Đối với các nhà khoa học, doanh nghiệp có liên quan trong một dự án thương mại hóa kết quả R&D: Thảo luận nhóm được tiến hành với nội dung những bài học kinh nghiệm rút ra từ dự án, các
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Quản lý Khoa học và Công nghệ
“Chính sách thị trường kéo thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai” là công trình do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các tài liệu, số liệu, kết quả trích dẫn được sử dụng trong luận án là trung thực có nguồn gốc
rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định Kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thúy Hiền
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai Thầy hướng dẫn luận án: PGS.TS Phạm Huy Tiến và TS Phạm Hồng Quất đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận
án này
Nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Vũ Cao Đàm, PGS.TS Trần Văn Hải, PGS.TS Đào Thanh Trường và các thầy cô giáo Khoa Khoa học Quản lý, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã hỗ trợ, góp ý, và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận án này
Nghiên cứu sinh cũng xin trân trọng cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, chia sẻ khó khăn, động viên Nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận án này
Mặc dù Nghiên cứu sinh đã có nhiều cố gắng, song bản luận án chắc chắn sẽ còn nhiều sai sót Rất mong nhận được sự góp ý, đóng góp của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và những người quan tâm để Nghiên cứu sinh nâng cao chất lượng luận án và hoàn thiện hơn nữa những nghiên cứu khoa học của mình
Trân trọng!
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thúy Hiền
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục 1
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt 4
Danh mục các bảng 5
Danh mục các biểu đồ 6
Danh mục các hình vẽ 7
MỞ ĐẦU 8
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 20
1.1 Công trình nghiên cứu trong nước 20
1.2 Công trình nghiên cứu ngoài nước 26
1.3 Những vấn đề đã được nghiên cứu 41
1.4 Những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết 42
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 45
2.1 Một số khái niệm cơ bản 45
2.1.1 Kết quả nghiên cứu và triển khai 45
2.1.2 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 48
2.1.3 Các tổ chức trung gian của thị trường công nghệ 58
2.1.4 Chính sách khoa học và công nghệ và chính sách thị trường kéo 64
2.2 Mối liên hệ giữa các khái niệm 75
2.2.1 Quan hệ giữa kết quả R&D và sản phẩm, hàng hóa (product) có tính đổi mới của doanh nghiệp 75
2.2.2 Vai trò cầu nối giữa cầu - cung của các thiết chế trung gian trong thị trường công nghệ 76
2.2.3 Quan hệ công nghệ đẩy - thị trường kéo trong thị trường công nghệ 78
Trang 42.3 Khung chính sách quốc gia thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 79
Chương 3: HIỆN TRẠNG CÁC CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY THƯƠNG
MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 83
3.1 Bối cảnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai tại Việt Nam 83 3.1.1 Các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 83 3.1.2 Chính sách quốc gia thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 97 3.1.3 Kết quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 99 3.1.4 Rào cản đối với việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 112
3.2 Hệ thống chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai hiện hành 114 3.2.1 Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 114 3.2.2 Các Chương trình, Đề án, Dự án thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 117
3.3 Phân tích hệ thống chính sách hiện hành thúc đẩy thương mại hóa các kết quả R&D 118 3.3.1 Chính sách đối với kết quả R&D cho thị trường công nghệ 118 3.3.2 Chính sách về thể chế hóa các giao dịch trong thị trường công nghệ 124 3.3.3 Chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho các sản phẩm thương mại hóa từ kết quả R&D 127
3.4 Đánh giá hệ thống chính sách hiện hành đối với việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D 132
Trang 53.4.1 Đánh giá hệ thống chính sách hiện hành liên quan đến kết quả
R&D cho thị trường công nghệ 132
3.4.2 Đánh giá hệ thống chính sách hiện hành liên quan đến thể chế
hóa các giao dịch trong thị trường công nghệ 134
3.4.3 Đánh giá chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho các doanh nghiệp sử
dụng sản phẩm thương mại hóa từ kết quả R&D 138
Chương 4: ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH THỊ TRƯỜNG KÉO THÚC
ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ R&D Ở VIỆT NAM 143
4.1 Triết lý và hệ quan điểm hệ thống chính sách thị trường kéo thương
mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 143
4.2 Khung hệ thống chính sách thị trường kéo thương mại hóa kết quả
nghiên cứu và triển khai 144
4.2.1 Thiết chế vĩ mô cho thị trường công nghệ 144
4.2.2 Các kịch bản chính sách thị trường kéo thúc đẩy thương mại
hóa kết quả R&D 144
4.2.3 Phân tích SWOT các kịch bản chính sách 151
4.3 Giải pháp thực hiện hệ thống chính sách thị trường kéo thương mại
hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 153
4.3.1 Các giải pháp đối với nhân lực khoa học và công nghệ và tổ
chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ 153
4.3.2 Các giải pháp đối với nhu cầu công nghệ 154
4.3.3 Các giải pháp liên quan đến định chế trung gian của thị trường
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BIC : Trung tâm đổi mới sáng tạo doanh nghiệp CGCN : Chuyển giao công nghệ
KH&CN : Khoa học và Công nghệ NSNN : Ngân sách nhà nước R&D : Nghiên cứu và triển khai SHTT : Sở hữu trí tuệ
TLO : Văn phòng kết nối công nghệ TTO : Văn phòng chuyển giao công nghệ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân tích kết quả nghiên cứu theo các giai đoạn nghiên cứu 49
Bảng 2.2: So sánh hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai trực tiếp và gián tiếp 54
Bảng 2.3: Đặc điểm các tổ chức trung gian cho hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu 59
Bảng 3.1: Đầu tư từ Ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ 84
Bảng 3.2: Tỷ lệ chi cho nghiên cứu và triển khai theo GDP 86
Bảng 3.3: Nhân lực nghiên cứu và triển khai (2011-2017) 89
Bảng 3.4: Nhân lực R&D chia theo trình độ 91
Bảng 3.5: Phỏng vấn mức độ quan tâm của chủ trì đề tài đến một số chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D 92
Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011-2015 (Chương trình KC.01 - KC.10) 101
Bảng 3.7: Bảng tổng hợp số lượng các công bố khoa học, sáng chế, giải pháp hữu ích của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam giai đoạn 2012-2016 104 Bảng 3.8: Bảng tổng hợp các hợp đồng nghiên cứu của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 105
Bảng 3.9: Tổng hợp dự toán chi ngân sách nhà nước của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 106
Bảng 3.10: Nhân lực và kinh phí NSNN cho hoạt động ứng dụng công nghệ tại địa phương (2016-2018) 108
Bảng 3.11: Thực hiện nhiệm vụ ứng dụng công nghệ tại địa phương (2016-2018) 109
Bảng 3.12: Công nghệ làm chủ và công nghệ có nhu cầu từ thị trường công nghệ tại địa phương (2016-2018) 110
Bảng 3.13: Hợp đồng dịch vụ tư vấn và chuyển giao công nghệ do hệ thống các trung tâm ứng dụng công nghệ tại địa phương thực hiện (2016-2018) 111
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Chi cho R&D theo thành phần kinh tế 85
Biểu đồ 3.2: Tổng chi quốc gia cho R&D của Việt Nam 86
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ doanh thu đầu tư cho nghiên cứu và triển khai tại các
doanh nghiệp Đông Nam Á (2014-2017) 88
Biểu đồ 3.4: Cơ cấu tỷ lệ nhân lực R&D theo khu vực hoạt động (2017) 90
Biểu đồ 3.5: Số lượng người tham gia R&D trên một vạn dân của một số
quốc gia và khu vực 91
Biểu đồ 3.6: Yếu tố tác động đến hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên
cứu và triển khai tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam 112
Biểu đồ 3.7: Các yếu tố cản trở thương mại hóa kết quả nghiên cứu 113
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến
chính sách thương mại hóa kết quả R&D 25
Hình 1.2: Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến chính sách thương mại hóa kết quả R&D 40
Hình 2.1: Quy trình hoạt động nghiên cứu và triển khai 46
Hình 2.2: Mô hình thung lũng chết 51
Hình 2.3: Từ ý tưởng đến các dự án thương mại hóa thành công 51
Hình 2.4: Sơ đồ “công nghệ đẩy” và “thị trường kéo” của Michael 74
Hình 2.5: Sơ đồ tương tác từng cặp giữa các yếu tố quan trọng cấu thành chính sách “thị trường kéo” của Janos Vecsenyi 75
Hình 2.6: Mối quan hệ của thị trường mua - bán kết quả nghiên cứu 79
Hình 2.7: Chuyển đổi một ý tưởng khoa học thành sản phẩm sử dụng công nghệ 80
Hình 2.8: Mô hình chính sách thị trường/nhu cầu kéo 80
Hình 2.9: Khung chính sách quốc gia thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 81
Hình 3.1: Nguyên nhân các nhà khoa học chưa quan tâm cao đến các chính sách liên quan đến thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D 93
Hình 4.1: Khung chính sách thị trường kéo thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai 145
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khoa học và công nghệ phát triển rất nhanh theo cách mạng 4.0, cùng với tiến trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, đang tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia một cách mạnh mẽ Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế thế giới phục hồi chậm, không đồng đều và còn nhiều khó khăn, các quốc gia đều điều chỉnh chiến lược phát triển, tăng cường liên kết, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, nhất là trong thương mại, đầu tư, nhân lực, khoa học, công nghệ Việt Nam với mục tiêu sớm cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đang đứng trước các cơ hội và thách thức để phát triển đất nước
Phát triển khoa học và công nghệ là một phương hướng quan trọng nhằm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định:
Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh [20]
Phát triển thị trường khoa học, công nghệ, một thành tố của thị trường kinh tế, là một yêu cầu tất yếu đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế Tư tưởng phát triển thị trường khoa học và công nghệ được tiếp tục thể hiện trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, cụ thể tại phương hướng phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường nhằm hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã chỉ ra:
Trang 11Tiếp tục đổi mới, phát triển mạnh mẽ và đồng bộ thị trường khoa học - công nghệ, thực hiện cơ chế thị trường và có chính sách hỗ trợ
để khuyến khích các tổ chức, cá nhân, nhất là doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất kinh doanh [20]
Các kết quả R&D là một “hàng hóa” quan trọng trong thị trường công nghệ vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường, do các nhà khoa học cung cấp (bên cung) cho các doanh nghiệp sử dụng (bên cầu) với sự hỗ trợ của các thể chế trung gian và theo sự điều tiết của Nhà nước Thương mại hóa kết quả R&D còn là “đầu ra (output)”, có vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức, cá nhân hoạt động R&D, là một yếu tố để đánh giá hiệu quả của hoạt động R&D Trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, khi các
tổ chức KH&CN công lập nơi sản sinh ra phần lớn các kết quả R&D đang thực hiện cơ chế tự chủ ở mức độ ngày một cao hơn, các doanh nghiệp trong nước không còn dựa vào lợi thế cạnh tranh từ tài nguyên thiên nhiên có hạn
mà phải bắt đầu phải dựa vào lợi thế cạnh tranh từ nguồn tài nguyên tri thức trong nước, thì việc thương mại hóa kết quả R&D là một vấn đề nổi lên và ngày càng trở nên cấp thiết
Như vậy, thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề mới, ngày càng trở nên cấp thiết và khá là thú vị với sự tương tác theo các quy luật thị trường của 04 nhà: nhà khoa học, tổ chức hoạt động R&D - bên bán; doanh nghiệp sử dụng kết quả R&D cho sản phẩm thương mại của mình - bên mua; các tổ chức trung gian của thị trường công nghệ - bên môi giới; Nhà nước với việc ban hành chính sách làm môi trường cho hoạt động thương mại hóa R&D - bên điều tiết Theo một số nghiên cứu gần đây, việc thương mại hóa kết quả R&D ở nước ta hiện nay còn hạn chế Điều này dẫn đến câu hỏi “Tại sao?”
Trang 12Đề tài được đặt ra từ hỏi “Phải chăng việc thương mại hóa kết quả R&D ở nước ta hiện nay còn hạn chế do chính sách của Nhà nước còn thiếu tính “kéo” của thị trường công nghệ?” Luận án mong muốn nghiên cứu để có câu trả lời này dưới góc độ khoa học và thực tiễn, đồng thời đề xuất giải pháp thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D từ phía Nhà nước, bằng một khung chính sách tiếp cận theo quy luật thị trường và theo đường lối đổi mới của Đảng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận án nhằm xây dựng khung chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D theo cách tiếp cận thị trường kéo trên cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn trong bối cảnh đổi mới cơ chế quản lý KH&CN và hội nhập kinh tế quốc
tế ngày càng sâu rộng, nhất là hội nhập kinh tế
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu này, luận án đặt ra các mục tiêu cụ thể như sau:
- Làm rõ nét về cơ sở lý luận của chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D;
- Mô tả và phân tích hiện trạng các chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D Việt Nam trong giai đoạn 2005-2018;
- Đề xuất khung chính sách quốc gia thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam theo cách tiếp cận thị trường kéo
3 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án nhằm tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi: Triết lý thị trường kéo nghĩa là gì? Đã được thể hiện trong các chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam như thế nào? Để thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam hiệu quả hơn, khung chính sách quốc gia theo cách tiếp cận
thị trường kéo như thế nào?
4 Giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra giả thuyết: Thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam trong thời gian qua còn nhiều hạn chế Để cải thiện tình hình này, về mặt
Trang 13chính sách, cần đổi mới các chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D theo hướng tiếp cận thị trường kéo Đổi mới chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D theo hướng thị trường kéo tác động vào 03 khâu của chu trình thương mại hóa kết quả R&D là:
Thứ nhất, đổi mới chính sách thực hiện R&D theo đặt hàng của thị
trường công nghệ (đầu vào của thương mại hóa kết quả R&D)
Thứ hai, hoàn thiện chính sách thể chế hóa các giao dịch trong thị
trường công nghệ, trong đó hình thành và phát triển các định chế trung gian theo nhu cầu và điều tiết của thị trường công nghệ (môi trường và các bên trung gian cho thị trường công nghệ)
Thứ ba, tăng cường chính sách ưu đãi để hỗ trợ cho các doanh nghiệp
sử dụng các kết quả R&D trong việc đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm (đầu ra của thương mại hóa kết quả R&D)
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu về chính sách thúc đẩy thương mại hóa
kết quả R&D theo hướng thị trường kéo ở Việt Nam với các giới hạn sau:
Phạm vi về thời gian: từ năm 2005 đến năm 2018
Phạm vi không gian: Luận án khảo sát ở một số đề tài nghiên cứu của
tổ chức R&D, các doanh nghiệp được hình thành từ các sản phẩm R&D (doanh nghiệp spin-off, doanh nghiệp start-up, doanh nghiệp ươm tạo, ), các doanh nghiệp nhận chuyển giao các kết quả R&D ở các cấp và trên địa
bàn toàn quốc
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được sử dụng để thu nhận các đánh giá của chuyên gia có trình độ cao và những cá nhân có liên quan nhằm xem xét, nhận định
Trang 14vấn đề nghiên cứu, củng cố các luận cứ nghiên cứu Nghiên cứu định tính được thiết kế dựa trên kết quả phân tích các chính sách liên quan trực tiếp và gián tiếp đến các hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu do Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các viện nghiên cứu (hạng đặc biệt), các trường đại học quốc gia ban hành Nghiên cứu định tính sử dụng các phương pháp: nghiên cứu tài liệu, seminar, tọa đàm, quan sát, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Phỏng vấn sâu: được thực hiện đối với các nhà xây dựng và thực thi
chính sách, các chuyên gia về thương mại hóa kết quả R&D và quản lý khoa học và công nghệ; các nhà khoa học, doanh nghiệp có liên quan trực tiếp đến một dự án thương mại hóa kết quả R&D Mỗi nhóm đối tượng có nội dung phỏng vấn sâu khác nhau
Nhóm đối tượng thứ nhất: các nhà xây dựng và thực thi chính sách, các chuyên gia về thương mại hóa kết quả R&D và quản lý khoa học và công nghệ Nhóm đối tượng này có số lượng không nhiều và tương đối khó tiếp cận
do họ khá bận rộn, vì vậy, Luận án chọn ngẫu nhiên 10 chuyên gia có thể thu xếp được thời gian để tiến hành phỏng vấn sâu Phỏng vấn xoay quanh các nội dung về xu hướng thương mại hóa kết quả R&D trên thế giới hiện nay; các tiêu chí đánh giá hiệu quả của thương mại hóa kết quả R&D, đặc biệt trong bối cảnh phát triển khoa học và công nghệ hiện nay của Việt Nam; đánh giá các chính sách và kết quả thực hiện các chính sách liên quan đến thương mại hóa kết quả R&D hiện nay, những điều kiện cần và đủ để thương mại hóa kết quả R&D thành công ở Việt Nam; và định hướng giải pháp về chính sách
để thương mại hóa kết quả R&D thành công ở Việt Nam hiện nay
Nhóm đối tượng thứ hai: các nhà khoa học, doanh nghiệp có liên quan trực tiếp đến một dự án thương mại hóa kết quả R&D Luận án đã liên hệ với gần 30 nhà khoa học và 30 doanh nghiệp có liên quan trực tiếp đến một dự án thương mại hóa kết quả R&D để phỏng vấn, tuy nhiên, chỉ có 10 nhà khoa
Trang 15học và 10 doanh nghiệp sẵn sàng tham gia phỏng vấn Nội dung phỏng vấn sâu đối với nhóm đối tượng này liên quan đến dự án thương mại hóa kết quả R&D mà họ trực tiếp tham gia, các vấn đề về: loại hình thương mại hóa kết quả R&D, tính ứng dụng của kết quả R&D do các nhà khoa học cung cấp, tác động của các chính sách đến dự án thương mại hóa kết quả R&D, các khó khăn vướng mắc gặp phải và cách giải quyết, vấn đề hợp tác giữa nhà khoa học và doanh nghiệp
Thảo luận nhóm (group discussion): Do đặc điểm của đề tài có quy mô
khảo sát khá lớn và phải tiến hành với nhiều nhóm đối tượng ở các chuyên ngành khác nhau, với nguồn lực hạn chế và thời gian có hạn, nhằm có sự linh hoạt và đạt hiệu quả cao, tác giả đã tiến hành thảo luận nhóm nhỏ 2-4 người theo các chủ đề khác nhau
Đối với các nhà khoa học, doanh nghiệp có liên quan trong một dự án thương mại hóa kết quả R&D: Thảo luận nhóm được tiến hành với nội dung những bài học kinh nghiệm rút ra từ dự án, các bài học thành công và thất bại của thương mại hóa kết quả R&D, đặc biệt từ các hỗ trợ về chính sách của Nhà nước
Đối với các chuyên gia trong các viện nghiên cứu, trường đại học: Thảo luận nhóm được thực hiện với nội dung tại sao thương mại hóa kết quả R&D tại tại cơ quan anh/chị công tác còn hạn chế và giải pháp nào để cải thiện tình hình thương mại hóa kết quả R&D tại cơ quan anh/chị công tác
Đối với các nhà quản lý khoa học và công nghệ tại các bộ, ngành, đại phương, viện nghiên cứu, trường đại học, chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước, quỹ phát triển khoa học và công nghệ: Thảo luận nhóm tập trung vào các nội dung hiệu quả của thương mại hóa kết quả R&D trong các đề tài nghiên cứu, giả pháp chính sách để nâng cao hiệu quả
Tọa đàm, seminar: Tổ chức tọa đàm, seminar theo nhóm từ 3-10
chuyên gia trong quá trình triển khai thực hiện dự án theo các nội dung sau:
Trang 16Phát hiện những đặc điểm chung của thương mại hóa kết quả R&D tại Việt Nam; Đánh giá nhu cầu (dịch vụ, vốn, chính sách hỗ trợ ) chung của các doanh nghiệp/cá nhân để biến một kết quả R&D thành hàng hóa bán trên thị trường; Xây dựng chính sách thị trường kéo thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu tài liệu (desk study): bao gồm việc thu thập tài liệu sơ cấ p
và tài liệu thứ cấp, phân tích tài liệu, tổng hợp tài liệu từ các nguồn sách, tạp chí quốc tế và Việt Nam, trang thông tin điện tử các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, … có liên quan đến việc thương mại hóa kết quả R&D Tài liệu sơ cấp bao gồm: văn bản pháp luật, văn kiện của Đảng, công trình khoa học, báo cáo chính thức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến nội dung nghiên cứu Tài liệu thứ cấp bao gồm: bài báo, báo cáo, các kết luận và phân tích đã được các tác giả khác thực hiện Phương pháp này được sử dụng
để xây dựng nội dung nghiên cứu chủ yếu ở Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu và Chương 2 - Cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và triển khai
Quan sát (observation): Tác giả đã tiến hành quan sát thực tế tại 03
trường hợp kết quả R&D đã được thương mại hóa thành công tại trường đại học, và 05 trường hợp kết quả R&D đã được thương mại hóa thành công tại viện nghiên cứu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tham quan và khảo sát tại 05 doanh nghiệp đã và đang triển khai dự án thương mại hóa kết quả R&D Việc khảo sát thực tế này giúp tác giả luận án thấy được quy mô, cơ sở vật chất của các dự án thương mại hóa kết quả R&D tại Việt Nam, thấy được sản phẩm công nghệ được thương mại hóa thành công, tiềm năng phát triển của các doanh nghiệp công nghệ có sản phẩm trên thị trường là kết quả của thương mại hóa kết quả R&D thành công Mỗi trường hợp nghiên cứu được
mô tả về các nội dung: giới thiệu về đơn vị chủ trì, mục tiêu của dự án, khía cạnh đổi mới của sản phẩm (Innovation aspects), khía cạnh thương mại của
Trang 17sản phẩm, các hoạt động-sản phẩm đầu ra-chỉ số đánh giá, phân tích SWOT, phân tích rủi ro [Phụ lục 4]
6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định lượng thường được sử dụng để thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu giúp lượng hóa các mối quan hệ hoặc để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu Thông tin thu thập được trong nghiên cứu định lượng thường có cấu trúc định trước, dựa vào mô hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu để thu thập dữ liệu Thông tin sau khi thu thập được xử lý, phân tích có tính thống kê để đưa ra con số cụ thể
Tuy nhiên, thực tiễn trong thời gian qua cho thấy việc thu thập số liệu định lượng đối với nội dung thương mại hóa kết quả R&D của các đề tài nghiên cứu các cấp rất khó khăn Tác giả đã tham gia vào một số nghiên cứu
có liên quan đến đánh giá kết quả R&D và thấy rằng số lượng trả lời phiếu hỏi từ chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu rất thấp (Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Tuấn năm 2013, 64% đề tài không phản hồi phiếu hỏi dưới mọi hình thức, với các lý do khác nhau: cơ quan chủ trì đề tài không cung cấp số điện thoại của chủ nhiệm đề tài, cơ quan chủ trì đề tài không biết điện thoại và địa chỉ của chủ nhiệm đề tài vì cơ quan tiếp nhận kết quả khi đó không yêu cầu số điện thoại và địa chỉ của chủ trì đề tài, chủ trì đề tài đã về hưu hoặc chuyển công tác, đề tài đã được nghiệm thu và hội đồng đánh giá nghiệm thu đánh giá đạt yêu cầu cho nên không mong muốn nói về đề tài nữa, …) Thêm vào đó, chất lượng trả lời phiếu hỏi cũng không bảo đảm Đơn cử như nghiên cứu của Nguyễn Quang Tuấn (2013) hỏi về kết quả nghiên cứu của đề tài đã được chuyển giao theo hình thức nào đối với 107 đề tài nghiên cứu thì phần lớn các chủ trì đề tài nghiên cứu cũng như một bộ phận các cơ quan chủ trì đề tài nghiên cứu không quan tâm hoặc e ngại trao đổi về thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học của họ
Trang 18Luận án đã gửi 150 phiếu hỏi liên quan đến các chính sách thương mại hóa kết quả R&D và nhận được rất ít phiếu trả lời, chất lượng trả lời không bảo đảm Vì vậy, để có dữ liệu phân tích hiện trạng về thương mại hóa kết quả R&D và chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D, luận án không thể tiến hành lấy phiếu hỏi theo phương pháp thông thường mà luận án
sử dụng các phương pháp sau:
Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp (secondary data)
Luận án thu thập các dữ liệu thứ cấp liên quan đến các nội dung nghiên cứu theo trình tự: xác định các dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu; xác định các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể có dữ liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu; tiến hành khảo sát, phỏng vấn sâu tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã xác định; thu thập các dữ liệu từ nguồn đã xác định, trong đó lưu ý xác định rõ nguồn của dữ liệu
Các dữ liệu luận án đã thu thập được tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm minh chứng cho vấn đề nghiên cứu gồm: các thống kê, các báo cáo, số liệu ngành từ nhiều nguồn khác nhau Trong quá trình lấy số liệu thứ cấp, luận án đã sử dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu thống kê để tóm tắt dữ liệu, loại bỏ những dữ liệu không liên quan, chắt lọc những dữ liệu sẽ sử dụng cho luận án, hiệu chỉnh các dữ liệu thu thập được, kết nối các dữ liệu với nhau để hình thành
bộ số liệu đồng nhất, cung cấp thông tin hữu ích cho mục tiêu nghiên cứu
Thống kê mô tả (Descriptive statistics): Vấn đề nghiên cứu của luận án
liên quan đến mẫu nghiên cứu khá lớn, gồm 687 tổ chức R&D công lập các cấp trong phạm vi toàn quốc và 136.070 nhân lực R&D [21] Với năng lực và thời gian có hạn, tác giả chọn một số nhóm điển hình để tiến hành nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, đối với các R&D cấp nhà nước, Luận án khảo sát tại 10
chương trình thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ (chương trình KC) của Các chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011-2015
Trang 19Thứ hai, đối với các R&D cấp bộ, ngành, Luận án chọn Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam là tổ chức KH&CN lớn nhất, thực hiện các R&D nhiều lĩnh vực khác nhau để khảo sát trong giai đoạn 2012-2016
Thứ ba, thương mại hóa kết quả R&D triển khai ở địa phương chủ yếu
thông qua hoạt động ứng dụng tiến bộ KH&CN, vì vậy, Luận án khảo sát về hoạt động ứng dụng tiến bộ KH&CN giai đoạn 2016-2018 tại các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN trực thuộc các Sở KH&CN trên phạm vi toàn quốc
Thứ tư, đối với các dự án thương mại hóa kết quả R&D thành công,
Luận án lựa chọn 20 dự án trong các lĩnh vực khác nhau (y học, dược học, sinh học, hóa học, nông học, công nghệ thực phẩm, giải pháp kỹ thuật, …) từ các khu vự khác nhau (trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, nhà sáng chế,…) để khảo sát, mô tả dự án theo các khía cạnh: mục tiêu của dự án, tính đổi mới của sản phẩm (Innovation aspects), tính thương mại của sản phẩm, các hoạt động-sản phẩm đầu ra-chỉ số đánh giá, phân tích SWOT, phân tích rủi ro
Tại các khảo sát trên, tác giả đã thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, mô hình hóa thành bản thống kê mô tả phản ánh một cách tổng quát về các vấn đề liên quan đến thương mại hóa kết quả R&D tại ba khu vực: R&D cấp nhà nước, R&D cấp bộ, và ứng dụng kết quả R&D tại địa phương [Phụ lục 1; Phụ lục 2; Phụ lục 3]
Thống kê suy luận (Inferential statistics)
Nhằm làm rõ nét hơn vấn đề nghiên cứu, phát triển các giả thuyết nghiên cứu, và thực hiện bước đi sâu hơn sau khi tiến hành thống kê mô tả, hoặc sau khi đã tập hợp được dữ liệu thứ cấp đã được xử lý cho đồng nhất, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê suy luận trong việc nghiên cứu các
bộ số liệu thứ cấp thu thập được, phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố, đưa ra những nhận xét cùng với minh chứng bằng các số liệu tại một số nội dung của Chương III của Luận án
Trang 207 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D theo cách tiếp cận thị trường kéo trên cơ sở các nội dung mới sau đây:
Thứ nhất, luận án đưa ra một khung chính sách quốc gia thúc đẩy
thương mại hóa kết quả nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứ u, kế thừa các tài liệu
đã có của Việt Nam và quốc tế, luận án đưa ra hệ thống các khái niệm có liên quan đến vấn đề chính sách thương mại hóa kết quả R&D theo hướng thị trường kéo, phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa các khái niệm này
Thứ hai, luận án phân tích, đánh giá hiện trạng chính sách thúc đẩy
thương mại hóa kết quả R&D của Việt Nam theo khung chính sách quốc gia thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, làm rõ ưu, nhược điểm của các chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, luận án đề xuất ba kịch bản khung chính sách quốc gia thúc
đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu theo hướng thị trường kéo (Kịch bản thứ nhất - đổi mới chính sách thực hiện R&D theo đặt hàng của thị trường công nghệ; Kịch bản thứ hai - hoàn thiện chính sách thể chế hóa các giao dịch trong thị trường công nghệ, trong đó hình thành và phát triển các định chế trung gian theo nhu cầu và điều tiết của thị trường công nghệ; Kịch bản thứ ba
- tăng cường chính sách ưu đãi để hỗ trợ cho các doanh nghiệp sử dụng các kết quả R&D trong việc đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm)
Với nghiên cứu sâu về chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D theo cách tiếp cận thị trường kéo, luận án có những đóng góp sau:
Về lý luận, những kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung quan trọng
vào lĩnh vực lý luận quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN, góp phần nâng cao nhận thức lý luận về vai trò và tầm quan trọng của các chính sách của Nhà nước đối với hiệu quả của hoạt động KH&CN; đồng thời góp phần vào việc
Trang 21triển khai chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển KH&CN quốc gia
Về thực tiễn, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích trong
việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo khoa học quản lý, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý KH&CN Đồng thời luận án cung cấp những luận chứng khoa học, là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước tham khảo trong quá trình triển khai, đổi mới cơ chế quản lý KH&CN ở Việt Nam hiện nay
Trang 22Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Những nghiên cứu ban đầu nhằm tìm ra các biện pháp thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam được Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN nghiên cứu từ khá sớm, từ khi bắt đầu manh nha hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ, vào đầu những năm 2000 Trong 17 năm tiếp theo, các nghiên cứu trong nước đi theo sự phát triển của hoạt động thương mại hóa R&D, đã làm sáng tỏ từng bước về cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D, tuy nhiên, chưa đi sâu phân tích theo định hướng thị trường kéo Các nghiên cứu nổi bật như sau:
Thứ nhất, Đặng Duy Thịnh và các cộng sự (2000) tiến hành nghiên cứu
về các vấn đề khoa học liên quan đến cơ sở khoa học thương mại hóa các hoạt động KH&CN ở Việt Nam, cho rằng: thương mại hóa hoạt động KH&CN là quá trình chuyển hóa các nghiên cứu khoa học, kết quả khoa học thành các quy trình công nghệ hoặc các sản phẩm bán được ở thị trường Trên cơ sở căn
cứ khoa học này, nghiên cứu đã đề xuất những nguyên tắc chung và một số biện pháp mang tính định hướng nhằm thúc đẩy thương mại hóa hoạt động KH&CN ở nước ta Những biện pháp này bao gồm, tăng cường xúc tiến năng lực thương mại hóa hoạt động KH&CN của doanh nghiệp, thúc đẩy bảo vệ sở hữu công nghiệp, khuyến khích thành lập các doanh nghiệp KH&CN [47]
Trong các nghiên cứu về thị trường công nghệ ở Việt Nam, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (2003) cho thấy, kết quả nghiên cứu của các tổ chức R&D ở Việt Nam khó thương mại hóa Nghiên cứu chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản: (1) sản phẩm của các tổ chức R&D ở nước ta thường ở mức công nghệ chưa hoàn chỉnh, ngoài ra, không có nhiều kết quả nghiên cứu thỏa mãn các điều kiện để cấp pa-tăng công nghệ; (2) những công nghệ tương đối hoàn chỉnh của các tổ chức R&D ở nước ta thường chỉ áp dụng được ở
Trang 23quy mô nhỏ đến rất nhỏ; và (3) công tác tiếp thị công nghệ của các tổ chức R&D chưa làm tốt [61]
Tỷ lệ các kết quả R&D được thương mại hóa hoặc được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam còn thấp và số liệu chưa thống nhất Theo Nguyễn Lan Anh (2003), tỷ lệ các đề tài nghiên cứu trong các chương trình KH&CN cấp nhà nước được ứng dụng vào thực tế từ 20 - 30% [1] Trong khi
đó, Hồ Đức Việt (2006) cho rằng, tỷ lệ thương mại hóa kết quả R&D ở nước
ta vào khoảng từ 12 - 15% [63] Mặc dù số liệu về thương mại hóa chưa thống nhất, song có một sự nhất trí cao trong các chuyên gia và các nhà quản lý rằng, đầu tư của Nhà nước cho R&D hiện nay của Việt Nam đạt hiệu quả chưa cao Nguyễn Lan Anh (2003) đưa ra bình luận “chỉ có 10% tổng kinh phí nghiên cứu hiện nay là thực sự có hiệu quả” [1, tr.12] Đây cũng là một điểm chung về thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức R&D công lập tại các nước đang phát triển
Tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới của Việt Nam đã mở rộng quan
hệ hợp tác kinh tế đối ngoại Tiếp nối những thành quả hội nhập đầy tự hào, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 01/2007, Việt Nam đã đẩy nhanh tiến trình đàm phán để đi đến hoàn thành hoặc chuẩn bị
ký kết 6 hiệp định FTA tiếp theo trong năm 2015, bao gồm Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) Thực tiễn này mở ra một loạt vấn đề cụ thể về chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu
Thứ hai, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở lý luận
và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức khoa học và công nghệ Việt Nam” thực hiện năm 2013 do Viện Chiến lược và Chính sách
KH&CN chủ trì, Nguyễn Quang Tuấn là chủ nhiệm [55] Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài đã thực hiện được các nội dung: cơ sở lý luận cho việc thực hiện chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát
Trang 24triển công nghệ của các tổ chức KH&CN Việt Nam; cơ sở thực tiễn cho việc thực hiện chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN Việt Nam Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập và làm rõ vai trò quan trọng của yếu tố thị trường kéo trong việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu cách do tiếp cận nghiên cứu của
đề tài trên cơ sở khoa học đẩy
Thứ ba, một loạt các báo cáo, bài báo đề cập đến chính sách thương mại
hóa kết quả nghiên cứu R&D cũng đã được đề cập đến Các bài nổi bật gồm:
Malaysia: Đi lên từ thương mại hóa R&D của Thành Nguyên Phương
[32] bài viết đưa ra kinh nghiệm của Malaysia trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu Mở đầu bài viết, những số liệu cụ thể cũng chỉ ra rằng việc thương mại hóa kết quả nghiến cứu tại Malaysia còn gặp nhiều khó khăn với
số lượng những công trình khoa học được ứng dụng vào thực tế ở mức thấp Tuy nhiên với những chính sách đổi mới được chính phủ Malaysia thực hiện bằng cách tăng cường sự hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ Innofund, quỹ Econtest đã thúc đẩy, tăng cường quá trình ứng dụng kết quả nghiên cứu vào trong thực tế
Thúc đẩy hoạt động khai thác, thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho Việt Nam của Nhóm tiểu dự án IPP-NATEC [30] đã đưa ra giải pháp kết nối
giữa 3 nhà trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho Việt Nam bao gồm: nhà nghiên cứu, nhà nước và nhà doanh nghiệp Nhà nghiên cứu và nhà doanh nghiệp cần phải có tiếng nói chung trong quá trình thực hiện các công trình nghiên cứu sao cho gắn liền với những nhu cầu hiện tại của nhà doanh nghiệp Nhà nước đứng ra với vai trò điều tiết vĩ mô và có những hỗ trợ cần thiết cho nhà nghiên cứu cũng như nhà doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên
cứu vào áp dụng trong thực tế
Thương mại hóa sản phẩm Khoa học và Công nghệ Đại học Quốc gia
Hà Nội của Hồng Hạnh [25] đã nhấn mạnh tầm quan trọng của thương mại hóa
Trang 25sản phẩm khoa học và công nghệ đối với Đại học Quốc gia Hà Nội Trong bài viết tác giả đề cập đến việc giới thiệu sản phẩm nghiên cứu tới tận tay doanh nghiệp, đây là một cách làm mang lại hiệu quả về trước mắt còn về lâu dài thì cần có những chính sách cụ thể hơn Những chương trình giới thiệu sản phẩm chỉ là một phần rất nhỏ trong việc xây dựng chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu và việc làm này không được đánh giá cao khi những kết quả nghiên cứu đã được cụ thể hóa bằng sản phẩm, nhiều khi các doanh nghiệp mong muốn tiếp cận những công nghệ mới những công nghệ còn đang trong quá trình nghiên cứu để có thể có những cải tiến phù hợp với doanh nghiệp mình
Làm sao để nghiên cứu ứng dụng thực tế nhiều hơn của Cục phát triển
thị trường và doanh nghiệp khoa học công nghệ [8] đưa ra được thực trạng kết quả nghiên cứu khoa học tại Việt Nam thể hiện qua số đề tài các cấp, mặc dù nhấn mạnh đến việc thực hiện các đề tài với những mục tiêu khác nhau nhưng
có một vấn đề là chưa có chính sách cụ thể cho việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học: Con đường đau khổ của Thái Ngọc [48] bài viết nêu ra thực trạng số lượng kết quả nghiên cứu của
Việt Nam được ứng dụng vào trong thực tế, bên cạnh đó tác giả đưa ra những dẫn chứng trong thực tế để chứng minh cho việc chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm là một con đường đau khổ Bên cạnh việc thiếu những chính sách hỗ trợ thì chính việc nghiên cứu thiếu định hướng thị trường cũng là một nguyên nhân sâu xa dẫn tới những kết quả nghiên cứu sau khi được nghiệm thu thì sẽ không được mấy người quan tâm
Nâng cao hiệu quả chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ của Nguyễn Hữu Xuyên và cộng sự [65]: Bằng phương pháp nghiên cứu
định tính và định lượng, thông qua việc sử dụng các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, bài viết này làm rõ: (i) Tổng quan nghiên cứu về hiệu quả chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ; (ii) Đánh giá hiệu quả chính sách thúc đẩy
Trang 26doanh nghiệp đổi mới công nghệ thông qua phản hồi của doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, với tư cách là đối tượng thụ hưởng chính sách và (iii) Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ phù hợp với điều kiện của Việt Nam
Thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, đời sống ở Việt Nam: Một số bất cập của chính sách của Nguyễn Quang Tuấn [58], bài viết
trên cơ sở phân tích các tài liệu nghiên cứu, các văn bản chính sách Nhà nước
và một số khảo sát của chính tác giả, bài viết này cung cấp thông tin và trao đổi một số vấn đề về quan niệm, chính sách liên quan đến ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, đời sống ở Việt Nam Bài viết cũng đưa ra một số bất cập của chính sách trong cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ, giao quyền sở hữu, sử dụng kết quả nghiên cứu, và cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Thứ tư, Đề tài nghiên cứu “Chính sách nhà nước thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứ khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước” năm 2017 của Nguyễn Quang Tuấn [56] đề cập đến một số chính
sách cơ bản thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa đi sâu vào việc định hướng thị trường kéo Các chính sách đưa ra mặc dù có tính khoa học tuy nhiên cần có những nghiên cứu sâu hơn để phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam
Như vậy, vấn đề chính sách thương mại hóa kết quả R&D đã có một số công trình trong nước nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu này có phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong lĩnh vực một ngành, trong một địa phương, một tổ chức nghiên cứu; hoặc cách tiếp cận của đề tài còn theo phương thức khoa học đẩy, yếu tố thị trường kéo chưa được đề cập và làm rõ vai trò quan trọng trong thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Trang 27Hình 1.1: Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến chính sách thương mại hóa kết quả R&D
2017 Nguyễn Quang Tuấn
đẩy thương mại hóa kết quả
nghiên cứu (chưa đi sâu định
hướng thị trường kéo)
2014 Thái Ngọc
Một số dẫn chứng thực tế để
chứng minh việc chuyển kết quả
nghiên cứu ra thị trường là con
2013 Hồng Hạnh Cách thức ĐHQG Hà Nội thương mại hóa sản phẩm KH&CN: giới thiệu sản phẩm nghiên cứu tới tận tay doanh nghiệp
2013 Nguyễn Quang Tuấn và các cộng sự
Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D, theo cách tiếp cận khoa học đẩy, yếu tố thị trường kéo chưa được đề cập và làm rõ vai trò quan trọng trong thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu
2012 Nhóm nghiên cứu Tiểu dự án
IPP-NATEC Giải pháp kết nối trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho Việt Nam giữa
3 nhà: nhà nghiên cứu, nhà nước, nhà
doanh nghiệp
2007 Việt Nam gia nhập WTO và chuẩn bị
ký kết 6 hiệp định FTA, trong đó có Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình
Dương (TPP)
Mở ra các vấn đề cụ thể về chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu
2003 Viện Chiến lươc và Chính sách
KH&CN
- Kết quả nghiên cứu của các tổ chức R&D khó thương mại hóa do chính bản thân kết quả R&D chưa hoàn chỉnh, áp dụng ở quy
mô nhỏ và rất nhỏ, tiếp thị công nghệ chưa
tốt;
- Tỷ lệ các kết quả R&D được thương mại hóa hoặc ứng dụng vào sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam còn thấp (số liệu đưa ra chưa thống nhất, 20-20%, 12-15%, 10%, )
2000 Đặng Duy Thinh và các cộng sự Đưa ra khái niệm và đề xuất một số biện pháp mang tính định hướng và nguyên tắc chung nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết
quả R&D ở nước ta
Trang 281.2 CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Ở các nước phát triển, vấn đề thương mại hóa kết quả R&D manh nha xuất hiện và dần dần được thể hiện trong các chính sách quốc gia trong khoảng thời gian những năm 1980 và 1990 Ở các nước phát triển sau xuất hiện các chính sách hỗ trợ thương mại hóa kết quả R&D chậm hơn khoảng 10 năm Tuy vậy, các công trình nghiên cứu theo làn sóng phát triển của hoạt động thương mại hóa kết quả R&D đã phản ánh chính sách hỗ trợ thương mại hóa kết quả R&D ở các quốc gia, ở các cấp độ, ở các lĩnh vực khác nhau
Giai đoạn ra đời chính sách đầu tiên liên quan đến thương mại hóa kết quả R&D (1980) - Đạo luật Bayh-Dole của Chính phủ Mỹ đã có những
nghiên cứu liên quan như sau:
Năm 1996, Sheila Slaughter, Gary Rhoades (Đại học Arizona, Mỹ)
công bố bài viết “Sự nổi lên của một liên kết chính sách phát triển R&D cạnh tranh và thương mại hóa khoa học và công nghệ học thuật” (The Emergence
of a Competitiveness Research and Development Policy Coalition and the Commercialization of Academic Science and Technology) [119] mô tả hỗ trợ cạnh tranh thương mại như là một lý do để R&D được lựa chọn tài trợ trong những năm 1980 bằng chính sách pháp luật Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp theo chiều dọc về những thay đổi trong chiến lược kinh doanh và cấu trúc doanh nghiệp khiến giới tinh hoa kinh doanh trong ngành công nghiệp quốc phòng và y tế xem xét hỗ trợ các chính sách R&D cạnh tranh Nghiên cứu cũng đánh giá một loạt các chính sách hỗ trợ R&D ở một số quốc gia trong những năm 1980 và 1990, ảnh hưởng của các chính sách R&D đối với các trường đại học và viện hàn lâm được đánh giá bằng cách phân tích những thay đổi trong dữ liệu chuỗi thời gian (1983-1993) về các chỉ số khoa học và công nghệ do Quỹ khoa học quốc gia biên soạn
Năm 1997, Norman và cộng sự trong cuốn Technology transfer systems
in the United States and Germany [67], đã đưa ra nhận định thương mại hóa
Trang 29kết quả nghiên cứu có thể nảy sinh ở mọi giai đoạn của quá trình đổi mới: từ những ý tưởng ban đầu cho đến kết quả cuối cùng, nó có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như mua bản quyền công nghệ (licensing) hay như việc tạo ra các doanh nghiệp KH&CN từ các tổ chức KH&CN mẹ để tự thương mại hóa kết quả nghiên cứu của chính tổ chức đó
Năm 1998, Branstetter và Sakakibara công bố bài báo “Liên doanh nghiên cứu Nhật Bản (Japanese research consortia): Một phân tích vi mô của chính sách công nghiệp” [73] là kết quả của một nghiên cứu mẫu lớn các tập
đoàn kinh tế do chính phủ Nhật Bản tài trợ Bài báo cho thấy các doanh nghiệp liên doanh nghiên cứu có chi phí cho R&D nhiều hơn so với các doanh nghiệp không tham gia vào liên doanh Từ hiện thực này, cho ta thấy Nhà nước Nhật tiến hành các hỗ trợ có hiệu quả nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho đổi mới công nghệ
Trong thời gian này, một số quỹ đầu tư mạo hiểm đã được hình thành
Salmenkaita Jukka-Pekka, Salo Ahti (2002) trong bài báo “Luận điểm cho can thiệp chính phủ trong thương mại hóa các công nghệ mới” (Rationales for
Goverment Intervention in the Commercialization of New Technologies) đã đưa ra nhận định R&D trong công nghiệp là “trái tim của cỗ máy tư bản” nó dẫn đến sự phát triển kinh tế - kỹ thuật và đóng góp vào phúc lợi xã hội [108] Ngành đầu tư mạo hiểm là một bộ phận của hệ thống đổi mới, góp phần vào thương mại hóa các công nghệ mới thông qua các doanh nghiệp khởi nguồn (start-up firms) Ví dụ, Tại Israel, vào những năm 1990 chỉ có hai quỹ đầu tư mạo hiểm; đến năm 1993 chính phủ Israel đã đầu tư 100 triệu USD vào quỹ đầu tư mạo hiểm, tập trung vào các doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ cao Đến năm 1996, khi chính phủ bán cổ phần của quỹ đó, có khoảng 40 quỹ mạo hiểm tư nhân chuyên môn hóa vào các doanh nghiệp dựa trên công nghệ Như vậy, sự can thiệp của chính phủ (hỗ trợ tạm thời các sáng kiến mới thương
Trang 30mại hóa công nghệ) đóng góp vào sự phát triển môi trường thể chế mà trong
đó ngành đầu tư mạo hiểm tư nhân cuối cùng có thể phát triển tự thân của nó
Chính phủ nhiều quốc gia trên thế giới đã coi việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D là trọng tâm của các chính sách kinh tế
Tại ấn phẩm Turning Science into Business - Patenting and Licensing
at Public Research Organizations do OECD [103], đạo luật Bayh-Dole
(Bayh-Dole act 1980) do Chính phủ Mỹ đã ban hành đã đẩy mạnh việc hình thành các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ tại các trường đại học của
Mỹ nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của mình thông qua việc trao cho các trường đại học và doanh nghiệp nhỏ của Hoa Kỳ quyền không có giới hạn (unfetterd right) sở hữu các sáng chế được tạo ra từ ngân sách nghiên cứu của Liên bang Chỉ tính riêng cho giai đoạn 1980 - 2000, các trường đại học của Mỹ đã thành lập khoảng 3000 tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ Bản thân sự ra đời của Luật Bayh-Dole không phải là yếu tố duy nhất thúc đẩy chuyển giao kết quả R&D từ các trường đại học vào doanh nghiệp, nhưng nó là một yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình này và được đánh giá là
có tác động sâu rộng đến thương mại hóa kết quả R&D của các trường đại học Hoa Kỳ Một số nghiên cứu khác về chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng có những nghiên cứu về Luật Bayh-Dole, như nghiên cứu
The growth of patenting and licensing by U.S Universities: an assessment of the Bayh-Dole act of 1980, Research Policy của Mowery David C, Richard
R Nelson, Bhaven N Sampat, Arvids A Ziedonis [74] Ashley (2004) nhận định: “Luật Bayh-Dole 1980 là một đạo luật truyền cảm hứng nhất của Hoa
Kỳ trong hơn nửa thế kỷ qua” [122, tr.93]
Năm 2004, trong ấn phẩm International Journal of Technology
Management, Koruna M Stefan công bố bài nghiên cứu mang tên External technology commercialization-policy guidelines [121], đưa ra một hướng dẫn
xây dựng chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại doanh nghiệp
Trang 31Giai đoạn phát triển các mô hình thương mại hóa kết quả R&D thành công tại nhiều quốc gia (2004-2009), tiêu biểu có các công trình
nghiên cứu như sau:
Nghiên cứu của Magnus Karlsson năm 2004, Commercialization of Research Results in the United States [99] đã mô tả về thương mại hóa các kết
quả nghiên cứu tại Hoa Kỳ, quốc gia được xem là có số lượng các đơn vị chuyển giao công nghệ và thương mại hóa thành công đối với các kết quả nghiên cứu Nghiên cứu này còn đi sâu vào tìm hiểu những tổ chức đóng vai trò trung gian trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Hoa Kỳ Nghiên cứu
đã phân tích trường hợp nghiên cứu Stanford University Technology Transfer Center và một số tổ chức khác với vai trò trung gian trong việc chuyển giao
công nghệ nói chung, đồng thời đưa ra một mô hình thành công trong việc
chuyển giao các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y học là National Business Incubation Association
Năm 2008, Anna S Nilsson, Henrik Fridén, Sylvia Schwaag Serger
công bố công trình “Commercialization of Life-Science Research at Universities in the United States, Japan and China” [102] nghiên cứu về các
mô hình thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học về sự sống của các trường đại học y, dược tại Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc Các trường đại học này đều thành lập các trung tâm chuyển giao kết quả nghiên cứu với vai trò là tổ chức trung gian kết nối giữa nhu cầu công nghệ của các công ty dược, bệnh viện với các viện, trung tâm nghiên cứu của các trường đại học
Nghiên cứu tại các trường đại học Canađa, Einar Rasmussen công bố nghiên cứu về những giải pháp của chính phủ để hỗ trợ hoạt động thương mại hóa nghiên cứu ở trường đại học - bài học kinh nghiệm từ Canada (Government instruments to support the commercialization of university research: Lessons from Canada) [112] vào năm 2008 Chính phủ Canada thử nghiệm một chính
Trang 32sách mới, cung cấp nguồn lực trực tiếp cho các dự án thương mại hóa kết quả nghiên cứu hoặc chuyển giao công nghệ trong các trường đại học để phát triển chuyên môn thông qua việc thử nghiệm các sáng kiến mới, tạo thuận lợi cho hợp tác giữa các bên liên quan trong trong việc án thương mại hóa kết quả nghiên cứu Nghiên cứu đã đưa ra bài học quan trọng rút ra từ chính sách theo cách tiếp cận từ dưới (bottom-up) của chính phủ Canada
Tại Hàn Quốc, cùng năm 2008 đã có công bố của một số nghiên cứu quan trọng liên quan đến chính sách thương mại hóa kết quả R&D Kanghwa
Choi, Soo W Kim trong nghiên cứu "From R&D to Commercialization: A System Dynamic Approach" [76] đã đưa ra cách tiếp cận toàn diện mô tả mối
quan hệ tương tác giữa đổi mới công nghệ góp phần vào việc đổi mới năng lực của doanh nghiệp, R&D và thương mại hóa R&D; Đưa ra ba lý thuyết về công nghệ và đổi mới (gồm: R&D và khái niệm tri thức công nghệ, khái niệm quy trình sản phẩm, khái niệm phụ thuộc lẫn nhau công nghệ) được sử dụng
để liên hệ công nghệ và đổi mới trong quản lý chiến lược Dựa trên những lý thuyết này, các tác giả cố gắng xác định mối quan hệ năng động giữa đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình sản xuất trong cấu trúc tuần hoàn phản hồi khép kín trong đó đầu tư R&D thúc đẩy sự tích lũy kiến thức công nghệ
Young Roak Kim đã công bố nghiên cứu “Thương mại hóa công nghệ
ở Hàn Quốc (Technology commercialization in Republic of Korea) cùng vào
năm 2008 Nghiên cứu đã nêu hiện trạng chính sách thương mại hóa R&D của Hàn Quốc vào thời gian đó, Hàn Quốc có khoảng 40 đạo luật liên quan đến thương mại hóa công nghệ, hầu hết các đạo luật này quy định các chính sách liên quan đến phát triển công nghệ, hỗ trợ thương mại hóa và phát triển doanh nghiệp KH&CN Cũng theo Young (2008), ngoài các luật góp phần tạo môi trường thuận lợi cho thương mại hóa kết quả R&D, Chính phủ Hàn Quốc còn phê duyệt một loạt các chương trình liên quan đến thương mại hóa kết quả R&D [96], có thể nêu ra như sau:
Trang 33Chương trình trợ giá chuyển giao công nghệ đưa ra hệ thống trợ giá
cho một phần chi phí trong việc triển khai công nghệ đối với các công nghệ chuyển giao từ các tổ chức KH&CN của Nhà nước có khả năng thương mại hóa Trợ giá cho bên cung cấp công nghệ có thể lên tới 70% của giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ, hoặc 50 triệu Won
Chương trình phát triển công nghệ chuyển giao cho doanh nghiệp nhỏ
và vừa tài trợ cho những phát triển công nghệ từ các viện nghiên cứu, trường
đại học được chuyển giao cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trợ giá này có thể lên tới 75% của tổng chi phí phát triển công nghệ hoặc là 100 triệu Won [96]
Chương trình thúc đẩy chuyển giao các sáng chế công nghệ nhằm thúc
đẩy thương mại hóa các sáng chế công nghệ thông qua hỗ trợ chi phí đăng ký văn bằng bảo hộ sáng chế cho các viện nghiên cứu, trường đại học, theo hình thức cho vay hoặc hỗ trợ trong thời gian 3 năm
Như vậy, bằng hệ thống cơ chế chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D, Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kể trong chuyển giao thành tựu KH&CN cũng như kết quả R&D vào sản xuất, đời sống Chính KH&CN đã góp phần đưa Hàn Quốc trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhất ở Châu Á và trên thế giới, trong đó có vai trò quan trọng đáng
kể của tổ chức kết nối chuyển giao công nghệ (TLOs) trong các trường đại học và viện công lập của Hàn Quốc; số doanh nghiệp KH&CN được tạo ra từ các tổ chức KH&CN cũng phát triển mạnh và đứng ở vị trí cao trong các nước thuộc khối OECD
Năm 2009, Markman D Gideon, Peter T Gianiodis, Phillip H Phan
trong bài báo “Supply-side innovation and technology commercialization”
[83], đã đưa ra nhận định về hiệu quả của thương mại hóa kết quả R&D thông qua chuyển giao công nghệ, cứ một đô-la đầu tư vào tổ chức tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ, trường đại học nhận được trên 6 đô-la thu nhập từ các
Trang 34dịch vụ chuyển giao công nghệ Trên thực tế luôn tồn tại khoảng cách giữa R&D và đổi mới, phát triển sản phẩm Khoảng cách này, trong các tài liệu nghiên cứu về quản lý công nghệ, được gọi là thung lũng chết (The valley of death) Thương mại hóa thành công kết quả R&D chính là quá trình vượt qua thung lũng chết để kết quả R&D đến được với thị trường, người tiêu dùng
Giai đoạn hình thành hệ thống chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D tại một số quốc gia (2009-2013) được mô tả bằng một số
công bố như sau:
Năm 2009, Rigas Arvanitis đã biên tập các công bố nghiên cứu có liên
quan đến chính sách khoa học và công nghệ, ấn phẩm “Chính sách khoa học
và công nghệ” đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp
quốc (UNESCO) công bố và đưa vào hệ thống Bách khoa toàn thư hỗ trợ cuộc sống của UNESCO [113, tr.1-61] Công trình gồm hai tập Tập một bao gồm các nội dung: chính sách KH&CN; Khoa học xã hội, các nghiên cứu về chính sách khoa học, ra quyết định chính sách khoa học; xã hội phù hợp với kiến thức KH&CN; nghề nghiệp chuyên về chính sách KH&CN; thực hiện các quyết sách về KH&CN ở Hoa Kỳ; các vấn đề công bằng, quyền con người và thiểu số trong chính sách KH&CN; các vấn đề nông nghiệp trong chính sách KH&CN hiện tại; công nghệ và môi trường thị trường; yêu cầu quốc gia đối với chính sách KH&CN; CGCN trong nước - các bài học thành công và thất bại gợi suy cho chính sách; các chính sách hợp tác khoa học Bắc-Nam; chính sách KH&CN trong bối cảnh di cư; công nghiệp R&D toàn cầu - các vấn đề chính sách; quản lý công nghệ; các hiệp hội đổi mới sáng tạo chiến lược; kiến thức mới về kinh tế và chính sách KH&CN Tập hai của công trình tập hợp các bào viết về nội dung: các công cụ đánh giá chính sách - các chỉ số KH&CN; các thực hành về bối cảnh hiện đại cho hoạt động nghiên cứu; đánh giá kinh tế và thể chế; chính sách KH&CN ở Châu Phi; thay đổi chính sách KH&CN ở Ấn Độ; chính sách KH&CN ở Trung Quốc, Châu Âu, Bắc Mỹ,
Trang 35Nhật Bản; thay đổi hệ thống đổi mới quốc gia trong các nền kinh tế chuyển đổi; chính sách KH&CN tại UNESCO, trong hệ thống các cơ quan của Liên Hiệp Quốc Công trình đã đưa ra các định nghĩa cơ bản, đồng thời phác thảo bức tranh hiện trạng về những thay đổi chính sách bắt nguồn từ thay đổi nhu cầu về khoa học và công nghệ trong những thập kỷ gần đây
Năm 2010, Chandran Govindaraju đã công bố nghiên cứu về thương mại hóa kết quả R&D thách thức đối với các nước đang phát triển - nghiên
cứu trường hợp Malaysia (R&D commercialisation challenges for developing countries: the case of Malaysia) tại ấn phẩm Tech Monitor [84], đưa ra nhận định quan trọng: Thứ nhất, đổi mới sáng tạo (innovation) hiện đang là động
lực của tăng trưởng và phát triển đối với một số doanh nghiệp hàng đầu Châu
Á; Thứ hai, các doanh nghiệp sáng tạo duy trì năng lực cạnh tranh bằng cách
đầu tư vào R&D và vào khả năng đưa các kết quả R&D ra thị trường
Chính phủ Malaysia đã hình thành một số chương trình nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D như sau [84]:
Một là, Chương trình tài trợ cho dự án R&D công nghiệp (the Industrial
Research and Development Grant Scheme - IGS) với kinh phí ban đầu là 100 triệu RM để thúc đẩy các dự án R&D hướng vào thị trường
Hai là, Quỹ Tiếp thu và làm chủ công nghệ (Technology Acquisition
Fund - TAF) được hình thành từ năm 1997 với mục tiêu tăng tốc phát triển và nâng cấp năng lực công nghệ nội địa thông qua việc nhập và làm chủ công nghệ của nước ngoài để có được các bí quyết, tài sản trí tuệ, hình mẫu công nghệ, thiết kế… TAF được chính phủ cấp nguồn kinh phí ban đầu là 63 triệu RM, và được Nhà nước tiếp tục cấp kinh phí tăng thêm trong các kế hoạch 5 năm tiếp theo (Kế hoạch 5 năm lần thứ 7, 8 và 9) TAF hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp Malaysia mua li-xăng công nghệ, mua quyền sở hữu công nghệ và các dịch vụ đào tạo TAF cũng hỗ trợ một phần chi phí nhập công nghệ dưới hình thức là các sáng chế, thiết kế, bí quyết kỹ thuật, hỗ trợ chi phí thuê chuyên gia
Trang 36của nước ngoài để đào tạo, tư vấn hỗ trợ chuyển giao công nghệ Mức hỗ trợ tối
đa là 50% chi phí mua công nghệ của nước ngoài hoặc 2.000.000 RM, tùy theo mức nào thấp hơn Doanh nghiệp được hỗ trợ phải đáp ứng các yêu cầu: (1) Phải thành lập và hoạt động ở Malaysia; (2) Cổ phần của Malaysia chiếm ít nhất
là 51%, đồng thời nhà cung cấp công nghệ không được phép sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp có dự án xin hỗ trợ; (3) Công nghệ đề xuất để làm chủ phải sẵn sàng ở giai đoạn mức độ khả thi và đã được ứng dụng vào sản xuất (đã thương mại hóa) ở quốc gia mà công nghệ được tạo ra; (4) Công nghệ được hỗ trợ phải thuộc các chùm lĩnh vực công nghệ (technology cluster) ưu tiên của quốc gia; (5) Dự án xin hỗ trợ phải tạo ra được sản phẩm vật chất (tangible), không chỉ là các sản phẩm vô hình (tài sản trí tuệ); (6) Công nghệ được hỗ trợ phải được doanh nghiệp ứng dụng ngay vào sản xuất; và (7) Đội ngũ quản lý, tiếp thị và kỹ thuật của dự án phải có năng lực và kinh nghiệm [84]
Bằng những nỗ lực của Chính phủ Malaysia, thương mại hóa kết quả R&D của đất nước này đã có những tiến bộ nhất định Trường đại học Putra Malaysia, Trường đại học Sains Malaysia và một số tổ chức KH&CN khác đã
có một số thương mại hóa kết quả nghiên cứu thành công Tuy nhiên theo Chandran (2010), nhìn chung việc thương mại hóa kết quả R&D của các chương trình nghiên cứu công ở Malaysia là không cao Một cuộc điều tra tới
5232 dự án nghiên cứu được các viện nghiên cứu công lập và các trường đại học thực hiện trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 6 và 7 của Malaysia cho biết, 14.1% số dự án nghiên cứu được đánh giá là có tiềm năng thương mại hóa và 5.1% trong các số dự án điều tra đã được thương mại hóa Cũng theo Chandran (2010), tồn tại nhiều nguyên nhân của những hạn chế thương mại hóa kết quả R&D ở Malaysia, trong đó có sự thiếu hụt về các vốn mồi, vốn đầu tư mạo hiểm cho thương mại hóa, sự gắn kết kém giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, năng lực hấp thu tri thức mới và công nghệ của doanh nghiệp không cao [84]
Trang 37Ở Trung Quốc, Luận án tìm thấy những công bố đầu tiên liên quan đến thương mại hóa bằng tiếng Anh từ năm 2001 HE Wei, LIU Ming-xiang (Trường Kinh tế & Quản lý, Đại học Vũ Hán, Trung Quốc) đã có nghiên cứu
về khả năng thương mại hóa R&D của các doanh nghiệp [85], đưa ra lập luận
rằng sức mạnh của năng lực thương mại hóa R&D sẽ ngày càng lớn mạnh, doanh thu từ việc đầu tư R&D của các công ty có thể quay trở lại, cải thiện thương mại hóa R&D với nhiều cấp độ khác nhau Nghiên cứu còn đưa ra các nhận định: tiến hành thương mại hóa ở nhiều hình thức khác nhau có một tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của R&D của công ty, các công ty nên đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện năng lực thương mại hóa R&D của mình, bởi vì nó cung cấp các nguồn lực cần thiết để hỗ trợ doanh nghiệp đạt được tự chủ thực sự trong các hoạt động đổi mới công nghệ, là sự lựa chọn không thể tránh khỏi để thực hiện chiến lược đổi mới (innovation strategy)
Ở một góc nhìn gần với cách tiếp cận của luận án nghiên cứu này, GS Erik Baark, Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông (2001) đã có bài viết
“Công nghệ và tinh thần doanh nhân ở Trung Quốc: Cải cách thương mại hóa trong ngành khoa học và công nghệ” [80] đánh giá một thành phần quan
trọng của cải cách của Trung Quốc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ trong suốt hai thập kỷ qua đã và đang được cải thiện, đó là việc khai thác các công nghệ được tạo ra trong các viện nghiên cứu để thương mại hóa Nghiên cứu cũng phân tích các khái niệm và biện pháp khác nhau để hướng dẫn các chính sách thương mại hóa công nghệ cũng như các phương pháp tiếp cận khác nhau của chính phủ Trung Quốc dưới ánh sáng các lý thuyết về đổi mới theo “thị trường kéo” (market‐pull innovation) và lựa chọn của công chúng (public choice)
Năm 2008, JIANG Hong-fei (Đại học Khoa học và Kỹ thuật Vũ Hán,
Trung Quốc), trong nghiên cứu “Cải thiện khả năng thương mại hóa R&D
Trang 38của các doanh nghiệp dệt may” [91] đã đưa ra những kết luận sau: Hoạt
động R&D không tương đương với lợi nhuận của doanh nghiệp, để cho hoạt động R&D tạo ra lợi nhuận thực sự cho các doanh nghiệp, khả năng thương mại hóa R&D cần được cải thiện; Khả năng thương mại hóa R&D rất quan trọng đối với doanh nghiệp, chẳng hạn như cung cấp thông tin cho các hoạt động R&D, cung cấp kinh phí để hỗ trợ các hoạt động R&D; Tăng cường hợp tác liên ngành và củng cố khả năng thương mại hóa R&D là những yếu
tố quan trọng để nâng cao khả năng thương mại hóa R&D của các doanh nghiệp dệt may
Weiping Wu (2010) trong công bố Quản lý và khuyến khích thương mại hóa nghiên cứu tại các trường đại học Trung Quốc tại Tạp chí chuyển
giao công nghệ [125] đã cho thấy rằng có những nền tảng thể chế quan trọng
để xây dựng mối liên kết giữa các trường đại học và khu vực công nghiệp Nghiên cứu nhằm mục đích hiểu cách Trung Quốc đang phát triển các cơ cấu
tổ chức có liên quan và các chính sách ưu đãi trong các trường đại học, liên kết giữa trường đại học và khu vực công nghiệp Nghiên cứu được thực hiện thông qua phân tích tài liệu và phỏng vấn sâu với nhân sự ở hai tổ chức hàng đầu - Đại học Fudan và Đại học Giao thông Thượng Hải, và được bổ sung thêm số liệu thống kê chính thức
Ở Đài Loan, Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp Đài Loan (ITRI) là một trường hợp điển hình về thương mại hóa kết quả R&D thành công vào khoảng năm 2010 Một trong những cách mà Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp Đài Loan vượt qua thung lũng chết đó là việc nhấn
mạnh vào giá trị được tạo ra của của kết quả R&D: “tạo ra giá trị quan trọng hơn là tạo ra công nghệ” (ấn phẩm Technology Development & Management
[87] của Industrial Technology Research Institute - ITRI, Taiwan) Việc xét duyệt và tài trợ cho các nhiệm vụ R&D của ITRI chủ yếu dựa vào bốn chữ
Trang 39được gọi là tam giác vàng: NSDB Trong đó N chỉ sự cần thiết, chủ yếu dựa trên nhu cầu của thị trường và khách hàng; S là giải pháp để đáp ứng nhu cầu
và sự cần thiết và cũng chỉ rõ tính cạnh tranh của giải pháp; D chính là sự khác biệt trong các giải pháp; B là lợi ích mà khách hàng sẽ nhận được từ các giải pháp Kinh nghiệm của ITRI cho thấy, ngay từ khi xét duyệt các nhiệm
vụ R&D, thị trường và khách hàng đã là một yếu tố quan trọng bậc nhất
Ươm tạo doanh nghiệp là một kênh hữu hiệu để thương mại hóa kết quả R&D, phần lớn các các cơ sở ươm tạo (incubator) là nơi liên kết nguồn kiến thức nghiên cứu ở trong các trường đại học, viện nghiên cứu với các doanh nghiệp công nghệ, hoặc các cụm công ty có năng lực R&D Năm 2010, OECD đưa ra những phân tích tổng quát về các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp
khoa học và công nghệ trong ấn phầm “Technology incubators” [104]
Nghiên cứu này cho thấy các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp dựa trên công nghệ thường được tổ chức bởi các cơ sở công lập và phi lợi nhuận như tại trường đại học, viện nghiên cứu Tuy nhiên, khu vực tư nhân cũng tham gia vào hoạt động này trong một số công đoạn cụ thể Các cơ sở ươm tạo thường hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên công nghệ thông qua các hình thức chủ yếu như: hỗ trợ diện tích mặt bằng và một số cơ sở vật chất - kỹ thuật dùng chung, đào tạo, tư vấn về mô hình kinh doanh, pháp luật sở hữu trí tuệ, kêu gọi hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp và đôi khi trực tiếp đầu tư vào doanh nghiệp được ươm tạo
Một kênh chuyển giao tri thức, từ những R&D hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up), trong đó hoạt động đầu tư mạo hiểm cần nhà nước cần có chính sách điều chỉnh các hoạt động này Nghiên cứu nổi bật về
vấn đề này có thể nêu ra như “How venture capital firms differ” của tác giả B Elango, Vance Field, Robert Hisrich và Amy Poloncheck năm 1995 [79]; hay
“Fundamentals of Venture Capital” của tác giả Madison, Bartlett, Joseph năm
Trang 401999 [71]; “Sources of funds and investment activities of venture capital funds: evidence from Germany, Israel, Japan and the United Kingdom” của tác giả C Mayer, K Schoors, Y Yafeh năm 2005 [101] phân
tích hoạt động đầu tư mạo hiểm giống và khác nhau như thế nào ở các nước trên thế giới Luận án nhận thấy điểm thú vị từ các nghiên cứu này về nguồn tài chính cho các quỹ đầu tư mạo hiểm Một số nước như Đức và Nhật Bản nguồn tài chính cho các quỹ đầu tư mạo hiểm đến từ các ngân hàng, trong khi
ở Isarel nguồn này đến từ các tập đoàn lớn và ở Anh là từ các quỹ hưu trí (pension funds)
Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp khởi nghiệp không chỉ là hoạt động của khu vực tư nhân Một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hiện nay là chính sách đầu tư của Chính phủ các nước cho doanh nghiệp khởi nghiệp Trong số các nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực này “VC Policy: Yozma Program 15-years perspective” của tác giả Gil Avnimelech năm 2009 [70], hay tác phẩm “Quốc gia khởi nghiệp” của tác giả Dan Senor và Saul Singer đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới trong
đó có tiếng Việt năm 2013 [64] đã miêu tả câu chuyện thần kỳ của Isarel, nơi chính sách về đầu tư của Nhà nước cho doanh nghiệp khởi nghiệp và tinh thần quốc gia về khởi nghiệp chính là chìa khóa khiến một quốc gia nhỏ bé và luôn phải chống chọi với nhiều thế lực thù địch đã vươn lên mạnh mẽ về kinh tế như ngày nay Ở Isarel, đầu tư của Nhà nước cho doanh nghiệp khởi nghiệp ban đầu được thực hiện qua các quỹ đầu tư và cơ sở ươm tạo của Nhà nước Hình thức đầu tư có thể dạng vốn mồi hoặc cho vay rủi ro - nếu doanh nghiệp không thành công Nhà nước sẽ mất đi khoản đầu tư còn nếu doanh nghiệp thành công, họ sẽ phải trả lại Nhà nước số tiền nhất định dựa trên doanh thu hằng năm Mô hình đầu tư này đã rất phát triển vào những năm đầu 1990 và sau đó Nhà nước cổ phần hóa các quỹ đầu tư này Ngoài mô hình của Isarel,