Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các hoạt động trình diễn ở Bảo tàng DTHVN nhằm chỉ rõ việc tạo dựng bản sắc tộc người là một quá trình phức hợp t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
AN THU TRÀ
BẢN SẮC VĂN HÓA TỘC NGƯỜI
QUA HOẠT ĐỘNG TRÌNH DIỄN Ở BẢO TÀNG
DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2023
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
AN THU TRÀ
BẢN SẮC VĂN HÓA TỘC NGƯỜI
QUA HOẠT ĐỘNG TRÌNH DIỄN Ở BẢO TÀNG
DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9 22 90 40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS LÊ HỒNG LÝ
HÀ NỘI - 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Lê Hồng Lý Các tư liệu, trích dẫn nêu trong luận án là trung thực, rõ ràng Những nội dung nghiên cứu của luận án chưa được ai công bố
Tác giả Luận án
An Thu Trà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
1.1.1 Tộc người và vấn đề phân loại tộc người ở Việt Nam 10
1.1.2 Nghiên cứu về bản sắc và bản sắc văn hóa tộc người 14
1.1.3 Nghiên cứu vai trò của bảo tàng trong việc tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người 21
1.1.4 Đánh giá về các công trình nghiên cứu 28
1.2 Khái niệm công cụ và cơ sở lý luận 30
1.2.1 Khái niệm công cụ 30
1.2.2 Cơ sở lý luận 36
TIỂU KẾT 42
Chương 2 : SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRÌNH DIỄN VĂN HOÁ TỘC NGƯỜI 44
2.1 Sự hình thành và phát triển Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 44
2.1.1 Chủ trương xây dựng 44
2.1.2 Xây dựng các không gian trưng bày 45
2.1.3 Một số thành tựu trong quá trình hình thành và phát triển Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 49
2.2 Quá trình tổ chức hoạt động trình diễn ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 51
2.2.1 Kinh nghiệm của một số bảo tàng trên thế giới và bài học, tôn chỉ của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 51
2.2.2 Quan niệm về tổ chức hoạt động trình diễn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 55
2.2.3 Tổ chức các hoạt động trình diễn ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 59
TIỂU KẾT 65
Chương 3 : HOẠT ĐỘNG TRÌNH DIỄN BẢN SẮC VĂN HÓA TỘC NGƯỜI BANA, THÁI, KINH Ở BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 66
3.1 Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Bana 66
Trang 53.1.1 Trưng bày văn hóa Bana tại tòa Trống đồng 67
3.1.2 Trưng bày văn hóa Bana tại Vườn kiến trúc 69
3.1.3 Hoạt động trình diễn của dân tộc Bana 73
3.2 Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Thái 77
3.2.1 Không gian nhà Thái đen trong tòa Trống đồng 77
3.2.2 Hoạt động trình diễn của dân tộc Thái 82
3.3 Trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Kinh 85
3.3.1 Trưng bày văn hoá của dân tộc Kinh trong toà Trống đồng 85
3.3.2 Không gian văn hóa của dân tộc Kinh tại Vườn kiến trúc 92
3.3.3 Hoạt động trình diễn của dân tộc Kinh 96
TIỂU KẾT 105
Chương 4 : HOẠT ĐỘNG TRÌNH DIỄN TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM VÀ TÍNH CHÍNH TRỊ CỦA TẠO DỰNG BẢN SẮC 106
4.1 Vấn đề chọn lọc trong tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người 106
4.1.1 Chọn lọc từ bối cảnh của bảo tàng 106
4.1.2 Chọn lọc từ bối cảnh của cộng đồng 109
4.2 Vấn đề thương thảo trong việc tạo dựng bản sắc 115
4.2.1 Thương thảo: Sự đồng thuận 115
4.2.2 Thương thảo: Quá trình trao đổi, thảo luận và nhượng bộ 119
4.3 Nhiệm vụ thể hiện bản sắc văn hóa tộc người ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 128
4.4 Tính phản biện trong các hoạt động trình diễn của Bảo tàng DTHVN 133
TIỂU KẾT 137
KẾT LUẬN 139
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH Bảo tàng DTHVN hoặc Bảo tàng
Di sản VHPVT
Ban chấp hành Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Di sản văn hóa phi vật thể
NCS Nghiên cứu sinh
Sở Văn hóa Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch UBND Ủy Ban Nhân dân
Trang 7sắc dân tộc, thống nhất và đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nghị
quyết này trở thành kim chỉ nam trong sự phát triển văn hóa của Việt Nam gắn với việc gìn giữ và phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, cũng như tiếp thu những tinh hoa tiên tiến của thời đại Tinh thần của Nghị quyết này tiếp tục được
kế thừa và hoàn thiện trong các kỳ Đại hội từ VIII đến XIII
Trong bối cảnh của hội nhập quốc tế và trước những nhu cầu mới của xã hội
từ thời kỳ Đổi mới, ngày càng nhiều cơ quan có nhiệm vụ thực hiện các chính sách của Nhà nước như bảo tàng, các trường, viện liên quan đến văn hoá trăn trở tìm tòi và áp dụng các biện pháp để khôi phục, tạo dựng, bảo vệ bản sắc văn hoá tộc người Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (DTHVN) ra đời ngay sau Đổi mới vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX và phát triển mạnh mẽ trong thập niên đầu của thế kỷ XXI Đây cũng là giai đoạn nghiên cứu dân tộc học ở Việt Nam có xu thế chuyển dần sang cách tiếp cận nhân học, quan tâm đến chủ thể văn hóa để thể hiện quan điểm của cộng đồng Chính vì thế ngay trong thời kỳ đầu Bảo tàng DTHVN đã xác định hướng đi trong việc nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày, trình diễn văn hóa các dân tộc
Trang 8Bảo tàng DTHVN là đơn vị tiên phong trong xây dựng trưng bày cố định với sự tham gia tích cực của cộng đồng và tổ chức các hoạt động trình diễn thường xuyên nhằm tạo cơ hội cho cộng đồng được thể hiện văn hóa của mình đến công chúng Bảo tàng đã và đang kể câu chuyện bằng cách mới, trình bày bản sắc qua văn hóa đời thường Quan điểm này được áp dụng xuyên suốt trong các hoạt động trưng bày, trình diễn, giáo dục, truyền thông Phương pháp trưng bày này cùng với những cách tiếp cận cập nhật trong chuyên môn bảo tàng có thể coi là mấu chốt tạo nên thành công, thu hút khách tham quan trong và ngoài nước Cách tiếp cận trưng bày văn hóa này lan tỏa đến nhiều đơn vị, cơ quan văn hóa khác trong việc thực hiện nhiệm vụ khôi phục, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hội nhập
Những trưng bày về văn hóa tộc người, như nhà rông Bana, nhà sàn của người Thái đen, hay các hiện vật, trình diễn mang đậm văn hóa tộc người như Ghe ngo của người Khơ me, múa rối nước của người Việt luôn thu hút khách tham quan, trải nghiệm Mỗi trình diễn, trưng bày là một quá trình tạo dựng, từ
ý tưởng, đến hiện thực hóa, từ sự chỉ đạo, ý chí chính trị đến công việc của các giám tuyển (curator), rồi đến sự tham vấn của cộng đồng, các chuyên gia Những gì chúng ta đang trải nghiệm và hiểu về bản sắc dân tộc tại Bảo tàng là một quá trình tạo dựng, thương thảo giữa các bên tham gia, trong đó có tiếng nói quan trọng của cộng đồng, chủ thể văn hóa
Chủ đề tạo dựng bản sắc đã được nhiều nhà nghiên cứu từ các chuyên ngành
du lịch, văn hoá, văn hóa dân gian, dân tộc học, nghệ thuật học, di sản văn hóa, v.v quan tâm Tuy nhiên, nghiên cứu tạo dựng bản sắc văn hóa trong hoạt động trưng bày, trình diễn tại bảo tàng nói chung và Bảo tàng DTHVN chưa
được quan tâm nhiều Chính vì vậy, luận án lựa chọn đề tài “Bản sắc văn
hóa tộc người qua hoạt động trình diễn ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”
Luận án sẽ tìm hiểu vai trò của Bảo tàng trong việc tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người thông qua các hoạt động trình diễn
Trang 92 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu các hoạt động trình diễn ở Bảo tàng DTHVN nhằm chỉ
rõ việc tạo dựng bản sắc tộc người là một quá trình phức hợp thông qua những lăng kính khác nhau, từ sự thương thảo của các bên tham gia (Nhà nước, cộng đồng, các bên liên quan) đến tính chính trị của bảo tàng
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan những vấn đề nghiên cứu về bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa tộc người và việc tạo dựng bản sắc
- Đưa ra các quan điểm học thuật mang tính lý luận về bản sắc, tính chính trị của bản sắc, và quá trình thương thảo giữa các bên liên quan
- Phân tích quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng DTHVN từ chủ trương xây dựng Bảo tàng, các không gian trưng bày, những hoạt động trình diễn đến việc học hỏi kinh nghiệm ở một bảo tàng lớn trên thế giới, áp dụng phương pháp tiếp cận cộng đồng và sự thương thảo giữa các bên liên quan
- Phân tích các hoạt động trình diễn văn hóa ở Bảo tàng DTHVN thông qua những trường hợp nghiên cứu cụ thể về trưng bày văn hóa của dân tộc Bana, Thái
- Luận án làm rõ quá trình xây dựng các trưng bày, trình diễn, tái hiện văn hoá của các dân tộc thể hiện những nhiệm vụ và tính chính trị của bảo tàng cùng với những thương thảo và sự phản biện xã hội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động trình diễn của Bảo tàng DTHVN xoay quanh những vấn đề bối cảnh, quan điểm và phương pháp, sự thương thảo
Trang 10trong việc lựa chọn loại hình và nội dung trình diễn Luận án lựa chọn một số hoạt động trưng bày, trình diễn của của dân tộc Bana, Thái, Kinh đã được tổ
chức tại Bảo tàng để luận giải về quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: NCS nghiên cứu điền dã để thu thập số liệu và
thương thảo với cộng đồng tại một số địa phương mà ba dân tộc Bana, Thái, Kinh sinh sống như tỉnh Sơn La, Kon Tum, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Hà Nội Đồng thời, NCS tiến hành nghiên cứu ở Bảo tàng DTHVN trong các không gian trưng bày tại tòa Trống đồng, Vườn Kiến trúc vì đây là những địa điểm chính diễn
ra các hoạt động trưng bày, trình diễn bản sắc văn hóa của các dân tộc
Phạm vi thời gian: NCS nghiên cứu các hoạt động trưng bày, trình diễn
của ba dân tộc (Bana, Thái, Kinh) từ năm 1997, tức là từ khi Bảo tàng được khánh thành cho đến nay
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận
Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ những quan điểm lý luận của
ngành văn hóa học như tạo dựng bản sắc, tính chính trị để làm khung phân tích các nội dung, nhiệm vụ Những quan điểm học thuật này như là nền tảng lý luận chính, dựa vào đó và cùng với những số liệu, minh chứng, luận án sẽ phân tích các vấn đề về bản sắc như là một sự tạo dựng trong quá trình thương thảo, mang tính chính trị, mà không phải là bất biến hay những gì được tạo nên sẵn một cách cứng nhắc và cố hữu
Ngoài ra, luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành khoa học xã hội Từ mỗi ngành khác nhau, luận án có thể khai thác tư liệu liên quan nhằm làm rõ nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu và đúc kết vấn đề của luận án về tạo dựng bản sắc Từ góc độ bảo tàng học, luận án đã lựa chọn những trưng bày tiêu biểu về dân tộc Bana, Thái và Kinh Mỗi một dân tộc, vấn đề lựa chọn hiện vật, thực hành văn hóa về cơ bản cũng là một quá trình tạo nên cái gọi là bản sắc Thông qua hiện vật, hình ảnh (video, ảnh) và các bài viết, hình thức trưng bày (tủ, kệ, màu sắc, không gian, v.v.) đều là một sự lựa chọn có chủ đích và có điểm nhấn và tập trung vào tái hiện bản sắc văn hóa
Trang 11Luận án cũng phân tích cách lựa chọn, tiếp cận của bảo tàng từ cộng đồng, các chủ nhân của di sản, những nghệ nhân, người thực hành để đảm bảo tiếng nói của người trong cuộc Đây cũng là cách tiếp cận mang tính đột phá, cập nhật của Bảo tàng DTHVN so với những bảo tàng khác trong nước Những câu chuyện về việc phối hợp với cộng đồng, mời các nghệ nhân, có hiểu biết,
có kỹ năng đến Bảo tàng để cùng với các chuyên gia, các đối tác khác tham gia vào quá trình tái dựng các ngôi nhà truyền thống, các trưng bày, trình diễn mang đậm dấu ấn văn hóa tộc người chính là những tư liệu nghiên cứu quan trọng cho luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền dã:
NCS là một cán bộ nghiên cứu, tham gia vào các hoạt động trình diễn ở
Bảo tàng từ khi thành lập đến nay Trong quá trình xây dựng các trưng bày, hoạt động trình diễn ở Bảo tàng, NCS đã trực tiếp đi điền dã tại các địa bàn có người dân được mời đến bảo tàng trình diễn để tìm hiểu, nghiên cứu, thu thập thông tin NCS sử dụng các thao tác, kỹ thuật: phỏng vấn (phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố), quan sát (tham dự và không tham dự), thảo luận nhóm, ghi chép, ghi âm, chụp ảnh, quay video
Tại các địa bàn nghiên cứu, NCS đã quan sát không gian sinh sống, sinh hoạt của tộc người, toàn bộ ngôi làng từ vị trí địa lý, cách bố trí nhà cửa, di tích đến nhà sinh hoạt chung của cộng đồng Đồng thời, NCS quan sát những thực hành của người dân như lễ hội, đan lát, làm nghề thủ công truyền thống, nghi
lễ, v.v hầu như các hoạt động liên quan đến trưng bày, trình diễn ở Bảo tàng
NCS tham dự vào các hoạt động ở địa bàn điền dã: các buổi họp, sinh hoạt nhóm, ngày tổ chức hoạt động trình diễn hay trải nghiệm một số hoạt động với cộng đồng như thử chơi nhạc cụ, thử làm một sản phẩm thủ công, tham gia vào một số buổi trình diễn văn nghệ dân gian Trong quá trình này NCS quay phim, chụp ảnh, ghi âm lại các hoạt động trình diễn tại địa phương Bên cạnh đó, NCS tham gia các thảo luận với các nhà quản lý văn hóa các cấp (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa và Thể thao, Bảo tàng tỉnh,
Trang 12Phòng/Trung tâm văn hóa và thông tin huyện, công chức văn hóa xã, v.v.) với người dân- chủ thể văn hóa thuộc nhóm chủ chốt (trưởng/ phó thôn, nhóm, câu lạc bộ, già làng), với người dân tham gia trình diễn (người dân đã được già làng/ trưởng nhóm chọn, thành viên của các câu lạc bộ, nghệ nhân, người đang thực hành văn hóa) NCS cùng với đồng nghiệp của Bảo tàng đã có những thương thảo với các nhóm đối tượng này theo nhiều hình thức khác nhau như: thảo luận nhóm, những người chủ chốt, có tiếng nói và quyền quyết định, và trao đổi trực tiếp với các nghệ nhân, những người hiểu biết
Tại địa phương, NCS phỏng vấn sâu theo nhóm nhỏ và cá nhân, tập trung vào Ban Tổ chức hoạt động trình diễn, người phụ trách các hoạt động trưng bày, trình diễn Các thành viên của các đoàn địa phương là trưởng/phó nhóm hoặc câu lạc bộ, hội, cán bộ địa phương phụ trách đoàn Trong quá trình họp, trên cơ sở các vấn đề nêu ra, người dân tự tranh luận, trao đổi theo hình thức thảo luận nhóm lồng ghép để xác định những điều người dân mong muốn
Và sau đó, trong quá trình triển khai các hoạt động trưng bày, trình diễn, NCS tiếp tục phỏng vấn qua điện thoại (trong một số trường hợp vẫn còn thắc mắc hoặc cần tìm hiểu sâu thêm thông tin) NCS thường tìm đến các cụ cao tuổi trong làng để hỏi chuyện, gợi mở các vấn đề liên quan đến đề tài Tất cả những thao tác thu thập thông tin này nhằm hiểu rõ hơn về cách mà cộng đồng thể hiện bản sắc theo cách nhìn nhận của họ và sự biến đổi của nó đó qua các giai đoạn lịch sử, cũng như đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng hiện nay Việc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cung cấp nhiều thông tin thú vị, làm cơ sở nghiên cứu các nhiệm vụ của luận án
Bên cạnh đó, với công việc chuyên môn tại Bảo tàng DTHVN, NCS phỏng vấn lãnh đạo, ban tổ chức các hoạt động, nhà nghiên cứu, cán bộ tổ chức và thực hiện các hoạt động trình diễn, trưng bày; quản lý đoàn của địa phương, phụ trách các nhóm trình diễn của địa phương; chủ thể văn hóa- những người dân địa phương tham gia trình diễn; công chúng xem/trải nghiệm trình diễn, trưng bày NCS có nhiều dịp nói chuyện, trao đổi và phỏng vấn khách tham quan ở các độ tuổi, trình độ, giới tính khác nhau Luận án có thêm nhiều thông tin về quan
Trang 13điểm của người xem, về cách hiểu của họ, những thông điệp mà họ hiểu và suy nghĩ
về bản sắc tộc người trong các khu trưng bày và các hoạt động trình diễn Những câu hỏi tập trung vào các vấn đề bản sắc văn hóa, hoạt động trình diễn, quan điểm, suy nghĩ về cách thức tổ chức các hoạt động trình diễn giới thiệu bản sắc văn hóa trong bối cảnh mới là Bảo tàng và những điều họ mong muốn được xem, được trình diễn tại Bảo tàng Tất cả các phỏng vấn những đối tượng khác nhau đã tạo ra sự đa dạng, phong phú cho các góc nhìn về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu:
NCS đã tiến hành thu thập các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài bằng cách kênh, hình thức khác nhau NCS tìm tài liệu tại thư viện quốc gia và thư viện của các viện nghiên cứu (thư viện Viện Nghiên cứu Văn hóa, thư viện Học viện Khoa học xã hội, thư viện Viện Dân tộc học, thư viện Bào tàng DTHVN) NCS còn tìm hiểu một số tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt qua các trang mạng chính thống Từ khối tài liệu tìm được NCS đã tổng thuật và phân tích để tìm hiểu các quan điểm, những vấn đề đã được các nhà nghiên cứu đi trước bàn luận xoay quanh chủ đề tạo dựng bản sắc văn hóa qua hoạt động trình diễn tại bảo tàng NCS chú ý đến những văn bản liên quan đến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Bên cạnh đó, những bài viết, luận văn, luận án, cuốn sách về trình diễn trong bảo tàng, trình diễn văn hóa, tính chính trị trong văn hóa… cũng được NCS đặc biệt quan tâm
Với lợi thế là người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào các hoạt động trình diễn giới thiệu bản sắc văn hóa tộc người trong và ngoài Bảo tàng, NCS tiếp cận vấn đề nghiên cứu một phần dựa trên cơ sở tích lũy kinh nghiệm cá nhân và hiểu biết về quá trình thương thảo giữa các bên tham gia
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận án đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Trong quá trình hình thành, phát triển Bảo tàng DTHVN, những quan niệm, cách tiếp cận thể hiện bản sắc văn hóa tộc người diễn ra như thế nào?
Trang 14- Các trình diễn văn hóa ở Bảo tàng DTHVN trải qua những quá trình gì giữa Bảo tàng, cộng đồng và các bên tham gia?
- Việc tạo dựng bản sắc và tái hiện văn hoá của các dân tộc thể hiện nhiệm
vụ, tính chính trị của Bảo tàng DTHVN như thế nào?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu của luận án là hoạt động trình diễn tại Bảo tàng DTHVN không đơn thuần chỉ là cách trưng bày văn hoá của các dân tộc nhằm thu hút khách tham quan, mà là một quá trình phức hợp, vừa là sự thương thảo, vừa mang tính chính trị, sự nhượng bộ giữa các bên tham gia và sự phản biện
xã hội
6 Đóng góp mới của luận án
- Luận án nghiên cứu về vấn đề tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người trong một bảo tàng vừa mới hình thành sau Đổi mới qua hoạt động trình diễn từ cách tiếp cận quan điểm tạo dựng bản sắc và tính chính trị của Bảo tàng Sự phân tích, diễn giải các hoạt động trình diễn cụ thể tại Bảo tàng DTHVN sẽ đóng góp
về mặt tư liệu trong nghiên cứu về vấn đề tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người
- Luận án góp phần vào tranh luận học thuật về tính chính trị của việc tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người Từ lăng kính tiếp cận chính trị của tạo dựng bản sắc, luận án làm rõ vai trò của Bảo tàng, chính quyền địa phương, cộng đồng tác động đến việc tái hiện bản sắc văn hóa tộc người thông qua phân tích
sự thương thảo trong lựa chọn nội dung và hình thức trình diễn
- Luận án chỉ ra rằng Bảo tàng DTHVN là một kênh chuyển tải thông tin, một công cụ để thể hiện bản sắc văn hóa tộc người không chỉ đơn thuần là việc thực hiện nhiệm vụ như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, mà là một quá trình thương thảo của nhiều bên như: nhà nghiên cứu, cộng đồng, chính quyền địa phương trong những điều kiện, bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể Qua đây, luận án cung cấp thêm một góc nhìn về bản chất của việc tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người phụ thuộc nhiều vào các bối cảnh và các bên tham gia để vừa thực hiện nhiệm
vụ của một bảo tàng cấp quốc gia, vừa gần gũi với công chúng, lại thể hiện tiếng nói của chủ thể văn hóa
Trang 157 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa về mặt lý luận:
Luận án là một nghiên cứu trường hợp cụ thể về tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người qua hoạt động trình diễn tại một bảo tàng cụ thể đặt trong mối quan hệ giữa Nhà nước và cộng đồng Luận án cũng cho thấy sự thay đổi về quan điểm tiếp cận của các nhà dân tộc học/nhân học, bảo tàng học về tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hội nhập Bản sắc văn hóa luôn biến đổi và việc tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người là quá trình thương thảo có sự tham gia của các bên Luận án góp phần nghiên cứu về tính chính trị của việc tạo dựng bản sắc thông qua việc tái hiện và trình diễn văn hóa tại Bảo tàng DTHVN
Ý nghĩa về mặt thực tiễn:
Những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý văn hóa, những người làm bảo tàng, du lịch cũng như người làm nghiên cứu về bản sắc thông qua hoạt động trình diễn di sản văn hóa nói chung và trình diễn văn hóa tại bảo tàng nói riêng Một số kết quả của
đề tài là những gợi ý, cơ sở khoa học cho việc tổ chức các hoạt động trưng bày, trình diễn của bảo tàng Những kết quả này hỗ trợ tư vấn cho những hoạt động thực hiện triển khai chủ trương của Nhà nước về bảo vệ và phát huy bản sắc của các dân tộc thông qua các hoạt động trình diễn văn hóa
8 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2: Sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và việc tổ chức hoạt động trình diễn văn hóa tộc người
Chương 3: Hoạt động trình diễn bản sắc văn hóa tộc người Bana, Thái, Kinh ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Chương 4: Hoạt động trình diễn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và tính chính trị của tạo dựng bản sắc
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tộc người và vấn đề phân loại tộc người ở Việt Nam
Tộc người (ethnicity) trong từ điển mở Britannica được xác định là một nhóm người được hình thành dựa trên sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, những giá trị truyền thống, văn hóa dân gian, văn học, đời sống gia đình, xã hội, tôn giáo, nghi lễ, ẩm thực, trang phục, lối sống, ứng xử, v.v Đó là một tập hợp những đặc trưng văn hóa mang tính tộc người được thể hiện trong đời sống văn hóa xã hội của một cộng đồng Khái niệm dân tộc trái ngược với khái niệm chủng tộc, dùng để chỉ những đặc điểm chung về thể chất và di truyền sinh học Chẳng hạn, dựa theo tiêu chí này vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI,"Ailen" được coi là một dân tộc, trong khi "người da trắng" là một chủng tộc.1
Ở Việt Nam, vào những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, các nhà khoa học mới chính thức có các diễn đàn, hội thảo với sự tham gia của các nhà
quản lý, các nhà dân tộc học và các nhà khoa học bàn về các tiêu chí dùng để
xác định một tộc người Năm 1959, trong cuốn "Các dân tộc thiểu số Việt Nam" của nhóm tác giả Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mạc Đường xác định nước ta có 64 dân tộc [74] Năm 1973, tại Hà Nội, Viện Dân tộc học phối hợp với một số cơ quan đã tổ chức hai hội thảo khoa học (vào tháng 6 và tháng 11), thống nhất lấy dân tộc (tộc người) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam Ba tiêu chí để xác định dân tộc: Có chung tiếng nói (ngôn ngữ mẹ đẻ); có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa (đặc trưng văn hóa);
có cùng ý thức tự giác, tự nhận cùng một dân tộc [121] Theo tác giả Bế Viết Đẳng, dân tộc là “một tập đoàn người tương đối ổn định được hình thành trong quá trình lịch sử dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, sinh hoạt kinh tế, tiếng nói, những đặc điểm sinh hoạt - văn hóa, và dựa trên ý thức về thành phần và tên gọi dân tộc chung” [35, tr 10] Tác giả cho rằng để xác định
1 https://www.britannica.com/science/anthropology/The-anthropological-study-of-education#ref839804.Truy cập 20 tháng 03 năm 2021
Trang 17một dân tộc, vấn đề địa vực cư trú và đặc trưng kinh tế không thể coi là tiêu
chuẩn hàng đầu, mà tiếng nói, những đặc điểm sinh hoạt văn hóa và ý thức tự
giác dân tộc là những tiêu chuẩn chủ yếu để xác minh thành phần dân tộc ở
Việt Nam [35, tr.10-25]
Ngoài ba tiêu chí do Viện Dân tộc học nêu ra như ở Hội thảo tháng 6/1973, các nhà khoa học đã thảo luận khá sôi nổi, trong đó tác giả Nguyễn Dương Bình đưa thêm tính phức tạp của mối quan hệ giữa dân tộc và nhóm địa phương của dân tộc Tác giả đề nghị, tìm hiểu thận trọng và khoa học mối quan hệ này
là một vấn đề không thể thiếu được trong khi tiến hành việc xác định thành phần các dân tộc ở Việt Nam [16, tr.52-54] Tác giả Hoàng Hoa Toàn, sau khi phân tích, nhất trí với 3 tiêu chí (ngôn ngữ, văn hóa, tự giác dân tộc), coi tự giác dân tộc là quan trọng Tác giả viết, lấy ý thức tự giác dân tộc làm tiêu
chuẩn quan trọng để xác minh thành phần dân tộc là một vấn đề khoa học và có
ý nghĩa thực tiễn lớn [105, tr 55- 56] Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Lâm Thanh
Tòng cho rằng trong mỗi dân tộc thường còn nhiều nhóm địa phương, nhiều nơi những nhóm này hoàn toàn tách khỏi người đồng tộc của họ, tự nhận là một dân tộc; nếu không nghiên cứu thấu đáo dễ nhầm lẫn, có thể coi nhóm địa phương là một dân tộc [106, tr.103-105] Hai nhà nghiên cứu Hoàng Thị Châu
và Nguyễn Linh cho rằng công tác xác định thành phần dân tộc thuộc loại công tác kết hợp với công tác điều tra dân số và còn có tên gọi là công tác "xác định ranh giới tộc người" Trong công tác xác minh dân tộc về mặt nguồn gốc vai trò của các nhà dân tộc học thật rõ ràng và có đóng góp không nhỏ Như vậy đối với sự đóng góp của các nhà ngôn ngữ học vào công việc xác minh dân tộc, công việc chủ yếu do các cán bộ tiến hành với sự cộng tác của các ngành khoa học có liên quan trong những đợt điều tra dân số [28, tr.105-107] Thêm vào
đó, tác giả Triệu Hữu Lý cho rằng tên tự gọi thể hiện ý thức tự hào và truyền thống phát triển, văn hóa của dân tộc, và nó còn thể hiện ý thức dân tộc sâu sắc và gắn bó đoàn kết với nhau Ông đề nghị ngoài 3 tiêu chuẩn như đã nêu, cần phải có một tiêu chí nữa, đó là nguồn gốc tộc nguyên, là sự hình thành và phát triển của dân tộc [84, tr.107-110] Ông Bùi Khánh Thế, sau khi nêu lên tầm quan trọng của
Trang 18tiêu chí ngôn ngữ trong xác định thành phần dân tộc, đề nghị khi đặt vấn đề xác định tên gọi các tộc người để lập danh mục mới, cần phải hết sức coi trọng mặt ngôn ngữ học, phải phân tích xem bản thân các tên ấy có phản ánh đặc trưng ngôn ngữ hay đặc trưng lịch sử xã hội hay không? [96, tr 113-116]
Cuối cùng, với các ý kiến khá đồng thuận của các nhà khoa học, ở Việt Nam khi đó có 59 dân tộc được xác định trong "Các dân tộc ít người ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc" [89] Chính phủ đã ủy nhiệm cho Tổng cục Thống kê ban hành
"Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam" theo Quyết định 121-TCTK/PPCĐ ngày 2-3-1979, trong đó có 53 dân tộc thiểu số và 1 dân tộc đa số
Trong bài viết “Khái niệm tộc người” in trong sách Nhân học: Ngành
khoa học về con người do Nguyễn Văn Sửu (chủ biên) hai tác giả Vương Xuân
Tình và Vũ Đình Mười cho rằng các nhà dân tộc học Việt Nam nỗ lực làm rõ khái niệm tộc người, từ đó xác định tộc người là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học, với mục đích ứng dụng rất rõ là nhằm phục vụ chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Các nhà dân tộc học bắt đầu thực hiện những nghiên cứu liên quan từ cuối thập niên 1950, và triển khai mạnh mẽ trong những thập niên 1960-1970 Kết quả là đến năm 1979, Chính phủ công bố có 54 tộc người ở Việt Nam Trong những năm 2001 đến năm 2013, việc xác định lại thành phần tộc người đối với một số tộc người hay các nhóm trong một tộc người được thực hiện xuất phát từ nguyện vọng của một số người dân và nhà dân tộc học Trong hai lần xác định lại thành phần tộc người do Viện Dân tộc học và Ủy ban Dân tộc thực hiện, các nhà dân tộc học và cán bộ quản lý Nhà nước đều áp dụng ba tiêu chí là có chung ngôn ngữ, các đặc điểm văn hóa, và ý thức tự giác tộc người (ý thức mình thuộc về một tộc người nào đó), như đã được sử dụng trong lần xác định trước Vì thế, dù qua hai lần xác định lại thành phần tộc người, đến nay Việt Nam vẫn giữ nguyên danh mục 54 tộc người ở Việt Nam được công bố từ năm 1979 [104]
Tài liệu nghiên cứu, các văn bản chính sách và trong tài liệu truyền thông
về 54 tộc người ở Việt Nam thường phân chia thành tộc người đa số và tộc người thiểu số, trong đó người Kinh (Việt) là dân tộc đa số chiếm 85,3% tổng
Trang 19dân số cả nước (năm 2019) Toàn bộ 53 tộc người còn lại được gọi là các dân tộc thiểu số, chiếm 14,7 % dân số cả nước (năm 2019) Trong số 53 dân tộc thiểu số, có 16 dân tộc thiểu số rất ít người (dưới 10.000 người).2
Việc phân loại và nhận diện một tộc người ở Việt Nam còn là một nhiệm
vụ chính trị đặc biệt quan trọng, vấn đề chiến lược trong giai đoạn cách mạng hiện nay đối với công tác dân tộc Do vậy, tại Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội và các bộ, ngành, thực hiện Đề án "Xác định thành phần, tên gọi một số dân tộc và xây dựng Bảng danh mục thành phần các dân tộc thiểu số Việt Nam"
Một trong những nhà khoa học uy tín trên thế giới nghiên cứu về văn hóa các dân tộc ở châu Á là tác giả Charles Keyes Trong bài viết “Tiến tới việc hình thành một quan niệm mới về nhóm tộc người”, Charles Keyes quan niệm:
“Ba yếu tố khác được trao khi sinh là đặc điểm sinh học, nơi sinh, và nguồn gốc làm thành cơ sở cho việc phân biệt giữa các nhóm xã hội Trong đó, nguồn gốc tỏ ra là quan trọng hơn cả khi mà trong nhiều trường hợp người ta không tính toán tới các đặc điểm sinh học và nơi sinh trùng hợp với nguồn gốc” [27,
tr 62-71] Theo tác giả, không có các thuộc tính văn hóa nào là phổ biến để phân biệt một nhóm tộc người này với nhóm các tộc người khác Quan điểm của nhà khoa học đã phát triển một công thức mới về khái niệm tộc người có một đặc tính “bẩm sinh” đó là nguồn gốc được trao khi sinh
Trong năm 2014 - 2015, Ủy ban Dân tộc đã chủ trì tổ chức nhiều cuộc hội thảo bàn về vấn đề này với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý ở các cơ quan, bộ, ban, ngành về sự cần thiết của việc xây dựng và ban hành tiêu chí xác định thành phần dân tộc ở nước ta hiện nay Tiêu chí xác định thành phần dân tộc là sự thể chế hóa Điều 42, Hiến pháp 2013 và là cơ sở khoa học
và pháp lý củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc anh em trong sự nghiệp xây
2 C ác tộc người gồm có: Ơ-đu, Pu Péo, Si La, Rơ-măm, Brâu, Cống, Bố Y, Mảng, Cơ Lao, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, Lự, Phù Lá, Chứt, và Lô Lô
Trang 20dựng và bảo vệ Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Các tiêu chí để xác định thành phần dân tộc đã được kết luận, gồm: Có chung ý thức tự giác dân tộc; có chung ngôn ngữ; có chung những đặc điểm mang tính bản sắc văn hóa dân tộc Theo tác giả Lê Xuân Trình, xác định thành phần các dân tộc phải đảm bảo yêu cầu ổn định chính trị, đoàn kết giữa các dân tộc, đúng pháp luật; đồng thời phải xem xét đến tình hình đặc điểm ở từng vùng dân tộc thiểu
số trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để áp dụng chủ trương, biện pháp cho phù hợp [114]
Tuy vậy, công tác xác định thành phần dân tộc nói chung, nhất là việc vận dụng các tiêu chí vào công việc này nói riêng còn bộc lộ những hạn chế, chủ yếu là các tiêu chí được đưa ra rất khó xác định, trong một số trường hợp không xác định được Từ những hạn chế đó, quá trình xác định thành phần dân tộc đã để lại nhiều thiếu sót, hậu quả là trong đời sống tư pháp ở cơ sở, đồng bào dân tộc thiểu số ở nhiều địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong kê khai
hộ tịch hộ khẩu, trong việc tiếp cận các chính sách, các dịch vụ hỗ trợ của Nhà nước.3
Các trưng bày, trình diễn của Bảo tàng DTHVN ảnh hưởng theo cách phân loại tộc người của các nhà dân tộc học ở Việt Nam Bảo tàng chọn cách thể hiện trưng bày về văn hóa của các dân tộc theo nhóm ngôn ngữ và theo vùng miền Bảo tàng trưng bày theo quan niệm này đã tạo dựng cho mỗi nhóm dân tộc một bản sắc Những bản sắc văn hóa được tạo dựng này là một quá trình thực hiện nhiệm vụ của Bảo tàng và sự đóng góp, thương thảo của nhiều bên tham gia Quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa được thể hiện theo nhóm dân tộc, nhóm ngôn ngữ cũng như theo từng tộc người trong không gian của Bảo tàng
1.1.2 Nghiên cứu về bản sắc và bản sắc văn hóa tộc người
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa tộc người được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, thể hiện nhất quán trong các
3 doi-voi-cong-tac-dan-toc-post86469.html Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2022
Trang 21https://www.bienphong.com.vn/xac-dinh-toc-danh-va-thanh-phan-cac-dan-toc-la-viec-lam-cap-thiet-chủ trương, chính sách, mang tính chất chỉ đạo, định hướng quan trọng trong lĩnh vực văn hóa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 nêu rõ: mở cửa, hội nhập và văn hoá cũng là bộ phận quan trọng trong quá trình đổi mới Tuy nhiên, sự mở cửa và hội nhập nhanh chóng của Việt Nam vào dòng chảy của văn hoá và kinh tế thế giới tạo ra nỗi lo cho các nhà nghiên cứu và quản lý văn hoá về sự mất bản sắc Khẩu hiệu “hoà nhập, không hoà tan” trở thành định hướng trọng tâm cho sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (7/1998) khẳng định “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy cách mạng của Đảng trong thời kỳ đổi mới với việc đánh giá cao vai trò, sứ mệnh cao cả của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội Quan điểm này đã được Đại hội XII tiếp tục khẳng định, với phương hướng phát triển văn hóa là “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người” Đây được xem là chủ trương phù hợp và đúng đắn cả về lý luận và thực tiễn của Đảng bởi vì con người vừa là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời là sản phẩm của chính nền văn hóa do mình sáng tạo ra; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, nói đến văn hóa là nói đến con người, vì văn hóa là của con người, do con người, vì con người Việc xây dựng, phát triển văn hóa không thể tách khỏi xây dựng, phát triển con người Đảng ta khẳng định và nhấn mạnh vấn đề trọng tâm, cốt lõi của xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là xây dựng con người với nhân cách và lối sống tốt đẹp
Cốt lõi của nền văn hóa tiên tiến là “lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả
vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên”, tiên tiến không chỉ ở nội dung tư tưởng mà còn tiên tiến trong cả hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung Bản sắc văn hóa Việt Nam là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước
Trang 22Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc.4
Thời điểm từ Đổi mới, vấn đề bản sắc văn hoá trở thành một chủ đề thảo luận trên nhiều diễn đàn của cả các nhà quản lý cũng như các nhà thực hành văn hoá Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá trở thành nhiệm vụ, mục tiêu, động lực… của sự phát triển xã hội Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện rất rõ việc quan tâm phục dựng lại các công trình văn hoá đã bị phá bỏ, các thực hành văn hoá gần như từ lâu đã bị mất trong đời sống được hồi sinh mạnh mẽ
Trước đây, các nhà nghiên cứu nước ngoài thường có khuynh hướng nhìn nhận văn hoá Việt Nam như là một bản sao của khuôn mẫu Trung Hoa [150] Trên thực tế, các giá trị Khổng giáo đã luôn song hành với các thể chế chính trị Việt Nam trong lịch sử Ngay cả khi đất nước dưới ách cai trị của thực dân phương Tây, tầng lớp trí thức và giới thượng lưu trong xã hội Việt Nam vẫn có xu hướng quay về với các giá trị và khuôn mẫu Trung Hoa, cố gắng cổ xuý cho tư tưởng Nho giáo nhằm tìm kiếm chỗ dựa về lý luận và qua đó củng
cố vị thế xã hội của họ và nâng cao tinh thần dân tộc Đó là lý do tại sao nói về Việt Nam, người ta thường liên hệ với các giá trị Khổng giáo
Vấn đề bản sắc văn hoá của dân tộc giờ đây lại nổi lên như một trọng tâm của các thảo luận khoa học khi Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, những tranh luận về tư tưởng Khổng giáo, văn minh xóm làng hay trống đồng Đông Sơn giờ đây dường như ít được nhắc lại Trong bối cảnh này, những giá trị văn hoá và tôn giáo bản địa, vốn được xem là những phong tục lạc hậu và mê tín dị đoan dưới thời thịnh trị của các tư
4 Tham khảo Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI
Trang 23tưởng cách mạng nay bỗng nhiên có một ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ hội nhập kinh tế Trở lại với cội nguồn, tôn vinh các giá trị văn hoá truyền thống và
cố kết dân tộc đã được xác định như một chiến lược văn hoá của Việt Nam trong thời đại hội nhập toàn cầu [36] Các nhà nghiên cứu và quản lý văn hoá quan tâm hơn đến việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể như lễ hội, nghệ thuật, âm nhạc dân gian, nghi lễ, v.v đến di sản văn hoá vật thể như đình, đền, chùa Chính trong bối cảnh này, nhiều thực hành văn hoá vốn trước thời kỳ Đổi mới bị coi là lạc hậu, mê tín dị đoan như nghi lễ Lên đồng, Then… thì nay được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, và là những biểu đạt văn hóa thể hiện bản sắc tộc người
Tạo dựng bản sắc tộc người và bản sắc quốc gia trong quá trình hội nhập của Việt Nam còn thể hiện ở động thái chủ động và khuyến khích việc phục dựng các thực hành văn hoá, lễ hội truyền thống của dân tộc vốn đã bị quên lãng hoặc bị cấm, bị coi là mê tín dị đoan, hủ tục, lạc hậu một thời, và các đình, đền, chùa bị phá bỏ thì nay được đầu tư tu bổ lại Trong bối cảnh hiện nay việc coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc, quốc gia còn được thể hiện thông qua việc xếp hạng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, quốc gia, hay việc ghi danh di sản văn hóa phi vật thể Hiện nay, Việt Nam có hàng nghìn di tích quốc gia được xếp hạng và khoảng 400 di sản văn hóa phi vật thể trong danh mục quốc gia Trong các danh sách của UNESCO, hiện nay có 15 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh trong các Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, hay cần bảo vệ khẩn cấp như: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2003), Nhã nhạc cung đình Huế (2005) (2 di sản này chuyển từ Kiệt tác chuyển khẩu của nhân loại sang Danh sách đại diện), Dân ca Quan họ Bắc Ninh (2009), Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (2010), Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (2012), Đờn ca Tài tự Nam Bộ (2013), Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh (2014), Nghi lễ và trò chơi kéo co (2015), Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (2016), Nghệ thuật Bài chòi Trung bộ (2017), Hát Xoan (2017) (được chuyển ra khỏi Danh sách
Trang 24khẩn cấp và được ghi danh trong Danh sách đại diện); Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái (2019), Nghệ thuật Xòe của người Thái (2021), Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (2022); và 01 di sản trong Danh sách DSVHPVT cần bảo vệ khẩn cấp bao gồm Ca Trù (2010) Các hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể yêu cầu di sản được ghi danh phải thể hiện rõ bản sắc của cộng đồng, dân tộc
Vấn đề bản sắc và gìn giữ bản sắc tộc người chưa bao giờ lại trở nên quan trọng và cấp thiết đến vậy trong xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập Như
đã trình bày trên, khi Việt Nam đứng trước ngưỡng cửa của hội nhập và ngay
cả khi đang trong quá trình hội nhập, toàn cầu hoá sâu rộng mọi mặt của đời sống xã hội thì thực tế chứng minh sự lo ngại của nguy cơ mất bản sắc văn hoá dân tộc càng trở nên rõ ràng Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam thời kỳ hậu thuộc địa trở thành mối quan tâm lớn được đặt ra trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước qua các kỳ Đại hội Vấn đề bản sắc và gìn giữ bản sắc tộc người được đặc biệt quan tâm trong tiến trình phát triển của đất nước Điều này
có thể khẳng định qua sự xuất hiện của một số lượng các công trình nghiên cứu, sách, bài viết, bài phát biểu… về bản sắc văn hoá trong bối cảnh hội nhập
Trong công trình “Một số vấn đề văn hoá Việt Nam truyền thống và hiện đại” [42, tr 239] tác giả Nguyễn Đăng Duy đưa ra những đặc trưng của bản sắc của văn hoá Việt Nam Tác giả cho rằng bản sắc văn hoá Việt Nam được nhận diện bởi hệ giá trị và chuẩn mực xã hội được đúc kết qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc bao gồm: “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tính cộng đồng gắn kết cá nhân gia đình làng nước, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý” Ngoài ra, tác giả còn nhắc tới hệ giá trị biểu hiện trong nếp sống của con người Việt Nam như “cần cù sáng tạo trong lao động, tế nhị trong cư xử, giản dị trong cách sống” Cũng đề cập đến hệ giá trị văn hoá Việt Nam, tác giả Nguyễn Thuỵ Loan cho rằng bản sắc dân tộc đã được hun đúc trong một chiều dài lịch sử cùng ý thức kiên cường gìn giữ bản sắc đó trong cả quá trình hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước [75]
Ở một góc nhìn khác, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh lại cho rằng “một nét bản sắc của văn hoá của người Việt Nam, đó là tính cởi mở, khả năng tiếp
Trang 25nhận và dễ hoà nhập, để từ đó bản địa hoá nhân tố ngoại lai” [39, tr.53] Tác giả
Lê Như Hoa trong bài viết “Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại” lại nhấn mạnh đến biểu hiện của bản sắc văn hoá Việt Nam qua lối sống Chính lối sống được hun đúc qua lịch sử dựng nước và giữ nước của con người Việt Nam là một nhân tố quan trọng tạo nên con người Việt Nam có thể hoà nhập và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược trong quá khứ và con người ấy cũng có thể có đủ bản lĩnh để khẳng định mình trong thế giới hội nhập, hiện đại Cũng theo tác giả, bản sắc văn hoá Việt Nam được biển hiện trong các mặt của lối sống: lối sống đô thị; lối sống gia đình; lối sống thanh niên… “Lối sống hiện đại” mà tác giả Lê Như Hoa đề cập trong bài viết được nhận diện là lối sống xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam trong bối cảnh hội nhập [50, tr.6]
Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra những thuận lợi
và khó khăn trong sự nghiệp gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế hội nhập Tác giả Nguyễn Chí Bền trong công trình “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” [14] phân tích những bài học kinh nghiệm cho
sự phát triển của Văn hóa Việt Nam Tác giả chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ cho nền Văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hội nhập là xây dựng một nền văn hóa “tiên tiến” và “đậm đà bản sắc” Còn công trình nghiên của tác giả Trường Lưu “Toàn cầu hóa và vấn đề bảo lưu văn hóa dân tộc” nêu rõ rằng hội nhập và phát triển thì phải lấy bản sắc dân tộc làm nền tảng cho sự phát triển đất nước [77] Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong “Hội nhập văn hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc” cho rằng quá trình mở cửa nền kinh tế đã kéo theo sự đổ bộ ồ
ạt của “những sản phẩm văn hóa vật thể xa lạ đe dọa phá vỡ truyền thống và cũng làm mất bản sắc văn hóa cùng các giá trị truyền thống lâu đời khác.” [68]
Vấn đề bản sắc văn hóa là một chủ đề được quan tâm của các học giả trên thế giới bởi vì nó “có vấn đề và phức tạp hơn bao giờ hết” [173] Có thể nói quá trình toàn cầu hóa, theo ý kiến của nhiều học giả, là nguyên nhân dẫn tới mất bản sắc văn hóa, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển ngoài châu
Âu và Mỹ Họ cho rằng xu hướng phụ thuộc lẫn nhau trong thời đại toàn cầu
Trang 26hóa có thể dẫn đến sự sụp đổ của các bản sắc văn hóa địa phương trong bối cảnh toàn cầu hóa, có sự giao thoa, tiếp biến văn hóa giữa các quốc gia Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác gặp khó khăn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa [119] Ngược lại, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng toàn cầu hóa không làm mất bản sắc văn hóa, mà còn là động lực giúp tạo dựng bản sắc [175] Theo quan điểm này, toàn cầu hóa tạo cơ hội và điều kiện để tạo dựng bản sắc văn hóa phù hợp với bối cảnh của thời đại, mang tính chính trị và qua những thương thảo của các bên liên quan [119]
Một số học giả cho rằng bản sắc là cái cố định, không bao giờ thay đổi Theo tác giả Barker [139, tr 299], bản sắc văn hóa được hiểu tương tự với “bản chất” về cái tôi/căn tính Mỗi một người khi sinh ra sẽ có một bản sắc văn hóa xác định và bản sắc này sẽ theo họ suốt cả cuộc đời, nghĩa là cái gọi là bản sắc, bản sắc văn hóa được cho rằng là thứ không bao giờ thay đổi Tác giả Phan Ngọc trong sách “Bản sắc văn hóa Việt Nam” cũng nhận định rằng “bản sắc văn hóa tức là nói đến cái mặt bất biến của văn hóa trong quá trình phát triển của lịch sử… Cái tạo thành tính bất biến trong các hệ thống quan hệ này là những nhu cầu của tâm thức con người Việt Nam Các nhu cầu này cơ bản là như nhau ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không liên quan đến tài sản, học vấn và khá ổn định, mặc dầu một tầng lớp người có thể chiếm ưu thế hơn một tầng lớp người khác” [87, tr 32] Còn tác giả Hồ Bá Thâm trong cuốn “Bản sắc văn hóa dân tộc” có đồng ý kiến với tác giả Phan Ngọc, cho rằng “bản sắc văn hóa dân tộc, đó là một kiểu tổng hợp, kết hợp những phẩm chất, những giá trị văn hóa nội sinh và ngoại sinh tạo thành linh hồn, sức sống bền vững của dân tộc, có những nét ưu trội hơn một số dân tộc khác, mang tính ổn định trong quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc đó” [91, tr 18]
Cùng với hai học giả trên, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong công trình “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” nhận định rằng “bản sắc trước hết được qui định bởi môi trường sống với ba đặc điểm cơ bản là: xứ nóng, nắng; nhiều mưa và sông nước; là “ngã tư đường” của các nền văn minh” [97, tr.575] Văn hóa chỉ được nhìn nhận từ các đặc trưng cơ bản như tính hệ thống, tính giá
Trang 27trị, tính nhân sinh, tính lịch sử Trên thực tế, văn hóa và bản sắc văn hóa đã được mở rộng và nhìn nhận từ nhiều lăng kính, khía cạnh của đời sống văn hóa,
xã hội, và bản sắc văn hóa là cái luôn được tái tạo bởi thời gian và không gian, bối cảnh, trong sự tương tác đa chiều, đa mối quan hệ
Mở rộng hơn về quan điểm bản sắc văn hóa, các tác giả Đỗ Huy và Trường Lưu trong “Bản sắc dân tộc của văn hoá” đã nêu rõ “bản sắc dân tộc của mỗi nền văn hóa không tách rời các giá trị truyền thống nhưng căn bản mang tính hiện đại Các giá trị truyền thống tham gia tạo dựng bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống Còn bản sắc văn hóa dân tộc hiện đại đại diện cho diện mạo văn hóa dân tộc hiện đại” [57, tr.15] Bản sắc văn hóa “thể hiện ở mọi nơi, mọi chỗ theo kiểu cách riêng của mỗi dân tộc” [57, tr.15- tr.16]
Ngược lại với quan điểm cho rằng bản sắc là sự có sẵn, nhất thành bất biến, nhiều tác giả khác cho rằng bản sắc luôn luôn biến đổi khi chịu tác động của bối cảnh Bản sắc dân tộc hay bản sắc văn hoá không phải chỉ là những cái đã được hình thành trong truyền thống, trong lịch sử, mà còn là nhưng thứ đang diễn ra trong đời sống hàng ngày, trong sự vận động, tương thích với bối cảnh Do vậy, bản sắc văn hóa luôn được tái tạo, bổ sung những giá trị mới, tương thích với bối cảnh
xã hội Hay nói một cách khác, bản sắc văn hóa “không phải là một vật cụ thể mà chỉ là một mô tả trong ngôn ngữ (diễn ngôn)” … và “có thể thay đổi ý nghĩa theo thời gian, không gian và sự sử dụng” [138, tr.300] Như vậy, bản sắc văn hóa được xem như là một quá trình và ở đó các yếu tố cấu thành luôn luôn vận động, thông qua trải nghiệm cá nhân/nhóm trước môi trường xã hội, lịch sử Theo tác giả Đoàn Thị Tuyến, không có bản sắc văn hóa tự thân hoặc bản sắc sẵn có Ngược lại, bản sắc văn hóa là tạo dựng và mang tính xã hội [119, tr.22]
1.1.3 Nghiên cứu vai trò của bảo tàng trong việc tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người
- Nghiên cứu vai trò của các bảo tàng ở một số nước trên thế giới:
Một trong các nhiệm vụ các trưng bày, trình diễn ở bảo tàng nói chung trên thế giới chính là việc bảo vệ và phát huy bản sắc tộc người Bài viết của Serena Namda về “Bảo tàng của Nam Phi và sự sáng tạo bản sắc dân tộc mới”
Trang 28trong Museums - Representations in Multicultural Societies (Bảo tàng - Sự tái
hiện trong xã hội đa văn hóa) phản ánh bối cảnh đất nước Nam Phi chuyển đổi sang nền dân chủ Nam Phi đối mặt với thách thức khó khăn để tạo ra một bản sắc dân tộc mới gắn kết chặt chẽ với việc xem lại quá khứ áp bức và mở đường cho việc xây dựng một bản sắc dân tộc, gắn kết tất cả các dân tộc khác nhau trong cả nước Và lúc này, các bảo tàng ở Nam Phi có vai trò quan trọng trong việc gợi nhớ ký ức và xây dựng các câu chuyện kể về bản sắc dân tộc Thông qua phân tích các trưng bày và cách diễn giải ở ba bảo tàng ở Nam Phi, tác giả cho thấy cách tiếp cận của các bảo tàng trong việc tạo dựng bản sắc dân tộc mới bằng những câu chuyện kể Không giống với hầu hết các nước- quốc gia
cố gắng lôi kéo uy quyền và quyền lực từ việc sáng tạo ra các câu chuyện quốc gia nhằm nhấn mạnh đến quá khứ vẻ vang, mà các bảo tàng, các tổ chức văn hóa giáo dục của Nam Phi chọn một con đường khác Đó chính là việc xây dựng bản sắc dân tộc không chỉ là vấn đề nhận thức đối với quá khứ đáng ghét
về nạn phân biệt chủng tộc A- pác- thai, mà còn phải vượt qua chính nó Cam kết của chính phủ là phải đối mặt và vượt qua nó chứ không phủ nhận hoặc dùng nó như là một nền tảng để loại bỏ tương lai, và cam kết này được thực hiện thông qua Ủy ban Niềm tin và Hòa giải cũng như các đơn vị giống như bảo tàng đóng một vai trò quan trọng [168, tr.101] Mỗi bảo tàng có một phong cách riêng, song bằng các thủ pháp trưng bày, cách diễn giải qua hướng dẫn viên là cựu tù binh hay trưng bày về “cuộc sống của những người dân bình thường” thông qua các bức tranh hoặc một hiện vật trưng bày tạm thời, bằng vải nhỏ được gọi là Cuộc nổi loạn sắc tộc Các bảo tàng đã cung cấp cho khách tham quan một trải nghiệm mang tính giáo dục cao Các bảo tàng đóng vai trò như một công cụ giáo dục các thế hệ già, trẻ của tất cả các nhóm dân tộc ở Nam Phi Như vậy, bằng cách tiếp cận đối mặt với thực tế, các trưng bày không phủ nhận quá khứ đáng ghét mà vượt qua chính nó là cách tạo dựng bản sắc dân tộc mới cho đất nước Nam Phi
Một nghiên cứu khác về bản sắc văn hóa dân tộc gắn với bảo tàng của tác giả Kathleen M.Adams qua bài viết “Bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa vùng
Trang 29và quốc gia trong các bảo tàng Inđônêxia” trong cuốn Các công trình nghiên
cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, tập 4 [132] Không giống như các
công trình nghiên cứu khác thường chứng minh vai trò của các bảo tàng trong
sự nghiệp xây dựng và dung hòa các bản sắc văn hóa quốc gia và bản sắc địa phương, tác giả xem xét những phản ứng trái ngược nhau của khách tham quan
và nhân viên bảo tàng ở Inđônêxia khi xem các hiện vật văn hóa của họ Theo các dữ liệu dân tộc học thu thập trong cộng đồng người Tabel ở đảo Alor và trong bảo tàng tỉnh Nusa Tenggara Timo ở Kupang nghiên cứu về nhận thức của khách tham quan là giới trẻ của bảo tàng, tác giả đã đặt câu hỏi về sự năng động của các bản sắc văn hóa trong các bảo tàng: Bản sắc văn hóa này được thương thảo và được cải biên bởi các bảo tàng và công chúng như thế nào? Tác giả tìm hiểu những cố gắng của chính quyền địa phương nhằm xây dựng một bản sắc văn hóa “Alor” chung cho tất cả các nhóm dân tộc trên đảo Từ các quan sát điền dã của tác giả cho thấy những khó khăn và sự trái ngược dẫn đến
sự đối lập giữa các nhà lãnh đạo của quốc gia trong khi họ muốn sử dụng các bảo tàng để tăng cường bản sắc văn hóa địa phương và dân tộc Các trưng bày
đã đưa ra một hình ảnh hài hòa về đa dạng dân tộc để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, làm cho tính dân tộc thành một cảnh đẹp như trong tranh cho lịch sử dân tộc và vùng Trong khi người địa phương lại quan tâm đến sự giới thiệu nhóm riêng của họ và chiếu những hình ảnh của họ cho người khác xem “Trong gian trưng bày của bảo tàng về Tablel, cũng như trong bảo tàng tỉnh Nusa Tenggara Timo, công dân Inđônexia hiểu và thực hiện những gì mà Nhà nước cố khắc sâu vào tâm trí họ thông qua cái gọi là tư tưởng dân tộc” [132, tr.483]
Trong sách Chính trị bảo tàng: “Vai trò quyền lực trong trưng bày” (Museum Politics: Power Plays at the Exhibition), tác giả Timothy W Luke đã
tìm hiểu quyền lực của các bảo tàng trong việc hình thành các giá trị tập thể và hiểu biết xã hội Ông cũng lập luận rằng các cuộc triển lãm trong bảo tàng có ảnh hưởng sâu sắc đến chính trị Thông qua các nghiên cứu các trường hợp của Bảo tàng tưởng niệm vụ giết người hàng loạt, Bảo tàng Khoan dung ở Los Angeles, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ ở Washington DC, Vườn Bách thảo
Trang 30Missouri và Bảo tàng Sa mạc Arizona-Sonora chia sẻ kiến thức về thực vật để bảo
vệ và làm phong phú cuộc sống Qua phân tích những vấn đề trong các bảo tàng tác giả đã thể hiện sự giao thoa giữa văn hóa, chính trị và công nghệ trong các bảo tàng; cách thức các thể chế văn hóa hình thành và thể hiện bản sắc [162]
Trong bài viết “Triển lãm về quá khứ: Ký ức lịch sử và tính chính trị của
các bảo tàng hậu Chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc” (Exhibiting the Past:
Historical Memory and the Politics of Museums in Postsocialist China) tác giả
Kirk Denton đề cập đến tính chính trị của bảo tàng thông qua phân tích các loại bảo tàng và không gian trưng bày trong các bảo tàng lịch sử cách mạng, bảo tàng quân sự, đài tưởng niệm các liệt sĩ, các bảo tàng về văn học, dân tộc thiểu
số và lịch sử địa phương Tác giả Denton đã phân tích những câu chuyện kể quá khứ, ý nghĩa chính trị và tư tưởng Tập trung vào trưng bày văn hóa “chính thống” hơn là ký ức khác hoặc ngược lại, tác giả đưa ra cuộc thảo luận về văn hóa hậu xã hội chủ nghĩa vì tính trung tâm của nó đối với nền văn hóa đó và để cho thấy diễn ngôn Nhà nước ở Trung Quốc về lòng yêu nước, chủ nghĩa dân tộc Nghiên cứu này xem xét nhiều chiều cạnh khác nhau mà các bảo tàng Nhà nước đang phản ứng với những thay đổi mạnh mẽ về xã hội, công nghệ và văn hóa mà Trung Quốc đã trải qua trong ba thập kỷ qua Theo tác giả, các bảo tàng
“như một hình thức giáo dục yêu nước mới được thiết kế để làm lịch sử cách mạng trở nên sống động - và các phòng trưng bày quy hoạch đô thị, dự đoán những quan điểm không tưởng của tương lai Trung Quốc bắt nguồn từ những quan niệm mới về quá khứ” [144]
Trong công trình Tính chính trị của bảo tàng (The Politics of Museums)
của tác giả Clive Gray đã tiếp cận các bảo tàng lịch sử ở Trung Quốc để nhìn nhận các vấn đề về nguồn gốc quốc gia và bản sắc địa phương Là một cơ sở văn hóa hiện đại, về cơ bản, bảo tàng thể hiện một cách tương đối cập nhật những khoảnh khắc chuyển đổi nhanh - một sản phẩm có ý thức ngắt kết nối từ quá khứ và một tác nhân quan trọng trong tìm hiểu truyền thống Ông thảo luận
về các bảo tàng lịch sử thời tiền sử và cổ đại ở Trung Quốc và vai trò của bảo tàng trong việc xây dựng một nguồn gốc cho quốc gia hiện đại Theo ông, khảo
Trang 31cổ học và bảo tàng lịch sử thời tiền sử được kết nối mật thiết, và cùng nhau phục vụ các chức năng chính trị và ý thức hệ trong quá trình xây dựng quốc gia, đặt nền tảng lịch sử cho quốc gia hiện đại [148, tr.53]
- Nghiên cứu vai trò của bảo tàng ở Việt Nam trong việc tạo dựng bản sắc:
Trong các nghiên cứu về tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người thông qua
các hoạt động của bảo tàng ở Việt Nam, phải kể đến luận án tiến sĩ “Các bảo
tàng, dân tộc học và tính chính trị về văn hóa Việt Nam đương đại”
(Museums, Ethnology and the Politics of Culture in Contemporary Vietnam)
của Margaret Barnhill Bodemer [135] Luận án này tìm hiểu vai trò của bảo tàng và dân tộc học trong việc xây dựng và chuyển đổi bản sắc dân tộc ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các nhà dân tộc học và bảo tàng đã xây dựng, thể hiện và tạo dựng các nền văn hóa dân tộc đa dạng và vị trí của họ trong câu chuyện quốc gia hiện đại Do đó họ đã tham gia vào cuộc đấu tranh
để chuyển đổi đất nước từ một thuộc địa sang một quốc gia hiện đại, độc lập,
đa dân tộc Trong thời kỳ thuộc địa, các bảo tàng được sử dụng để định hình bản sắc của thuộc địa Kể từ năm 1954, bảo tàng và dân tộc học là công cụ để thành lập một nền văn hóa tưởng tượng quốc gia gắn liền với truyền thống lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm và tầm nhìn của quốc gia như một mặt trận thống nhất của các dân tộc Gần đây hơn, nhiều biểu đạt văn hóa được nhìn nhận là di sản quốc gia phải được bảo vệ trước toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và mở cửa thị trường
Cuốn Di sản văn hóa, bảo tàng và những cuộc đối thoại thể hiện quan
điểm tiên phong của tác giả Nguyễn Văn Huy về hoạt động trình diễn của Bảo tàng DTHVN Tác giả coi những buổi trình diễn về sinh hoạt văn nghệ đời thường của những người dân - chủ thể văn hóa tại bảo tàng chính là cách giúp người dân tự khẳng định bản sắc văn hóa của mình “Người ta có thể trình diễn tại Bảo tàng những sinh hoạt văn nghệ bình thường của làng bản, giới thiệu những kỹ thuật cổ truyền mà họ vẫn thao tác hằng ngày như dệt thổ cẩm, thêu, tạo hoa văn bằng cách vẽ sáp ong bằng phương pháp thủ công, in các bức tranh dân gian bằng ván gỗ” [63, tr.621] Theo tác giả, các buổi trình diễn như vậy,
Trang 32quan trọng nhất là giúp người dân ở các làng bản tự khẳng định bản sắc văn hóa của mình Các hoạt động trình diễn tại bảo tàng chính là một cách thức hữu hiệu để chủ thể văn hóa có cơ hội tạo dựng và giới thiệu bản sắc của mình đến đông đảo công chúng, tới người đồng tộc và khác tộc
Bằng cách khai thác lấy bối cảnh bảo tàng để làm môi trường cho các tộc người thể hiện bản sắc của mình, luận văn thạc sĩ Văn hóa học của Đàm Thị
Hợp với tựa đề Không gian văn hóa Êđê tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
cho rằng bản sắc văn hóa là cái đời thường, luôn biến đổi Luận văn phân tích các không gian và việc tạo dựng các hoạt động khác nhau của người Êđê trong Bảo tàng để thấy được những nét sinh hoạt đời thường cũng là bản sắc Người Êđê tạo dựng bản sắc văn hóa của mình bằng nhiều hình thức như trình diễn Cồng chiêng, làm nhà theo kỹ thuật truyền thống…Trưng bày ngôi nhà dài Êđê
và nhiều thực hành văn hóa đa dạng của đồng bào Êđê đã được tái hiện bằng cách dựng và sửa nhà dài, trình diễn nghi lễ, trình diễn nghề thủ công và âm nhạc dân gian Thông qua những hoạt độgn này, du khách có những trải nghiệm và thu nhận được thêm những hiểu biết về bản sắc, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của người Êđê Việc lựa chọn ngôi nhà dài Êđê trưng bày tại Bảo tàng gắn với một chủ thể cụ thể chứ không phải một ngôi nhà mang tính chất điển hình hay đặc trưng của người Êđê – khác với cách mà nhiều nhà dân tộc học thời bấy giờ hay lựa chọn Tác giả viết: “Việc đối sánh giữa kiến trúc nhà ở hiện nay của người dân Êđê tại buôn Ky, với ngôi nhà dài “truyền thống” trưng bày tại Bảo tàng cho người ta thấy rõ sự vận động và biến đổi của văn hóa Sự thay đổi hình thức cư trú của đồng bào Êđê từ đại gia đình mẫu hệ thành các gia đình hạt nhân chỉ gồm bố mẹ và con cái, tác động của chính sách
và sự giao lưu văn hóa đã làm cho nhiều thực hành văn hóa thay đổi như: thay đổi về phương thức sinh kế, thay đổi về nghi lễ, thay đổi về trang phục ” Tác giả cũng chỉ ra: “Mọi trưng bày của Bảo tàng luôn cố gắng thể hiện sự năng động của văn hóa, coi sự biến đổi chính là đặc trưng của văn hóa từ đó có những cách tiếp cận phù hợp trong các hoạt động trưng bày” [52, tr.69]
Một số nghiên cứu về trình diễn tại bảo tàng cũng làm rõ về sự thể hiện
văn hóa, bản sắc văn hóa tộc người như luận văn Văn hóa học về Trình diễn
Trang 33văn hóa phi vật thể tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam của Lê Tùng Lâm Tác
giả đã tập trung vào thực trạng hoạt động trình diễn các loại hình văn hoá phi vật thể tại Bảo tàng DTHVN, một cách thức để di sản văn hoá tiếp tục được duy trì, sáng tạo bởi chính những chủ thể văn hoá - những người sáng tạo ra di sản văn hoá trong không gian văn hoá nơi nó đã được sinh ra Hiệu quả về sáng tạo và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc bởi các hoạt động trình diễn này đã tác động đến công chúng cũng như chủ thể văn hóa trong việc giới thiệu các di sản văn hoá Việt Nam Tác giả viết: “… bằng những nghiên cứu, trưng bày và tổ chức hoạt động giáo dục cũng như hoạt động giao lưu, đối thoại giữa chủ thể văn hoá với công chúng trong chương trình trình diễn văn hoá phi vật thể, Bảo tàng DTHVN đã giúp cho khách tham quan trong và ngoài nước có cơ hội được trực tiếp khám phá sự đa dạng văn hoá của các dân tộc, giúp các chủ thể văn hoá tự hào và khẳng định bản sắc của chính mình” [71, tr.67]
Cùng nghiên cứu về trình diễn văn hóa phi vật thể tại bảo tàng, tác giả Phùng Mai Anh đã đi sâu vào nghiên cứu chủ đề này xoay quanh những trình
diễn trong hoạt động Tết Nguyên đán với luận văn “Tết Nguyên Đán với việc
trình diễn văn hóa dân gian tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.” Tác giả đề
cập đến sự tác động của các hoạt động trình diễn tới công chúng trong việc giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc Bằng cách phân tích các hoạt động trình diễn trong dịp Tết Nguyên đán qua múa hát dân gian, diễn xướng dân gian, ẩm thực dân gian… tác giả đã chỉ ra cách tiếp cận theo hướng tôn trọng sự bình đẳng giữa các nền văn hóa Đồng thời, luận văn cũng đề cao vai trò của chủ thể văn hóa giúp bảo tàng phát huy được thế mạnh trong việc tạo ra các bối cảnh để chủ thể văn hóa sáng tạo và giới thiệu bản sắc Tác giả nhận định: “Những sắc thái văn hóa vùng, văn hóa tộc người là một thực thể văn hóa của các dân tộc, là sự hoạch định văn hóa của mỗi quốc gia Trình diễn văn hóa phi vật thể tại Bảo tàng DTHVN chính là một nhiệm vụ, một chiến lược quan trọng đóng góp vào việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong xã hội hiện nay” [1, tr.65]
Luận án tiến sĩ của Phạm Lan Hương [56] với nhan đề Đời sống dân
gian trong hoạt động bảo tàng - Nghiên cứu trường hợp Bảo tàng Thành phố
Hồ Chí Minh nghiên cứu trường hợp về tính chính trị trong văn hóa, cụ thể là
tính chính trị của bảo tàng, dựa trên những khía cạnh văn hóa thông qua trưng
Trang 34bày đời sống dân gian Tác giả tiếp cận bảo tàng dưới góc độ nghiên cứu văn hóa, ý nghĩa của các hoạt động và nội dung trưng bày trong bảo tàng; từ những câu chuyện về trưng bày nghề thủ công truyền thống ở Bảo tàng - phác thảo bức tranh xã hội chuyển đổi Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh được nhìn nhận
từ các góc độ: nguyên tắc, bản sắc, hiệu quả và các vấn đề Về nguyên tắc, Bảo tàng là nơi phản ánh mối quan tâm cơ bản về tính hữu dụng và sự thích hợp xã hội của các nghề thủ công tại Thành phố Hồ Chí Minh Về bản sắc, thông qua bảo tàng, bản sắc dân tộc, bản sắc nghề nghiệp, bản sắc khu vực định hình nghề thủ công được thể hiện, minh họa Về hiệu quả, bảo tàng là môi trường đặc biệt giúp hồi sinh các nghề thủ công truyền thống; là địa điểm khám phá các khía cạnh
bí truyền - công truyền của nghề thủ công; là cơ sở cho các dự án nghiên cứu, bảo
vệ và phát huy các nghề thủ công truyền thống; là nền tảng cho sự phát triển, mở rộng các hoạt động của bảo tàng; là không gian của mối quan hệ bảo tàng và cuộc sống hiện thực của con người
1.1.4 Đánh giá về các công trình nghiên cứu
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu về phân loại tộc người và bản sắc văn hóa tộc người, vai trò của bảo tàng trong việc tạo dựng bản sắc, NCS đưa
ra những nhận xét sau:
Việc phân loại dân tộc và đặt tên các dân tộc là một quá trình có sự chỉ đạo và sự tham gia của các cơ quan liên quan và các nhà dân tộc học Các tiêu chí phân loại dân tộc đa dạng từ nguồn gốc, địa bàn cư trú, ngôn ngữ, các nét văn hóa, đặc trưng xã hội, v.v Các quan điểm cuối cùng cũng chỉ ra rằng những tiêu chí mang tính chuẩn hóa như dân tộc có chung ngôn ngữ, những đặc điểm mang tính bản sắc văn hóa dân tộc, và còn mang tính chính trị, thể hiện sự đoàn kết giữa các dân tộc Hơn nữa, việc phân loại dân tộc cũng dựa vào tình hình đặc điểm ở từng vùng dân tộc sinh sống trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Trong khi đó, một số nhà dân tộc học tiếp tục khẳng định rằng truyền thống lịch sử về thương mại và trao đổi giữa các nhóm dân tộc đã dẫn đến mối quan hệ anh em giữa các cộng đồng trong một khu vực hoặc giữa các nhóm dân tộc Tất cả các dân tộc đều nhận ra sự cần thiết của sự thống
Trang 35nhất để bảo vệ đất nước và sự tồn tại của chính họ và cùng nhau đấu tranh chống lại sự xâm lược của nước ngoài Dù có những quan điểm không tán thành, danh mục chính thức và có giá trị hiện hành bao gồm 54 dân tộc Tất
cả 54 nhóm dân tộc có chung mục tiêu chung là bảo vệ và thúc đẩy sự đa dạng văn hóa trong sự thống nhất Dựa vào danh mục phân loại dân tộc này, Bảo tàng DTHVN đã nỗ lực xây dựng các trưng bày và tái hiện bản sắc văn hóa của
54 dân tộc kể cả những dân tộc có vài trăm người (như dân tộc Ơđu, Pu Péo, Brâu, Rơmăm), hay những dân tộc mới cư trú ở Việt Nam vài trăm năm (như Bố
Y, La Hủ, Si La, Cờ Lao), hay cả cư dân cách đây chưa lâu vẫn ở hang núi, mái
đá (như nhóm Rục, thuộc dân tộc Chứt) [3] Trên cơ sở những quan điểm về phân loại tộc người dựa vào một số đặc điểm về văn hóa, luận án sẽ chọn trình diễn, trưng bày về ba dân tộc là người Bana, người Thái và người Kinh để phân tích về quá trình chọn lọc, thương thảo và tái hiện bản sắc tộc người
Về bản sắc văn hóa, các nghiên cứu đưa ra những vấn đề trái ngược nhau
về bản sắc là cái nhất cố định và cũng là cái luôn biến đổi Sự nhất thành bất biến dựa vào quan điểm về những yếu tố cốt lõi, mang tính căn cốt, biểu tượng về những vấn đề của tộc người được hình thành trong lịch sử Thực tế, xã hội và con người, văn hóa của họ luôn biến đổi, nên bản sắc là một cấu trúc xã hội, không ngừng chuyển động: tự cấu trúc và tự giải cấu trúc cũng như tự tái cấu trúc Các nghiên cứu về vấn đề tạo dựng bản sắc phân tích những tác động đến sự phục hồi, sáng tạo làm nên bản sắc mới Luận án này tiếp thu những quan điểm học thuật về sự tạo dựng bản sắc văn hóa nói chung và tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người trong các hoạt động trình diễn tại Bảo tàng DTHVN
Các nghiên cứu về vai trò của bảo tàng ở một số nước trên thế giới trong việc tạo dựng bản sắc văn hóa cho thấy vai trò của bảo tàng là một kênh chính thống để nhìn nhận về nguồn gốc dân tộc, quốc gia hiện đại Bảo tàng là nơi thể hiện các diễn ngôn, chủ trương của Nhà nước Bảo tàng trở thành một trung tâm quốc gia quan trọng trong việc thể hiện hình ảnh, văn hóa của một quốc gia dân tộc Bảo tàng còn là nơi phục vụ các chức năng chính trị và ý thức hệ trong quá trình xây dựng quốc gia hiện đại
Trang 36Một số công trình nghiên cứu về vai trò của bảo tàng trong việc trình diễn văn hóa đã nỗ lực thể hiện sự năng động của văn hóa Các hoạt động trình diễn tại bảo tàng chính là một cách thức để chủ thể văn hóa giới thiệu bản sắc của cộng đồng, dân tộc đến đông đảo công chúng Một số nghiên cứu về trình diễn văn hóa ở Bảo tàng DTHVN đã chỉ ra như là một nhiệm vụ, một chiến lược quan trọng đóng góp vào việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong xã hội hiện nay Chủ thể văn hóa là các cá nhân, cộng đồng tư vấn, đưa ra những ý kiến của họ về các trình diễn, trưng bày Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu liên quan tới luận
án chưa làm rõ sự trình diễn văn hóa, tái hiện bản sắc như là kết quả của quá trình thương thảo, tái sáng tạo/tạo dựng giữa Nhà nước và xã hội (bảo tàng, chính quyền địa phương và chủ thể văn hóa)
Luận án sẽ đi sâu phân tích việc tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người qua cách lựa chọn trình bày các câu chuyện cho công chúng có sự tham gia của nhiều bên, bảo tàng, chính quyền địa phương và cộng đồng Luận án sẽ phân tích quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người được đặt trong sự tương tác giữa các bên liên quan trong những bối cảnh cụ thể Luận án cũng làm rõ nhiệm
vụ của Bảo tàng DTHVN thực hiện các trưng bày, trình diễn văn hóa, như là một quá trình tạo dựng bản sắc tộc người, vừa là sự thương thảo, vừa thể hiện tính chính trị, nhượng bộ và phản biện
1.2 Khái niệm công cụ và cơ sở lý luận
1.2.1 Khái niệm công cụ
Bản sắc: Thuật ngữ “Bản sắc,” về mặt từ nguyên, bắt nguồn từ một thuật
ngữ tiếng Pháp identité - có nguồn gốc là một danh từ trong tiếng La tinh cổ
identitas, có nghĩa là “giống nhau” hay “tương tự” Thuật ngữ “bản sắc” được
nhắc đến lần đầu tiên trong giới học thuật khoảng những năm 1950 bởi nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Erik Erikson (1902-1994) Erikson xem xét các tình huống tâm lý ảnh hưởng tới sự điều chỉnh “nhân cách” của bản thân (personality of self) đối tượng trước những tác động của điều kiện môi trường sống Theo cách hiểu của Erikson, “bản sắc” chủ yếu nói đến sự tự ý thức hoặc một cảm nhận rõ ràng về cá nhân, gần tương tự như cách cá nhân
Trang 37được người khác quan sát và nhận diện “Bản sắc,” do đó, đề cập tới một trạng thái tâm lý ổn định xuất phát từ nhận diện tương tự hoặc giống nhau về cái tôi/căn tính của bản thân và bởi những người khác [145]
Từ định nghĩa này chúng ta thấy thuật ngữ “bản sắc” được dùng để chỉ tính chất đặc biệt vốn có, hay đặc tính riêng tạo ra sự khác biệt của sự vật/con người được biểu hiện ra bên ngoài để phân biệt với sự vật này/người này khác với sự vật kia/ người kia Vậy định nghĩa trên đều có hàm ý “bản sắc” có đặc tính dùng để phân biệt, nhận diện Ngành nghiên cứu văn hóa không chỉ quan tâm đến vấn đề của “bản sắc” ở cái biểu hiện ra bên ngoài, mà còn quan tâm đến ý nghĩa của nó và cái hàm chứa ở bên trong mỗi sự vật, sự việc hay con người Tác giả Stuart Hall coi bản sắc như một quá trình, tính đến thực tế của trải nghiệm xã hội đa dạng và luôn thay đổi [168]
Trong phạm vi các ngành khoa học xã hội và nhân văn, “bản sắc” chủ
yếu được hiểu trong mối liên hệ với quan niệm về bản thân (self-concept) hay bản sắc tự thân (self-identity) - một tập hợp các niềm tin về bản thân Về cơ
bản, “bản sắc” chính là cách một người nhận biết về bản thân và về những người khác “Bản sắc” giúp người khác nhận diện ra chúng ta là ai và chúng ta
biết những người khác biết gì về chúng ta “Bản sắc”, tương tự như là một đặc điểm nhận biết thuộc về mỗi cá nhân, có thể là thứ được chia sẻ (shared) giữa các cá nhân thành viên trong một nhóm hoặc một tầng lớp xã hội nhất định (Rummen 1993 và Jenkins 2008)
Bản sắc văn hóa: được cấu thành thông qua trải nghiệm cá nhân/nhóm
trước môi trường xã hội, lịch sử và với các nhóm/cá nhân khác bên ngoài Khái niệm bản sắc văn hóa được diễn giải theo nhiều cách khác nhau bởi các góc tiếp cận và lăng kính của các nhà nghiên cứu không giống nhau Đối với Jonathan Friedman [147, tr.29], bản sắc văn hóa là “thẩm quyền của một tập hợp các phẩm chất được gắn cho một nhóm người xác định” - nhóm con người văn hóa Berry [153], khi bàn về bản sắc hóa của những người bản xứ
Canada, lại khẳng định: bản sắc văn hóa chính là một tập hợp các đặc trưng
văn hóa mà nó cho biết liệu một người tự nghĩ về mình như thế nào trong
quan hệ với những người bản xứ khác tộc Ngoài ra, cũng theo Berry, bản sắc
Trang 38văn hóa còn là ý thức về tầm quan trọng hoặc gắn bó mà một người có thể có với nhóm bản xứ (hoặc yêu hoặc ghét) Còn tác giả Ngô Đức Thịnh nhận định: “Bản sắc văn hóa là tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc của văn hóa mỗi dân tộc, được hình thành và tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, giúp cho văn hóa dân tộc giữ được tính duy nhất và thống nhất, phân biệt văn hóa của dân tộc này khác với các dân tộc khác” [99] Bản sắc văn hóa có thể cho là những đặc tính văn hóa giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác, đồng thời bản sắc là tổng thể những tính chất, tính cách, màu sắc của văn hóa mỗi dân tộc Những màu sắc ấy cũng bao gồm tổng thể các yếu tố thể hiện của văn hóa về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và lễ nghi hay tín ngưỡng, phong tục, tập quán và lao động
Thực tế có thể còn nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về bản sắc văn hóa, song dù có nhiều quan điểm nhưng đa số vẫn cùng chung một điểm giữa các
khái niệm là: bản sắc văn hóa giống như một tấm thẻ căn cước để phân biệt giữa
các cá nhân, nhóm và cộng đồng trên cơ sở các trải nghiệm văn hóa
Bản sắc tộc người: được hiểu là những thành tố văn hóa cụ thể, như
trang phục, nhà cửa, ẩm thực, quan hệ gia đình và dòng họ, các thực hành tôn giáo và tín ngưỡng đặc trưng cho một dân tộc [29, tr.109-126] Các giá trị truyền thống tham gia tạo dựng bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống, còn bản sắc văn hóa dân tộc hiện đại đại diện cho diện mạo văn hóa dân tộc hiện đại [57, tr.15] Bản sắc dân tộc là những diện mạo có hồn của văn hóa mỗi dân tộc, thể hiện ở mọi nơi, mọi chỗ theo kiểu cách riêng của mỗi dân tộc Bản sắc này chi phối các phong tục, tập quán các vùng và tiểu vùng văn hóa [57, tr.27] Tác giả Trần Bảo Lân cho rằng bản sắc dân tộc là thực thể tồn tại khách quan, chứ không phải là cấu trúc tưởng tượng chỉ nằm trong tư duy chủ quan của mỗi cá nhân hay nhà nghiên cứu [73, tr.128] Nghiên cứu về ca khúc dân gian, tác giả đưa ra nhận định: “Yếu tố dân gian chính là nền tảng của bản sắc dân tộc, kể cả những yếu tố dân gian không phổ biến của mỗi dân tộc trong nước để phân biệt với những yếu tố văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới, thì đó chính là những yếu tố thể hiện bản sắc dân tộc” [73, tr.127] Còn Nguyễn Thu Hằng phân tích xem xét các yếu tố mang tính “bản sắc" và “tiên tiến” được các biên
Trang 39đạo múa thể hiện trong các tác phẩm múa dân gian đương đại Theo tác giả, để tạo nên tính bản sắc trong các tác phẩm, các biên đạo múa đã lựa chọn các yếu
tố văn hóa đặc trưng, là bản sắc văn hóa của các tộc người cụ thể Các yếu tố văn hóa đặc trưng này thường gần gũi với đời sống của người dân nơi mà tác phẩm phản ánh, qua sinh hoạt hàng ngày, qua lễ hội hoặc qua các câu chuyện
kể trong dân gian, truyền thuyết, v.v [49, tr.142]
Luận án cho rằng dân tộc là một nhóm người, coi chính họ hoặc được những người khác coi là một cộng đồng riêng biệt nhờ những đặc điểm nhất định sẽ giúp phân biệt nhóm với cộng đồng xung quanh Dân tộc được coi là có những đặc điểm chung như văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo và truyền thống, góp phần tạo nên bản sắc tộc người Bản sắc tộc người là thước đo cảm giác thuộc
về một nhóm dân tộc cụ thể Bản sắc tộc người được đo lường bằng nhiều cách khác nhau, hay nói một cách khác, được tạo dựng trong những bối cảnh cụ thể
Tạo dựng bản sắc văn hóa (construction of cultural identity)
Bản sắc văn hóa là những gì chúng ta “tạo ra” trong quá trình tiếp xúc với những người khác - không phụ thuộc vào việc họ có cùng một ‘môi trường’
hay không [148, tr.3; [161] Nói một cách khác bản sắc văn hóa/cái tôi/căn tính tồn tại trên cơ sở được tạo dựng hơn là kế thừa [133] Bản sắc văn hóa hay cái
tôi căn tính luôn được tạo dựng trong mối quan hệ với bên ngoài Howarth
[141, tr 20] cũng từng nhắc nhở chúng ta rằng các bản sắc văn hóa “luôn luôn
được tạo dựng thông qua các cách thể hiện” Các cách thể hiện được nhắc tới
ở đây chính là các diễn ngôn về cái được thể hiện Ví dụ, văn hóa quốc gia –
một đặc tính của công nghiệp hóa - là một diễn ngôn - một cách kiến tạo các ý
nghĩa có ảnh hưởng và thiết lập cả hành động cũng như quan niệm về bản thân
chúng ta Văn hóa quốc gia tạo dựng các bản sắc bằng cách sản sinh ra các ý
nghĩa về ‘quốc gia’ và với đó chúng ta được xác định/nhận diện Như vậy, bản sắc văn hóa được tạo dựng dựa trên những hình ảnh lời nói giúp điều chỉnh/dàn xếp các truyền thống, kết nối một cá nhân với một nhóm cụ thể [140], [150]
Như vậy, không có bản sắc văn hóa tự thân hoặc bản sắc sẵn mà được tạo dựng
và mang tính xã hội rõ rệt Sự cấu thành của bản sắc văn hóa giống như là diễn ngôn, luôn thông qua sự thể hiện và ở đó chúng không nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của quyền lực nói chung [119, tr.22] Chẳng hạn, tập tục thờ cúng tổ tiên
Trang 40được tạo dựng, được nhìn nhận như một “quốc đạo” và một bản sắc, biểu tượng cho văn hóa người Việt Cái gọi là bản sắc văn hóa chỉ là một dạng bản sắc được cấu trúc có tính nhân tạo (artificially constructed identity) Để lý giải cho điều này, tác giả Nguyễn Văn Chính đã đưa ra minh chứng qua quan sát cách thờ cúng tổ tiên của người Việt (Kinh) và một số dân tộc Người Kinh thường chọn nơi trang trọng nhất trong gia đình để thờ cúng tổ tiên, còn một số nhóm dân tộc thường thờ cúng ở góc khuất khó có thể nhìn thấy như góc nhà hay trên gác bếp Cách tưởng nhớ người đã khuất cũng rất đa dạng, người Việt (Kinh) cúng tổ tiên vào ngày rằm, mồng một, đặc biệt có ngày giỗ, người Thái chỉ thờ linh hồn người cha đã khuất, người Bana cắt đứt mối liên hệ giữa người sống với người chết từ sau lễ bỏ mả… Như vậy có thể thấy việc thờ cúng tổ tiên của các tộc người ở Việt Nam rất đa dạng Các cách thờ cúng tổ tiên khác nhau đó cũng có thể giao thoa với nhau và tác động lẫn nhau như một quá trình tiếp biến văn hóa để tạo dựng bản sắc Chính vì thế bản sắc không thể nhìn nhận như một thực thể thống nhất mà sẽ luôn vận động và thay đổi [32] Do vậy, bản sắc văn hóa không phải là một thực thể tồn tại khách quan mà nó được tạo nên thông qua tư duy chủ quan của mỗi cá nhân hay cộng đồng Bản sắc văn hóa giống như một cấu trúc tưởng tượng [31;32] Trong luận án này, NCS cho rằng bản sắc và bản sắc văn hóa không phải là bất biến, mà luôn biến đổi và phụ thuộc vào những bối cảnh cụ thể Bản sắc và bản sắc văn hóa được tạo dựng, có
sự thay đổi, sáng tạo theo bối cảnh cụ thể Quan điểm này sẽ xuyên suốt trong luận án và là nền tảng để dựa vào đó nghiên cứu quá trình tạo dựng bản sắc văn hoá tộc người qua hoạt động trình diễn ở Bảo tàng DTHVN
Trình diễn (performance)
Khái niệm trình diễn (performance) là một thuật ngữ quan trọng trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, dùng để chỉ những hoạt động, sự thể hiện hơn là sự tĩnh tại Trong tiếng Việt, “performance” có thể hiểu là được thực hiện/tổ chức như lễ hội được tổ chức, thực hiện, hay là được trình diễn/biểu diễn như vở kịch được biểu diễn, hay bài hát được hát, v.v Trong luận án này, NCS dùng từ trình diễn để chỉ các hoạt động của bảo tàng bao gồm các hình thức biểu diễn các loại hình nghệ thuật, văn nghệ dân gian, rối nước, cồng chiêng, và tổ