Để hiểu rõ hơn về nữ doanh nhân ở Việt Nam và những nhân tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Các yếu tố tác động tới KSKD thành công c
Trang 1-
-MAI THỊ ANH ĐÀO
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI KHỞI SỰ KINH DOANH THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN TẠI
VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI - 2019
Trang 2-
-MAI THỊ ANH ĐÀO
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI KHỞI SỰ KINH DOANH THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 9340101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học: P
GS.TS VŨ THÀNH HƯNGHÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Mai Thị Anh Đào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Lao động - Xã hội, đến Quý thầy cô trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Vũ Thành Hưng người hướng dẫn
khoa học của luận án, đã giúp tôi những quy chuẩn về nội dung, kiến thức và phương pháp nghiên cứu để hoàn thành luận án này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Mai Thị Anh Đào
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VẼ ix
PHẦN MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KSKD THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN 9
1.1 Khởi sự kinh doanh của doanh nhân 9
1.1.1 Khởi sự kinh doanh và doanh nhân 9
1.1.2 Các hướng nghiên cứu KSKD của doanh nhân 12
1.2 Tổng quan nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân 14
1.2.1 KSKD thành công của doanh nhân 14
1.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân 17
1.3 Tổng quan nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân 23
1.3.1 KSKD của nữ doanh nhân 23
1.3.2 Nghiên cứu các yếu tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân 30
1.3.3 Nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam 36
1.3.4 Khoảng trống nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VỀ KSKD THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN TẠI VIỆT NAM 41
2.1 Cơ sở lý thuyết về KSKD thành công của nữ doanh nhân 41
2.1.1 Khái niệm và xác định KSKD thành công của nữ doanh nhân 41
2.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân ở Việt Nam 46
2.2.1 Mô hình nghiên cứu 46
2.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 58
3.1 Thiết kế nghiên cứu 58
Trang 63.1.1 Phương pháp nghiên cứu 58
3.1.2 Quy trình xây dựng bảng hỏi 58
3.1.3 Mẫu nghiên cứu 59
3.1.4 Thang đo của các biến nghiên cứu 60
3.2 Nghiên cứu định tính 65
3.2.1 Mục tiêu của phỏng vấn sâu 65
3.2.2 Phương pháp thực hiện phỏng vấn sâu 66
3.2.3 Kết quả nghiên cứu định tính 68
3.2.4 Diễn đạt và mã hóa thang đo 72
3.3 Nghiên cứu định lượng 75
3.3.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 75
3.3.2 Nghiên cứu định lượng chính thức 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 87
4.1 Đánh giá thang đo 87
4.1.1 Thống kê mô tả biến độc lập và kiểm định dạng phân phối của các thang đo biến độc lập 89
4.1.2 Thống kê mô tả biến phụ thuộc 91
4.1.3 Kiểm định giá trị của thang đo 91
4.1.4 Kiểm định chất lượng thang đo cho các nhân tố tạo thành 94
4.2 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 99
4.2.1 Kiểm định hệ số tương quan 99
4.2.2 Kiểm định giả thuyết và phân tích hồi quy 102
4.3 Kiểm định sự khác biệt của các biến kiểm soát tới KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam 107
4.3.1 Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo tuổi 108
4.3.2 Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo nền tảng gia đình 110
4.3.3 Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo tình trạng hôn nhân 111
4.3.4 Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo trình độ học vấn 112
4.3.5 Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo lĩnh vực KD 114
4.3.6 Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo địa bàn hoạt động 115
Trang 7TÓM TẮT CHƯƠNG 4 117
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118
5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 118
5.2 Kết luận nghiên cứu 120
5.3 Những đóng góp mới của luận án 130
5.3.1 Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận 130
5.3.2 Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu của luận án 131
5.4 Một số kiến nghị 126
5.4.1 Các trở ngại của nữ doanh nhân tại Việt NamError! Bookmark not defined. 5.4.2 Một số khuyến nghị chính sách đối với chính phủ 126
5.4.3 Một số kiến nghị đối với các nữ doanh nhân 128
5.5 Hạn chế của nghiên cứu và gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo 130
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 135 TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
PHỤ LỤC 157
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
IFC Công ty tài chính quốc tế
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân loại DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP 41
Bảng 2.2 Một số định nghĩa về DN do phụ nữ làm chủ 42
Bảng 2.3 Tổng hợp giả thuyết nghiên cứu 56
Bảng 3.1 Phương pháp nghiên cứu 58
Bảng 3.2 Thang đo KSKD thành công 61
Bảng 3.3 Thang đo Vốn nhân lực 61
Bảng 3.4 Thang đo vốn tài chính 62
Bảng 3.5 Thang đo Tiếp cận tài chính 62
Bảng 3.6 Thang đo Khả năng kết nối mạng lưới 63
Bảng 3.7 Thang đo định hướng KSKD 64
Bảng 3.8 Thang đo Cấu trúc tổ chức 65
Bảng 3.9 Đặc điểm mẫu doanh nhân trong trong nghiên cứu định tính 67
Bảng 3.10 Yếu tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân 68
Bảng 3.11 Điều chỉnh cách diễn đạt thang đo 69
Bảng 3.12 Các biến quan sát có vấn đề trong thang đo 72
Bảng 3.13 Thang đo hiệu chỉnh và mã hóa thang đo 73
Bảng 3.14 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo bằng Cronbach Alpha 77
Bảng 3.15 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo bằng Cronbach Alpha 79
Bảng 3.16 Kết quả thu thập phiếu điều tra 83
Bảng 3.17 Thống kê phiếu điều tra 83
Bảng 3.18 Thống kê mô tả mẫu theo tuổi 84
Bảng 3.19 Thống kê mô tả mẫu theo người thân hoạt động KD 84
Bảng 3.20 Thống kê mô tả mẫu theo tình trạng hôn nhân 85
Bảng 3.21 Thống kê mô tả mẫu theo trình độ học vấn 85
Bảng 3.22 Thống kê mô tả mẫu theo lĩnh vực kinh doanh 85
Bảng 3.23 Thống kê mô tả theo địa bàn hoạt động 86
Bảng 4.1 Mô tả thống kê các thang đo biến độc lập 89
Bảng 4.2 Mô tả thống kê các thang đo biến phụ thuộc 91
Bảng 4.3 Kết quả phân tích nhân tố EFA 93
Bảng 4.4 Kết quả đánh giá thang đo bằng Cronbach Alpha 94
Bảng 4.5 Các giả thuyết nghiên cứu 98
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định hệ số tương quan 100
Bảng 4.7 Kết quả phân tích hồi quy 104
Trang 10Bảng 4.8 Tầm quan trọng của các biến độc lập trong mô hình hồi quy Error!
Bookmark not defined.
Bảng 4.9 Kiểm định Anova giữa tuổi và KSKD thành công 109Bảng 4.10 Giá trị bình quân KSKD thành công của nữ doanh nhân giữa các nhóm tuổi 109Bảng 4.11 Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm tuổi và KSKD thành công của nữ doanh nhân 110Bảng 4.12 Kiểm định Levene phương sai đồng nhất cho các nhóm theo nền tảng gia đình 111Bảng 4.13 Kiểm định Levene phương sai đồng nhất cho các nhóm theo tình trạng hôn nhân 112Bảng 4.14 Kiểm định Anova trình độ học vấn và KSKD thành công của nữ doanh nhân 112Bảng 4.15 Bảng mô tả giá trị bình quân KSKD thành công của nữ doanh nhân giữa các nhóm trình độ học vấn 113Bảng 4.16 Kiểm định sự khác biệt sâu giữa các nhóm trình độ học vấn và KSKD thành công của nữ doanh nhân 114Bảng 4.17 Kiểm định Anova lĩnh vực KD và KSKD thành công của nữ doanh nhân 114Bảng 4.18 Giá trị bình quân KSKD thành công của nữ doanh nhân giữa các nhóm lĩnh vực KD 115Bảng 4.19 Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm lĩnh vực KD và KSKD thành công của nữ doanh nhân 115Bảng 4.20 Kiểm định Levene phương sai đồng nhất cho các nhóm theo địa bàn hoạt động 116
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Quy trình nghiên cứu của luận án 6
Hình 1.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB 12
Hình 2.1 Mối quan hệ giữa doanh nhân và thành công 45
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu của luận án 50
Hình 4.1 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 98
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
I Sự cần thiết của nghiên cứu
Ngày nay, các nữ doanh nhân ngày càng có tầm quan trọng trong việc tạo ra, vận hành và phát triển KD Các DN thuộc sở hữu của nữ doanh nhân có xu hướng ngày càng tăng trên thế giới (Davidson và Burke, 2004) Các nữ doanh nhân hành động như một động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế Mitchelmore và Rowley (2013) chỉ ra rằng trong năm 2010, 104 triệu nữ doanh nhân trong 59 nền kinh tế đại diện cho hơn 52% dân số thế giới và 84% GDP thế giới bắt tay vào việc tạo ra và phát triển DN mới Kamberidou (2013) chỉ ra rằng nữ doanh nhân sở hữu các DN đóng góp ngày càng quan trọng cho nền kinh tế Các nữ doanh nhân có tác động đáng kể đến nền kinh tế không những trong khả năng tạo ra công ăn việc làm cho bản thân họ, mà còn trong việc tạo việc làm cho người khác Bosma và cộng sự (2007), Kelley và cộng sự (2010) nhận định rằng rằng lợi nhuận thu được từ đầu tư cho nữ doanh nhân cao hơn nhiều so với nam doanh nhân Nữ doanh nhân có nhiều khả năng chia sẻ kết quả hoạt động với người khác Do đó, đầu tư vào nữ doanh nhân là một cách quan trọng để các nước tăng đáng kể tác động của việc tạo ra DN mới
Nữ doanh nhân có xu hướng tương đối cao hơn ở các nước đang phát triển Theo báo cáo của GEM năm 2005 "tỷ lệ nữ doanh nhân ở giai đoạn đầu KSKD ở các nước thu nhập trung bình cao gần gấp đôi so với các nước thu nhập cao” Ví dụ, nghiên cứu về KSKD của nữ doanh nhân ở Mỹ Latinh và Caribean, cho thấy tỷ lệ nữ doanh nhân rất cao ở các nước nghèo nhất trong khu vực - lên tới 35% ở Peru (Beatrice, 2012) Điều này đã được giải thích bởi thực tế là ở các nền kinh tế đang phát triển, nữ phải đối mặt với rào cản cao hơn để tham gia vào thị trường lao động chính thức và tìm đến đến KSKD như một cách thoát khỏi tình trạng thất nghiệp và thường
là thoát nghèo Nhận diện hoạt động KSKD và các nhân tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân luôn là cần thiết đối với các nước đang phát triển
Việt Nam hiện có 95.906 DN được điều hành và quản lý bởi nữ doanh nhân chiếm khoảng 21% tổng số DN đang hoạt động Trong đó đa số là DNNVV Tỷ lệ DN lớn của nữ doanh nhân chỉ chiếm 1% tương đương với 854 DN (tổng cục thống kê 2014) Như vậy phân khúc DN của nữ doanh nhân chủ yếu là DNNVV DN của nữ doanh nhân Việt Nam càng ngày càng có vai trò và đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế trong việc tạo việc làm, sử dụng các nguồn lực địa phương tạo đà tăng trưởng Nhóm DN của nữ doanh nhân được đánh giá sử dụng nhiều lao động nữ hơn
so với DN do nam giới làm chủ (lao động nữ chiếm 43,6% so với 36% của nam giới)
và nộp ngân sách bình quân lao động cao hơn so với DN do nam làm chủ (24,9 triệu
Trang 13đồng/lao động so với 24,2 triệu đồng/lao động)
Nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam được tác giả đặc biệt quan tâm vì vai trò của nữ doanh nhân đối với tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho xã hội Nghiên cứu KSKD thành công của nữ doanh nhân cũng là một lĩnh vực nghiên cứu rất có ý nghĩa thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý giáo dục Nghiên cứu nhằm tìm hiểu nguyên nhân, cơ chế dẫn tới việc KSKD thành công từ đó xác định các giải pháp chính sách tác động phù hợp
để phát triển hệ thống DN trong nền kinh tế
Qua tổng quan nghiên cứu tác giả nhận thấy các quan niệm về KSKD thành công thay đổi theo bối cảnh nghiên cứu tùy thuộc vào lý do quyết định KSKD của doanh nhân Biện pháp xác định KSKD thành công cũng không có sự thống nhất giữa các nghiên cứu khác nhau trên đối tượng doanh nhân, quy mô DN và bối cảnh nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân ở các nước phát triển không giải thích được cho KSKD thành công của nữ doanh nhân ở các nước đang phát triển và các nước chuyển đổi, nơi mà KSKD thành công của nữ doanh nhân diễn ra rất mạnh mẽ Các lý thuyết áp dụng cho phân tích trong nghiên cứu KSKD thành công cũng có những bất đồng trong kết quả nghiên cứu khác nhau đối với bối cảnh nghiên cứu khác nhau
Qua tổng quan các nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam, tác giả nhận thấy có một số nghiên cứu về KSKD trên đối tượng là nữ doanh nhân Tuy nhiên các nghiên cứu lựa chọn phạm vi nghiên cứu địa lý hẹp, chủ yếu là nghiên cứu định tính Các kết luận nghiên cứu trước cần được kiểm chứng bằng phương pháp định lượng để đảm bảo độ tin cậy trong nghiên cứu
Để hiểu rõ hơn về nữ doanh nhân ở Việt Nam và những nhân tố tác động đến
KSKD thành công của nữ doanh nhân, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Các yếu tố
tác động tới KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam” Đây là đề tài nghiên cứu rất cần thiết đối với bối cảnh nền kinh tế Việt Nam Một nền kinh tế chuyển đổi, năng động, có tinh thần KSKD rất cao Kết quả của nghiên cứu sẽ là bức tranh toàn cảnh về quá trình KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam
II Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án
1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân có nhiều mục tiêu nghiên cứu khác nhau Có những mục tiêu xác định hình ảnh doanh nhân, các nghiên cứu tập trung vào các nhân tố đặc điểm tính cách của doanh nhân Mục tiêu các vấn đề về giới, các nghiên cứu tập trung vào các nhân tố XH của doanh nhân như: vai trò của gia đình, định kiến XH,
Trang 14nguồn vốn XH được tiếp cận Mục tiêu về đạt được các NL cho KSKD và thành công, các nghiên cứu tập trung vào các nhân tố liên quan đến NL Trong phạm vi nghiên cứu của luận
án, tác giả lựa chọn tập trung vào mục tiêu nghiên cứu các NL cho KSKD thành công của
nữ doanh nhân
Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là:
- Xác định những nhân tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam
- Xác định mức độ tác động và chiều hướng tác động của các nhân tố đến KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam
- Xác định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo các đặc điểm của nữ doanh nhân và đặc điểm DN như khác biệt theo độ tuổi, về tình trạng hôn nhân, nền tảng gia đình, trình độ học vấn, lĩnh vực hoạt động và địa bàn hoạt động
- Đề xuất các khuyến nghị cho các cơ quan quản lý của chính phủ, trong việc phát triển KSKD của nữ doanh nhân nhằm tạo tiền đề cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước Luận án cũng đề xuất các khuyến nghị cho nữ doanh nhân trang
bị nguồn lực cho bản thân nhằm đạt được thành công trong quá trình KSKD
2 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án phải trả lài các câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Những yếu tố nào tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam?
Câu hỏi 2: Mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố đến KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam như thế nào?
Câu hỏi 3: Có sự khác biệt về KSKD thành công giữa các nhóm nữ doanh nhân theo các đặc điểm của doanh nhân và đặc điểm của DN không?
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu và trả lời được các câu hỏi nghiên cứu đề ra ở trên, luận án phải giải quyết được các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về những nhân tố tác động đến KSKD thành công của doanh nhân nói chung và nữ doanh nhân nói riêng Những nghiên cứu trước đây cùng với nghiên cứu định tính thực hiện tại Việt Nam sẽ là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu chính thức
- Điều tra, thu thập, phân tích những nhận định và đánh giá của nữ doanh nhân ở Việt Nam về những nhân tố tác động đến KSKD thành công
Trang 15- Kiểm định mô hình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân ở Việt Nam
- Đề xuất các khuyến nghị về chính sách đối với các cơ quan quản lý của Nhà nước trong việc tạo ra môi trường KSKD thuận lợi Đồng thời đề xuất các kiến nghị đối với doanh nhân trong việc trang bị các NL cần thiết cho quá trình KSKD đảm bảo
đi đến thành công
III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận án
1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu bao gồm hai đối tượng chính: (1) Lý luận về các nhân
tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân đối với loại hình DNNVV (loại
DN chủ yếu của nữ doanh nhân) và (2) thực tiễn về các nhân tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam
Cụ thể gồm những đối tượng sau:
(1) Cơ sở lý thuyết về KSKD thành công của doanh nhân
(2) Các nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân và nữ doanh nhân trên thế giới và Việt Nam
(3) Các nhân tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam
2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu:
KSKD thành công của nữ doanh nhân ở Việt Nam bị chi phối bởi nhiều nhân tố khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, qua tổng quan các nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân và nữ doanh nhân trước đây, tác giả lựa chọn các nhân
tố về đặc điểm và các nhân tố liên quan đến NL của doanh nhân và DN trong nghiên cứu Các yếu tố thuộc về NL của doanh nhân như vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn XH Yếu tố thuộc về NL của DN như chiến lược KSKD, cấu trúc tổ chức; Yếu tố NL từ môi trường KSKD như tiếp cận vốn tài chính Luận án cũng nghiên cứu các nhân tố đặc điểm cá nhân của doanh nhân tuổi tác, nền tảng gia đình, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn và đặc điểm của DN như lĩnh vực KD, địa bàn hoạt động
- Về khách thể nghiên cứu: nữ doanh nhân KSKD tại Việt Nam (tập trung vào
nữ doanh nhân sở hữu và điều hành DNNVV tại Việt Nam)
- Về thời gian nghiên cứu: Các dữ liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu trong giai
đoạn 2010-2017 Các dữ liệu sơ cấp thu thập từ phỏng vấn sâu chuyên gia và điều tra khảo sát nữ doanh nhân được thực hiện trong giai đoạn 2017-2018
IV Khái quát phương pháp nghiên cứu
Trang 161 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Để thu thập và xử lý các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, luận án sử dụng phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Nghiên cứu xuất phát từ những vấn đề mang tính chất thời sự của KSKD tại Việt Nam Nghiên cứu cũng xuất phát từ thực trạng hoạt động KSKD của nữ doanh nhân và vai trò của KSKD của nữ doanh nhân đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Bên cạnh đó, tác giả tổng hợp khái quát và xác định bản chất của vấn đề nghiên cứu; nghiên cứu các nhân tố tác động tới KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam Từ đó, tác giả tổng hợp và khái quát xu hướng KSKD thành công của nữ doanh nhân đối với nền kinh tế của Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn
Tác giả tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến
đề tài của luận án, để xem vấn đề này đã được nghiên cứu ở khía cạnh nào; sử dụng phương pháp nghiên cứu như thế nào, kết quả chính của các nghiên cứu là gì, hạn chế của các nghiên cứu trước – những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Tác giả đã tìm kiếm những công trình nghiên cứu trước đây trong các cơ sở dữ liệu lớn, có độ tin cậy cao Thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu tổng quan được tổng hợp vào bảng tổng quan tài liệu theo các cột, với các nội dung định sẵn
Kết quả của giai đoạn này là lựa chọn được hướng nghiên cứu cho đề tài, làm rõ các khái niệm KSKD, KSKD thành công, doanh nhân, nữ doanh nhân, tìm ra các yếu
tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân, từ đó hình thành nên mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu sơ bộ
- Phương pháp nghiên cứu định tính
Dựa trên mô hình nghiên cứu sơ bộ được đề xuất ở bước trên, tác giả thực hiện nghiên cứu định tính, thông qua phỏng vấn sâu một số chuyên gia, các nữ doanh nhân trong điều kiện hoàn cảnh thực tế, các yếu tố nào phù hợp, yếu tố nào cần điều chỉnh hoặc bỏ khỏi mô hình; kiểm tra mức độ phù hợp của thang đo các biến nghiên cứu Kết quả của giai đoạn này là đưa ra được mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
có tính phù hợp với bối cảnh nghiên cứu; điều chỉnh thang đo các biến, làm cho các thang đo có tính tin cậy và tính giá trị cao hơn
- Phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phiếu điều tra để thu thập dữ liệu trên diện rộng, với quy mô mẫu lớn, để kiểm định mô hình nghiên cứu đề xuất và
Trang 17xem có giả thuyết nghiên cứu nào được ủng hộ hay không Kết quả của giai đoạn này
là những số liệu, chứng cứ khoa học, chứng minh cho các giả thuyết đã được đề xuất
2 Qui trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu sẽ được thực hiện theo sơ đồ như sau:
Hình 1: Quy trình nghiên cứu của luận án
Nguồn: Tác giả xây dựng
Quá trình nghiên cứu được thực hiện qua các bước: xây dựng mô hình, kiểm tra
mô hình và thang đo, thu thập dữ liệu sơ bộ để kiểm định sơ bộ độ tin cậy của thang
đo, thu thập dữ liệu chính thức, phân tích nhân tố, kiểm định độ tin cậy của thang đo, kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu
V Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã thực hiện được những mục tiêu đề ra ban đầu trước khi nghiên cứu:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân và
nữ doanh nhân từ đó từ đó xây dựng được mô hình nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam
- Kiểm định mô hình nghiên cứu, khẳng định được các giả thuyết về mối quan hệ giữa các nhân tố tác động với KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam
- Đưa ra một số đề xuất cho nữ doanh nhân nhằm tăng cường khả năng thành
Cơ sở lý thuyết, Các nghiên cứu trước đây
Nghiên cứu định tính, phỏng vấn sâu
trên quy mô hẹp
Nghiên cứu định lượng sơ bộ
(N=100)
Nghiên cứu định lượng chính thức
(N=500)
Phân tích nhân tố khám phá EFA và hệ
số tin cậy Cronbach alpha
Mô hình và thang đo
Kiểm tra mô hình và thang đo
Chuẩn hóa bảng hỏi
Thu thập dữ liệu chính thức
Kiểm định giá trị các biến, đánh giá
độ tin cậy của thang đo chính thức
Phân tích hồi quy đa biến Kiểm định mô hình
và giả thuyết nghiên cứu
Trang 18công của hoạt động KSKD của nữ doanh nhân tại Việt Nam và một số kiến nghị về chính sách của Nhà nước nhằm tạo ra môi trường KSKD thuận lợi cho nữ doanh nhân Luận án cũng đề xuất một số kiến nghị đối với nữ doanh nhân nhằm trang bị các NL cần thiết cho quá trình KSKD đạt được thành công
Cụ thể, luận án đã đạt được những đóng góp như trong các mục sau
1 Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Trên cơ sở lý thuyết nguồn lực cơ bản kết hợp với lý thuyết vốn xã hội, lý thuyết môi trường KSKD luận án đã đề xuất bổ sung thêm các nhân tố tác động đến KSKD thành công, bao gồm Tiếp cận tài chính và Cấu trúc tổ chức Cụ thể như sau:
- Nhân tố tiếp cận tài chính, các nghiên cứu trước đây chỉ khẳng định nữ doanh nhân bị cản trở bởi tiếp cận vốn tài chính từ các ngân hàng thương mại, chưa khẳng định chiều hướng và mức độ tác quan trọng của tác động tiếp cận tài chính đến KSKD thành công của nữ doanh nhân Luận án đã khẳng định dễ tiếp cận tài chính có vai trò quan trọng đến KSKD thành công của nữ doanh nhân
- Nhân tố cấu trúc tổ chức được xác định có liên quan đến khởi sự kinh doanh thành công nhưng chưa được nghiên cứu đối với nữ doanh nhân Luận án đã khẳng định tác động của cấu trúc tổ chức hữu cơ có tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân
- Luận án hoàn thiện nhân tố chiến lược KSKD của mô hình bằng nhân tố định hướng KSKD với ba khía cạnh là định hướng đổi mới, định hướng chủ động và định hướng mạo hiểm Kết quả nghiên cứu của luận án này khẳng định vai trò của định hướng KSKD và nhân tố định hướng KSKD được tách thành ba nhân tố độc lập, đó là (1) Định hướng đổi mới; (2) Định hướng chủ động và (3) Định hướng mạo hiểm
2 Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu của luận án
Từ kết quả nghiên cứu, luận án đã xác định được những điểm mới so với các nghiên cứu trước như sau:
- Luận án đã xác định các nhân tố tác động tới KSKD thành công của nữ doanh nhân ở Việt Nam, đồng thời chỉ ra chiều hướng tác động và mức độ tác động của từng nhân tố Luận án nhấn mạnh vốn tài chính và vốn nhân lực của nữ doanh nhân có vai trò quan trọng nhất
- Kết quả của luận án khẳng định về nhân tố Khả năng kết nối mạng lưới không
có tác động trực tiếp đến KSKD thành công của nữ doanh nhân ở Việt Nam Kết quả này khác biệt so với các kết quả nghiên cứu định tính trước về tác động của Khả năng
Trang 19kết nối mạng lưới đến KSKD thành công của nữ doanh nhân
- Luận án đã đưa ra các đề xuất các nữ doanh nhân vận dụng trong quá trình KSKD Đồng thời luận án cũng đề xuất một số khuyến nghị vĩ mô trong việc tạo ra môi trường KSKD thuận lợi phát triển nữ doanh nhân Việt Nam
- Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể hoàn thiện mô hình bằng cách bổ sung các nhân tố khác tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân đối với các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, địa bàn khác nhau, tác động của môi trường KSKD khác nhau; làm rõ sự tác động gián tiếp từ khả năng kết nối mạng lưới đến KSKD thành công thông qua tác động vào các yếu tố thành công
VI Bố cục của luận án
Để trình bày toàn bộ nội dung nghiên cứu, bố cục của luận án được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân nữ tại Việt Nam
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu
Chương 5 Kết luận và kiến nghị
Trang 20CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KSKD THÀNH CÔNG CỦA NỮ
DOANH NHÂN
1.1 Khởi sự kinh doanh của doanh nhân
1.1.1 Khởi sự kinh doanh và doanh nhân
1.1.1.1 Khái niệm KSKD (entrepreneurship)
Khởi sự theo nghĩa tiếng việt là bắt đầu hành động để thực hiện theo kế hoạch (một việc quan trọng) KSKD theo nghĩa bắt đầu thực hiện một công việc kinh doanh Khởi sự kinh doanh có thể là mở một doanh nghiệp mới (start a new business) hoặc tạo ra một liên doanh (new venture creation), hoặc tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) Một khía cạnh khác, KSKD được định nghĩa là tự làm chủ, tự kinh doanh (self-employment) Trên giác độ nghiên cứu khác nhau, thì KSKD được gắn với các thuật ngữ khác nhau KSKD thường gắn với 2 thuật ngữ tương ứng với hai hướng nghiên cứu như sau:
- KSKD là một sự lựa chọn nghề nghiệp (self-employment) Theo hướng nghiên cứu này KSKD là một sự lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc kinh doanh của mình và thuê người khác làm công cho mình
- Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, khởi sự kinh doanh gắn với thuật ngữ
“entrepreneurship – tinh thần kinh doanh” các nghiên cứu trong lĩnh vực này được nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau Jennings (1994) định nghĩa KSKD bao gồm bất kỳ nỗ lực nào của con người để thử một cái gì đó mới Các định nghĩa về KSKD của Schumpeter (1961) và Kirzner (1973, 1979) chú trọng đến sự đổi mới, xác định cơ hội, tạo ra sự giàu có, tăng trưởng cho nền kinh tế Phù hợp với ý tưởng KD của Schumpeter và Kirzner, Murray (1938) cũng mô tả KSKD là một quá trình năng động được tạo ra và quản lý bởi một cá nhân
Vanderwerf và Brush (1989) trong việc xem xét 25 định nghĩa về KSKD cho thấy rằng KSKD đã được định nghĩa là một hoạt động KD bao gồm một số hành vi con người sau đây: thứ nhất là sáng tạo, đó là việc thành lập một DN mới; thứ hai là quản lý chung, đó là hướng quản lý hoặc phân bổ NL cho một DN; thứ ba là đổi mới,
đó là việc khai thác thương mại một số sản phẩm, quy trình, thị trường, vật liệu hoặc tổ chức mới; thứ tư là sự chấp nhận rủi ro cao không phổ biến từ những mất mát tiềm tàng hoặc thất bại của một DN; và thứ năm là ý định thực hiện, đó là ý định nhận ra
Trang 21mức tăng trưởng cao và/ hoặc lợi nhuận thông qua tạo lập một DN
Hai khái niệm tự tạo việc làm và tinh thần kinh doanh có sự khác biệt Tự tạo việc làm là bắt đầu bằng một công việc kinh doanh tự làm và không làm thuê cho ai Tinh thần kinh doanh là tạo ra một DN nhưng có thể vẫn đi làm cho một tổ chức khác Khái niệm KSKD trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm với nghĩa tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) đó là tạo ra DN mới, sử dụng NL, sản xuất kinh doanh với mục tiêu lợi nhận/tăng trưởng
Từ những nghiên cứu trên về định nghĩa KSKD, trong phạm vi luận án này thuật ngữ KSKD được định nghĩa là một hành động sáng tạo của con người KSKD bắt đầu bằng cách tìm kiếm NL và phương tiện tài chính cá nhân để bắt đầu thành lập và vận hành một DN mới. KSKD là một quá trình sáng tạo đòi hỏi phải xác định và nắm bắt được
cơ hội KD, tổ chức các NL hiện có để chuyển đổi những cơ hội đó thành sản phẩm hoặc dịch vụ và bán ra thị trường Qua thời gian, nỗ lực và tài chính, KSKD làm tăng giá trị, kỹ năng cá nhân và lợi ích của xã hội (XH)
1.1.1.2 Doanh nhân - Người KSKD (Entrepreneur)
Schumpeter (1954) cho rằng doanh nhân là người sáng tạo Ông lập luận rằng doanh nhân là người tạo ra sự đổi mới, tạo ra sự phát triển thực sự trong nền kinh tế Schumpeter là người chú ý nhiều nhất đến doanh nhân sáng tạo Sự đổi mới ở những doanh nhân làm cho nền kinh tế phát triển Vì vậy doanh nhân là những người đóng góp hơn so với những người khác vào nền kinh tế nhờ sự đổi mới và thực hiện các kết hợp mới Sự đổi mới này có thể là tạo ra một sản phẩm mới, một phương pháp sản xuất mới, nắm bắt nguồn cung cấp mới hoặc một tổ chức công nghiệp mới Wennekers
và Thurik (1999) nhận định những doanh nhân theo quan điểm Schumpeter chủ yếu sở hữu và điều hành DN nhỏ
Kirzner (1979), miêu tả các doanh nhân người Áo như một chuyên gia phân tích, xác định cơ hội và tìm kiếm lợi nhuận Kirzner cho rằng kiến thức phân bổ không đều giữa các các doanh nhân, và kết quả là thị trường sử dụng NL không hoàn hảo Sự không phù hợp về kiến thức, thông tin và những khoảng trống mà những người khác chưa nhận thức và khai thác trong hoạt động KD đã biến hành những cơ hội lợi nhuận cho những cá nhân có kiến thức đặc biệt và độc đáo về sự khác biệt của thị trường Theo Kirzner, các doanh nhân là những người trong nền kinh tế khai thác những cơ hội lợi nhuận này Vì vậy doanh nhân là những người nhận ra các cơ hội mang lại lợi
nhuận từ những thay đổi không lường trước và thực hiện KSKD
Nhiều nhà nghiên cứu đã đầu tư thời gian và nỗ lực để tạo ra một bức tranh rõ nét
Trang 22về đặc điểm và vai trò của doanh nhân Một số đặc điểm của doanh nhân được xuất hiện trong các nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, doanh nhân là người chấp nhận rủi ro Cantillon (1755) (trích dẫn Murphy, 1989) nhấn mạnh tầm quan trọng của doanh nhân như là một chuyên gia phân tích, người thực hiện tất cả các trao đổi và chịu rủi ro do mua ở một số mức giá nhất định và bán ở những nơi không chắc chắn Theo Cantillon, doanh nhân là người thông thái, thông minh
và sẵn sàng chấp nhận rủi ro Các nhà nghiên cứu của Mỹ, Carland và Stewart (1996) cho thấy xu hướng giảm rủi ro vẫn là một khía cạnh quan trọng của tâm lý doanh nhân, và cho rằng chấp nhận rủi ro là một yếu tố cơ bản trong hoạt động KD
Thứ hai, doanh nhân là người sáng tạo Quan điểm của Schumpeter về đổi mới
KD bắt nguồn từ các lý thuyết cổ điển của các nhà kinh tế như Say và Marshall Trong các nghiên cứu khác, đổi mới vẫn là một đặc điểm chức năng được xác định thường xuyên của các doanh nhân (Brockhaus, 1982; Gartner, 1990, McClelland, 1961; Timmons, 1978) Timmons (1978) cho rằng sự sáng tạo và đổi mới là những điều kiện vốn có của doanh nhân
Thứ ba, doanh nhân là những người có nhu cầu thành tích cao Nhu cầu thành tích cao là một đặc điểm phổ biến khác đã được xác định để mô tả doanh nhân (McClelland, 1961) McClelland (1961) kết luận rằng nhu cầu thành tích cao sẽ ảnh hưởng đến việc tự lựa chọn một vị trí KD Nhiều nghiên cứu tiếp theo đã cho thấy mối quan hệ tích cực giữa nhu cầu thành tích cao và KSKD (Begley và Boyd, 1986; Davidsson, 1989) Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho thấy nhu cầu thành tích không phải là biến số quan trọng nhất để dự đoán khả năng KSKD (Hull và cộng sự,1980)
Thứ tư, doanh nhân là những cá nhân tạo nên sự khác biệt (Baron và Shane, 2005; Birley and Muzyka, 2000) Họ biến đổi một ý tưởng đơn giản, không rõ ràng thành một hoạt động KD Họ có những cách riêng để đối phó với những cơ hội, những trở ngại và không chắc chắn để tạo ra các sản phẩm mới, dịch vụ mới, các tổ chức mới
và những cách thức mới để thỏa mãn KH và làm tăng giá trị (Birley và Muzyka, 2000) Doanh nhân tiếp thu và sử dụng các NL để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng được KH và thị trường Giá trị được tạo ra thông qua quá trình chuyển đổi Doanh nhân biến những ý tưởng của các nhà phát minh thành những sản phẩm thực tế để đáp ứng nhu cầu thị trường Điều mà các nhà phát minh không thể thực hiện
Thứ năm, Doanh nhân là những cá nhân kết nối với nhau theo một mạng lưới (Zimmerer và Scarborough, 2005) được gọi là mạng lưới XH Hạn chế về NL, đặc biệt
là nguồn tài chính tạo cho doanh nhân sử dụng mạng lưới XH để có được thông tin, sự
Trang 23ưu đãi, thỏa thuận và hành động Mạng lưới XH giúp họ có sự hỗ trợ NL cho hoạt động KD Bên cạnh đó, mạng lưới XH giúp họ có được sự ủng hộ và tư vấn để có sự lựa chọn cơ hội đúng
Nhận thức về doanh nhân là tạo ra và phát triển một DN mới và thành công Doanh nhân là nhân tố trung tâm của quá trình KSKD Quá trình KSKD của doanh nhân là quá trình năng động, xuất phát từ ý chí của doanh nhân để nhận biết cơ hội,
chấp nhận rủi ro, tạo giá trị thông qua việc phân bổ các kỹ năng và NL cần thiết Như
vậy, doanh nhân là người nhận ra cơ hội, có khả năng sáng tạo và các kỹ năng thực tiễn để biến cơ hội thành hoạt động KD thông qua thành lập DN mới thành công
1.1.2 Các hướng nghiên cứu KSKD của doanh nhân
Với ý nghĩa KSKD là cần thiết đối với tăng trưởng kinh tế, ngày nay có rất nhiều nghiên cứu về KSKD với các mục tiêu và hướng nghiên cứu khác nhau Có thể tổng hợp các nghiên cứu KSKD của doanh nhân qua các giai đoạn của quá trình KSKD gồm các giai đoạn sau: dự định KSKD, quyết định KSKD và KSKD thành công
- Các nghiên cứu về dự định KSKD của doanh nhân
Các nghiên cứu về dự định KSKD của doanh nhân giải thích các nhân tố tác động đến ý định KSKD Các nghiên cứu này tập trung giải thích các nhân tố tác động tới nhận thức và nảy sinh ý định KSKD của một cá nhân Các mô hình nghiên cứu về ý định KSKD được ứng dụng từ mô hình hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) – TPB
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch cho rằng hành vi của con người là kết quả của dự định thực hiện hành vi và khả năng kiểm soát của họ Mô hình đề xuất 3 nhân tố tác động tới dự định KSKD là chuẩn mực xã hội, thái độ đối với hành vi và cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi (Hình 1.1)
Hình 1.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB
(Nguồn: Ajzen ,1991)
Sau đó, nhiều mô hình nghiên cứu về dự định KSKD được công bố nhằm hoàn
Thái độ đối với hành vi
Chuẩn mực xã hội
Cảm nhận về khả năng
kiểm soát hành vi
Dự định KSKD Hành vi KSKD
Trang 24thiện và giải thích đầy đủ hơn các nhân tố tác động đến dự định KSKD của doanh nhân Mô hình KSKD của Shapero và Sokol (1982) đề xuất 3 nhân tố tác động đến ý định KSKD là nhận thức về tính khả thi, khuynh hướng hành động, và nhận thức mong muốn Mô hình tiềm năng KSKD của Krueger và Brazeal (1994), được phát triển từ
mô hình về sự kiện KSKD của Shapero và Sokol (1982), cho rằng một cá nhân có mong muốn KSKD và có cảm nhận về tính khả thi KSKD thì sẽ có tiềm năng KSKD,
sự kiện chuyển đổi thì tiềm năng KSKD sẽ thúc đẩy cá nhân có ý định KSKD
Các mô hình này được ứng dụng để giải thích ý định của một cá nhân về KSKD
Ý định KSKD được sự hình thành từ nhận thức cá nhân Nhận thức được hình thành trên nền tảng về các yếu tố về văn hóa, ảnh hưởng bởi giáo dục và truyền thống gia đình Điều này lý giải tại sao một quốc gia lại có nhiều người KSKD hơn so với quốc gia khác
- Các nghiên cứu về quyết định KSKD của doanh nhân
Các nghiên cứu về quyết định KSKD của doanh nhân tập trung giải thích lý do tại sao một cá nhân quyết định trở thành doanh nhân Nghiên cứu về quyết định KSKD của doanh nhân khác nhau dựa trên các tiếp cận của các nhà nghiên cứu Gartner (1990) cho rằng các cá nhân KSKD dựa trên tầm nhìn, mục đích và động lực của họ, chịu ảnh hưởng của môi trường Schick, Marxen, & Freiman (2002) cho rằng khi cá nhân có một ý tưởng KD để được theo đuổi, cá nhân này sẽ nỗ lực để đạt được sự thành công
Một trong những lý thuyết điển hình được các nhà nghiên cứu sử dụng để xác định các lý do KSKD của doanh nhân là lý thuyết “kéo – đẩy” (Brush, 1990; Moore và Buttner, 1997; Buame, 2000) Lý do KSKD của doanh nhân được chia làm hai nhóm yếu tố: yếu tố “kéo” và yếu tố “đẩy”
Yếu tố “kéo” là các yếu tố nội tại tác động đến KSKD của doanh nhân Các yếu
tố kéo liên quan đến nhu cầu độc lập, nhu cầu thành tựu, lý do tài chính (mong muốn
sự giàu có-lợi nhuận) phát triển cá nhân, tự hoàn thành, địa vị XH và quyền lực (Hansemark, 1998; Glancey, 1998), hoặc các yếu tố "kéo", như mong muốn trở thành ông chủ của chính mình, tăng sự giàu có, thay đổi lối sống hoặc sử dụng kinh nghiệm
và kiến thức của mình (Birley và Westhead, 1994; Burke và cộng sự, 2002 ) Hoạt động KSKD được thúc đẩy thông qua các yếu tố “kéo” được gọi là KSKD cơ hội
Yếu tố “đẩy” xuất phát từ hoàn cảnh buộc cá nhân KSKD như là một nhu cầu cần thiết Các yếu tố “đẩy” bao gồm: công việc có thu nhập thấp và ít có tương lai, mong muốn thoát khỏi sự giám sát (Moore và Buttner, 1997), thất nghiệp, trần thủy
Trang 25tinh, sự không hài lòng với công việc hiện tại, sự linh hoạt … (Hansemark, 1998) KSKD đối với trường hợp này gọi là KSKD bắt buộc
Một số nghiên cứu cho rằng động cơ thúc đẩy KSKD của nam doanh nhân và
nữ doanh nhân là khác nhau Theo nghiên cứu của Clain (2000) và Orhan và Scott (2001), các nhân tố “đẩy” là động lực chính cho nữ doanh nhân, trong khi các nhân tố
“kéo” tạo thành động lực cho nam doanh nhân Tuy nhiên, nghiên cứu Kirkwood (2009) được thực hiện ở New Zealand lại cho rằng quyết định của nam doanh nhân và
nữ doanh KSKD bị ảnh hưởng bởi cả yếu tố “kéo” và “đẩy” Nghiên cứu của Hisrich
và Brush (1985) đã khảo sát nữ doanh nhân và lý do chính là các yếu tố "đẩy" như sự thất vọng và chán nản trong công việc trước và yếu tố “kéo” như sự độc lập là động cơ dẫn tới KSKD của họ
Như vậy, nghiên cứu KSKD của doanh nhân cũng không đạt được sự thống nhất về lý do doanh nhân quyết định KSKD Nghiên cứu ở các nước đang phát triển, lý
do KSKD thông thường xuất phát từ yếu tố “đẩy” trong khi nghiên cứu ở các nước phát triển là các yếu tố “kéo” Nghiên cứu về KSKD được đặc trưng bởi bối cảnh nghiên cứu khác nhau thì các kết quả nghiên cứu khác nhau Bối cảnh nghiên cứu vẫn
là khoảng trống cho các nghiên cứu về KSKD tiếp theo
- Các nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân
Trong khi các nghiên cứu về ý định KSKD và quyết định KSKD nhấn mạnh sự khác biệt về đối tượng và bối cảnh nghiên cứu thì nghiên cứu KSKD thành công cũng
có kết luận tương tự Nhiều nghiên cứu tập trung xác định định nghĩa về KSKD thành công nhưng không đạt được sự thống nhất Qua tìm hiểu tài liệu về KSKD thành công, tác giả nhận thấy chưa có một mô hình chung và thống nhất được sử dụng trong nghiên cứu KSKD thành công của doanh nhân Hơn nữa, nhiều nghiên cứu cũng tập trung vào giải thích các nhân tố tác động đến KSKD thành công của doanh nhân cũng khẳng định kết quả khác nhau ở đối tượng doanh nhân khác nhau hoạt động ở bối cảnh nghiên cứu khác nhau Đây là khoảng trống nghiên cứu về bối cảnh để tiếp tục nghiên cứu về KSKD thành công ở các nước khác nhau, đối tượng doanh nhân khác nhau Vì vậy tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân Tổng quan nghiên cứu về KSKD thành công sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau
1.2 Tổng quan nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân
1.2.1 KSKD thành công của doanh nhân
1.2.1.1 Khái niệm KSKD thành công của doanh nhân
Trang 26Các doanh nhân thành công rất quan trọng đối với sự phát triển của XH bởi vì họ đóng góp vào việc tạo ra các cơ hội việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, vẫn chưa đạt được sự thống nhất giữa các tác giả khác nhau về định nghĩa KSKD thành công của doanh nhân, đặc biệt trong bối cảnh KD mới, do đó không có định nghĩa được chấp nhận rộng rãi (Stuart và Abetti, 1987; Foley và Green 1989; Murphy, và cộng sự 1996; Watson, Stewart và BarNir, 2003)
Black và cộng sự (2010) xác định có những nhận thức khác nhau về KSKD thành công của doanh nhân Rauch và Frese (2000) cho rằng KSKD thành công phụ thuộc vào quan điểm cá nhân McMullen và Shepherd (2006) cho rằng việc đạt được thu nhập là một dấu hiệu điển hình cho sự thành công Nhưng Alstete (2008) lại cho rằng nhiều doanh nhân không nhất thiết phải xem xét việc đạt được thu nhập là thước đo KSKD thành công của họ
Theo Hornaday và Bunker (1970), doanh nhân thành công là một cá nhân bắt đầu
KD, thành lập DN ở nơi không có hoạt động KD trước đó, và tiếp tục hoạt động trong khoảng thời gian ít nhất là 5 năm để tạo ra lợi nhuận cho DN Nghiên cứu của Paige và Littrell (2002), KSKD thành công được xác định bởi cả hai tiêu chí là nhận thức của doanh nhân về thành công và kết quả hoạt động Nhận thức của doanh nhân về thành công như: sự tự do và độc lập, kiểm soát tương lai của cá nhân, và trở thành ông chủ của riêng mình Kết quả hoạt động như: tăng thu nhập tài chính, thu nhập cá nhân Như vậy, KSKD thành công của doanh nhân được định nghĩa khác nhau ở các nghiên cứu khác nhau, tùy theo mục tiêu nghiên cứu Trong nghiên cứu của luận án,
KSKD thành công là doanh nhân thành lập và duy trì hoạt động thành công một DN
mới; đạt được mục tiêu về kết quả KD và sự hài lòng cá nhân Tức là KSKD thành công của doanh nhân được xét trên hai khía cạnh là đạt được mục tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh như duy trì hoạt động của DN và đạt được tăng trưởng về lợi nhuận, thị phần, khách hàng, số lượng nhân viên và đạt được sự hài lòng cá nhân như sự tự
do và độc lập, tự chủ, linh hoạt
1.2.1.2 Biện pháp đo lường KSKD thành công của doanh nhân
Các nghiên cứu về KSKD không đạt được sự thống nhất về khái niệm các chỉ báo
đo lường KSKD thành công (Murphy và cộng sự, 1996) Trong nghiên cứu có rất nhiều đề xuất định nghĩa về các chỉ báo đo lường KSKD thành công Sau đây là tổng hợp các nghiên cứu đo lường về KSKD thành công của doanh nhân:
- Biện pháp đo lường KSKD thành công bằng duy trì thời gian hoạt đông của DN
Gartner & Shane (1995); Reynolds & Miller (1992) giải thích KSKD thành công
Trang 27thông qua việc tập trung vào việc KSKD, chọn DN thành lập làm biến phụ thuộc Tuy nhiên thước đo này thường không giải thích được KSKD thành công lâu dài Bosma và cộng sự (2004) sử dụng khái niệm thời gian hoạt động của DN đo lường KSKD thành công Carroll (1983) nghiên cứu thực nghiệm của các DN dừng hoạt động và phát hiện
ra tỷ lệ dừng hoạt động của các DN mới tỷ lệ nghịch với sự gia tăng về năm hoạt động Các DN thường thất bại vào vài năm mới hoạt động Carroll (1983) cho rằng các DN mới thành lập thường gặp khó khăn đến từ các hoạt động bên trong DN như xác định vai trò, phát triển niềm tin và lòng trung thành từ nhân viên Và các hoạt động đến từ bên ngoài DN như đầu tư NL, tạo dựng, ổn định nhà cung cấp và mối quan hệ với KH Kalleberg và Leitch (1991) cho rằng nếu như DN mới hoạt động vượt qua được một số năm nhất định thì khó khăn này không còn là vấn đề mà DN phải đối mặt
Nhiều nghiên cứu đề xuất số năm để đảm bảo DN mới có thể tồn tại trên thị trường Các nghiên cứu khác nhau thì đề xuất về số năm cũng khác nhau Ví dụ: Phillips
và Kirchohoff (1989) đề xuất là 6 năm, Cooper và cộng sự (1988) đề xuất là 3 năm, Littunen (2000) cho rằng các DN mới đạt được sự cân bằng trong thay đổi và tồn tại từ 4-6 năm không phân biệt địa phương, Levie và Autio (2011) tổng hợp tỷ lệ tồn tại của
DN sử dụng bởi OECD chỉ ra rằng thời gian 5 năm sống sót cho các DN mới Năm năm tồn tại của thị trường được xác định cũng phù hợp với khái niệm lịch sử rằng một số doanh nghiệp mất 5 năm để có lãi (Hornaday & Bunker, 1970; Harada 2003)
Sử dụng chỉ báo về duy trì thời gian hoạt động của DN có hạn chế là mặc dù nhiều DN mới tồn tại, một số DN có thể không đạt được kết quả tài chính phù hợp với mục tiêu của doanh nhân, chẳng hạn như tăng thu nhập và giá trị tài sản ròng của doanh nhân Các nghiên cứu của Bosma và cộng sự (2004) lưu ý rằng yếu tố quyết định sống còn của DN không giống các yếu tố liên quan đến khả năng sinh lời, một chỉ báo có thể được sử dụng thay thế đo lường thành công trong KSKD Vì vậy chỉ báo về duy trì thời gian hoạt động để đo lường KSKD thành công thường không vững, cần đo lường bằng các chỉ báo về kết quả hoạt động KD
- Biện pháp đo lường KSKD thành công bằng hiệu suất hoạt động của DN
Hiệu suất hoạt động (Performance) sử dụng để đánh giá thành công của DN
thường khác nhau trong các nghiên cứu về KSKD thành công Hiệu suất hoạt động có
thể được định nghĩa là khả năng của DN để tạo ra các kết quả KD đạt mục tiêu đặt ra.
Brush và Vanderwerf (1992) đã tiến hành xem xét 136 bài báo về biện pháp xác định hiệu suất hoạt động để đánh giá thành công của DN mới Các chỉ tiêu được sử dụng phổ biến để đánh giá KSKD thành công là những thay đổi trong bán hàng, DN hoạt động liên tục (không bị gián đoạn), thay đổi về số lượng nhân viên và lợi nhuận sau
Trang 28này được hiểu là lợi tức đầu tư và lợi nhuận ròng Murphy và cộng sự (1996) cũng có kết luận tương tự, khẳng định hiệu quả và các biện pháp tăng trưởng là những cách phổ biến nhất mà các nhà nghiên cứu sử dụng để đánh giá KSKD thành công
Qua tổng quan nghiên cứu, có hai biện pháp xác định hiệu suất hoạt động, đó là biện pháp đánh giá sử dụng chỉ số tài chính – phi tài chính hoặc biện pháp đánh giá hiệu suất khách quan – chủ quan
+ Biện pháp đánh giá sử dụng chỉ số tài chính – phi tài chính (financial and
non-financial performance). Nghiên cứu Begley & Boyd (1987), Gatewood và cộng sự (1995) xác định hiệu suất hoạt động qua các chỉ số tài chính liên quan đến lợi tức đầu
tư, tăng trưởng doanh thu, tính nhất quán về lợi nhuận hoặc thu nhập cá nhân của doanh nhân Ngược lại, Johnson và Kaplan (1987) phê phán phép đo tài chính và cho rằng biện pháp tài chính ngắn hạn bị hạn chế bởi sự thay đổi nhanh chóng trong công nghệ và chu kỳ sống của sản phẩm Họ lập luận ủng hộ phép đo phi tài chính và đề xuất một loạt các chỉ số phi tài chính để đo lường KSKD thành công của DN, bao gồm các biện pháp tiếp thị, sản xuất, nghiên cứu và phát triển của DN
+ Biện pháp đánh giá hiệu suất khách quan và chủ quan (Subjective and objective
performance) Theo Chenhall & Langfield-Smith (2003), biện pháp hiệu suất khách quan đo lường kết quả khách quan liên quan đến các phép đo tài chính và phi tài chính Reid và Smith (2000) cho rằng biện pháp hiệu suất chủ quan là biện pháp đo lường thành công thông qua việc so sánh với DN Họ cũng phê phán rằng việc so sánh này là khá khó khăn đối với các DN mới Cooper và Artz (1995) xác định đo lường hiệu suất chủ quan thông qua thành công cá nhân đo lường bằng sự hài lòng của doanh nhân Họ cho rằng sự hài lòng của doanh nhân quan trọng đối với quyết định đầu tư và tiếp tục
KD của doanh nhân Reijonen (2008) đo lường hiệu suất chủ quan là hài lòng cá nhân, niềm tự hào trong công việc, thành tích cá nhân và tính linh hoạt trong lối sống Naman và Slevin (1993) khuyên các nhà nghiên cứu sử dụng kết hợp biện pháp khách quan và chủ quan khi đo hiệu quả hoạt động của DN mới
Qua phân tích ở trên, các biện pháp đo lường về KSKD thành công được các nghiên cứu xác định không có sự thống nhất Vì vậy nghiên cứu về KSKD thành công vẫn là lĩnh vực tranh luận và cần nghiên cứu ở các đối tượng doanh nhân khác nhau, quy mô DN khác nhau và bối cảnh nghiên cứu khác nhau Đặc biệt ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển, nơi mà diễn ra KSKD rất mạnh mẽ của doanh nhân trong thời gian gần đây
1.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân
Trang 29Nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân được xác định là không thống nhất trong lý thuyết nghiên cứu Có nhiều lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân, tùy theo mục tiêu nghiên cứu Một số lý thuyết thường được các nhà nghiên cứu áp dụng trong nghiên cứu là: lý thuyết tâm lý, lý thuyết NL cơ bản, lý thuyết vốn XH, lý thuyết môi trường KSKD, Mỗi lý thuyết nghiên cứu xác định số lượng các nhân tố tác động đến KSKD thành công của doanh nhân Nghiên cứu về KSKD thành công có thể kết hợp các lý thuyết để xác định bức tranh toàn cảnh về KSKD thành công của doanh nhân Sau đây là tổng quan các lý thuyết nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân:
1.2.2.1 Lý thuyết tâm lý
Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực KD tập trung tìm hiểu các doanh nhân thành công bằng cách mô tả đặc điểm cá nhân của họ Theo lý thuyết này, một số nhà tâm lý học (Brockhaus 1982, Gartner 1989) đã đưa ra để xác định một hoặc tập hợp các đặc điểm tính cách có thể dự đoán doanh nhân thành công Lý thuyết này coi các đặc điểm tính cách cá nhân của doanh nhan là chìa khóa để giải thích KSKD và thành công Những đặc điểm được đề cập nhiều nhất là nhu cầu cao về thành tích, nhu cầu cao về quyền lực hoặc địa vị kiểm soát nội bộ và nhu cầu liên kết cao Brockhaus (1982) cho rằng những đặc điểm cá nhân được coi là rất quan trọng trong việc phân biệt giữa
doanh nhân và người khác
Tuy nhiên, các nghiên cứu về đặc điểm tính cách cá nhân bị phê phán bởi độ giải thích thấp Vì ngoài đặc điểm cá nhân, các cá nhân bị tác động lớn bởi yếu tố môi trường, NL đến quyết định KSKD và thành công Những đặc điểm này thường sử dụng để dự đoán một cá nhân trở thành doanh nhân Mặt khác, Theo Rauch và Frese (2000) với từng đặc điểm tính cách là nhân tố dự báo yếu cho KSKD thành công Gartner (1989) lại cho rằng không có mối tương quan nào được tìm thấy giữa đặc điểm
tính cách cá nhân và sự thành công của doanh nhân
1.2.2.2 Lý thuyết nguồn lực cơ bản (Resource-based theory)
Lý thuyết NL cơ bản liên quan đến vốn nhân lực và vốn tài chính cho quá trình KSKD và thành công Vốn nhân lực có liên quan đến trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc trước đây … Vốn tài chính liên quan tới khả năng tài chính và mức độ huy động vốn tài chính cho KSKD
- Lý thuyết vốn nhân lực (Human capital theory)
Vốn nhân lực ban đầu được phát triển để ước tính phân bổ thu nhập của nhân viên từ các khoản đầu tư của họ vào vốn nhân lực (Becker, 1964; Mincer, 1958) Lý
Trang 30thuyết vốn nhân lực đã được các nhà nghiên cứu KSKD chấp nhận và vận dụng nhiều trong các mô hình nghiên cứu dự đoán về KSKD thành công của doanh nhân Các nhà nghiên cứu trước đã sử dụng nhiều nhân tố biểu thị nguồn nhân lực như giáo dục chính quy, đào tạo, kinh nghiệm làm việc, bắt đầu trải nghiệm, kinh nghiệm của doanh nhân, nền tảng, kỹ năng, kiến thức và các yếu tố khác khác
Các tài liệu nghiên cứu trước về KSKD cũng có những bất đồng về cách thức vốn
nhân lực tác động đến KSKD thành công Thứ nhất, vốn nhân lực làm tăng khả năng
của doanh nhân trong việc phám phá và khai thác các cơ hội KD (Shane và Venkatraman, 2000) Ví dụ, kiến thức được đào tạo làm tăng sự cảnh giác của doanh nhân (Westhead và cộng sự, 2005) chuẩn bị cho họ khám phá những cơ hội cụ thể mà những người khác không thể nhìn thấy (Shane, 2000; Venkatraman, 1997) Ngoài ra, vốn nhân lực ảnh hưởng đến phương pháp tiếp cận của doanh nhân đối với việc khai
thác các cơ hội (Chandler và Hanks, 1994; Shane, 2000) Thứ hai, vốn nhân lực có liên
quan tích cực đến chiến lược lập kế hoạch và mạo hiểm, từ đó tác động tích cực đến
KSKD thành công (Baum và cộng sự, 2001; Frese và cộng sự, 2007) Thứ ba, kiến
thức là hữu ích để có được các NL khác như vốn tài chính và vật chất (Brush và cộng
sự, 2001) và có thể bù đắp một phần sự thiếu hụt tài chính Cuối cùng, vốn nhân lực là
điều kiện tiên quyết để tiếp tục học tập và hỗ trợ trong việc tích lũy kiến thức và kỹ năng mới (Ackerman và Humphreys, 1990; Hunter, 1986) Kết hợp với nhau, các doanh nhân có vốn nhân lực cao hơn nên hiệu quả hơn trong việc điều hành DN so với doanh nhân có vốn nhân lực thấp hơn
- Lý thuyết vốn tài chính (Financial capital theory)
Một loại nguồn lực quan trọng cần thiết cho quá trình KSKD thành công là vốn tài chính Theo Bygrave (1992), vốn tài chính bao gồm tiền mặt và tài sản của của DN Đạt được vốn tài chính cần thiết để bắt đầu KSKD nhìn chung được coi là một trong những vấn đề chính của các doanh nhân Vốn tài chính huy động đến từ nhiều nguồn, bao gồm tiết kiệm cá nhân, ngân hàng, chương trình của chính phủ, quỹ đầu tư mạo hiểm và các nguồn khác Các nguồn tài chính của doanh nhân có thể xác định như nguồn tài chính chính thức, nguồn tài chính bán chính thức, nguồn tài chính phi chính thức và nguồn tài trợ của chính phủ
Nguồn tài chính chính thức là nguồn tài chính được xác định từ các NHTM Theo Satta (2004) ở các nước đang phát triển các NHTM hạn chế cung cấp các khoản tài chính nhỏ Các NHTM đưa ra các quy định về giới hạn cho vay, phân loại các khoản vay không đảm bảo và các quy định về tài sản thế chấp đối với các khoản vay nhỏ của các DNNVV Điều này làm tăng chi phí cho các NHTM đối với các khoản tài chính
Trang 31nhỏ Bên cạnh đó do thông tin bất đối xứng trên thị trường tài chính đặt lợi thế cho người đi vay buộc các NHTM phải tăng chi phí để theo dõi hiệu qủa hoạt động của các
Nguồn tài chính phi chính thức đến từ các nhà tài chính tiềm năng gần nhất với
DN như người sáng lập, gia đình và bạn bè (Levie và Lerner, 2009) Ngoài ra nguồn tài chính phi chính thức bao gồm các nhà đầu tư không chính thức và tư nhân cung cấp vốn mà không chịu sự kiểm soát trực tiếp từ chính phủ Những nguồn vốn tiềm năng này không phải là duy nhất cho các nước đang phát triển, mà là phổ biến cho các DN nhỏ trên toàn thế giới
Trợ cấp của chính phủ và các loại hỗ trợ công cộng khác cũng có thể hoạt động như một nguồn tài chính cho các doanh nhân Trợ cấp này là các khoản vay hoặc các phương tiện tài chính khác Hiểu theo một cách khác, nguồn tài trợ này có thể coi là nguồn vốn chính thức vì nó liên quan đến các dịch vụ tài chính được cung cấp trong sự kiểm soát trực tiếp của các cơ quan nhà nước (Callier, 1989) Đồng thời hình thức tài chính này tồn tại ở một thị trường tài chính, nơi mà các khoản vay của chính phủ thường được cung cấp với lãi suất thấp và điều kiện tốt hơn so với các NHTM (Winborg và Lanstrom, 2000)
Nguồn tài chính có ảnh hưởng gián tiếp và trực tiếp đến KSKD thành công (Cooper và cộng sự, 1994) Tác động trực tiếp của nó bao gồm khả năng thực hiện nhiều chiến lược đầy tham vọng và đáp ứng nhu cầu tài trợ Về tác động gián tiếp, việc tích lũy vốn tài chính có thể dẫn đến đào tạo tốt hơn và lập kế hoạch rộng hơn, có tác động tích cực đến thành công Một số nghiên cứu đã nhận định rằng thiếu hụt vốn tài chính có thể là rào cản chính đối với sự thành công của DN nhỏ Điều này giải thích tại sao các DN nhỏ thường quan tâm nhiều hơn đến việc tiếp cận vốn hơn bất kỳ vấn đề
KD nào khác (Orser, 2000) Các DN này ít có khả năng có các NL tài chính cần thiết
để giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ mới có khả năng sinh lời hoặc mở rộng sang các thị trường mới
1.2.2.3 Lý thuyết vốn xã hội (Social capital theory)
Lý thuyết vốn XH rất chú trọng đến các mối quan hệ giữa các cá nhân bởi vì các
Trang 32mối quan hệ này cung cấp cho các cá nhân quyền truy cập vào các các đầu mối NL bên ngoài được gắn trong mối quan hệ này (Burt, 1997) Các NL này có thể tạo ra các tài sản khác biệt và tăng cường lợi thế trong KD Vốn XH của doanh nhân được định nghĩa là giá trị được gắn với mạng lưới XH của họ hoặc mối quan hệ với những doanh nhân khác (Adler và Kwon, 2002; Gedajlovic và cộng sự, 2013) Vốn XH bao gồm mạng lưới XH và các NL có thể huy động được thông qua đó
Mạng lưới XH thường được định nghĩa là mối quan hệ giữa các tác nhân khác nhau (Aldrich & Zimmer, 1986; Ireland và cộng sự, 2001) Các tác nhân trong mạng lưới XH có thể là cá nhân, nhóm người, hoặc tổ chức Mạng lưới XH gồm có mạng lưới XH của cá nhân và mạng lưới XH của tổ chức Mạng lưới XH cá nhân được định nghĩa là quản lý các mối quan hệ hoặc liên minh mà cá nhân có với những người khác trong XH (Dubini & Aldrich, 1991; Aldrich & Zimmer, 1986) Mạng lưới XH tổ chức
là sự sắp xếp tự nguyện giữa hai hoặc nhiều DN đến trao đổi lâu dài và chia sẻ hoặc phát triển các sản phẩm và công nghệ mới (Groen, 2005) Hakansson và Snehota (1995) đã phát triển một mô hình mạng lưới XH bao gồm mối quan hệ giữa các doanh nhân, hoạt động và NL xác định trong mạng lưới KD Trong thực tiễn KD, các mạng lưới XH có thể có các hình thức khác nhau, bao gồm các liên minh chiến lược, liên doanh, tổ chức cấp phép, hợp đồng thầu phụ, R & D chung và các hoạt động tiếp thị chung (Groen, 2005) Theo lý thuyết mạng lưới XH, các quyết định của doanh nhân bị ảnh hưởng và cho phép bởi mạng lưới XH của họ có được theo thời gian (Aldrich và Zimmer, 1986; Hoàng và Antoncic, 2003)
Các NL được tạo ra bởi mạng lưới XH bao gồm thông tin, kiến thức, sự tin cậy, xuất phát từ những mối quan hệ XH (Adler và Kwon, 2002) Theo Putnam (1993), các mạng lưới XH được cung cấp bởi các mối quan hệ gia đình hoặc cộng đồng có khả năng tăng cường tác động của giáo dục, kinh nghiệm và vốn tài chính Điều này dẫn đến thực tế các DN tham gia vào các hoạt động KSKD sẽ tham gia vào các mạng lưới
XH (Aldrich và Zimmer 1986)
Tác động của vốn XH đến KSKD thành công được xác định bởi bốn khía cạnh
Thứ nhất, các mạng lưới XH cung cấp cho các doanh nhân tiếp cận với nhiều nguồn tài
nguyên khan hiếm (Zimmer và Aldrich, 1987) Thứ hai, mạng lưới XH cung cấp cho
các doanh nhân tiếp cận với các nguồn tài nguyên vô hình như uy tín và năng lực
(Bosma và cộng sự, 2004) Thứ ba, vì các doanh nhân bị hạn chế về khả năng phân tích,
xử lý và sử dụng thông tin cho quá trình ra quyết định, họ phải dựa vào các liên hệ bên ngoài thường xuyên, đặc biệt với các nhà phân phối, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và
tổ chức khách hàng để có được thông tin và tư vấn cần thiết (Birley, 1985) Thứ tư, các
Trang 33mạng lưới XH có hiệu ứng dấu hiệu và danh tiếng; những nhận thức tích cực về việc tham gia một mạng lưới XH có thể dẫn đến các trao đổi KD chuyên nghiệp (Stuart và cộng sự, 1999)
1.2.2.4 Lý thuyết về môi trường KSKD
Xác định môi trường KSKD là bước quan trọng để khám phá tác động của môi trường đối với các hoạt động KSKD (Dess và cộng sự, 1997), các nhà nghiên cứu đã dành nhiều nỗ lực trong việc đưa ra một định nghĩa môi trường KSKD rõ ràng Gartner
và Shane (1995) lập luận môi trường KSKD bao gồm các NL sẵn có, các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu gần đó, can thiệp của chính phủ và thái độ của mọi người đối với các hoạt động KSKD
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau của môi trường KSKD đến KSKD Wennekers và cộng sự (2002) lập luận rằng công nghệ, mức độ phát triển kinh tế, văn hóa và các thể chế đều làm tăng nhu cầu KSKD bằng cách tạo ra các cơ hội sẵn có cho KSKD Beck và Demirguc-Kunt (2006) lập luận rằng để KSKD phát triển, điều quan trọng là phải tăng cường môi trường KSKD Những thay đổi trong môi trường KSKD có tác động tiêu cực hoặc tích cực đến sự tăng trưởng hoặc thất bại của các DN nhỏ (Ahmad và cộng sự, 2010)
Lý thuyết môi trường KSKD giải thích sự tác động của môi trường tới sự phát triển KSKD của một quốc gia hoặc một khu vực hơn là giải thích KSKD thành công Nhiều nghiên cứu tập trung vào giải thích mối quan hệ giữa môi trường KSKD và KSKD thành công thông qua sự tác động vào các nhân tố thành công của DN Một số nghiên cứu đưa ra giả thiết về mối quan hệ giữa môi trường KSKD và KSKD thành công tuy nhiên không có dấu hiệu về mối quan hệ
Tóm lại, Có nhiều lý thuyết nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân, mỗi lý thuyết sẽ giải thích một số yếu tố tác động đến KSKD thành công của doanh nhân Sự giải thích về các yếu tố tác động KSKD thành công từ các lý thuyết nghiên cứu cũng gặp phải nhiều bất đồng về kết quả nghiên cứu ở các bối cảnh nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu khác nhau Kết quả nghiên cứu ở đối tượng và bối cảnh nghiên cứu này không thể áp dụng cho một đối tượng và bối cảnh nghiên cứu khác
Ở các nước chuyển đổi và đang phát triển, hoạt động KSKD của doanh nhân phát triển rất mạnh mẽ Đặc biệt là sự phát triển của các nữ doanh nhân trong những năm gần đây Có nhận định rằng, hiểu biết về nữ doanh nhân ở các nước đang phát triển còn nhiều hạn chế Vì vậy hướng nghiên cứu về nữ doanh nhân nhằm tìm hiểu rõ hơn các nhân tố thành công của họ cũng là xu hướng ngày này Từ nhận thức trên tác giả
Trang 34lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam
1.3 Tổng quan nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân
1.3.1 KSKD của nữ doanh nhân
- Nữ doanh nhân
Sự phát triển của các nữ doanh nhân là một phần của những thay đổi XH đã và đang xảy ra trên toàn thế giới vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI Về mặt nhân khẩu học, khi số lượng nữ trong lực lượng lao động tăng lên, số lượng nữ hoạt động
KD cũng tăng lên Tăng sự độc lập cho nữ, kết hôn muộn, giảm sinh con, tăng trình độ học vấn và mong muốn độc lập tài chính tăng lên đều góp phần vào sự phát triển các
DN của nữ doanh nhân (Fielden và Davidson 2005) KD là một con đường sự nghiệp được chấp nhận cho nữ; thậm chí KD còn được ưa chuộng ở một mức độ nào đó vì được coi là có khả năng mang lại sự linh hoạt và độc lập mà việc làm thông thường không có
Tuy nhiên không phải phụ nữ KD nào cũng được gọi là nữ doanh nhân Khái niệm về nữ doanh nhân được định nghĩa khác nhau đối với các nghiên cứu trên thế giới Buttner và Moore (1997) định nghĩa nữ doanh nhân là "một người phụ nữ đã KSKD, tích cực tham gia quản lý, sở hữu ít nhất 50% DN, và rằng công việc KD đã hoạt động một năm hoặc lâu hơn" Sharma (2013) định nghĩa nữ doanh nhân là "phụ
nữ hoặc một nhóm phụ nữ thành lập, tổ chức và điều hành một DN kinh doanh " Từ
các quan điểm trên, nữ KSKD được gọi là nữ doanh nhân khi họ thực hiện KSKD tức
là họ thành lập và vận hành một DN mới Về cơ bản, hoạt động này liên quan đến việc nhận diện cơ hội, huy động NL để phát triển một DN mới, tiếp tục hoạt động tạo ra sự tăng trưởng và phát triển thành công các DN này
- Lý do KSKD của nữ doanh nhân
Nhiều nghiên cứu tập trung giải thích về KSKD của nữ doanh nhân Sở hữu KD độc lập dường như là phù hợp cho nữ doanh nhân muốn có cả sự nghiệp và gia đình
Nữ doanh nhân tìm kiếm KSKD với mong muốn: linh hoạt và tự chủ, sự hài lòng và phát triển bản thân, thu nhập và uy tín (Scott, 1986; Orhan và Scott, 2001) Giống như nam doanh nhân, một số nữ doanh nhân bắt đầu KD vì một ý tưởng hoặc đổi mới Nữ doanh nhân lựa chọn để bắt đầu KD riêng của họ vì những kinh nghiệm làm việc mà
đã không hài lòng với công việc hiện tại Nhiều nữ doanh nhân trước khi KSKD đã thất vọng với các môi trường làm việc khắt khe và không linh hoạt (Hewlett, 2002), không đạt được vị trí quản lý cao hơn vì quan niệm XH về nữ giới hoặc niềm tin rằng
Trang 35làm việc ở các DN lớn sẽ không đáp ứng được các tình huống cá nhân hoặc đạt được mục tiêu nghề nghiệp của họ (Moore và Buttner, 1997) Cũng có lý do KSKD của nữ doanh nhân là kết quả của việc thất nghiệp, từ việc sa thải Hoặc nữ doanh nhân KSKD xuất phát KD như là một phần của gia đình mà họ phải chịu trách nhiệm về một DN
mà họ không tạo ra hoặc không mong muốn tạo ra (Goffee and Scase, 1985)
Mô hình của Orhan và Scott (2001) giải thích lý do KSKD của nữ doanh nhân xuất phát từ yếu tố “đẩy” và yếu tố “kéo” Sự phân loại các lý do KSKD của nữ doanh nhân bắt nguồn từ đặc điểm văn hóa truyền thống Nếu phụ nữ sống trong nền văn hóa gắn với truyền thống của phụ nữ cao với nền tảng là sự thống trị của nam giới thì phụ
nữ quyết định trở thành doanh nhân là do truyền thống gia đình KD, hoặc sự kế thừa từ người chồng (khi người chồng mất đi) hoặc là do các yếu tố đẩy (sự cần thiết) Nếu phụ nữ sống trong nền văn hóa ít gắn bó với truyền thống của phụ nữ thì lý do trở thành doanh nhân có thể là đặc điểm tính cách doanh nhân đã tiềm ần trong nhận thức của họ hoặc do sự tiến bộ phụ nữ qua đào tạo, giáo dục mà phụ nữ thấy sự KD là cần thiết và cơ hội để trở thành doanh nhân
Nghiên cứu lý do KSKD theo lý thuyết “kéo” và “đẩy” cho thấy sự tác động từ hoàn cảnh môi trường và nhận thức cá nhân tạo ra các yếu tố thúc đẩy phụ nữ trở thành doanh nhân xét trên cả diện tích cực và tiêu cực Kết quả nghiên cứu cho thấy ở các quốc gia khác nhau, có nền văn hóa khác nhau các lý do khiến phụ nữ trở thành doanh nhân cũng khác nhau theo 3 xu hướng: Xu hướng 1: các yếu tố “đẩy” tác động phụ nữ trở thành doanh nhân (Hisrich và Brush, 1985), xu hướng 2: các yếu tố “kéo” tác động phụ nữ trở thành doanh nhân (Ismail, 2012) và xu hướng 3: là yếu tố tác động phụ
nữ trở thành doanh nhân gồm cả yếu tố kéo và yếu tố đẩy (Orhan & Scott , 2001, Baron
& Shane, 2005) Các nước có nền kinh tế phát triển và sự tiến bộ phụ nữ thì yếu tố
“kéo” tác động nhiều hơn Các nước có nền kinh tế đang phát triển và truyền thống gắn với phụ nữ nhiều thì chịu tác động từ yếu tố “đẩy” nhiều hơn
Từ những lý do khác nhau thúc đẩy KSKD của nữ doanh nhân dẫn đến mục đích
KD và quan điểm thành công của nữ doanh nhân sẽ khác nhau ở từng bối cảnh nghiên cứu Từ đó dẫn đến kết quả tác động của các nhân tố đến KSKD thành công cũng khác nhau ở các bối cảnh nghiên cứu khác nhau
1.3.1.2 Khác biệt về KSKD giữa nữ doanh nhân và nam doanh nhân
Nhiều nghiên cứu đã nhận định sự khác biệt về KSKD của nữ doanh nhân so với nam doanh nhân Sau đây là một số khác biệt tác giả tổng hợp thông qua các nghiên cứu trước đây:
Trang 36- Hành vi KSKD. Trong nghiên cứu về KSKD của nữ doanh nhân, sự khác biệt về hành vi KD của nữ doanh nhân so với nam doanh nhân được giải thích tập trung vào
hai nhóm nguyên nhân cơ bản Thứ nhất, là định hướng khác nhau của nữ và nam
trong các lĩnh vực giáo dục tạo ra sự phân biệt đối xử trong thị trường lao động Định hướng giáo dục của nữ khiến họ ít được trang bị kiến thức về công nghệ hơn KSKD của nữ doanh nhân thường tập trung vào các công việc truyền thống của nữ Ví dụ, nữ doanh nhân thường tập trung vào các ngành dịch vụ y tế, giáo dục và bán lẻ Nghiên cứu KSKD của nữ doanh nhân ở các nước EU cho thấy tỷ trọng DN trong lĩnh vực y tế
và dịch vụ XH là 60% Tỷ lệ này trong lĩnh vực xây dựng chỉ chiếm 3%, trong lĩnh vực vận tải và lưu trữ là 7% và trong lĩnh vực truyền thông và công nghệ thông tin là
19% (EC, 2014) Thứ hai, tập trung vào các động lực và tham vọng KSKD khác nhau
của nữ doanh nhân và nam doanh nhân Một số nghiên cứu nhấn mạnh sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, sự hài lòng cá nhân và đời sống gia đình như là một mô hình
KD quan trọng hơn đối với nữ doanh nhân, trong khi đối với nam doanh nhân thành công về kinh tế, tối đa hóa lợi nhuận và đổi mới có sức hút lớn hơn (Weiler & Bernasek, 2001)
- Vốn tài chính Các NL kinh tế là một yếu tố quan trọng trong sự thành công của doanh nhân và sự tồn tại của của NL cũng như khả năng vay vốn cho phép doanh nhân đầu tư hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả KD Nữ doanh nhân thận trọng hơn nam doanh nhân trong việc chấp nhận rủi ro và phân biệt hành vi của họ về vốn tài chính cho KSKD, điều đó khiến nữ doanh nhân tạo ra DN có quy mô nhỏ hơn nam doanh nhân cả
về doanh thu hàng năm và số lượng công nhân (EC, 2014) Nữ doanh nhân thường sử dụng khoản tiền từ nguồn tích lũy cá nhân để thành lập DN hoặc vận động từ gia đình Nguồn vốn tiếp cận bằng các khoản vay ngân hàng thường khó khăn hơn với nữ
doanh nhân so với nam doanh nhân vì hai lý do Thứ nhất, các khoản vay ngân hàng
thường yêu cầu đảm bảo tài sản và nữ doanh nhân không sẵn sàng mạo hiểm cho các khoản vay gây nguy hiểm về tài sản của gia đình trong trường hợp thất bại (Weiler &
Bernasek, 2001) Thứ hai, chính sách của các ngân hàng thường thận trọng đối với các
DN nhỏ và của nữ doanh nhân, những đối tượng không có sự đảm bảo và nguy cơ rủi ro cao (UNECE, 2004)
- Sự khác biệt về hoàn cảnh xã hội: Nghiên cứu của Gattiker và Larwood (1989) cho rằng mô hình nghiên cứu về sự thành công của nam doanh nhân và nữ doanh nhân
là khác nhau Nam doanh nhân tập trung toàn bộ năng lực vào sự nghiệp KSKD trong khi nữ doanh nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về gia đình trong quá trình KSKD Tucker (1985) và Devanna (1987) cũng gợi ý rằng các yếu tố tổ chức và cá nhân có thể thúc đẩy
Trang 37nam doanh nhân và nữ doanh nhân theo cách khác nhau
Do sự khác biệt hoàn cảnh xã hội nên KSKD của nữ doanh nhân được cho là chậm hơn nam doanh nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy nữ doanh nhân trong nhóm tuổi khoảng 35-44 tuổi là cao nhất (GEM, 2005) Ngược lại, nam doanh nhân bước vào KSKD ở độ tuổi trẻ hơn Cuộc khảo sát GEM 2012-2013 tại Hy Lạp cho thấy nam doanh nhân KSKD ở độ tuổi 25-34 chiếm 39,5% trong khi đó của nữ doanh nhân ở độ tuổi 35-44 chiếm 35,7%
Trong các nghiên cứu, truyền thống gia đình được đánh dấu là một yếu tố thúc đẩy trong KSKD của nữ doanh nhân Barret và cộng sự (1996) cho rằng sự lựa chọn của nữ doanh nhân có thể bị ảnh hưởng bởi nhận thức KD của cha hoặc chồng của họ Nữ doanh nhân cũng sẽ được khuyến khích để kế thừa một DN gia đình hoặc để thực hiện KD cùng với một người chồng hoặc anh trai
Đối với khu vực nông thôn, nữ doanh nhân gặp khó khăn hơn đối với hoạt động KSKD so với nam doanh nhân Tồn tại những khó khăn này là do sự thiếu thốn về cơ
sở hạ tầng của các cơ sở chăm sóc xã hội cho trẻ em và người cao tuổi, lao động có kỹ năng, vốn và quy mô nhỏ của thị trường địa phương Mặt khác, vốn XH của nữ doanh nhân ở khu vực nông thôn thấp (tăng tuổi, trình độ học vấn thấp, ít tiếp cận với đào tạo nghề, ít tiếp cận nguồn lực, tụt hậu trong sáng kiến) Bên cạnh đó, nữ doanh nhân còn gặp khó khăn khi di chuyển ra ngoài cộng đồng vì khó tiếp cận các phương tiện giao thông cá nhân
- Sự khác biệt về sự tự tin trong KD: Sự tự tin là một trong những rào cản lớn nhất đối với nữ doanh nhân tham gia vào hoạt động KD (Fielden và cộng sự, 2003) Sự thiếu tự tin không chỉ ảnh hưởng đến việc bắt đầu KD mà còn các quyết định KD đang diễn ra Nữ doanh nhân cũng có một sự lo lắng lớn hơn về sự thất bại trong KD so với nam doanh nhân (Koelling và cộng sự, 2008) Ngoài ra, sự thiếu tự tin của nữ doanh nhân ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tư vấn từ mạng lưới XH Tuy nhiên, sự tự tin có thể được cải thiện khi thời gian KD tăng lên của nữ doanh nhân Koellinger và cộng sự (2006) cho rằng các nữ doanh nhân mới ít tự tin hơn các nữ doanh nhân đã từng KD một thời gian Wilson và cộng sự (2007) cho thấy sự tự tin có thể tăng lên cùng với giáo dục về doanh nhân Fielden và Dawe (2004) cho rằng sự tự tin tăng lên nhờ vào các nhóm hỗ trợ từ cộng đồng và các diễn đàn, hội thảo
Từ những phân tích trên, đặc điểm KSKD của nữ doanh nhân và nam doanh nhân
là khác nhau Mô hình nghiên cứu về KSKD của nữ doanh nhân khác với mô hình của
Trang 38nam doanh nhân. Các yếu tố cá nhân và DN thúc đẩy KSKD của nam doanh nhân và
nữ doanh nhân cũng khác nhau
1.3.1.3 KSKD của nữ doanh nhân đối với loại hình DNNVV
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hallberg (1999) đã phân loại các DNNVV rất đa dạng bao gồm nhiều công ty - nhà sản xuất thủ công mỹ nghệ làng nghề, cửa hàng máy móc nhỏ, nhà hàng, và các công ty phần mềm máy tính và hoạt động trong các thị trường và môi trường xã hội rất khác nhau Một số DN năng động, sáng tạo và định hướng phát triển; một số khác là những DN truyền thống và hài lòng với quy mô nhỏ Ở nhiều nước, số lượng nhân viên là tiêu chí được sử dụng rộng rãi nhất trong định nghĩa của DNNVV Các nghiên cứu tiếp theo cho thấy định nghĩa thống kê của các DNNVV khác nhau giữa các quốc gia và thường dựa trên số lượng nhân viên hoặc giá trị tài sản (Buame 2000, Hallberg 2000) Giới hạn thấp hơn cho các DN quy mô nhỏ thường được đặt từ 5 đến 10 công nhân và giới hạn trên là từ 50 đến 100 công nhân Giới hạn trên cho các DN quy mô vừa thường được đặt từ 100 đến 250 nhân viên Nhưng vì các định nghĩa thống kê khác nhau, rất khó để so sánh theo tiêu chí khác giữa các quốc gia (Hallberg 2000)
- KSKD của nữ doanh nhân đối với loại hình DNNVV
Từ phân tích đặc điểm KSKD của nữ doanh nhân, DN của nữ doanh nhân thường
là DN nhỏ hoạt động trong lĩnh vực truyền thống Một số nghiên cứu đã chỉ ra thực tế
là nữ doanh nhân, so với nam doanh nhân, tham gia nhiều vào các DNNVV và họ được đánh giá là rất thành công trong lĩnh vực này (Brush và cộng sự 2006, Butler
2003, Coughlin 2002) Các nghiên cứu này khẳng định KSKD của nữ doanh nhân là phân khúc tăng trưởng nhanh nhất trong số các DNNVV, với số lượng gia tăng đáng
kể từ năm 1980 Các DNNVV có tốc độ phát triển nhanh hơn cả nền kinh tế nói chung
ở một số nước (Moore và Buttner 1997) Nghiên cứu Butler (2003) nhận thấy rằng các
nữ doanh nhân ở Hy Lạp, Áo, Anh, Đan Mạch, Hà Lan và Pháp chủ yếu KSKD trong việc tạo ra DNNVV
Mặc dù ít được biết về nữ doanh nhân ở các nước đang phát triển, Tinker (1990) nhận thấy rằng các DN điều hành bởi nữ doanh nhân chủ yếu tập trung ở DNNVV trong các ngành nghề truyền thống và dịch vụ Tinker cũng cho rằng so với KSKD của nam doanh nhân, KSKD của nữ doanh nhân chủ yếu là DNNVV Theo Coughlin (2002), hàng triệu nữ doanh nhân được liên kết gián tiếp với thị trường quốc tế thông qua các DNNVV bao gồm các xưởng nhỏ, hoặc là những người làm việc tại nhà cho các ngành xuất khẩu Các DNNVV của nữ doanh nhân tập trung vào các lĩnh vực như
Trang 39nông nghiệp, dệt may và quần áo Coughlin (2002) nhận thấy rằng các lĩnh vực này đang được tích hợp chặt chẽ hơn vào hệ thống thương mại toàn cầu
Các nghiên cứu khám phá lý do tại sao KSKD của nữ doanh nhân tập trung chủ yếu là ở các DNNVV, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng bản chất của các DNNVV rất có lợi cho nữ doanh nhân DNNVV giúp cho nữ doanh nhân có thể kết hợp giữa chăm sóc gia đình và tạo thu nhập cùng một lúc Một số nghiên cứu cho rằng động cơ
nữ doanh nhân thành lập các DNNVV là mong muốn được độc lập và có quyền kiểm soát cuộc sống, không nhất thiết phải kiếm được nhiều tiền (Fielden and Davidson, 2005) Nghiên cứu của Hisrich và Brush (1987) cho rằng nữ doanh nhân thường thích phong cách quản lý định hướng dân dã và ít độc đoán Hiếm khi nữ doanh nhân có các chính sách hoạt động chính thức và quy trình lập kế hoạch chính thức hoặc mô tả công việc Điều này phù hợp hơn đối với loại hình DNNVV đặc biệt là DN nhỏ và siêu nhỏ Một lý do khác trong nghiên cứu về sự ưu tiên của nữ doanh nhân đối với DNNVV là chi phí KSKD thấp hơn (Therrien và cộng sự 1986) (trích dẫn Dzisi, 2008)
Như vậy, qua các nghiên cứu trên tác giả nhận thấy rằng đặc trưng của KSKD của nữ doanh nhân ở các nước đang phát triển là DNNVV, tập trung ở những ngành kinh doanh truyền thống Vì quy mô và lĩnh vực KD này phù hợp với NL của nữ doanh nhân, mang lại sự linh hoạt thời gian, giúp nữ doanh nhân đạt được sự cân bằng
về công việc và trách nhiệm gia đình Phạm vi nghiên cứu của luận án sẽ tập trung vào nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân đối với loại hình DNNVV vì loại
hình DN này là đặc trưng cho KSKD của nữ doanh nhân
1.3.1.4 Vai trò KSKD của nữ doanh nhân đối với phát triển kinh tế
- Vai trò của nữ doanh nhân đối với phát triển kinh tế
Nữ doanh nhân hoạt động tốt trong ngành và đóng góp to lớn cho tiến bộ kinh tế,
XH và chính trị của nhiều quốc gia Ví dụ ở Úc và Hoa Kỳ, tiến bộ của nữ doanh nhân
đã có ý nghĩa và ổn định trong hai thập kỷ qua Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng số lượng các DN được tạo ra và quản lý bởi nữ doanh nhân ở Hoa Kỳ đã tăng trưởng gấp đôi so với của nam doanh nhân (Brush và cộng sự 2006, Coughlin 2002)
Qua phân tích trên, bản chất của các DNNVV phù hợp với nhu cầu và động lực của nữ doanh nhân và là phương tiện tuyệt vời để họ thể hiện kỹ năng KD Vì vậy, nữ doanh nhân chủ yếu hoạt động trong các DNNVV và những lợi ích mà các nước phát triển và đang phát triển đều đạt được từ họ là rất lớn Ví dụ, những phẩm chất và kỹ năng đặc biệt mà các nữ doanh nhân được thực hiện trong các DNNVV là một nguồn sáng tạo tiềm năng cho sự đổi mới của nền kinh tế Những hoạt động của nữ doanh
Trang 40nhân trong các DNNVV mang lại những lợi ích to lớn cho quốc gia của họ, đặc biệt là những nước đang phát triển, trong các lĩnh vực hình thành kỹ năng và tạo việc làm Họ
sử dụng chủ yếu nguyên liệu sẵn có tại địa phương và các công cụ đơn giản, máy móc
và thiết bị sử dụng ít vốn Họ cũng tham gia vào việc đào tạo nhân lực có trình độ cần thiết cho ngành công nghiệp thông qua đào tạo nghề Họ đóng góp rất nhiều vào việc kích thích KSKD và quản lý ở cấp địa phương Báo cáo của OECD (1997) về việc xem xét những lợi ích liên quan đến DN nhỏ của nữ doanh nhân, đã lập luận rằng nữ doanh nhân và các nền kinh tế khác nhau có thể đạt được tiến bộ kinh tế, XH và chính trị từ các hoạt động KD này Trên phương diện kinh tế, các DNNVV của nữ doanh nhân đang tạo việc làm cho phụ nữ và những người khác
Về mặt XH, việc tạo ra các DNNVV có thể tạo cho nữ doanh nhân khả năng cân bằng giữa công việc và trách nhiệm gia đình, do đó đóng góp cho gia đình và cải thiện
sự gắn kết XH (Brush và cộng sự, 2006; Coughlin, 2002;) Cân bằng sự nghiệp và trách nhiệm gia đình có thể là một thách thức đối với các nữ doanh nhân Đồng thời,
sự gia tăng quyền tự chủ của nữ doanh nhân từ việc tạo ra và quản lý các DNNVV có thể cho phép nữ doanh nhân đóng vai trò chủ động và mang tính đại diện hơn trong đời sống kinh tế và chính trị của nước họ, giúp giảm sự chênh lệch về giới Nữ doanh nhân được công nhận là những thành phần kinh tế chính trong sự đổi mới và tạo việc làm Các DNNVV cung cấp cho những nữ doanh nhân này những cơ hội quan trọng để phát triển kỹ năng tạo việc làm và tiềm năng KD và quản lý
- Vai trò của nữ doanh nhân đối với nền kinh tế Việt Nam
DNNVV của nữ doanh nhân tại Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng cho
sự phát triển kinh tế XH ở Việt Nam Đóng góp của DNNVV của nữ doanh nhân được thể hiện trong nghiên cứu của Lê Quang Cảnh và Nguyễn Vũ Hùng (2016) như sau: + Nữ doanh nhân ở loại hình DNNVV đã tạo công ăn việc làm cho hơn 1,63 triệu lao động động chiếm 14,5% tổng việc làm trong tổng DNNVV cả nước năm 2013 Trong đó có 746,3 nghìn lao động nữ chiếm 15% tổng số lao động nữ làm việc trong DNNVV Một vấn đề là DN của nữ doanh nhân cần ít vốn để tạo việc làm hơn nam doanh nhân
+ DNNVV của nữ doanh nhân sử dụng nhiều lao động nữ hơn so với của nam doanh nhân Năm 2013 nữ doanh nhân đã sử dụng 43,4% lao động là nữ so với nam là 36% Điều này góp phần vào sự tiến bộ của phụ nữ, bình đẳng giới và thúc đẩy đầu tư cho bé gái
+ Đóng góp vào ngân sách nhà nước đạt 61,8% năm 2013 DNNVV của nữ doanh nhân chủ nộp ngân sách tính trên một lao động cao hơn so với nam giới