc gia mình Quốc gia nhập khẩu cũng có thể áp đặt thuế chống trợ cấp đối với các hàng hóa có trợ cấp, tuy nhiên, trước tiên phải chứng minh thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa Hiệp định về Trợ cấp cho phép các chính phủ dành trợ cấp cho toàn bộ hoạt động kinh doanh trong nước Tuy nhiên, trợ cấp trong nước có thể sẽ bị cấm nếu có tác động ngược chiều đối với thương
Trang 3933
mại quốc tế Tác động ngược chiều xảy ra nếu trợ cấp trong nước gây ra những thiệt hại đối với các ngành sản xuất nội địa của các nước thành viên WTO khác, làm giảm quyền lợi của các nước thành viên theo Hiệp định GATT, hoặc gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với các nước thành viên WTO Trợ cấp trong nước chỉ trở thành đối tượng điều chỉnh của Hiệp định về Trợ cấp khi đây là loại trợ cấp đặc thù dành cho một ngành hàng hoặc một mặt hàng nhất định
Thiệt hại nghiêm trọng được cho là xảy ra nếu trợ cấp trong nước vượt quá 5% giá trị hàng hóa được trợ cấp, nếu trợ cấp bù đắp cho hoạt động kinh doanh thua lỗ của doanh nghiệp hoặc nếu chính phủ xóa bỏ khoản nợ của doanh nghiệp được trợ cấp Thiệt hại nghiêm trọng cũng có thể xảy ra nếu trợ cấp này cản trở thương mại thế giới trong một loại hàng hóa nhất định, dẫn đến mất mát doanh thu do giá hàng giảm, hoặc làm gia tăng thị phần của nước trợ cấp về các mặt hàng chính trên thị trường toàn cầu
Hiệp đinh SCM thiết lập một giả định có thể bác bỏ rằng mọi trợ cấp vượt quá 5% giá trị sản phẩm đều có thể gây thiệt hại nghiêm trọng Mặt khác, điều tra chống trợ cấp được xóa bỏ nếu biên độ trợ cấp là 1% giá trị hàng hóa hoặc nếu khối lượng hàng hóa nhập khẩu có trợ cấp là không đáng kể Mọi điều tra chống bán phá giá đều phải hoàn thành trong vòng 18 tháng kể từ khi bắt đầu và mức thuế đó chỉ được áp dụng trong vòng 5 năm
Một số quy định đặc biệt được đưa ra trong Hiệp định SCM đối với những nước đang phát triển và đối với máy bay dân dụng Giả định trợ cấp trợ cấp lớn hơn 5% giá trị hàng hóa xuất khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng không áp dụng đối với máy bay dân dụng Trợ cấp chính phủ được cấp khi doanh
số bán máy bay thấp hơn dự kiến sẽ không dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng
Hiệp định về Biện pháp Tự vệ (WTO, 1994h) khẳng định rằng, ngay cả khi không xảy ra hành động bán phá giá của doanh nghiệp xuất khẩu, hay trợ cấp của nước xuất khẩu, các quốc gia nhập khẩu vẫn
có thể áp dụng các biện pháp tự vệ Các biện pháp này được sử dụng nhằm bảo vệ ngành sản xuất nội địa khỏi những gia tăng đột biến các sản phẩm nhập khẩu có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa hay gây ra những xáo trộn bởi cạnh tranh từ nước ngoài (GATT, Điều XIX) Hiệp định về Tự vệ nghiêm cấm sử dụng biện pháp “vùng xám”, chẳng hạn như những hiệp định hạn chế tự nguyện, bao gồm những cam kết có tính chất tự nguyện của nước xuất khẩu về việc đơn phương hạn chế xuất khẩu và cam kết thực hiện một số hình thức sắp xếp trật tự thị trường khác Mọi hiệp định như vậy cần phải được xóa bỏ vào ngày 31/12/1999
Điều tra tự vệ cần cho các bên liên quan cơ hội để viện dẫn chứng cứ, bao gồm bằng chứng về việc liệu biện pháp tự vệ có phải là mối quan tâm của công luận hay không Nếu tình hình nghiêm trọng, biện pháp tự vệ tạm thời có thể được áp dụng ngay lập tức, những không được kéo dài quá 200 ngày Hiệp định về Tự vệ hạn chế các biện pháp tự vệ trong giới hạn vừa đủ để ngăn chặn hoặc bù đắp cho những thiệt hại nghiêm trọng, hoặc để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh nền công nghiệp Nhìn chung, các biện pháp tự vệ không nên kéo dài quá 4 năm Các biện pháp tự vệ định lượng, chẳng hạn như hạn ngạch, nên được áp dụng một cách công bằng giữa các nước xuất khẩu có liên quan Mọi
Trang 40biện pháp tự vệ được áp dụng không nên làm giảm lượng hàng nhập khẩu xuống dưới mức trung bình trong vòng ba năm gần nhất, trừ khi có luận cứ rõ ràng cho hành động này
Hiệp định cho rằng quốc gia áp dụng biện pháp tự vệ sẽ đền bù cho những quốc gia bị ảnh hưởng Nếu thỏa thuận về những phương án đền bù không thành công, các quốc gia bị ảnh hưởng có thể rút lại những đặc quyền tương đương theo hiệp định GATT giành cho các nước đang áp dụng biện pháp
tự vệ Tuy nhiên, không được phép áp dụng những hành động trả đũa này nếu các biện pháp tự vệ được sử dụng do kết quả của sự gia tăng tuyệt đối của mặt hàng nhập khẩu, tuân theo đúng những quy định của Hiệp định về Tự vệ và được sử dụng chưa quá 3 năm
4 CÁC HIỆP ĐỊNH VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA CỤ THỂ
4.1 Hiệp định về Nông nghiệp (WTO, 1994a)
Đây là hiệp định khung được xây dựng với mục đích chính nhằm xác định lịch trình đàm phán trong tương lai Hiệp định này chỉ ra hai mâu thuẫn chính sách khởi nguồn Một mặt, một số quốc gia (thông thường là các quốc gia xuất khẩu) tìm kiếm những sự thay đổi nhằm thúc đẩy thâm nhập thị trường, giảm thiểu những chính sách bóp méo thị trường và thiết lập một sự tín nhiệm lớn hơn vào cơ chế giá thả nổi theo thị trường Mặt khác, những quốc gia còn lại, mà thông thường là những quốc gia kém phát triển, lại mong muốn một cam kết bền vững về các chính sách bình ổn thị trường cũng như bảo vệ người lao động và thu nhập ở nông thôn
Trong thúc đẩy thị trường tự do hàng nông sản, các quốc gia kí kết hiệp định này cam kết thay thế các biện pháp giới hạn thị trường như hạn ngạch thương mại bằng các loại thuế quan với cùng mức bảo
hộ Theo đó, những quốc gia phát triển sẽ có sáu năm để cắt giảm các thuế quan nông nghiệp tối thiểu 36% Các quốc gia kém phát triển sẽ có mười năm để cắt giảm mức thuế quan nông nghiệp tối thiểu 24% Các biện pháp hỗ trợ nông nghiệp nội địa như các dịch vụ hỗ trợ kĩ thuật và các qui định về vệ sinh và an toàn thực phẩm được loại ra khỏi các yêu cầu thuế quan hoá và cắt giảm thuế quan
Các hạn ngạch thương mại thuế quan đang chiếm dưới 3% tiêu dùng quốc nội có thể tăng tới mức dưới 6% Các loại thuế “tự vệ” đặc biệt có thể được áp đặt khi các hạn ngạch thương mại được “thuế quan hoá” nhằm chống lại sự gia tăng nhập khẩu đột biến
Ngoài ra, các quốc gia đang phát triển kí kết hiệp định nông nghiệp được yêu cầu phải giảm đi 36% giá trị của các trợ cấp xuất khẩu nông sản và 21% số lượng trợ cấp cho xuất khẩu nông sản so với ngưỡng chuẩn của kì cơ sở 1986 – 1990 Sự cắt giảm này sẽ được tiến hành trong thời hạn sáu năm Các quốc gia đang phát triển cam kết giảm đi 21% mức trợ cấp xuất khẩu trong thời hạn mười năm Bên cạnh các cam kết về thuế quan và hạn ngạch thương mại, các quốc gia tham gia kí kết hiệp định nông nghiệp cũng cam kết giảm các “biện pháp tổng hợp hỗ trợ” (AMS) nông nghiệp Các quốc gia phát triển sẽ giảm 20% các biện pháp này và các quốc gia đang phát triển sẽ giảm 13.3% trong suốt giai đoạn tiến hành theo cam kết