Đề tài của em gồm 3 phần: Chương 1: Những vấn đề lý luận Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư và phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.
Trang 1Lời mở đầu
Cùng với cả nhân loại chúng ta đang bước vào thế kỷ 21 – kỷ nguyêncủa sự bùng nổ thông tin, của sự phát triển như vũ bão của các công nghệ cao:sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng… Nền kinh tế thếgiới đang có bước chuyển mình sâu sắc và mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng vàphương thức hoạt động Đây không phải là một sự biến đổi bình thường mà làmột bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế chứng từ, kinh tếcông nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh nhân loại chuyển từ văn minhcông nghiệp sang văn minh trí tuệ Trong quá trình hội nhập quốc tế, ViệtNam tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước với mụctiêu đến năm 2020 sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp Trong quá trìnhcông nghiệp hoá - hiện đại hoá Việt Nam có lợi thế về nguồn người lực, chính
vì thế đào tạo phát triển nguồn nhân lực là hết sức quan trọng Đảng và Nhànước ta đã chỉ rõ rằng: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Nói giáo dục - đàotạo là quốc sách hàng đầu có nghĩa là giáo dục - đào tạo phải được ưu tiênhàng đầu trong các chính sách phát triển của quốc gia bởi giáo dục - đào tạo
có vai trò to lớn trong phát triển nguồn nhân lực Đặc biệt trong nền kinh tế trithức, đất nước mới có sức mạnh để phát triển cần phải tạo ra được nguồnnhân lực có trình độ trí tuệ ngang tầm thời đại cả về nguồn chất xám cũng nhưnăng lực khai thác để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng xuất lao động,phát triển các hoạt động dịch vụ, nâng cấp các hoạt động văn hoá tinh thần…chỉ có nền giáo dục phát triển mới đáp ứng được nhu cầu đó Quán triệt quanđiểm coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, chúng ta cần phải quan tâm đầu tưnhiều hơn cho phát triển giáo dục - đào tạo Mặt khác giáo dục - đào tạo pháttriển theo đúng hướng xã hội hoá, phát triển trong điều kiện kinh tế thị trườngthì đáp ứng cho phát triển giáo dục - đào tạo không còn là việc riêng củanhững mà là của toàn xã hội
Trang 2Chính vì vậy để có cái nhìn tổng quan hơn về giáo dục - đào tạo và đầu
tư phát triển giáo dục - đào tạo em xin chọn đề tài: “Đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam”.
Trang 3Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Bước vào thế kỷ 21 Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường nhiềuthành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước Cùngvới sự phát triển kinh tế thì đầu tư phát triển nguồn lực là hết sức quan trọngtrong đó một nguồn lực không thể thiếu trong quá trình đầu tư là con người
Do đó, đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo càng được coi là đầu tư phát triển
1 Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển.
1.1 Khả năng về đầu tư và đầu tư phát triển.
Đầu ta là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt độngnào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lailớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để trựctiếp làm tăng các tài sản vật chất,nguồn lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sựhoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có
1.2 Vai trò của đầu tư phát triển.
1.2.1 - Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước
1.2.1.1 Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu:
Về mặt cầu: đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của
toàn bộ nền kinh tế Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự thay đổi của đầu tưlàm cho đầu tư tăng (đường D dịch chuyển sang D’) kéo sản lượng cầu tăngtheo tư Qo – Q1 và giá của các nguyên liệu đầu vào của đầu tư tăng từ Po-P1.Điểm cân bằng dịch chuyển từ Eo-E1
Về mặt cung: khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực
mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng dài hạn tăng lên (đường Sdịch chuyển sang S’) Kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q1-Q2 và do đógiá cả sản phẩm giảm tư P1-P2 Sản lượng tăng, gía cả giảm cho phép tăngtiêu dùng Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại kích thích sản xuất hơn nữa Sản
Trang 4xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội,tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viêntrong xã hội.
1.2.1.2 Đầu tư có tác động hai mặt đến sự thay đổi của nền kinh:
Từ sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổngcầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư,
dù tăng hay giảm đều tạo cùng một lúc yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tốphá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia
1.2.1.3 Đầu tư nhằm tăng cường khả năng khoa học công nghệ của đất nước:
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, đầu tư là điều kiện tiênquyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiệnnay
Có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu để có côngnghệ hoặc nhập công nghệ từ nước ngoài Dù là tự nghiên cứu hay nhập từnước ngoài cũng cần phải có tiền, cần phải có đầu tư Mọi phương án đổi mớicông nghệ không gắn liền với nguồn vốn đầu tư sẽ là phương án không khảthi
1.2.1.4 Đầu tư tác động vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu cóthể tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo
ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Như vậy, chính đầu tưquyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt đượctốc độ tăng trương nhanh và ổ định của toàn bộ nền kinh tế
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối đểphát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏitình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa
Trang 5thế, kinh tế…của những vùng có khả năng phát triển mạnh hơn, làm bàn đạpthúc đẩy phát triển kinh tế các vùng khác
1.2.1.5 Đầu tư tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độtăng trưởng ở mức độ tăng trưởng ở mức độ trung bình thì tỷ lệ đầu tư phảiđạt được từ 15%-20% so với GDP tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nước Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu
tư, kinh nghiệm các nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấukinh tế và hiệu quả đầu tư trong các nghành, các vùng lãnh thổ cũng như phụthuộc vào hiệu quả của chính sách đầu tư nói chung Thông thường ICORtrong nông nghiệp phụ thấp hơn trong công nghiệp ICOR trong giai đoạnchuyển đổi cơ cấu kinh tế chủ yếu do tận dụng năng lực Do đó, ở các nướcphát triển, tỷ lệ đầu tư thấp, dẫn đến tăng trưởng thấp
1.2.2 Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ:
Đầu tư quyết định sự ra đời tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở nhằmduy trì hoạt động và phát triển
1.2.3 Đầu tư vào các cơ sở vô vị lợi
Với các cơ sở đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửachữa lớn định kỳ các cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phíthường xuyên Tất cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt độngđầu tư
2 Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
2.1 Đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
đầu tư cho giáo dục đào tạo là một nội dung trong đầu tư phát triển conngười Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn đượcĐảng và Nhà nước ta coi là hoạt động đầu tư cơ bản nhất Vậy có thể hiểu đầu
tư cho giáo dục đào tạo là hành động bỏ tiền ra để tiến hành hoạt động nhằm
Trang 6tạo tài sản mới cho nền kinh tế nói chung, cho giáo dục nói riêng Tài sản mới
có thể là trình độ được nâng cao của mọi đối tượng trong xã hội, từ đó tạotiềm lực, động lực mới cho nền sản xuất xã hội
Con người là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra của cải vật chất, là lựclượng sáng tạo ra xã hội Đào tạo nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng nhữngyêu cầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa vai trò hàng đầu thuộc
về công tác giáo dục và đào tạo Giáo dục đào tạo tạo ra sự chuyển biến vềchất trong lực lượng lao động, góp phần thực hiện thành công mục tiêu kinh
tế xã hội
2.2 Vai trò của đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
Giáo dục góp phần vào tăng trưởng kinh tế thông qua cả tăng năng suấtlao động của mỗi cá nhân nhờ nâng cao trình độ lẫn tích luỹ kiến thức Nguồnlực con người là một trong các yếu tố đầu vào của hàm sản xuất:
về chất lực lượng lao động từ đó sẽ làm thay đổi sản lượng Q
Một sự đầu tư đúng đắn, hợp lý sẽ kéo theo sự thay đổi theo chiều hướngtiến bộ của mặt bằng dân trí Nhu cầu học tập, nghiên cứu được thoả mãn
Trang 7Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá 8 khẳng định: khoa học côngnghệ là nền tảng, là động lực của công nghiệp hoá - hiện đại hoá Giữa giáodục - đào tạo và khoa học công nghệ có mối liên hệ qua lại hết sức chặt chẽ.Giáo dục là nền tảng cho sự phát triển nhanh khoa học công nghệ Giáo dục -đào tạo và khoa học công nghệ kết hợp chặt chẽ, hỗ trợ nhau, tạo nên sự tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững gắn liền với sự phát triển xã hội theo hướngvăn minh, hiện đại Đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo chính là động lực pháttriển khoa học công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển.
Trang 8Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở
Việt Nam
1 Khái quát về tìnhhình phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.
1.1 Tổng quan về giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.
Bảng 1: Số lượng học sinh sinh viên (nghìn người)
12806.7 564.2
13568.7 703.3
14587.4 862.3
14541.5 1019.5
15192.4 1155.6
155882 1382
15824.4 1653.6
2 THCN 106.5 107.8 119.8 155.6 170.5 12.4 164.1 177.6 3.Dạy
ĐH rất phong phú; nhiều trường ĐH tư, ĐH mở, dân lập được thành lập Sốlượng học sinh các trường dạy nghề nếu so với năm 86 - 87 thì năm 98 - 99chỉ bằng 51.7% nhưng từ 93 - 94 có xu hướng tăng trở lại Số lượng đào tạodạy nghề không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế đối với đội ngũ côngnhân kỹ thuật
Về mặt quy mô giáo dục thì mức chênh lệch giữa nông thôn và thành thị
có sự khác xa về trình độ
Tỉ lệ phần trăm tốt nghiệp phổ thông ở thành phố và nông thôn là 47/29.Đây là mức chênh lệch khá cao vì vậy chúng ta phải có biện pháp hữu hiệu để
Trang 9rút ngắn tỉ lệ trên Xét về quy mô ở nước ta tỉ lệ người đi học so với dân sốtrong độ tuổi còn khá thấp Dù rằng quy mô giáo dục đào tạo của Việt Nam(xét về mặt biết chữ và tiểu học) ở mức trung bình, tức là ngang bằng vớiThái Lan và Philippines nhưng ở bậc trung học thì Việt Nam lại ở mức thấphơn so với các nước này Đặc biệt ở bậc đại học thì Việt Nam ở vị trí cuốicùng.
Số lao động kỹ thuật ở Việt Nam chiếm 12% năm 1995, trong số 40.2triệu người chỉ có 4.7 triệu là lao động có kỹ thuật
Cùng với sự biến động của số lượng học sinh, sinh viên thì số lượng giáoviên ở các cấp có sự biến đổi theo:
Bảng 2: Số lượng giáo viên ở các cấp
Đơn vị: 1000 người
92 - 93 93 - 94 94 - 95 95 - 96 96 - 97 97 - 98 98 -99 99 - 00 Mẫu
Bảng 3: Số trường học qua các năm.
Nguồn: Xử lý số liệu trong Niên giám thống kê năm 1998.
91 92
92 93
93 94
-94 - 95 95 - 96 96
-97
97 98
98 99
Trang 10-PT 17189 17980 19164 20086 21754 22664 23286 THCN 268 271 272 265 266 239 239 247
- Tỉnh, thành phố quản lý giáo dục trung học
- Quận, huyện quản lý giáo dục tiểu học
Mặc dù có sự tăng lên về số lượng trường học các cấp qua các nămnhưng vẫn không đủ lớp cho học sinh; ở các tỉnh, huyện ngoại thành tìnhtrạng học sinh phải học ca 3 vẫn tiếp diễn.ởcấp dạy nghề còn nằm trong tìnhtrạng manh mún, thiếu tập trung, chưa có chương trình nào dành cho dạynghề
Về đào tạo sau đại học ở trong nước diễn ra như thế nào?
Quy mô đào tạo sau đại học ở trong nước không ngừng được mở rộng vàphát triển:
Bảng 4: Thống kê cơ sở đào tạo sau đại học
Nguồn: Tài chính giáo dục tháng 9 năm 2001.
199 0
199 1
199 2
199 3
199 4
199 5
1996 199
7
199 8
199 9
200 0
Trang 11306 0
651 3444 529
4
304 1
4 534
274 7
Trong giai đoạn 1990 - 1993, cả nước có 77 cơ sở đào tạo tiến sỹ, nhưng
từ 1993 - 2001 số lượng cơ sở đào tạo tiến sỹ tăng gấp 1.5 lần (từ 77 lên 113
cơ sở) Số lượng cơ sở đào tạo thạc sỹ tăng rất nhanh: từ 12 cơ sở năm 1991lên 93 cơ sở năm 2001 Tính đến hết tháng 5 - 2001, cả nước có 141 cơ sở đàotạo sau đại học Tuy nhiên, số lượng các cơ sở đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ tăngmạnh vào năm 1996 sau đó chững lại (1997)
Bảng 5: Số lượng tuyển sinh sau đại học giai đoạn 1990 - 2000.
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 TS
Nguồn: Tài chính giáo dục tháng 9/2001.
Trong 10 năm từ 1990 - 2000, số lượng tuyển sinh cao học đã tăng hơn
11 lần (từ 509 học viên năm 1991 lên 5747 học viên năm 2000) Tuyển sinhđào tạo tiến sỹ trong thập kỷ qua có nhiều biến động, khởi đầu bằng con số
316 nghiên cứu sinh được tuyển vào năm 1990 và tăng đạt kỷ lục 1258 nghiêncứu sinh năm 1995, sau đó từ 1996 - 2000 thì số lượng giảm dần
1.2 Sự cần thiết phải tăng cường đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo:
Nghị quyết Đảng lần thứ VIII chỉ rõ “cùng với khoa học và công nghệ,giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài”
Trang 12Giáo dục phải mang tính chất xã hội hoá, là sự nghiệp của toàn dân, củagia đình, các tổ chức mọi người cần phải góp công sức, tiền của để pháttriển giáo dục, quan tâm đến giáo dục Từ đó hình thành nên môi trường thuậnlợi cho giáo dục.
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, Nhà nước cấp ngân sách chogiáo dục, cho phép vay vốn nước ngoài để đầu tư phát triển giáo dục, tranhthủ hỗ trợ của mọi nguồn lực trong và ngoài nước Người đi học và người sửdụng lao động qua đào tạo phải đóng góp kinh phí
Tạo nên quyền bình đẳng trước cơ hội được giáo dục của mọi người dân.Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở nông thôn, miền núi, có chú ý đến cácđối tượng chính sách Miễn học phí, cấp học bổng, cho vay vốn đối với sinhviên học giỏi Tạo nên những loại trường nội trú thích hợp đối với các đốitượng chính sách
Trong khi nguồn lực không dồi dào, lại phải mở rộng quy mô giáo dục,phát triển hệ thống giáo dục để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá nên phảichấp nhận tình trạng không đồng đều về chất lượng Do đó vừa mở rộng đồngthời vừa củng cố một số cơ sở đào tạo, giáo dục chất lượng cao, đào tạo đangành
2 Thực trạng đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam
2.1 Giáo dục và đào tạo Việt Nam từ 2002-2004
Một là, đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo phải chú ý tăng chi chocông tác giảng dạy và học tập khoản chi này có tác động trực tiếp đến chấtlượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh – sinh viên Hiện nay
cơ sở vật chất kỹ thuật (đặc biệt là hệ thống thư viện; trang thiết bị của cácphòng thực hành, thí nghiệm; sách giáo khoa, tài liệu tham khảo…) còn thiếuthốn Vì vậy, đòi hỏi trong đầu tư ngân sách cho sự nghiệp này phải chú ý đếnviệc tăng cường cơ sở vật chất cho công tác giảng dạy và học tập tại các cơ sởđào tạo, nhất là những cơ sở đào tạo có chất lượng cao
Trang 13Hai là, có chế độ chính sách đãi ngộ đối với người làm công tác giảngdạy, đảm bảo tiền lương tương xứng với lao động của các Nhà giáo.
Quá trình sản xuất của Nhà trường với đầu vào là con người và đầu racũng là con người, đó là: “sản phẩm đặc biệt”, con người ở đầu vào với conngười ở đầu ra khác nhau ỏ tri thức khoa học Trong quá trình sản xuất đó,người lao động trực tiếp là các cán bộ giảng dạy, có thể nói họ là những laođộng đặc biệt” Với tính đặc thù như vậy, việc đầu tư của ngân sách cho sựnghiệp giáo dục - đào tạo cần phải chú ý:
Tạo điều kiện cho cán bộ giảng dạy đạt tiêu chuẩn chức danh Chínhphủ quy định Cần có kế hoạch đào tạo lại đội ngũ cán bộ giảng dạy, khuyếnkhích nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đạt trình độ kiến thức caohơn
- Nhà nước cần có những chính sách và chế độ đảm bảo đời sống tinhthần và vật chất của đội ngũ cán bộ giảng dạy, đây là yếu tố quan trọng để họyên tâm lao động sáng tạo và xã hội tôn vinh các Nhà giáo
Ba là, ở nước ta hiện nay, mạng lưới trường học chưa hợp lý về quy mô
và cơ cấu ngành nghề đào tạo Chúng ta có 110 trường Đại học và Cao đẳng;
546 trường Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (trong đó Trung ương 260trường, địa phương 286 trường), nhưng quymô nhỏ và rất nhỏ Trong 110trường Đại học và Cao đẳng chỉ có 7 trường đào tạo “đa ngành”, số còn lạiđào tạo “chuyên ngành”, có khoảng 20% số trường dưới 500 sinh viên,khoảng 40% số trường dưới 1.000 sinh viên, số trường con lại dưới 2.000 sinhviên, chỉ có 7 trường trên 5.000 sinh viên và có 2 trường trên 10.000 sinhviên Quy mô trường nhỏ đã kéo theo mối quan hệ khônghợp lý giữa sinhviên và giáo viên, hiện nay bình quân là 9 sinh viên/ giáo viên, trong khi đóbình quân ở các nước Đông Namá là 14 sinh viên/ giáo viên Quy mô trườngnhỏ đã làm tăng chi phí đào tạo đối với một sinh viên, đồng thời làm phân tánđội ngũ giáo viên, phân tán thiết bị máymóc, phòng thí nghiệm, thư viện…nên hiệu suất sử dụng cơ sở vật chất trường lớp không cao, giảm hiệu quả đầu
Trang 14tư của ngân sách Nhà nước Chính vì vậy, cần phải sử dụng công cụ tài chính
để tham gia sắp xếp lại hệthống các trường Đại học và Cao đẳng, các trườngTrung học chuyên nghiệp và dạy nghề theo hướng giảm những trường có quy
mô nhỏ dưới 1000 học sinh, ngân sách Nhà nước chỉ tập trung đầu tư chonhững trường trọng điểm, chất lượng cao (Đại học Quốc Gia, Đại học vùng),các trường mang tính chất đặc thù theo mô hình một cơ sở đảm nhận banhiệm vụ đào tạo – nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất; đào tạo nhữngngành nghề theo cơ cấu chuyển dịch kinh tế, đồng thời chuyển phần lớn cáctrường Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề về địa phương và các doanhnghiệp Đi đôi với việc sắp xếp lại mạng lưới các trường phải tính toán lạiquymô đào tạo cho phù hợp với sự tăng trưởng của nền kinh tế, chú trọngnâng cao chất lượng đào tạo, hạn chế quy mô đào tạo chuyên tu và tại chức
Từ đó tạo điều kiện để nâng định mức chi ngân sách cho một học sinh/ nămđối với từng ngành nghề cụ thể
Bốn là, công tác quản lý tài chính đối với sự nghiệp giáo dục đào tạophải được thựchiện nghiêm chỉnh theo “luật ngân sách Nhà nước” Cụ thể:
- Bộ giáo dục đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ kếhoạch và đầu tư trong việc xây dựng, tổng hợp và dự kiến phân phối ngânsách toàn ngành (cả phần ngân sách dành cho các chương trình mục tiêu) gửi
Bộ Tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư xem xét cân đối trình Chính phủ, đểChính phủ trình Quốc hội phê duyệt
- Thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong chi tiêu hành chính, sửachữa, xây dựng mới
Trang 15Từ năm 2002-2004 số lượng trường học, số trẻ em và số lượng giáo
viên trong giáo dục mầm non đều tăng.
Cônglập
Ngoàicông lập
Cônglập
Ngoàicông lập
89
1.003.299
1.585.538
Giáo
viên
Số trường công lập tăng lên; số trường ngoài công lập giảm xuống
Số trẻ em, số giáo viên công lập và ngoài công lập đều tăng
Tỷ lệ trẻ em/ giáo viên
Trang 162.1.3 Giáo dục trung học chuyên nghiệp.
Hiện nay, giáo dục Việt Nam có hơn 300 giáo sư, hơn 1000 phó giáo
sư Số trường Đại học, sinh viên và số giảng viên Cao đẳng, Đại học đều tăng
2.1.5 Giáo dục không chính quy.
Trang 17dục thường xuyên tỉnh
Trung tâm giáo
Trường bổ túc văn
Trung tâm học tập
2.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
Vốn là điều kiện để đảm bảo mở rộng quy mô và nâng cao chất lượnggiáo dục - đào tạo Theo luật giáo dục, các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục -đào tạo gồm: Ngân sách Nhà nước và các khoản đóng góp, tài trợ của các cánhân, tổ chức trong và ngoài nước
Bảng 6: Cơ cấu nguồn tài chính cho sự nghiệp giáo dục đào tạo ở