TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ I TÊN TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC NƯỚC TA HIỆN NAY.NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN LIÊN HỆ TH.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ I
TÊN TIỂU LUẬN
PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN LIÊN HỆ THỰC TIỄN VẪN ĐỀ DÂN TỘC
NƯỚC TA HIỆN NAY
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN: TRẦN MẠNH TUẤN
Trang 2Mục Lục
A Mở đầu 2
B Nội Dung 1 Quan điểm V.I.Lênin về bình đẳng giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc………7
2.Dân tộc và xu hướng phát triển khách quan của dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin 2.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của dân tộc………9
2.2 Xu hướng phát triển khách quan của dân tộc……….11
3.Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin:…… ……… 11
3.1 Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng………12
3.2 Các dân tộc được quyền tự quyết……….12
3.3 Liên hiệp công nhân các dân tộc……… 13
4.Đối chiếu quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin với một số đặc điểm của dân tộc nước ta hiện nay:………19
C.Kết Luận……….20
D.Tài liệu tham khảo: ……… 21
Trang 3
A Mở Đầu
Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là vấn đề hết sức nhạy cảmcủa tất cả các dân tộc và của các quốc gia trong thời đại ngày nay Ở Việt Nam,vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc được Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh coi là vấn đề hết sức quan trọng trong xây dựng, bảo vệ, phát triển đấtnước, với quan điểm: Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triểngiữa các dân tộc, nhằm phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam đã có nhiềunghiên cứu đề cập, ở nhiều nội dung khác nhau trong thời gian qua Các côngtrình nghiên cứu được đề cập trên đã chỉ rõ vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đềdân tộc ở Việt Nam với những nội dung sau:
Một là; các công trình nghiên cứu đã phân tích và trên cơ sở vận dụngđúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở ViệtNam một cách sáng tạo
Hai là; học thuyết Mác - Lênin là học thuyết cách mạng, sáng tạo, họcthuyết mở
Ba là; những giá trị lý luận, thực tiễn của chủ nghĩa V.I.Lênin về vấn đềdân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc đối với cách mạng nước ta hiện nay là hếtsức quan trọng
Trong thời kỳ đẩy mạnh sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpkinh tế quốc tế hiện nay, việc giải quyết “Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đềdân tộc” của V.I.Lênin vẫn còn nguyên giá trị Đây là vấn đề luôn có tính thời
sự và cấp bách trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia dân tộc, góp phần đấutranh chống lại mọi luận điệu sai trái, phản động, phủ nhận bản chất cáchmạng, khoa học, nhân văn của chủ nghĩaV.L.Lênin trong giai đoạn hiện nay
Trang 5đến việc thực hiện bình đẳng dân tộc trong lĩnh vực văn hóa: “Một Nhà nướcdân chủ phải thừa nhận vô điều kiện quyền tự do hoàn toàn của các ngôn ngữdân tộc khác nhau và gạt bỏ bất cứ đặc quyền nào của một trong những ngônngữ đó” Văn hóa của một dân tộc tộc người thể hiện ở phong tục, tập quán, tínngưỡng và các sinh hoạt hằng ngày, trong đó thể hiện rõ nét ở ngôn ngữ riêngcủa tộc người đó Ngôn ngữ là một thành tố của văn hóa, đồng thời là phươngtiện truyền tải các giá trị, sinh hoạt văn hóa của tộc người đó V.I.Lênin khẳngđịnh quyền tự do sử dụng ngôn ngữ riêng của các tộc người chính là quyền bìnhđẳng về văn hóa giữa các dân tộc Quyền này thể hiện ở chỗ không có ngôn ngữquốc gia nào có tính chất bắt buộc, các dân tộc được học ngôn ngữ của mìnhtrong trường học, được sử dụng ngôn ngữ của mình trong mọi trường hợp ví dụnhư tòa án “Đảm bảo sự bình đẳng hoàn toàn giữa các dân tộc và không cómột ngôn ngữ quốc gia có tính chất bắt buộc, đảm bảo cho dân cư có các trườnghọc dạy bằng tất cả các ngôn ngữ địa phương” Theo V.I.Lênin, bình đẳng dântộc về mặt văn hóa không chỉ là việc các dân tộc được tự do sử dụng ngôn ngữcủa mình, được bảo vệ bản sắc văn hóa riêng của mình mà còn là được hưởngcông bằng các giá trị, thành tựu phát triển văn hóa chung của đất nước: “Tỷ lệkinh phí chi tiêu cho nhu cầu văn hóa - giáo dục của các dân tộc ít người củamột địa phương không thể thấp hơn tỷ lệ mà dân tộc ít người đó chiếm so vớitoàn bộ dân số của địa phương đó”.
Theo V.I.Lênin, để bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết phải bằngviệc ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó ghi nhận đầy
đủ sự bình đẳng trước hết là về quyền lợi giữa các dân tộc: “Vấn đề bảo vệquyền của một dân tộc thiểu số chỉ có thể được giải quyết bằng cách ban bố mộtđạo luật chung của Nhà nước, trong một nước dân chủ triệt để, không xa rờinguyên tắc bình quyền” Pháp luật chính là cơ sở chắc chắn và có hiệu quả nhất
để bảo vệ quyền của các dân tộc thiểu số Do đó, việc hoàn thiện hệ thống phápluật quốc gia, thừa nhận sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các dân tộctrong mọi lĩnh vực là yêu cầu đầu tiên để bảo đảm bình đẳng dân tộc Theo
Trang 6V.I.Lênin, không chỉ pháp luật trên mọi lĩnh vực đều phải thừa nhận sự bìnhđẳng giữa các dân tộc mà cần phải có một đạo luật riêng về vấn đề dân tộc, thừanhận sự bình đẳng giữa các dân tộc Pháp luật đó còn phải bảo đảm tính hiệu lực
và hiệu quả cao, có chế tài loại bỏ những bất bình đẳng quyền lợi giữa các dântộc “Đảng dân chủ - xã hội đòi ban bố một đạo luật chung cho cả nước để bảo
vệ các quyền của mọi dân tộc ít người ở bất kỳ nơi nào trong nước Theo đạoluật đó, mọi biện pháp mà thông qua đó dân tộc nhiều người định tạo ra chomình một đặc quyền dân tộc hoặc giảm bớt quyền của dân tộc ít người (tronglĩnh vực giáo dục, sử dụng một tiếng nói nào, trong ngân sách) đều phải đượctuyên bố là không có hiệu lực, và kẻ nào thi hành biện pháp ấy sẽ bị trừng trị”.Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, nguyên tắc bình đẳng dân tộc được nêu lêntrong tuyên ngôn dân quyền của nước Nga, sau đó được ghi vào Hiến pháp Liên
Xô, quy định quyền bình đẳng của công dân Xô Viết, không phụ thuộc dân tộc,trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa
Theo V.I.Lênin, việc xây dựng vùng tự trị dân tộc ở một số nơi trong quốc giacũng là để bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc: “Hiển nhiên là người takhông thể quan niệm được một quốc gia hiện đại thật sự dân chủ mà lại không
có một quyền tự trị cho mọi vùng có những đặc điểm quan trọng đôi chút vềkinh tế hoặc về lối sinh sống và có một thành phần dân tộc riêng trong dân cư”.Thực hiện quyền tự trị ở một số vùng là để bảo đảm cho những chính sách làphù hợp với dân tộc đó, song không phải chỗ nào cũng có thể thiết lập quyền tựtrị dân tộc mà V.I.Lênin đã đưa ra điều kiện để thành lập quyền tự trị là nhữngvùng phải có những đặc thù riêng biệt về kinh tế, văn hóa hoặc một vùng rộnglớn chỉ có một thành phần dân tộc: “Một vùng gồm nhiều địa phương có nhữngđiều kiện địa lý, sinh hoạt hay kinh tế riêng hoặc có thành phần dân tộc đặc biệt,
có quyền thành lập một khu tự trị với một nghị viện tự trị của khu” Như vậy,không nhất thiết phải thành lập những vùng tự trị ở những nơi không có nhữngđiều kiện trên Thí dụ như ở Việt Nam, các dân tộc cư trú phân tán và xen kẽ, số
xã chỉ có một dân tộc sinh sống là rất ít, không có một vùng rộng lớn nào mà chỉ
Trang 7có một dân tộc sinh sống, do đó không có điều kiện để thành lập các vùng tự trịnhư V.I.Lênin khẳng định Việc thực hiện vùng tự trị cũng phải diễn ra một cáchhòa bình và theo ý kiến của nhân dân vùng đó: “chỉ có dân cư địa phương mới
có thể có ý kiến một cách hoàn toàn chính xác về tất cả những điều kiện ấy, vàchính dựa vào ý kiến đó mà nghị viện trung ương của Nhà nước sẽ quy địnhbiên giới của những khu tự trị và quyền hạn của các xây mơ tự trị” TheoV.I.Lênin, quyền tự trị này không mâu thuẫn và phá hoại tính thống nhất quốcgia: “Một nhà nước dân chủ phải thừa nhận quyền tự trị của các vùng khác nhau,nhất là những vùng và những khu có thành phần dân tộc khác nhau Quyền tự trị
đó không hề mâu thuẫn với chế độ tập trung dân chủ; trái lại, chỉ có nhờ quyền
tự trị của các vùng mới có thể thực hiện được chế độ tập trung dân chủ thực sự ởmột quốc gia lớn có nhiều thành phần dân tộc khác nhau” Trên cơ sở luật phápchung thống nhất, các vùng tự trị có thể xây dựng những biện pháp phù hợp vớiđặc thù dân tộc mình để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của họ, thực hiện bình đẳngdân tộc
V.I.Lênin còn đưa ra một vấn đề có tính nhân văn trong việc thực hiện quyềnbình đẳng giữa các dân tộc tộc người, đó là việc thực hiện chính sách ưu tiên, ưu
ái hơn đối với một dân tộc nhỏ hơn, kém phát triển Bình đẳng dân tộc không cónghĩa là bình quân chủ nghĩa, cào bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các dântộc, nhất là khi các dân tộc đang có sự chênh lệch lớn trên thực tế Khi các dântộc có trình độ phát triển không đều nhau, đòi hỏi chia đều về nghĩa vụ sẽ ngàycàng làm gia tăng khoảng cách giữa các dân tộc V.I.Lênin chỉ rõ cần có sự ưutiên đối với các dân tộc kém phát triển hơn trong thực hiện một số nghĩa vụ hoặctrong phân bổ quyền lợi: “Không chỉ là ở chỗ tôn trọng quyền bình đẳng về hìnhthức của các dân tộc, mà còn ở chỗ phải chịu đựng sự không bình đẳng mà cácdân tộc đi áp bức, dân tộc lớn phải chịu, để bù lại cho sự không bình đẳng đanghình thành thực tế trong cuộc sống Người nào không hiểu điều đó, thì người đókhông hiểu thái độ vô sản thực sự đối với vấn đề dân tộc, người đó về thực chấtvẫn đứng trên quan điểm tiểu tư sản và do đó không thể không từng giờ từng
Trang 8phút trượt xuống quan điểm tư sản” V.I.Lênin chỉ rõ, khi sự bất bình đẳng đangtồn tại trên thực tế, khi giữa các dân tộc, tộc người có sự phát triển không đồngđều thì việc ưu tiên cho dân tộc kém phát triển hơn (là sự không bình đẳng đốivới dân tộc phát triển hơn) cũng chính là thực hiện bình đẳng dân tộc Đây làmột giá trị mà các Đảng Cộng sản cần nhận thức rõ trong hoạch định chính sáchdân tộc trong một quốc gia dân tộc.
2.Dân tộc và xu hướng phát triển khách quan của dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin
2.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của dân tộc:
Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của mộtquá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người.Trước khi dân tộc xuất hiện,loài người đã trải qua những hìnhthức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc,
bộ tộc Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong kiến.Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hànghoá đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau Nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ,thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thịtrường dân tộc Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi củacác nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làmcho dân tộc xuất hiện Chỉ đến lúc đó tất cả lãnh địa của các nước phương Tâymới thực sự hợp nhất lại, tức là chấm dứt tình trạng cát cứ phong kiến và dân tộcđược hình thành.Ở một số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mangtính đặc thù, đặc biệt do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữnước, dân tộc đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập Loại hìnhdân tộc tiền tư bản đó xuất hiện trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm lý dân tộc
đã phát triển đến độ tương đối chín muồi, nhưng lại dựa trên cơ sở một cộngđồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định nhưng nhìn chung còn kém
Trang 9phát triển và còn ở trạng thái phân tán Khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiềunghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:
Nghĩa thứ nhất: Dân tộc hay quốc gia dân tộc là cộng đồng người ổn
định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thốngnhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bóvới nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấutranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước
Nghĩa thứ hai: Dân tộc – tộc người : là một cộng đồng người được hình
thành lâu dài trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạtkinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù
Những đặc trưng cơ bản: Những đặc trưng cơ bản của dân tộc theo
nghĩa thứ nhất: Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế Đây là một trongnhững đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc Các mốiquan hệ kinh tế là cơ sởliên kết các bộ phận, các thành viêncủa dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc chocộng đồng dân tộc
Có lãnh thổ chung ổn định không bị chia cắt, tập trung cư trú trên mộtvùng lãnh thổ của một quốc gia hoặc hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh
em, là cơ sở sinh tồn và phát triển của cộng đồng dân tộc Khái niệm lãnh thổbao gồm cả vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo thuộc chủ quyền của quốcgia dân tộc, thường được thể chế hóa thành luật pháp quốc gia và luật pháp quốc
tế Vận mệnh dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào việc xác lập và bảo vệ lãnh thổquốc gia dân tộc
Có sự quản lý của một nhà nước-dân tộc độc lập.
Có ngôn ngữ riêng hoặc có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữchung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa,tình cảm
Trang 10Có nét tâm lí riêng (nét tâm lí dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền vănhóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn bó với nềnvăn hóa của cả cộng đồng các dân tộc
Những đặc trưng cơ bản của dân tộc theo nghĩa thứ hai:
Cộng đồng về ngôn ngữ: Bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, hoặc chỉriêng ngôn ngữ nói Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau
và là vấn đề luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn Tuy nhiên trong quá trìnhphát triển tộc người vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc người khôngcòn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữ khác (ngoại lai) làm công cụ giaotiếp
Cộng đồng về văn hóa: Bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể ở mỗi tộcngười phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáocủa tộc người đó Lịch sử phát triển của mỗi tộc người gắn liền với truyền thốngvăn hóa của tộc người đó Ngày nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa song songtồn tại xu thế bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi tộc người
Ý thức tự giác tộc người: Đây là đặc trưng quan trọng nhất,là tiêu chỉ đểphân định một tộc người với tộc người khác, và có vai trò quyết định đối với sựtồn tại và phát triển của mỗi tộc người Sự hình thành và phát triển của ý thức tựgiác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộcngười
Ba đặc trưng nói trên tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người trong quátrình phát triển
2.2 Xu hướng phát triển khách quan của dân tộc:
Xu hướng thứ nhất: Do sự thức tỉnh của ý thức dân tộc về quyền sống,
các dân tộc đấu tranh chống áp bức dân tộc để thành lập các quốc gia dân tộcđộc lập Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, ở các quốc gia gồm nhiều cộng đồng
Trang 11dân cư có nguồn gốc tộc người khác nhau Khi mà các tộc người đó có sựtrưởng thành về ý thức dân tộc, ý thức về quyền sống của mình, các cộng đồngdân cư đó muốn tách ra thành lập các dân tộc độc lập Vì họ hiểu rằng, chỉ trongcộng đồng độc lập, họ mới có quyền quyết định vận mệnh của mình mà quyềncao nhất là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển Trongthực tế, xu hướng này đã biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dântộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập Xu hướng này nổi lên trong giaiđoạn đầu của chủ nghĩa tư bản và vẫn còn tác động trong giai đoạn đế quốc chủnghĩa.
Xu hướng thứ hai: các dân tộc trong cùng quốc gia, thậm chí các dân tộc
ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Xu hướng này phát huy tác độngtrong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất,của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản
đã xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, tạo nên mốiliên hệ quốc gia và quốc tế rộng lớn giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xíchlại gần nhau vì lợi ích chung ( Sự hình thành của Liên minh châu Âu, của khốiASEAN…)
Hai xu hướng này vận động trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc gặpnhiều trở ngại Bởi vì, nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập, tự do bịchính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc xoá bỏ Chính sách xâm lược củachủ nghĩa đế quốc đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ bé hoặc còn ở trình độ lạchậu thành thuộc địa và phụ thuộc của nó Xu hướng các dân tộc xích lại gầnnhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận Thayvào đó họ áp đặt lập ra những khối liên hiệp nhằm duy trì áp bức, bóc lột đối vớicác dân tộc khác, trên cơ sở cưỡng bức và bất bình đẳng
Vì vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa
xã hội, khi chế độ người bóc lột người bị xoá bỏ thì tình trạng dân tộc này ápbức, đô hộ các dân tộc khác mới bị xoá bỏ và chỉ khi đó hai xu hướng khách